Sự hài lòng về hôn nhân của người Việt Nam
và các nhân tố ảnh hưởng
Phan Thị Mai Hương
1
, Nguyễn Hữu Minh
2
, Phạm Phương Thảo
3
, Đỗ Thị Lệ Hằng
4
Viện Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
2 Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Email: huongphanmai@gmail.com, minhnguyen.ifgs@gmail.com
Nhận ngày 25 tháng 9 năm 2019. Chấp nhận đăng ngày 3 tháng 5 năm 2020.
Tóm tắt: Trên sở điều tra, khảo sát về hôn nhân năm 2017 với 1.819 người tại 7 tỉnh Việt
Nam, nghiên cứu này chỉ rõ: phần lớn người dân Việt Nam hài lòng về hôn nhân của mình cũng
như về các mặt của hôn nhân mức độ cao, trong đó hài lòng hơn cả về tình cảm vợ chồng, ít hài
lòng hơn cvề đời sống vật chất của vợ chồng. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ các nhân tố ảnh
hưởng tới sự hài lòng về hôn nhân, bao gồm các nhân tố nhân khẩu - hội, như: giới tính, lứa
tuổi, sự khác biệt giữa vợ và chồng về học vấn, thu nhập, khu vực sống và số lượng con cái.
Từ khóa: Hôn nhân, nhân tố ảnh hưởng, nhân khẩu - xã hội, sự hài lòng, Việt Nam.
Phân loại ngành: Xã hội học
Abstract: Based on the 2017 marriage survey conducted with 1,819 people in seven provinces in
Vietnam, this study shows that the majority of Vietnamese people are satisfied with their marriage,
as well as aspects of the marriage, to a high extent. Among the aspects, they are most satisfied with
the emotions of theirs and the spouses, while being less satisfied with the material life. At the same
time, the study also identified factors affecting the satisfaction towards the marriage, including the
socio-demographic factors, such as gender, age, the differences between husband and wife in
education and income, and area of residence and number of children.
Keywords: Marriage, impacting factor, socio-demographic, satisfaction, Vietnam.
Subject classification: Sociology
1. Đặt vấn đề
Hài lòng hôn nhân đánh giá chủ quan của
một người về chất lượng hôn nhân của mình
[22, tr.246-254], [28, tr.537-546]. Một
số yếu tố cơ bản tác động đến sự hài lòng hôn
nhân, như: giới tính, lứa tuổi, khu vực sống,
số lượng con cái hay giới tính con cái…
Nhiều nghiên cứu trên thế giới, cả phương
Đông và phương Tây, đã chỉ ra rằng
57
1,3,4
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
phụ nữ ít hài lòng về hôn nhân hơn so với
nam giới [10, tr.59-70], [20, tr.226-230],
[17, tr.1143-1155]. Theo Bulanda [13],
khác biệt về giới trong sự hài lòng hôn nhân
bị ảnh hưởng bởi việc làm, chăm sóc con
cái, chăm sóc gia đình yếu tố sức khỏe.
Bên cạnh đó, tuổi tác cũng thể ảnh
hưởng đến mối quan hệ các cuộc hôn
nhân dài hạn. Một số nghiên cứu cho thấy
biến thiên của sự hài lòng hôn nhân theo độ
tuổi không đồng nhất. Lee Shehan
[20] chỉ ra rằng sự hài lòng hôn nhân giảm
đi theo tuổi tác trong khi Rhyne [27] lại cho
thấy sự biến đổi của nó theo đường cong.
Con cái ảnh hưởng đến sự hài lòng
hôn nhân, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ ra
rằng, những khác biệt nhất định về mức
độ ảnh hưởng của con cái các hội
phương Tây và phương Đông. Nhìn chung,
phương Tây, giai đoạn chuyển sang vai
trò làm cha mẹ được cho rằng làm giảm sút
chất lượng hôn nhân [13, tr.964-980], [29,
tr.574-583]. Bởi theo những người làm cha
mẹ, con cái làm hạn chế sự gần gũi giữa hai
vợ chồng do đó ảnh hưởng đến sự hài
lòng của họ, biểu hiện: vợ chồng dành ít
thời gian cho nhau, ít giao tiếp với nhau
thể trải qua nhiều xung đột hơn khi họ
gánh vác vai trò làm cha mẹ.
Trong khi đó, các nước phương Đông,
dụ: Nepal [10, tr.59-70], việc con
một giá trị được coi trọng một phần
thiết yếu đối với hôn nhân. Do đó, việc
con làm tăng sự hài lòng trong hôn nhân.
Hơn thế, việc chăm sóc con cái Nepal
không chỉ được đảm nhận bởi các cặp vợ
chồng còn bởi nhiều thành viên khác
sống cùng trong gia đình hoặc sống gần với
gia đình. Điều đó góp phần giảm bớt ảnh
hưởng của việc chăm sóc con cái đến hai
vợ chồng.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy số
lượng con cái có liên quan mật thiết đến
mức độ không hài lòng trong hôn nhân [29,
tr.574-583], [18, tr.73-85]. Theo Kohler,
Behrman Skytthe [19], tại Đan Mạch, sự
ra đời của đứa con đầu tiên nguồn vui rất
quan trọng đối với phụ nữ độ tuổi từ 25-
45 cũng như người chồng của họ. Tuy
nhiên, sự ra đời của những đứa con kế tiếp
không còn tạo được ảnh hưởng như vậy nữa
với phụ nữ. Dường như phụ nữ kỳ vọng
rằng đứa con đầu tiên giúp họ chứng minh
được sự nữ tính của mình đồng thời thắt
chặt cuộc hôn nhân. Tuy nhiên, với những
đứa con sau, họ lại cảm thấy rất không hài
lòng về cuộc sống hôn nhân, bởi họ
người chăm sóc con cái chính trong nhà
họ phải trải nghiệm nhiều áp lực căng
thẳng hơn người chồng của mình [16].
một số nước mang tính cộng đồng cao,
nhiều tác giả đã nhận thấy rằng số lượng con
cái sự hài lòng hôn nhân mối quan hệ
tương quan thuận chiều: hầu hết các gia đình
thường gia đình lớn, các thành viên gia
đình khác sẽ hỗ trợ người mẹ nuôi dạy con
cái [26], [15, tr.7-22].
Tuy nhiên, các nước phát triển, sự
tham gia lao động của người phụ nữ bên
ngoài phạm vi gia đình, chi phí nuôi dạy
cho con đi học tăng dần, s phụ thuộc của
cha mẹ già vào con cái giảm đi (vì hệ
thống an sinh hội). Điều này làm cho
việc nhiều con không phải sự kỳ vọng
của nhiều người [25, tr.12-94].
Nhiều công trình nghiên cứu cũng chỉ ra
ảnh hưởng của giới tính con cái đến mức độ
hài lòng trong hôn nhân của cha mẹ, tuy
nhiên các phát hiện không thống nhất với
nhau. Kết quả nghiên cứu tại Mỹ [21] cho
biết chồng vợ con trai cảm thấy thỏa
mãn trong hôn nhân cao hơn so với những
cặp vợ chồng chỉ con gái. Andersson
Woldemicael [12] chỉ ra rằng Thụy Điển,
cha mẹ cả con trai con gái thường ít
có xu hướng ly dị hơn những cặp cha mẹ có
58
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
con một bề. Trái ngược hẳn với điều này,
Mizell Steelman [24] lại phát hiện thấy
rằng việc con một bề tạo ảnh hưởng tích
cực tới sự hài lòng hôn nhân hơn so với
việc cả con trai con gái. Khi con
cái cả hai giới, cha mẹ thể bị chia rẽ
thành hai nhóm do chính giới tính của mình
sự chia rẽ này làm giảm tương tác mang
tính cặp đôi giữa hai người.
Điều kiện kinh tế tác động không nhỏ
đến đời sống của các cặp vợ chồng đến
chất lượng hôn nhân của họ. Nghiên cứu
của Amato cùng công sự [12] cho thấy,
việc giảm những lo lắng về kinh tế sẽ làm
gia tăng sự hài lòng hôn nhân, đồng thời
làm giảm xung đột trong hôn nhân.
Như vậy, sự hài lòng về hôn nhân thể
biểu hiện khác nhau các hội, đồng thời
vai trò của các yếu tố nhân khẩu - hội
đối với sự hài lòng hôn nhân không đồng
nhất, phụ thuộc vào bối cảnh khảo sát.
Cho đến nay, chủ đề về sự hài lòng hôn
nhân gần như chưa được quan tâm nghiên
cứu một cách hệ thống Việt Nam. Dựa
trên kết quả cuộc khảo sát “Những đặc
điểm bản của hôn nhân Việt Nam hiện
nay các yếu tố ảnh hưởng” thuộc
Chương trình cấp Bộ “Nghiên cứu, đánh
giá tổng thể về gia đình thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước hội nhập
quốc tế”, với 1.819 phỏng vấn bằng bảng
hỏi, tại các địa phương thuộc 7 tỉnh/thành
phố Việt Nam
5
, bài viết này phân tích sự
hài lòng về hôn nhân của người Việt Nam
và các yếu tố ảnh hưởng.
2. Sự hài lòng về hôn nhân của người
Việt Nam
2.1. Sự hài lòng về hôn nhân nói chung
về các mặt của đời sống hôn nhân
Bảng 1 cho thấy rõ mức độ hài lòng về hôn
nhân nói chung và với các mặt của đời sống
hôn nhân của người Việt Nam.
Bảng 1: Sự hài lòng về hôn nhân của người Việt Nam [7]
(N=1819, điểm trung bình dựa trên thang điểm 10)
Trung bình Độ lệch chuẩn
Hài lòng chung về hôn nhân
8,20 1,25
Tình cảm
8,37 1,34
Sự đồng thuận/ hiểu biết
8,25 1,37
Đời sống tình dục
8,08 1,50
Đời sống vật chất
7,58 1,60
Thực hiện việc gia đình
8,09 1,60
Tính cách và ứng xử của vợ/ chồng
8,21 1,45
Điểm trung bình từ 7,58 trở lên trên thang
điểm 10 cho thấy rằng người dân rất hài lòng
với hôn nhân của mình, trên bình diện chung,
cũng như từng khía cạnh cụ thể. Chỉ riêng
những người rất hài lòng với hôn nhân (điểm
9 và 10) đã chiếm gần một nửa
số người được hỏi (42,4%,). Trong khi đó,
những người không hài lòng với hôn nhân
của mình (điểm 4 trở xuống) chỉ chiếm 1%.
Kết quả cho thấy, người Việt Nam hài lòng
nhất về tình cảm vợ chồng ít hài lòng
hơn với đời sống vật chất của gia đình.
59
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
Việc thu thập dữ liệu bằng cách hỏi trực
tiếp về những vấn đề liên quan đến đánh giá,
nhất về hôn nhân, nhiều người Việt Nam
thể e ngại đánh giá thấp sự hài lòng của
mình với người lạ. Tâm “cái tốt trưng ra,
cái xấu đậy lại” thể ảnh hưởng đến câu trả
lời của người dân về vấn đề này, khiến họ
đánh giá cao sự hài lòng của mình. Tuy
nhiên, trên một bình diện khác, kết quả này
khá thống nhất với những nghiên cứu cùng
chủ đề Việt Nam. Đó mức độ hài lòng
với hôn nhân luôn được đánh giá mức cao
[3, tr.28-41], [5, tr.47-56; 8].
Đánh giá hài lòng về hôn nhân thể
sự nhìn nhận chung của nhân về hôn
nhân ngay tại thời điểm khảo sát, nhưng đó
cũng thể đánh giá cả quá trình hôn
nhân trên tổng thể. đánh giá mang
tính thời điểm hay quá trình thì cũng
phản ánh sự gặp gỡ giữa cái họ được từ
hôn nhân với những chuẩn mực riêng
họ đặt ra cho hôn nhân. Thực tế đời sống
hôn nhân bao gồm đa dạng các khía cạnh
khác nhau, thậm chí rất khác biệt như: vật
chất (tiền bạc, thu nhập, chi tiêu, tài sản…),
tinh thần (tình cảm, văn hóa ứng xử…),
thực thể (tình dục, sự hấp dẫn thể xác, sức
khỏe…), người bạn đời (tính cách, năng
lực…). Câu hỏi đặt ra đây là: quan hệ
giữa sự hài lòng nói chung về hôn nhân với
các khía cạnh khác nhau này như thế nào?
So sánh điểm hài lòng chung về hôn
nhân (điểm trung bình 8,2) với điểm trung
bình cộng 6 mặt của đời sống hôn nhân
(điểm trung bình 8,09) thì thấy chúng
không hoàn toàn trùng khít sự chênh
lệch, nhưng không đáng kể. Tương quan
giữa sự hài lòng chung về hôn nhân với hài
lòng về từng mặt của đời sống hôn nhân
trong nghiên cứu này thuận khá chặt
(hệ số tương quan R nằm trong khoảng
0,65-0,84) nghĩa những cặp vợ chồng
sự hài lòng hôn nhân nói chung cao
thì cũng hài lòng cao về từng mặt ngược
lại. Như thế, sự hài lòng chung phản ánh sự
hài lòng của từng mặt trong đời sống hôn
nhân.
So sánh vai trò của từng mặt đối với sự
hài lòng hôn nhân nói chung, phân tích hồi
qui tuyến tính bội cho thấy rằng, 6 mặt
được khảo sát trong nghiên cứu này đều
những yếu tố dự báo mạnh cho hài lòng
chung, chứng tỏ đó những mặt rất quan
trọng của đời sống hôn nhân, góp phần tạo
ra hạnh phúc vợ chồng (Bảng 2).
Bảng 2: Dự báo của các mặt trong đời sống hôn nhân đến sự hài lòng hôn nhân [7]
Các biến độc lập:
Biến phụ thuộc: Sự hài lòng chung về hôn nhân
Sự hài lòng về: ß T P
Tình cảm vợ chồng 0,417 21,926 < 0.01
Tính cách và ứng xử của vợ/ chồng 0,194 10,135 < 0.01
Đời sống vật chất 0,145 10,489 < 0.01
Đời sống tình dục 0,108 7,136 < 0.01
Sự đồng thuận/ hiểu biết 0,099 5,304 < 0.01
Thực hiện việc gia đình 0,074 4,595 < 0.01
Hệ số tương quan R
2
điều chỉnh
0,802
Hệ số F(6,1806) 1224,529
60
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
Kết quả cho thấy: khi những điều kiện
khác như nhau, thì đối với người Việt
Nam, trong hôn nhân, rất hài lòng chỉ
một mặt nào đó thì cũng thể vừa đủ để
làm vợ chồng cảm thấy hài lòng, chứ không
nhất thiết mọi thứ đều phải hoàn hảo.
Ngược lại, rất không hài lòng với chỉ một
lĩnh vực nào đó, chất lượng hôn nhân cũng
thể bị suy giảm. Kết quả cũng cho thấy
rằng, trong số các mặt được khảo sát, sự hài
lòng với tình cảm vợ chồng ý nghĩa
mạnh nhất đối với sự hài lòng chung về hôn
nhân. Đây lĩnh vực riêng thể coi
lĩnh vực quan trọng nhất làm nên chất
lượng của đời sống vợ chồng. Yếu tố quan
trọng thứ 2 hài lòng về tính cách cách
ứng xử của vợ/ chồng; xếp vị trí cuối cùng
hài lòng về thực hiện việc nhà của bạn
đời.
2.2. Sự hài lòng về hôn nhân theo các đặc
điểm nhân khẩu - xã hội
Các nghiên cứu đã chỉ ra, sự hài lòng hôn
nhân của mỗi nhân mối quan hệ với
đặc điểm nhân khẩu của họ. Do mối tương
quan chặt chẽ giữa sự hài lòng chung với sự
hài lòng các mặt cụ thể, đây tập trung
phân tích mối quan hệ giữa sự hài lòng
chung các đặc điểm nhân khẩu - hội
(gồm: giới tính, tuổi, học vấn, số con, giới
tính con, hoạt động nghề chính trong 12
tháng trước khảo sát, mức sống, khu vực
sống).
Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể
giữa nam (điểm trung bình 8,43) nữ
(điểm trung bình 8,09) về mức độ hài lòng
hôn nhân (p<0,01). Đối với các nhóm tuổi,
sự khác biệt thể hiện chủ yếu giữa nhóm
tuổi từ 60 tuổi trở lên (điểm trung bình
8,76) và nhóm 40-49 tuổi (điểm trung bình
8,29) so với các nhóm còn lại (điểm trung
bình 8,15). Nvậy, nhìn chung sự tăng
lên mức độ hài lòng theo tuổi tác, tuy
nhiên, quan hệ này không tuyến tính. Kết
quả cũng chỉ ra không sự khác biệt đáng
kể về mức độ hài lòng hôn nhân giữa các
nhóm có trình độ học vấn khác nhau.
Phân tích theo đặc điểm số con thể
nhận thấy mức độ hài lòng hôn nhân của
nhóm một con (điểm trung bình 8,62)
cao hơn đáng kể so với các nhóm khác, đặc
biệt hơn nhóm từ ba con trở lên (điểm
trung bình 8,09). Theo truyền thống Việt
Nam, con cái giá trị quan trọng của hạnh
phúc hôn nhân, đông con nhiều cháu là một
trong những mong muốn của nhiều gia đình
truyền thống [4, tr.25-46], [6, tr.51-59]. Tuy
nhiên, kết quả này cho thấy, hiện nay, quan
niệm này cũng đang dần thay đổi. Kết quả
này cũng thống nhất với Kết quả điều tra
gia đình Việt Nam năm 2006 [1], đa số
người trả lời khảo sát, đặc biệt nhóm vị
thành niên, không đồng ý với việc gia đình
có nhiều con mặc dù, việc sinh con vẫn tiếp
tục một chức năng quan trọng của gia
đình. Điều đó gợi ý rằng, sinh nhiều con
không còn chỉ báo quan trọng của sự hài
lòng hôn nhân.
Bên cạnh yếu tố số con thì giới tính con
cũng ý nghĩa quan trọng đối với người
Việt Nam. Gia đình Việt Nam truyền thống
coi trọng con trai hơn con gái liên
quan đến sự nối dõi tông đường và nghĩa vụ
chăm sóc cũng như quyền lợi thừa kế của
những đứa con sau này [2, tr.123-132]. Kết
quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
[1] Nghiên cứu vị thành niên thanh
niên Việt Nam năm 2009 [8, tr.3-14] cũng
cho thấy một bộ phận lớn dân thanh
niên vẫn còn mong muốn nhất thiết phải
con trai. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này,
61
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
giả định về mức độ hài lòng hôn nhân cao
hơn đối với gia đình con trai so với gia
đình có con gái, không được xác nhận,
thậm chí mức độ hài lòng cao nhất thuộc về
nhóm người chỉ con gái (điểm trung
bình 8,50) (Bảng 3).
Bảng 3: Mức độ hài lòng về hôn nhân theo đặc điểm nhân khẩu - xã hội [7].
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội Điểm hài lòng Độ lệch N
trung bình chuẩn
Chung
8,25 2,47
1819
Giới tính** Nam
8,43 1,05
873
Nữ
8,09 3,26
946
Nhóm tuổi* 29 trở xuống
8,15 0,98
159
30-39
8,15 1,18
509
40-49
8,29 1,18
480
50-59
8,15 1,33
478
60 trở lên
8,76 6,69
192
Học vấn hiện tại Tiểu học trở xuống
8,09 1,35
390
Trung học cơ sở
8,21 1,23
658
Trung học phổ thông
8,50 4,51
433
Trung cấp-Cao đẳng-Đại học
8,19 1,29
337
Số con* Chưa có con
8,18 1,01
72
Một con
8,62 4,96
356
Hai con
8,23 1,25
820
Ba con trở lên
8,07 1,27
571
Giới tính con Chưa có con
8,18 1,01
72
Chỉ con trai
8,26 1,23
461
Chỉ con gái
8,50 4,91
368
Có cả trai và gái
8,15 1,26
918
Hoạt
động
chính
Cao cấp-Trung cấp
8,41 1,24
225
12 tháng trước Sơ cấp-nhân viên kỹ thuật
8,21 1,25
406
khảo sát Không làm việc
8,50 1,27
163
Lao động giản đơn
8,19 3,12
1007
Mức sống**
Khá
8,49 1,12
282
Trung bình
8,27 2,76
1348
Nghèo
7,79 1,50
189
Khu vực Nông thôn
8,16 1,23
1012
Thành thị
8,36 3,44
807
Ghi chú: Mức ý nghĩa thống kê * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001.
Yếu tố việc làm tỏ ra không ảnh
hưởng đáng kể đến mức độ hài lòng, mặc
nếu xét theo trình độ chuyên môn thì
nhóm có trình độ cao cấp - trung cấp vẫn
mức độ hài lòng cao hơn nhóm sơ cấp -
nhân viên kỹ thuật nhóm lao động giản
đơn. Nhóm không làm việc mức độ hài
lòng cao nhất, tuy nhiên nhóm này không
phân biệt về mặt trình độ chuyên môn
với các nhóm khác, vì vậy không sử dụng
62
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
để so sánh. Không ngạc nhiên khi
khác biệt đáng kể về mức độ hài lòng hôn
nhân giữa nhóm mức sống khá trở lên
(điểm trung bình 8,49) với nhóm nghèo
(điểm trung nh 7,79), p<0,01. Người
thành thị có mức hài lòng hôn nhân cao hơn
nông thôn.
2.3. Sự hài lòng về hôn nhân theo so sánh
đặc điểm của vợ và chồng
Sự hài lòng với hôn nhân thể bị ảnh
hưởng bởi những khác biệt giữa vợ
chồng. Nghiên cứu này kiểm chứng mối
liên hệ giữa sự hài lòng hôn nhân khác
biệt về đặc điểm vợ chồng với giả định
rằng, sự hài lòng hôn nhân sẽ cao hơn nếu
các cặp vợ chồng có sự tương đồng nhau về
đặc điểm nhân khẩu - hội. 4 biến số
độc lập được sử dụng sự khác biệt về
tuổi, học vấn, thu nhập tham gia công
việc nội trợ (Bảng 4).
Bảng 4: Mức độ hài lòng về hôn nhân theo đặc điểm nhân khẩu - xã hội so sánh giữa vợ và chồng [7].
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội Điểm hài lòng Độ lệch N
trung bình chuẩn
Chung 8,25 2,47 1819
Sự khác biệt về Vợ hơn chồng 8,25 1,25 196
tuổi Vợ bằng chồng 8,29 1,24 220
Chồng hơn vợ 1-5 tuổi 8,24 3,11 1024
Chồng hơn vợ 6 tuổi trở lên 8,27 1,18 373
Khác biệt học Bằng nhau 8,29 3,05 1065
vấn giữa vợ và Vợ hơn chồng 8,11 1,17 283
chồng Chồng hơn vợ 8,27 1,22 449
Khác biệt thu Vợ hơn chồng 7,93 1,41 310
nhập giữa vợ và Chồng hơn vợ 8,26 1,16 980
chồng* Ngang nhau 8,47 4,20 505
Tham gia công Làm bằng nhau 8,80 6,28 215
việc nội trợ** Chồng làm nhiều hơn 8,22 1,27 125
Vợ làm nhiều hơn 8,18 1,24 1464
Ghi chú: Mức ý nghĩa thống kê * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001.
Dựa vào phân bố tuổi chênh giữa vợ và Đối với khác biệt về học vấn cũng tương
chồng mà độ chênh được chia thành các tự, mặc dù nhóm vợ học cao hơn chồng có
nhóm cụ thể như sau: chồng ít tuổi hơn vợ; sự hài lòng kém hơn so với nhóm vợ chồng
chồng bằng tuổi vợ; chồng hơn vợ 1-5 tuổi học ngang nhau hay chồng học cao hơn vợ,
và chồng hơn vợ từ 6 tuổi trở lên. Bảng 4 nhưng khác biệt này không có ý nghĩa
cho thấy không có khác biệt đáng kể về thống kê. Tuy nhiên, sự khác biệt về thu
mức độ hài lòng của các nhóm vợ chồng nhập có liên quan chặt chẽ với mức độ hài
với cách biệt tuổi tác khác nhau.
lòng về hôn nhân. Những người ở nhóm vợ
63
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
chồng thu nhập ngang nhau mức độ hài
lòng cao nhất, tiếp đó đến nhóm chồng
thu nhập cao hơn vợ sự hài lòng thấp
nhất rơi vào nhóm người vợ thu nhập
cao hơn chồng.
Theo quan niệm truyền thống, công việc
nội trợ gắn với phụ nữ, từ đó thể xuất
hiện định kiến giới về phân công công việc
gia đình. Nhưng nghiên cứu này đã phát
hiện ra rằng, sự bình đẳng về phân công
công việc nội trợ gắn với hài lòng hôn
nhân, trong đó, gia đình nào vợ chồng chia
sẻ nhiều hơn về công việc nội trợ thì mức
độ hài lòng cao hơn đáng kể so với những
gia đình vợ hoặc chồng làm nhiều hơn
(kể cả trường hợp khi người chồng làm
nhiều việc nội trợ hơn thì mức độ hài lòng
không khác biệt đáng kể với trường hợp
người vợ làm nhiều hơn). Như vậy, ngày
nay, sự bình đẳng giữa vợ chồng về làm
việc nhà, về lao động kiếm tiền đã được đề
cao hơn, nhưng vẫn còn sự tự ti của nam
giới khi thu nhập kém vợ những người
đó ít hài lòng nhất với hôn nhân.
3. Ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài
lòng hôn nhân
Để nhận diện vai trò của từng biến số
đến sự hài lòng hôn nhân, hình phân
tích đa biến số được thực hiện. Biến phụ
thuộc trong trường hợp này khả năng
người trả lời sự hài lòng về hôn nhân
chung. Dựa vào phân bố điểm hài lòng
chung về hôn nhân, 2 nhóm được hình
thành: 0-8 điểm (nhóm hài lòng thấp hơn);
9-10 điểm (nhóm hài lòng cao hơn), nhóm
9-10 điểm được coi nhóm rất hài lòng.
Trong hình hồi quy logistic, các biến
độc lập sẽ những yếu tố nhân khẩu -
hội trên. hình xem xét tác động của
chúng đến s rất hài lòng với hôn nhân
(Bảng 5). 3 hình được phân tích
mô hình chung dành cho tất cả những người
trả lời; hình nam dành cho người trả lời
nam giới; hình nữ dành cho người
trả lời là nữ giới.
Bảng 5: Ảnh hưởng của các biến số nhân khẩu - xã hội đến sự hài lòng cao về hôn nhân [7].
Chung Nam Nữ
Các biến số nhân khẩu-xã hội Tỷ số chênh N Tỷ số N Tỷ số N
chênh chênh
Giới tính
Nam 1,54*** 841
Nữ (nhóm so sánh-ss) 1 906
29 trở xuống 0,5** 155 0,36*
57
0,68
98
30-39
0,73
486
0,63
213
0,82
273
Tuổi 40-49
0,83
469 0,57*
229
1,20
240
50-59
0.77
459 0,53*
242
1,14
217
60 trở lên (nhóm ss) 1 178 1
100
1
Khác biệt
Vợ hơn chồng
0,97
188
1,07
91
0,85
97
Vợ bằng chồng
1,13
210
0,95
103
1,25
107
tuổi
Chồng hơn vợ 1-5 tuổi
0,83
984
0,75
461
0,88
523
64
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
Chồng hơn vợ 6 tuổi+ 1 365 1
186
1
179
(nhóm ss)
Tiểu học trở xuống 2,0** 377
1,16
135
2,98**
242
Học vấn
Trung học cơ sở 2,0** 635
1,57
304
2,56**
331
Trung học phổ thông
1,72**
417 1,76*
236
1,60
181
hiện tại
Trung cấp-Cao đẳng-Đại 1 318 1
166
1
152
học (nhóm ss)
Khác biệt
Bằng nhau
0,91
1032
1,14
500
0,90
532
Vợ hơn chồng 0,68* 277
0,86
123
0,76
154
học vấn
Chồng hơn vợ (nhóm ss) 1 438 1
218
1
220
Chưa có con
1,22
70
0,97
40
1,40
30
Số con
Một con 2,18*** 334
2,44**
185
1,75*
149
Hai con
1,47**
791
1,18
353
1,71**
438
Ba con trở lên (nhóm ss) 1 552 1
263
1
289
Chưa có con
0,82
70
0,85
40
0,88
30
Giới tính Chỉ con trai
0,80
442 0,62*
205
1,02
237
con Chỉ con gái
0,85
351
0,80
186
0,88
165
Có cả trai và gái (nhóm ss) 1 884 1
410
1
474
Hoạt động
Cao cấp-Trung cấp 2,54*** 222
2,41**
128
2,67*
94
Sơ cấp-nhân viên kỹ thuật
1,15
398
1,19
222
1,10
176
chính
Không làm việc 2,0** 145
0,88
34
2,46***
111
Người trả
lời
Lao động giản đơn (nhóm 1 982 1
457
1
525
ss)
Khá 2,69*** 270
2,53**
160
2,63**
110
Mức sống Trung bình
1,27
1295
1,12
615
1,34
680
Nghèo (nhóm ss) 1 182 1
66
1
116
Khác biệt
Vợ hơn chồng 0,68* 299 0,59*
118
0,75
181
Chồng hơn vợ
0,93
956
0,82
476
1,03
480
thu nhập
Ngang nhau (nhóm ss) 1 492 1
247
1
245
Tham gia Làm bằng nhau
1,31
205 1,65*
108
1,05
97
công việc Chồng làm nhiều hơn
0,97
120
0,94
84
1,40
36
nội trợ
Vợ làm nhiều hơn (nhóm ss)
1
1422
1
649
1
773
Khu vực
Nông thôn 1,28* 987 1,47*
490
1,05
497
Thành thị (nhóm ss) 1 760 1
351
1
409
-2 Log likelihood 2249,53 1092,49 1120,64
Nagelkerke R Square 0,1
0,11
0,1
N
1747
841 906
Ghi chú: Mức ý nghĩa thống kê: * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001.
65
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
Trước hết đối với hình chung.
Bảng 5 cho thấy, ảnh hưởng riêng của một
số biến nhân khẩu - hội đối với sự hài
lòng hôn nhân sự trùng hợp với kết quả
phân tích hai biến, nhưng một số biến số
khác, lại sự khác biệt nhất định. Nhìn
chung, nam xác suất hài lòng với hôn
nhân cao hơn so với nữ. Sự hài lòng xu
hướng tăng lên theo độ tuổi, trong đó nhóm
tuổi từ 29 trở xuống xác suất hài lòng
cao thấp nhất, chỉ bằng một nửa so với
nhóm tuổi từ 60 trở lên. Chênh lệch tuổi
giữa vợ chồng không tác động đáng
kể đến sự hài lòng cao với hôn nhân.
Xét về yếu tố học vấn, nhóm học vấn
cao nhất (có trình độ trung cấp, cao đẳng,
đại học trở lên) nhóm xác suất rất hài
lòng hôn nhân thấp nhất so với tất cả các
nhóm trình độ học vấn thấp hơn. Nhóm
học vấn từ trung học phổ thông trở xuống
khả năng rất hài lòng về hôn nhân cao
hơn gần gấp đôi so với nhóm học vấn cao.
thể yêu cầu cao hơn về đời sống hôn
nhân nhóm học vấn cao đã khiến cho họ
kém hài lòng hơn về thực tế hôn nhân của
mình. Liên quan đến chênh lệch học vấn vợ
chồng, nhóm những người học vấn vợ
cao hơn chồng xác suất rất hài lòng kém
hơn đáng kể so với nhóm chồng học vấn
cao hơn vợ (khoảng 0,7 lần). Định kiến giới
với xu hướng phụ nữ mong muốn người
đàn ông hơn mình nam giới thích người
phụ nữ kém hơn khi lựa chọn hôn nhân
(phụ nữ trông lên, đàn ông nhìn xuống)
thể do khiến cho những cặp vợ chồng
vợ học vấn cao hơn cảm thấy kém
hài lòng về cuộc hôn nhân của mình.
Bảng 5 cũng cho thấy, so với những
người 3 con trở lên, nhóm những người
có 1 hoặc 2 con có xác suất rất hài lòng về
hôn nhân lớn hơn đáng kể. Xác suất rất
hài lòng của nhóm một con gấp đôi so
với nhóm ba con trở lên. Sự chuyển đổi
mạnh mẽ về kinh tế - hội Việt Nam
thể giải một phần cho mối tương quan
nghịch chiều giữa số lượng con cái sự
hài lòng hôn nhân của cha mẹ. Như đã phân
tích trên, tâm “đông con nhiều cháu”
không còn mong ước chủ đạo của người
dân Việt Nam. Thực tế, nuôi dạy con cái
với những yêu cầu mới ngày càng khó khăn
hơn so với trước đây đã khiến cho nhận
thức của người dân về số con thay đổi. Khi
phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động
hội nhiều hơn, chi phí đầu cho việc nuôi
dạy con cái cao hơn sự phụ thuộc của
người cao tuổi vào con cái ít đi thì vai trò
của việc nhiều con đối với sự hài lòng
hôn nhân sẽ giảm [1], [25, tr.12-94], [6,
tr.51-59].
Giới tính của con không còn vấn đề
tác động đáng kể đến mức độ rất hài lòng
về hôn nhân. Cho dù chỉ có con trai hay gái,
hay đủ cả con trai, con gái thì sự khác
biệt về hài lòng hôn nhânkhông đáng kể.
Đây thể bằng chứng mạnh mẽ cho sự
thay đổi về quan niệm phân biệt giá trị con
trai con gái trong gia đình Việt Nam
hiện nay. Bối cảnh hiện đại hoá thể
giải cho việc con cái tuy vẫn ý nghĩa
quan trọng trong cuộc sống gia đình nhưng
ảnh hưởng không mạnh tới sự hài lòng về
hôn nhân của những người làm cha mẹ
Việt Nam. Điều này khá đồng nhất với các
nghiên cứu về ảnh hưởng của con cái trong
quan hệ hôn nhân trên thế giới.
Hoạt động nghề nghiệp được đo lường
thông qua chỉ báo về trình độ chuyên môn
ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng cao
đối với hôn nhân. Những người làm công
66
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
việc đòi hỏi trình độ cao cấp hay trung cấp
xác suất rất hài lòng về hôn nhân cao
hơn khoảng 2,6 lần so với những người làm
công việc lao động giản đơn.
Mức sống tiếp tục được xác nhận yếu
tố quan trọng trong cuộc sống hôn nhân.
Những người mức sống khá trở lên
xác suất rất hài lòng về hôn nhân gấp gần 3
lần so với những người thuộc nhóm nghèo.
Một chỉ báo khác liên quan đến đời sống
vật chất sự khác biệt về thu nhập giữa vợ
chồng. Quan niệm truyền thống vốn coi
nam giới trụ cột kinh tế gia đình, vậy,
kỳ vọng của mọi người thu nhập của
người chồng cao hơn người vợ.lẽ, đó
do khiến cho nhóm người vợ thu
nhập cao hơn chồng có xác suất rất hài lòng
về hôn nhân thấp hơn đáng kể so với nhóm
vợ chồng thu nhập ngang nhau hoặc
chồng thu nhập cao hơn (chỉ bằng
khoảng gần 0,7 lần). Kết quả này phản ánh
một phần sự bảo lưu định kiến giới truyền
thống về vai trò của người vợ người
chồng trong kinh tế gia đình.
Như đã chỉ ra một số nghiên cứu,
trong nhiều năm qua đã một số thay đổi
đáng kể về bình đẳng giới trong đời sống
gia đình, tuy nhiên, khuôn mẫu giới trong
công việc nhà vẫn còn được bảo lưu mạnh
mẽ [1], [6, tr.51-59]. Nghiên cứu hôn nhân
2017 tiếp tục xác nhận khuôn mẫu đó. Tỷ lệ
các gia đình người vợ người làm công
việc nội trợ nhiều hơn người chồng khá
cao. Tuy nhiên, xét chung thì sự thay đổi
khuôn mẫu này theo hướng chia sẻ công
việc nội trợ chưa tác động mạnh để làm
tăng sự hài lòng hôn nhân cho người dân.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, sau
khi đã tính đến vai trò của các biến số khác,
những người ở nông thôn có xác suất hài
lòng hôn nhân cao hơn đáng kể so với
người dân ở thành thị.
Do nam nữ cảm nhận hài lòng hôn
nhân khác nhau đáng kể các yếu tố ảnh
hưởng cũng thể thể hiện khác nhau
nhóm nam hay nhóm nữ (chẳng hạn vai
trò các yếu tố thuộc về định kiến giới),
nghiên cứu đã tiến hành phân tích các yếu
tố tác động riêng đối với sự hài lòng hôn
nhân của nam và nữ. Bảng 5 cũng cho thấy,
về bản, vai trò của các yếu tố tác động
mạnh đến sự hài lòng mỗi giới cũng phù
hợp với hình chung. Tuy nhiên, một
số khác biệt cho thấy rõ hơn đặc trưng giới.
Đối với nam giới (mô hình nam), sự
khác biệt về xác suất hài lòng cao về hôn
nhân giữa các độ tuổi trẻ so với độ tuổi 60
trở lên thể hiện hơn. Nhìn chung, so với
nhóm tuổi 60 trở lên, các nhóm độ tuổi
trẻ hơn đều xác suất hài lòng cao chỉ
bằng khoảng từ 1/3 đến 1/2. Về học vấn,
chỉ nhóm trung học phổ thông xác
suất hài lòng cao hơn đáng kể so với nhóm
có học vấn trung cấp - cao đẳng - đại học.
Những người một con xác suất rất
hài lòng về hôn nhân cao hơn những người
khác. Về giới tính con cái, điều đặc biệt
nhóm chỉ con trai lại xác suất rất hài
lòng thấp hơn đáng kể so với nhóm cả
con trai con gái. Nhìn chung, nếp
tẻ vẫn là mong ước lớn của nam giới.
Đối với nam giới thì sự khác biệt thu
nhập hay tham gia công việc nội trợ tác
động đến sự hài lòng hôn nhân mạnh hơn
so với hình chung. Những người
trong gia đình công việc nội trợ được chia
sẻ ngang nhau giữa vợ chồng thì xác
suất hài lòng hôn nhân cao gấp 1,7 lần so
với những người một trong hai vợ
chồng phải làm việc nội trợ nhiều hơn.
67
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
Đối với phụ nữ (mô hình nữ), khác với
nam giới, ảnh hưởng của yếu tố tuổi đến sự
hài lòng hôn nhân là không đáng kể. Những
người học vấn thấp thì xác suất rất hài
lòng hôn nhân cao hơn rệt so với người
có học vấn cao. Trong trường hợp vợ có thu
nhập cao hơn chồng thì xác suất rất hài lòng
hôn nhân không thấp đáng kể so với trường
hợp vợ chồng thu nhập bằng nhau, cho
khả năng rất hài lòng cũng thấp hơn. Một
điểm nữa sự tham gia công việc nội trợ
khác nhau giữa vợ chồng không tác
động đáng kể đến xác suất rất hài lòng hôn
nhân của người vợ. Nói cách khác, các biến
số đo lường về định kiến giới cho thấy yếu
tố này ảnh hưởng đến nam giới nhiều hơn
đến phụ nữ. Ngoài ra, khác biệt giữa nhóm
phụ nữ sống nông thôn thành thị
không thực sự đáng kể.
4. Kết luận
Với một lượng mẫu phân tích lớn, kết quả
khảo sát hôn nhân năm 2017 cho thấy, nhìn
chung, người dân Việt Nam hài lòng về hôn
nhân của mình cũng như với các mặt cụ thể
của đời sống hôn nhân với mức độ cao. Mối
tương quan mạnh giữa sự hài lòng chung
hài lòng ở từng khía cạnh cụ thể cho thấy, 6
lĩnh vực được phân tích những mặt rất
quan trọng trong đời sống hôn nhân. Kết
quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tình cảm
vợ chồng ý nghĩa quan trọng nhất đối
với đời sống hôn nhân, tiếp đó tính cách
và ứng xử của vợ/chồng.
Xem xét vai trò của các biến số nhân
khẩu - hội đối với sự hài lòng về hôn
nhân, kết quả phân tích cho thấy, nam hài
lòng hôn nhân cao hơn nữ, điều này là phù
hợp với hầu hết phát hiện của các nghiên
cứu trước đây [10, tr.59-70], [20, tr.226-
230], [17, tr.1143-1155]. Người cao tuổi
hài lòng về hôn nhân hơn người trẻ tuổi,
do bản thể những người cao tuổi
về bản đã hoàn thành các mục tiêu cuộc
sống, trong khi những người trẻ tuổi hơn thì
đang nhiều mối quan tâm phải giải
quyết. Kết quả này khác với một số phát
hiện đã trước đây [20, tr.226-230], [27,
tr.941-955]. Những người học vấn cao
hơn dường như yêu cầu cao hơn về cuộc
sống hôn nhân của mình, vậy sự hài lòng
hôn nhân của họ thấp hơn những người
học vấn thấp. Số lượng con cái ảnh
hưởng đến sự hài lòng hôn nhân, tuy nhiên,
theo xu hướng ngược với khuôn mẫu truyền
thống. Những người một - hai con
mức độ hài lòng hôn nhân cao hơn những
người chưa có con và những người có 3 con
trở lên. Trong khi đó, giới tính con cái
không ảnh hưởng đáng kể đến sự hài
lòng hôn nhân. Những kết quả này khác với
một số phát hiện trước đây các nước.
Điều này cho thấy tính đa dạng trong ảnh
hưởng của yếu tố con cái đến sự hài lòng
hôn nhân.
Những người trình độ nghề nghiệp
cao hơn thể hiện mức độ hài lòng cao hơn
đối với hôn nhân của mình. Mức sống cao
cũng ảnh hưởng đáng kể làm tăng shài
lòng về hôn nhân như đã được chỉ ra một
số nghiên cứu khác [11]. Những người sống
nông thôn xác suất hài lòng cao hơn
những người ở đô thị. Điều này có thể được
giải do đòi hỏi cao hơn về cuộc sống
hôn nhân của những người dân đô thị.
Một số phát hiện quan trọng trong nghiên
cứu này có liên quan đến việc so sánh
đặc điểm vợ chồng, bởi lẽ trong hôn nhân,
68
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
sự hòa hợp, tương tác giữa hai vợ chồng rất
ý nghĩa. Phân tích cho thấy, chênh lệch
tuổi giữa vợ chồng không thực sự tác
động quan trọng đến sự hài lòng hôn nhân.
Trong khi đó, sự khác biệt giữa vợ
chồng về học vấn, thu nhập đều ảnh
hưởng đáng kể đến sự hài lòng hôn nhân.
Điểm chung của các phát hiện này là,
dường như định kiến giới truyền thống về
vai trò của vợ chồng vẫn sức sống
mạnh mẽ trong đời sống hôn nhân Việt
Nam. Những người trong gia đình vợ
học cao hơn chồng hay vợ thu nhập cao
hơn chồng thì shài lòng thấp hơn. Tuy
nhiên, một điểm sáng về thay đổi nhận thức
giới đó là, giới tính con cái không ảnh
hưởng đến sự hài lòng hôn nhân. Phát hiện
đáng quan tâm nữa là, định kiến giới về
trách nhiệm trong việc lo kinh tế thực
hiện công việc nội trợ của gia đình ảnh
hưởng đến sự hài lòng về hôn nhân của
nam giới hơn là của phụ nữ.
Chú thích
5 Thành phố Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,
thành phố Cần Thơ, Yên Bái, Nam Định, Thừa
Thiên - Huế, Đắk Lắk.
Tài liệu tham khảo
[1] B Văn hóa, Thể thao Du lịch, Tổng cục
Thống kê, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới,
UNICEF (2008), Kết quả điều tra gia đình
Việt Nam năm 2006, Hà Nội.
[2] Hoàng Đốp (2004), “Giá trị con cái trong gia
đình”, Xu hướng gia đình ngày nay (Một vài
đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải
Dương), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[3] Phan Thị Mai Hương (2014), “Cảm nhận hạnh
phúc chủ quan của người nông dân”, Tạp chí
Tâm lý học, số 185.
[4] Trần Đình Hượu (1991), “Về gia đình truyền
thống Việt Nam với ảnh hưởng nho giáo”,
Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[5] Đỗ Thiên Kính (2009), “Gia đình hạnh phúc
nông thôn Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 1.
[6] Nguyễn Hữu Minh (2015), “Gia đình Việt
Nam sau 30 năm đổi mới”, Tạp chí Khoa học
xã hội Việt Nam, số 11.
[7] Nguyễn Hữu Minh (2018), Khảo sát thực tế trong
đề tài “Những đặc điểm cơ bản của hôn nhân ở Việt
Nam hiện nay và các yếu tố ảnh hưởng”.
[8] Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng (2011),
“Thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về hôn
nhân gia đình”, Tạp chí Nghiên cứu Gia
đình và Giới, số 4.
[9] Hoàng Thịnh (2012), “Sự hài lòng với hôn
nhân, gia đình”, Tạp chí Dân số Phát triển,
số 8 (137).
[10] Allendorf, K. and Ghimire, D.J (2013),
“Determinants of marital quality in an arranged
marriage society”, Social Science Research, 42 (1).
[11] Amato, P. R., Booth, A., Johnson, D. R., Rogers,
S. F., (2007), Alone together: how marriage
in America is changing”, Harvard University
Press, the United State.
[12] Andersson, G. and Woldemicael, G. (2001),
“Sex composition of children as a determinant
of marriage disruption and marriage formation:
Evidence from Swedish register data”, Journal
of Population Research, 18 (2).
[13] Bradbury Thomas N., Frank D. Fincham,
Steven R. H. Beach (2000), “Research on the
NatureandDeterminantsofMarital
Satisfaction: A Decade in Review”, Journal of
Marriage and Family, 62 (4).
69
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
[14] Bulanda, J. R. (2011), “Gender, Marital Power,
and Marital Quality in Later Life”, Journal of
Women & Aging, 23 (1).
[15] Dillon, L.M. and Beechler, M. P (2010),
“Marital satisfaction and the impact of children
in collectivist cultures: A meta-analysis”,
Journal of Evolutionary Psychology, 8 (1).
[16] Ghahremani, F., Doulabi, M. A., Eslami, M. &
Shekarriz-Foumani, R. (2017), “Correlation
Between Number and Gender Composition of
Children and Marital Satisfaction in Women
Presenting to Health Centers in Tehran-Iran,
2015”, Iranian Journal of Psychiatry and
Behavioral Sciences, 11 (2).
[17] Halpern-Meekin, S., & Tach, L. (2013),
“Discordance in couples’ reporting of courtship
stages: Implications for measurement and
marital quality”, Social Science Research, 42.
[18] Jose, O. & Alfons, V. (2007), “Do
Demographics Affect Marital Satisfaction?”,
Journal of Sex & Marital Therapy, 33 (1).
[19] Kohler, H.P., Behrman, J.R., & Skytthe, A.
(2005), “Partner + Children = Happiness? The
Effects of Partnerships and Fertility on Well-
Being”, Population Development Review, 31 (3).
[20] Lee, G., & Shehan, C. L. (1989), “Retirement
and marital satisfaction”, Journal of Geron-
tology, 44 (6).
[21] Lundberg, S. (2005), “Sons, daughters, and
parental behavior”, Oxford Review of
Economic Policy, 21 (3).
[22] Li Tianyuan and Fung Helene H. (2011), “The
Dynamic Goal Theory of Marital Satisfaction”,
Review of General Psychology, Vol. 15, No. 3.
[23] Lichter, D. L., & Carmalt, J. H. (2009), “Religion
and marital quality among low-income couples”,
Social Science Research, 38.
[24] Mizell, C. A. and Steelman, L. C. (2000), “All My
Children: The Consequences of Sibling Group
Characteristics on the Marital Happiness of Young
Mothers”, Journal of Family Issues, 21 (7).
[25] Moshfeg, M. and Gharib, E. S. (2012), “Analysis
of the relationship between the value of children
and fertility among women in Tehran”, Journal
of Women's Strategy Studies, 15 (58).
[26] Onyishi, E.I., Sorokowski, P., Sorokowska, A.,
& Pipitone, R. N. (2012), “Children and
marital satisfaction in a non-Western sample:
having more children increases marital
satisfaction among the Igbo people of Nigeria”,
Evolution and Human Behavior, 33 (6).
[27] Rhyne, D. (1981), “Bases of marital
satisfaction among men and women”, Journal
of Marriage and Family, 43 (4).
[28] Roach, A., Frazier, L., & Bowden, S. (1981),
“The marital satisfaction scale: Development
of a measure of intervention research”, Journal
of Marriage and Family, 43.
[29] Twenge, J. M., Campbell, W. K. and Foster,
C.A. (2003), “Parenthood and marital
satisfaction: A meta-analytic review”, Journal
of Marriage and Family,
70

Preview text:

Sự hài lòng về hôn nhân của người Việt Nam
và các nhân tố ảnh hưởng

Phan Thị Mai Hương1, Nguyễn Hữu Minh2, Phạm Phương Thảo3, Đỗ Thị Lệ Hằng4 1,3,4
Viện Tâm lý học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
2 Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Email: huongphanmai@gmail.com, minhnguyen.ifgs@gmail.com
Nhận ngày 25 tháng 9 năm 2019. Chấp nhận đăng ngày 3 tháng 5 năm 2020.
Tóm tắt: Trên cơ sở điều tra, khảo sát về hôn nhân năm 2017 với 1.819 người tại 7 tỉnh ở Việt
Nam, nghiên cứu này chỉ rõ: phần lớn người dân Việt Nam hài lòng về hôn nhân của mình cũng
như về các mặt của hôn nhân ở mức độ cao, trong đó hài lòng hơn cả về tình cảm vợ chồng, ít hài
lòng hơn cả về đời sống vật chất của vợ chồng. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ rõ các nhân tố ảnh
hưởng tới sự hài lòng về hôn nhân, bao gồm các nhân tố nhân khẩu - xã hội, như: giới tính, lứa
tuổi, sự khác biệt giữa vợ và chồng về học vấn, thu nhập, khu vực sống và số lượng con cái.
Từ khóa: Hôn nhân, nhân tố ảnh hưởng, nhân khẩu - xã hội, sự hài lòng, Việt Nam.
Phân loại ngành: Xã hội học
Abstract: Based on the 2017 marriage survey conducted with 1,819 people in seven provinces in
Vietnam, this study shows that the majority of Vietnamese people are satisfied with their marriage,
as well as aspects of the marriage, to a high extent. Among the aspects, they are most satisfied with
the emotions of theirs and the spouses, while being less satisfied with the material life. At the same
time, the study also identified factors affecting the satisfaction towards the marriage, including the
socio-demographic factors, such as gender, age, the differences between husband and wife in
education and income, and area of residence and number of children.
Keywords: Marriage, impacting factor, socio-demographic, satisfaction, Vietnam.
Subject classification: Sociology 1. Đặt vấn đề
số yếu tố cơ bản tác động đến sự hài lòng hôn
nhân, như: giới tính, lứa tuổi, khu vực sống,
Hài lòng hôn nhân là đánh giá chủ quan của
số lượng con cái hay giới tính con cái…
một người về chất lượng hôn nhân của mình
Nhiều nghiên cứu trên thế giới, cả ở phương
[22, tr.246-254], [28, tr.537-546]. Một
Đông và phương Tây, đã chỉ ra rằng 57
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
phụ nữ ít hài lòng về hôn nhân hơn so với
mức độ không hài lòng trong hôn nhân [29,
nam giới [10, tr.59-70], [20, tr.226-230],
tr.574-583], [18, tr.73-85]. Theo Kohler,
[17, tr.1143-1155]. Theo Bulanda [13],
Behrman và Skytthe [19], tại Đan Mạch, sự
khác biệt về giới trong sự hài lòng hôn nhân
ra đời của đứa con đầu tiên là nguồn vui rất
bị ảnh hưởng bởi việc làm, chăm sóc con
quan trọng đối với phụ nữ ở độ tuổi từ 25-
cái, chăm sóc gia đình và yếu tố sức khỏe.
45 cũng như người chồng của họ. Tuy
Bên cạnh đó, tuổi tác cũng có thể ảnh
nhiên, sự ra đời của những đứa con kế tiếp
hưởng đến mối quan hệ ở các cuộc hôn
không còn tạo được ảnh hưởng như vậy nữa
nhân dài hạn. Một số nghiên cứu cho thấy
với phụ nữ. Dường như phụ nữ kỳ vọng
biến thiên của sự hài lòng hôn nhân theo độ
rằng đứa con đầu tiên giúp họ chứng minh
tuổi là không đồng nhất. Lee và Shehan
được sự nữ tính của mình và đồng thời thắt
[20] chỉ ra rằng sự hài lòng hôn nhân giảm
chặt cuộc hôn nhân. Tuy nhiên, với những
đi theo tuổi tác trong khi Rhyne [27] lại cho
đứa con sau, họ lại cảm thấy rất không hài
thấy sự biến đổi của nó theo đường cong.
lòng về cuộc sống hôn nhân, bởi họ là
Con cái có ảnh hưởng đến sự hài lòng
người chăm sóc con cái chính trong nhà và
hôn nhân, tuy nhiên các nghiên cứu chỉ ra
họ phải trải nghiệm nhiều áp lực và căng
rằng, có những khác biệt nhất định về mức
thẳng hơn người chồng của mình [16].
độ ảnh hưởng của con cái ở các xã hội
Ở một số nước mang tính cộng đồng cao,
phương Tây và phương Đông. Nhìn chung,
nhiều tác giả đã nhận thấy rằng số lượng con
ở phương Tây, giai đoạn chuyển sang vai
cái và sự hài lòng hôn nhân có mối quan hệ
trò làm cha mẹ được cho rằng làm giảm sút
tương quan thuận chiều: hầu hết các gia đình
chất lượng hôn nhân [13, tr.964-980], [29,
thường là gia đình lớn, và các thành viên gia
tr.574-583]. Bởi theo những người làm cha
đình khác sẽ hỗ trợ người mẹ nuôi dạy con
mẹ, con cái làm hạn chế sự gần gũi giữa hai cái [26], [15, tr.7-22].
vợ chồng và do đó ảnh hưởng đến sự hài
Tuy nhiên, ở các nước phát triển, sự
lòng của họ, biểu hiện: vợ chồng dành ít
tham gia lao động của người phụ nữ bên
thời gian cho nhau, ít giao tiếp với nhau và
ngoài phạm vi gia đình, chi phí nuôi dạy và
có thể trải qua nhiều xung đột hơn khi họ
cho con đi học tăng dần, sự phụ thuộc của
gánh vác vai trò làm cha mẹ.
cha mẹ già vào con cái giảm đi (vì có hệ
Trong khi đó, ở các nước phương Đông,
thống an sinh xã hội). Điều này làm cho
ví dụ: ở Nepal [10, tr.59-70], việc có con là
việc có nhiều con không phải là sự kỳ vọng
một giá trị được coi trọng và là một phần
của nhiều người [25, tr.12-94].
thiết yếu đối với hôn nhân. Do đó, việc có
Nhiều công trình nghiên cứu cũng chỉ ra
con làm tăng sự hài lòng trong hôn nhân.
ảnh hưởng của giới tính con cái đến mức độ
Hơn thế, việc chăm sóc con cái ở Nepal
hài lòng trong hôn nhân của cha mẹ, tuy
không chỉ được đảm nhận bởi các cặp vợ
nhiên các phát hiện không thống nhất với
chồng mà còn bởi nhiều thành viên khác
nhau. Kết quả nghiên cứu tại Mỹ [21] cho
sống cùng trong gia đình hoặc sống gần với
biết chồng và vợ có con trai cảm thấy thỏa
gia đình. Điều đó góp phần giảm bớt ảnh
mãn trong hôn nhân cao hơn so với những
hưởng của việc chăm sóc con cái đến hai
cặp vợ chồng chỉ có con gái. Andersson và vợ chồng.
Woldemicael [12] chỉ ra rằng ở Thụy Điển,
Những nghiên cứu gần đây cho thấy số
cha mẹ có cả con trai và con gái thường ít
lượng con cái có liên quan mật thiết đến
có xu hướng ly dị hơn những cặp cha mẹ có 58
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
con một bề. Trái ngược hẳn với điều này,
cứu một cách hệ thống ở Việt Nam. Dựa
Mizell và Steelman [24] lại phát hiện thấy
trên kết quả cuộc khảo sát “Những đặc
rằng việc có con một bề tạo ảnh hưởng tích
điểm cơ bản của hôn nhân ở Việt Nam hiện
cực tới sự hài lòng hôn nhân hơn so với
nay và các yếu tố ảnh hưởng” thuộc
việc có cả con trai và con gái. Khi có con
Chương trình cấp Bộ “Nghiên cứu, đánh
cái ở cả hai giới, cha mẹ có thể bị chia rẽ
giá tổng thể về gia đình thời kỳ công nghiệp
thành hai nhóm do chính giới tính của mình
hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
và sự chia rẽ này làm giảm tương tác mang
quốc tế”, với 1.819 phỏng vấn bằng bảng
tính cặp đôi giữa hai người.
hỏi, tại các địa phương thuộc 7 tỉnh/thành
Điều kiện kinh tế có tác động không nhỏ
phố ở Việt Nam5, bài viết này phân tích sự
đến đời sống của các cặp vợ chồng và đến
hài lòng về hôn nhân của người Việt Nam
chất lượng hôn nhân của họ. Nghiên cứu
và các yếu tố ảnh hưởng.
của Amato cùng công sự [12] cho thấy,
việc giảm những lo lắng về kinh tế sẽ làm
gia tăng sự hài lòng hôn nhân, đồng thời
2. Sự hài lòng về hôn nhân của người
làm giảm xung đột trong hôn nhân. Việt Nam
Như vậy, sự hài lòng về hôn nhân có thể
biểu hiện khác nhau ở các xã hội, đồng thời
2.1. Sự hài lòng về hôn nhân nói chung và
vai trò của các yếu tố nhân khẩu - xã hội
về các mặt của đời sống hôn nhân
đối với sự hài lòng hôn nhân không đồng
nhất, mà phụ thuộc vào bối cảnh khảo sát.
Bảng 1 cho thấy rõ mức độ hài lòng về hôn
Cho đến nay, chủ đề về sự hài lòng hôn
nhân nói chung và với các mặt của đời sống
nhân gần như chưa được quan tâm nghiên
hôn nhân của người Việt Nam.
Bảng 1: Sự hài lòng về hôn nhân của người Việt Nam [7]
(N=1819, điểm trung bình dựa trên thang điểm 10) Trung bình Độ lệch chuẩn
Hài lòng chung về hôn nhân 8,20 1,25 Tình cảm 8,37 1,34
Sự đồng thuận/ hiểu biết 8,25 1,37 Đời sống tình dục 8,08 1,50 Đời sống vật chất 7,58 1,60
Thực hiện việc gia đình 8,09 1,60
Tính cách và ứng xử của vợ/ chồng 8,21 1,45
Điểm trung bình từ 7,58 trở lên trên thang
số người được hỏi (42,4%,). Trong khi đó,
điểm 10 cho thấy rằng người dân rất hài lòng
những người không hài lòng với hôn nhân
với hôn nhân của mình, trên bình diện chung,
của mình (điểm 4 trở xuống) chỉ chiếm 1%.
cũng như ở từng khía cạnh cụ thể. Chỉ riêng
Kết quả cho thấy, người Việt Nam hài lòng
những người rất hài lòng với hôn nhân (điểm
nhất về tình cảm vợ chồng và ít hài lòng
9 và 10) đã chiếm gần một nửa
hơn với đời sống vật chất của gia đình. 59
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
Việc thu thập dữ liệu bằng cách hỏi trực
lực…). Câu hỏi đặt ra ở đây là: quan hệ
tiếp về những vấn đề liên quan đến đánh giá,
giữa sự hài lòng nói chung về hôn nhân với
nhất là về hôn nhân, nhiều người Việt Nam
các khía cạnh khác nhau này như thế nào?
có thể e ngại đánh giá thấp sự hài lòng của
So sánh điểm hài lòng chung về hôn
mình với người lạ. Tâm lý “cái tốt trưng ra,
nhân (điểm trung bình 8,2) với điểm trung
cái xấu đậy lại” có thể ảnh hưởng đến câu trả
bình cộng 6 mặt của đời sống hôn nhân
lời của người dân về vấn đề này, khiến họ
(điểm trung bình 8,09) thì thấy chúng
đánh giá cao sự hài lòng của mình. Tuy
không hoàn toàn trùng khít mà có sự chênh
nhiên, trên một bình diện khác, kết quả này
lệch, nhưng không đáng kể. Tương quan
khá thống nhất với những nghiên cứu cùng
giữa sự hài lòng chung về hôn nhân với hài
chủ đề ở Việt Nam. Đó là mức độ hài lòng
lòng về từng mặt của đời sống hôn nhân
với hôn nhân luôn được đánh giá ở mức cao
trong nghiên cứu này là thuận và khá chặt
[3, tr.28-41], [5, tr.47-56; 8].
(hệ số tương quan R nằm trong khoảng
Đánh giá hài lòng về hôn nhân có thể là
0,65-0,84) nghĩa là ở những cặp vợ chồng
sự nhìn nhận chung của cá nhân về hôn
có sự hài lòng hôn nhân nói chung mà cao
nhân ngay tại thời điểm khảo sát, nhưng đó
thì cũng hài lòng cao về từng mặt và ngược
cũng có thể là đánh giá cả quá trình hôn
lại. Như thế, sự hài lòng chung phản ánh sự
nhân trên tổng thể. Dù là đánh giá mang
hài lòng của từng mặt trong đời sống hôn
tính thời điểm hay quá trình thì nó cũng nhân.
phản ánh sự gặp gỡ giữa cái họ có được từ
So sánh vai trò của từng mặt đối với sự
hôn nhân với những chuẩn mực riêng mà
hài lòng hôn nhân nói chung, phân tích hồi
họ đặt ra cho hôn nhân. Thực tế đời sống
qui tuyến tính bội cho thấy rằng, 6 mặt
hôn nhân bao gồm đa dạng các khía cạnh
được khảo sát trong nghiên cứu này đều là
khác nhau, thậm chí rất khác biệt như: vật
những yếu tố dự báo mạnh cho hài lòng
chất (tiền bạc, thu nhập, chi tiêu, tài sản…),
chung, chứng tỏ đó là những mặt rất quan
tinh thần (tình cảm, văn hóa ứng xử…),
trọng của đời sống hôn nhân, góp phần tạo
thực thể (tình dục, sự hấp dẫn thể xác, sức
ra hạnh phúc vợ chồng (Bảng 2).
khỏe…), người bạn đời (tính cách, năng
Bảng 2: Dự báo của các mặt trong đời sống hôn nhân đến sự hài lòng hôn nhân [7] Các biến độc lập:
Biến phụ thuộc: Sự hài lòng chung về hôn nhân Sự hài lòng về: ß T P Tình cảm vợ chồng 0,417 21,926 < 0.01
Tính cách và ứng xử của vợ/ chồng 0,194 10,135 < 0.01 Đời sống vật chất 0,145 10,489 < 0.01 Đời sống tình dục 0,108 7,136 < 0.01
Sự đồng thuận/ hiểu biết 0,099 5,304 < 0.01
Thực hiện việc gia đình 0,074 4,595 < 0.01
Hệ số tương quan R2 điều chỉnh 0,802 Hệ số F(6,1806) 1224,529 60
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
Kết quả cho thấy: khi những điều kiện
8,29) so với các nhóm còn lại (điểm trung
khác là như nhau, thì đối với người Việt
bình 8,15). Như vậy, nhìn chung có sự tăng
Nam, trong hôn nhân, dù rất hài lòng chỉ
lên mức độ hài lòng theo tuổi tác, tuy
một mặt nào đó thì cũng có thể vừa đủ để
nhiên, quan hệ này không tuyến tính. Kết
làm vợ chồng cảm thấy hài lòng, chứ không
quả cũng chỉ ra không có sự khác biệt đáng
nhất thiết mọi thứ đều phải hoàn hảo.
kể về mức độ hài lòng hôn nhân giữa các
Ngược lại, rất không hài lòng với chỉ một
nhóm có trình độ học vấn khác nhau.
lĩnh vực nào đó, chất lượng hôn nhân cũng
Phân tích theo đặc điểm số con có thể
có thể bị suy giảm. Kết quả cũng cho thấy
nhận thấy mức độ hài lòng hôn nhân của
rằng, trong số các mặt được khảo sát, sự hài
nhóm có một con (điểm trung bình 8,62)
lòng với tình cảm vợ chồng có ý nghĩa
cao hơn đáng kể so với các nhóm khác, đặc
mạnh nhất đối với sự hài lòng chung về hôn
biệt là hơn nhóm có từ ba con trở lên (điểm
nhân. Đây là lĩnh vực riêng tư và có thể coi
trung bình 8,09). Theo truyền thống Việt
là lĩnh vực quan trọng nhất làm nên chất
Nam, con cái là giá trị quan trọng của hạnh
lượng của đời sống vợ chồng. Yếu tố quan
phúc hôn nhân, đông con nhiều cháu là một
trọng thứ 2 là hài lòng về tính cách và cách
trong những mong muốn của nhiều gia đình
ứng xử của vợ/ chồng; xếp vị trí cuối cùng
truyền thống [4, tr.25-46], [6, tr.51-59]. Tuy
là hài lòng về thực hiện việc nhà của bạn
nhiên, kết quả này cho thấy, hiện nay, quan đời.
niệm này cũng đang dần thay đổi. Kết quả
này cũng thống nhất với Kết quả điều tra
2.2. Sự hài lòng về hôn nhân theo các đặc
gia đình Việt Nam năm 2006 [1], đa số
điểm nhân khẩu - xã hội
người trả lời khảo sát, đặc biệt là nhóm vị
thành niên, không đồng ý với việc gia đình
Các nghiên cứu đã chỉ ra, sự hài lòng hôn
có nhiều con mặc dù, việc sinh con vẫn tiếp
nhân của mỗi cá nhân có mối quan hệ với
tục là một chức năng quan trọng của gia
đặc điểm nhân khẩu của họ. Do mối tương
đình. Điều đó gợi ý rằng, sinh nhiều con
quan chặt chẽ giữa sự hài lòng chung với sự
không còn là chỉ báo quan trọng của sự hài
hài lòng các mặt cụ thể, ở đây tập trung lòng hôn nhân.
phân tích mối quan hệ giữa sự hài lòng
Bên cạnh yếu tố số con thì giới tính con
chung và các đặc điểm nhân khẩu - xã hội
cũng có ý nghĩa quan trọng đối với người
(gồm: giới tính, tuổi, học vấn, số con, giới
Việt Nam. Gia đình Việt Nam truyền thống
tính con, hoạt động nghề chính trong 12
coi trọng con trai hơn con gái vì có liên
tháng trước khảo sát, mức sống, và khu vực
quan đến sự nối dõi tông đường và nghĩa vụ sống).
chăm sóc cũng như quyền lợi thừa kế của
Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể
những đứa con sau này [2, tr.123-132]. Kết
giữa nam (điểm trung bình 8,43) và nữ
quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006
(điểm trung bình 8,09) về mức độ hài lòng
[1] và Nghiên cứu vị thành niên và thanh
hôn nhân (p<0,01). Đối với các nhóm tuổi,
niên Việt Nam năm 2009 [8, tr.3-14] cũng
sự khác biệt thể hiện chủ yếu giữa nhóm
cho thấy một bộ phận lớn dân cư và thanh
tuổi từ 60 tuổi trở lên (điểm trung bình
niên vẫn còn mong muốn nhất thiết phải có
8,76) và nhóm 40-49 tuổi (điểm trung bình
con trai. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, 61
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
giả định về mức độ hài lòng hôn nhân cao
thậm chí mức độ hài lòng cao nhất thuộc về
hơn đối với gia đình có con trai so với gia
nhóm người chỉ có con gái (điểm trung
đình có con gái, không được xác nhận, bình 8,50) (Bảng 3).
Bảng 3: Mức độ hài lòng về hôn nhân theo đặc điểm nhân khẩu - xã hội [7].
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội Điểm hài lòng Độ lệch N trung bình chuẩn Chung 8,25 2,47 1819 Giới tính** Nam 8,43 1,05 873 Nữ 8,09 3,26 946 Nhóm tuổi* 29 trở xuống 8,15 0,98 159 30-39 8,15 1,18 509 40-49 8,29 1,18 480 50-59 8,15 1,33 478 60 trở lên 8,76 6,69 192 Học vấn hiện tại Tiểu học trở xuống 8,09 1,35 390 Trung học cơ sở 8,21 1,23 658 Trung học phổ thông 8,50 4,51 433
Trung cấp-Cao đẳng-Đại học 8,19 1,29 337 Số con* Chưa có con 8,18 1,01 72 Một con 8,62 4,96 356 Hai con 8,23 1,25 820 Ba con trở lên 8,07 1,27 571 Giới tính con Chưa có con 8,18 1,01 72 Chỉ con trai 8,26 1,23 461 Chỉ con gái 8,50 4,91 368 Có cả trai và gái 8,15 1,26 918 Hoạt động chính Cao cấp-Trung cấp 8,41 1,24 225 12 tháng
trước Sơ cấp-nhân viên kỹ thuật 8,21 1,25 406 khảo sát Không làm việc 8,50 1,27 163 Lao động giản đơn 8,19 3,12 1007 Mức sống** Khá 8,49 1,12 282 Trung bình 8,27 2,76 1348 Nghèo 7,79 1,50 189 Khu vực Nông thôn 8,16 1,23 1012 Thành thị 8,36 3,44 807
Ghi chú: Mức ý nghĩa thống kê * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001.
Yếu tố việc làm tỏ ra không có ảnh
nhân viên kỹ thuật và nhóm lao động giản
hưởng đáng kể đến mức độ hài lòng, mặc
đơn. Nhóm không làm việc có mức độ hài
dù nếu xét theo trình độ chuyên môn thì
lòng cao nhất, tuy nhiên nhóm này không
nhóm có trình độ cao cấp - trung cấp vẫn có
phân biệt rõ về mặt trình độ chuyên môn
mức độ hài lòng cao hơn nhóm sơ cấp -
với các nhóm khác, vì vậy không sử dụng 62
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
để so sánh. Không có gì ngạc nhiên khi có
Sự hài lòng với hôn nhân có thể bị ảnh
khác biệt đáng kể về mức độ hài lòng hôn
hưởng bởi những khác biệt giữa vợ và
nhân giữa nhóm có mức sống khá trở lên
chồng. Nghiên cứu này kiểm chứng mối
(điểm trung bình 8,49) với nhóm nghèo
liên hệ giữa sự hài lòng hôn nhân và khác
(điểm trung bình 7,79), p<0,01. Người
biệt về đặc điểm vợ chồng với giả định
thành thị có mức hài lòng hôn nhân cao hơn
rằng, sự hài lòng hôn nhân sẽ cao hơn nếu nông thôn.
các cặp vợ chồng có sự tương đồng nhau về
đặc điểm nhân khẩu - xã hội. Có 4 biến số
2.3. Sự hài lòng về hôn nhân theo so sánh
độc lập được sử dụng là sự khác biệt về
đặc điểm của vợ và chồng
tuổi, học vấn, thu nhập và tham gia công việc nội trợ (Bảng 4).
Bảng 4: Mức độ hài lòng về hôn nhân theo đặc điểm nhân khẩu - xã hội so sánh giữa vợ và chồng [7].
Đặc điểm nhân khẩu - xã hội Điểm hài lòng Độ lệch N trung bình chuẩn Chung 8,25 2,47 1819 Sự khác biệt về Vợ hơn chồng 8,25 1,25 196 tuổi Vợ bằng chồng 8,29 1,24 220 Chồng hơn vợ 1-5 tuổi 8,24 3,11 1024
Chồng hơn vợ 6 tuổi trở lên 8,27 1,18 373 Khác biệt học Bằng nhau 8,29 3,05 1065 vấn giữa vợ và Vợ hơn chồng 8,11 1,17 283 chồng Chồng hơn vợ 8,27 1,22 449 Khác biệt thu Vợ hơn chồng 7,93 1,41 310 nhập giữa vợ và Chồng hơn vợ 8,26 1,16 980 chồng* Ngang nhau 8,47 4,20 505 Tham gia công Làm bằng nhau 8,80 6,28 215 việc nội trợ** Chồng làm nhiều hơn 8,22 1,27 125 Vợ làm nhiều hơn 8,18 1,24 1464
Ghi chú: Mức ý nghĩa thống kê * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001.
Dựa vào phân bố tuổi chênh giữa vợ và
Đối với khác biệt về học vấn cũng tương
chồng mà độ chênh được chia thành các
tự, mặc dù nhóm vợ học cao hơn chồng có
nhóm cụ thể như sau: chồng ít tuổi hơn vợ; sự hài lòng kém hơn so với nhóm vợ chồng
chồng bằng tuổi vợ; chồng hơn vợ 1-5 tuổi học ngang nhau hay chồng học cao hơn vợ,
và chồng hơn vợ từ 6 tuổi trở lên. Bảng 4
nhưng khác biệt này không có ý nghĩa
cho thấy không có khác biệt đáng kể về
thống kê. Tuy nhiên, sự khác biệt về thu
mức độ hài lòng của các nhóm vợ chồng
nhập có liên quan chặt chẽ với mức độ hài
với cách biệt tuổi tác khác nhau.
lòng về hôn nhân. Những người ở nhóm vợ 63
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
chồng thu nhập ngang nhau có mức độ hài
3. Ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài
lòng cao nhất, tiếp đó đến nhóm chồng có lòng hôn nhân
thu nhập cao hơn vợ và sự hài lòng thấp
nhất rơi vào nhóm người vợ có thu nhập
Để nhận diện rõ vai trò của từng biến số cao hơn chồng.
đến sự hài lòng hôn nhân, mô hình phân
Theo quan niệm truyền thống, công việc
tích đa biến số được thực hiện. Biến phụ
nội trợ gắn với phụ nữ, từ đó có thể xuất
thuộc trong trường hợp này là khả năng
hiện định kiến giới về phân công công việc
người trả lời có sự hài lòng về hôn nhân
gia đình. Nhưng nghiên cứu này đã phát
chung. Dựa vào phân bố điểm hài lòng
hiện ra rằng, sự bình đẳng về phân công
chung về hôn nhân, có 2 nhóm được hình
công việc nội trợ gắn với hài lòng hôn
thành: 0-8 điểm (nhóm hài lòng thấp hơn);
nhân, trong đó, gia đình nào vợ chồng chia
9-10 điểm (nhóm hài lòng cao hơn), nhóm
sẻ nhiều hơn về công việc nội trợ thì mức
9-10 điểm được coi là nhóm rất hài lòng.
độ hài lòng cao hơn đáng kể so với những
Trong mô hình hồi quy logistic, các biến
gia đình mà vợ hoặc chồng làm nhiều hơn
độc lập sẽ là những yếu tố nhân khẩu - xã
(kể cả trường hợp khi người chồng làm
hội ở trên. Mô hình xem xét tác động của
nhiều việc nội trợ hơn thì mức độ hài lòng
chúng đến sự rất hài lòng với hôn nhân
không khác biệt đáng kể với trường hợp
(Bảng 5). Có 3 mô hình được phân tích là
người vợ làm nhiều hơn). Như vậy, ngày
mô hình chung dành cho tất cả những người
nay, sự bình đẳng giữa vợ chồng về làm
trả lời; mô hình nam dành cho người trả lời
việc nhà, về lao động kiếm tiền đã được đề
là nam giới; và mô hình nữ dành cho người
cao hơn, nhưng vẫn còn sự tự ti của nam trả lời là nữ giới.
giới khi thu nhập kém vợ và những người
đó ít hài lòng nhất với hôn nhân.
Bảng 5: Ảnh hưởng của các biến số nhân khẩu - xã hội đến sự hài lòng cao về hôn nhân [7]. Chung Nam Nữ
Các biến số nhân khẩu-xã hội Tỷ số chênh N Tỷ số N Tỷ số N chênh chênh Nam 1,54*** 841
Giới tính Nữ (nhóm so sánh-ss) 1 906 29 trở xuống 0,5** 155 0,36* 57 0,68 98 30-39 0,73 486 0,63 213 0,82 273 Tuổi 40-49 0,83 469 0,57* 229 1,20 240 50-59 0.77 459 0,53* 242 1,14 217 60 trở lên (nhóm ss) 1 178 1 100 1 Vợ hơn chồng 0,97 188 1,07 91 0,85 97
Khác biệt Vợ bằng chồng 1,13 210 0,95 103 1,25 107 tuổi Chồng hơn vợ 1-5 tuổi 0,83 984 0,75 461 0,88 523 64
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng Chồng hơn vợ 6 tuổi+ 1 365 1 186 1 179 (nhóm ss) Tiểu học trở xuống 2,0** 377 1,16 135 2,98** 242 Trung học cơ sở 2,0** 635 1,57 304 2,56** 331 Học vấn Trung học phổ thông 1,72** 417 1,76* 236 1,60 181 hiện tại Trung cấp-Cao đẳng-Đại 1 318 1 166 1 152 học (nhóm ss) Bằng nhau 0,91 1032 1,14 500 0,90 532 Khác biệt Vợ hơn chồng 0,68* 277 0,86 123 0,76 154 học vấn Chồng hơn vợ (nhóm ss) 1 438 1 218 1 220 Chưa có con 1,22 70 0,97 40 1,40 30 Một con 2,18*** 334 2,44** 185 1,75* 149 Số con Hai con 1,47** 791 1,18 353 1,71** 438 Ba con trở lên (nhóm ss) 1 552 1 263 1 289 Chưa có con 0,82 70 0,85 40 0,88 30 Giới tính Chỉ con trai 0,80 442 0,62* 205 1,02 237 con Chỉ con gái 0,85 351 0,80 186 0,88 165
Có cả trai và gái (nhóm ss) 1 884 1 410 1 474 Cao cấp-Trung cấp 2,54*** 222 2,41** 128 2,67* 94
Hoạt động Sơ cấp-nhân viên kỹ thuật 1,15 398 1,19 222 1,10 176 chính
Người trả Không làm việc 2,0** 145 0,88 34 2,46*** 111 lời
Lao động giản đơn (nhóm 1 982 1 457 1 525 ss) Khá 2,69*** 270 2,53** 160 2,63** 110 Mức sống Trung bình 1,27 1295 1,12 615 1,34 680 Nghèo (nhóm ss) 1 182 1 66 1 116 Vợ hơn chồng 0,68* 299 0,59* 118 0,75 181 Khác biệt Chồng hơn vợ 0,93 956 0,82 476 1,03 480
thu nhập Ngang nhau (nhóm ss) 1 492 1 247 1 245 Tham gia Làm bằng nhau 1,31 205 1,65* 108 1,05 97
công việc Chồng làm nhiều hơn 0,97 120 0,94 84 1,40 36 nội trợ
Vợ làm nhiều hơn (nhóm ss) 1 1422 1 649 1 773 Nông thôn 1,28* 987 1,47* 490 1,05 497
Khu vực Thành thị (nhóm ss) 1 760 1 351 1 409 -2 Log likelihood 2249,53 1092,49 1120,64 Nagelkerke R Square 0,1 0,11 0,1 N 1747 841 906
Ghi chú: Mức ý nghĩa thống kê: * p<0,05; ** p<0,01; *** p<0,001. 65
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
Trước hết là đối với mô hình chung.
hôn nhân là lớn hơn đáng kể. Xác suất rất
Bảng 5 cho thấy, ảnh hưởng riêng của một
hài lòng của nhóm có một con gấp đôi so
số biến nhân khẩu - xã hội đối với sự hài
với nhóm có ba con trở lên. Sự chuyển đổi
lòng hôn nhân có sự trùng hợp với kết quả
mạnh mẽ về kinh tế - xã hội ở Việt Nam có
phân tích hai biến, nhưng một số biến số
thể lý giải một phần cho mối tương quan
khác, lại có sự khác biệt nhất định. Nhìn
nghịch chiều giữa số lượng con cái và sự
chung, nam có xác suất hài lòng với hôn
hài lòng hôn nhân của cha mẹ. Như đã phân
nhân cao hơn so với nữ. Sự hài lòng có xu
tích ở trên, tâm lý “đông con nhiều cháu”
hướng tăng lên theo độ tuổi, trong đó nhóm
không còn là mong ước chủ đạo của người
tuổi từ 29 trở xuống có xác suất hài lòng
dân Việt Nam. Thực tế, nuôi dạy con cái
cao thấp nhất, chỉ bằng một nửa so với
với những yêu cầu mới ngày càng khó khăn
nhóm tuổi từ 60 trở lên. Chênh lệch tuổi
hơn so với trước đây đã khiến cho nhận
giữa vợ và chồng không có tác động đáng
thức của người dân về số con thay đổi. Khi
kể đến sự hài lòng cao với hôn nhân.
phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động xã
Xét về yếu tố học vấn, nhóm có học vấn
hội nhiều hơn, chi phí đầu tư cho việc nuôi
cao nhất (có trình độ trung cấp, cao đẳng,
dạy con cái cao hơn và sự phụ thuộc của
đại học trở lên) là nhóm có xác suất rất hài
người cao tuổi vào con cái ít đi thì vai trò
lòng hôn nhân thấp nhất so với tất cả các
của việc có nhiều con đối với sự hài lòng
nhóm có trình độ học vấn thấp hơn. Nhóm
hôn nhân sẽ giảm [1], [25, tr.12-94], [6,
học vấn từ trung học phổ thông trở xuống tr.51-59].
có khả năng rất hài lòng về hôn nhân cao
Giới tính của con không còn là vấn đề
hơn gần gấp đôi so với nhóm học vấn cao.
tác động đáng kể đến mức độ rất hài lòng
Có thể yêu cầu cao hơn về đời sống hôn
về hôn nhân. Cho dù chỉ có con trai hay gái,
nhân ở nhóm học vấn cao đã khiến cho họ
hay có đủ cả con trai, con gái thì sự khác
kém hài lòng hơn về thực tế hôn nhân của
biệt về hài lòng hôn nhân là không đáng kể.
mình. Liên quan đến chênh lệch học vấn vợ
Đây có thể là bằng chứng mạnh mẽ cho sự
chồng, nhóm những người mà học vấn vợ
thay đổi về quan niệm phân biệt giá trị con
cao hơn chồng có xác suất rất hài lòng kém
trai và con gái trong gia đình Việt Nam
hơn đáng kể so với nhóm chồng có học vấn
hiện nay. Bối cảnh hiện đại hoá có thể lý
cao hơn vợ (khoảng 0,7 lần). Định kiến giới
giải cho việc con cái tuy vẫn có ý nghĩa
với xu hướng phụ nữ mong muốn có người
quan trọng trong cuộc sống gia đình nhưng
đàn ông hơn mình và nam giới thích người
ảnh hưởng không mạnh tới sự hài lòng về
phụ nữ kém hơn khi lựa chọn hôn nhân
hôn nhân của những người làm cha mẹ ở
(phụ nữ trông lên, đàn ông nhìn xuống) có
Việt Nam. Điều này khá đồng nhất với các
thể là lý do khiến cho những cặp vợ chồng
nghiên cứu về ảnh hưởng của con cái trong
mà vợ có học vấn cao hơn cảm thấy kém
quan hệ hôn nhân trên thế giới.
hài lòng về cuộc hôn nhân của mình.
Hoạt động nghề nghiệp được đo lường
Bảng 5 cũng cho thấy, so với những
thông qua chỉ báo về trình độ chuyên môn
người có 3 con trở lên, nhóm những người
có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng cao
có 1 hoặc 2 con có xác suất rất hài lòng về
đối với hôn nhân. Những người làm công 66
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
việc đòi hỏi trình độ cao cấp hay trung cấp
lòng hôn nhân cao hơn đáng kể so với
có xác suất rất hài lòng về hôn nhân cao
người dân ở thành thị.
hơn khoảng 2,6 lần so với những người làm
Do nam và nữ có cảm nhận hài lòng hôn
công việc lao động giản đơn.
nhân khác nhau đáng kể và các yếu tố ảnh
Mức sống tiếp tục được xác nhận là yếu
hưởng cũng có thể thể hiện khác nhau ở
tố quan trọng trong cuộc sống hôn nhân.
nhóm nam hay nhóm nữ (chẳng hạn ở vai
Những người có mức sống khá trở lên có
trò các yếu tố thuộc về định kiến giới),
xác suất rất hài lòng về hôn nhân gấp gần 3
nghiên cứu đã tiến hành phân tích các yếu
lần so với những người thuộc nhóm nghèo.
tố tác động riêng đối với sự hài lòng hôn
Một chỉ báo khác liên quan đến đời sống
nhân của nam và nữ. Bảng 5 cũng cho thấy,
vật chất là sự khác biệt về thu nhập giữa vợ
về cơ bản, vai trò của các yếu tố tác động
và chồng. Quan niệm truyền thống vốn coi
mạnh đến sự hài lòng ở mỗi giới cũng phù
nam giới là trụ cột kinh tế gia đình, vì vậy,
hợp với mô hình chung. Tuy nhiên, có một
kỳ vọng của mọi người là thu nhập của
số khác biệt cho thấy rõ hơn đặc trưng giới.
người chồng cao hơn người vợ. Có lẽ, đó là
Đối với nam giới (mô hình nam), sự
lý do khiến cho nhóm người mà vợ thu
khác biệt về xác suất hài lòng cao về hôn
nhập cao hơn chồng có xác suất rất hài lòng
nhân giữa các độ tuổi trẻ so với độ tuổi 60
về hôn nhân thấp hơn đáng kể so với nhóm
trở lên thể hiện rõ hơn. Nhìn chung, so với
vợ chồng có thu nhập ngang nhau hoặc
nhóm tuổi 60 trở lên, các nhóm ở độ tuổi
chồng có thu nhập cao hơn (chỉ bằng
trẻ hơn đều có xác suất hài lòng cao chỉ
khoảng gần 0,7 lần). Kết quả này phản ánh
bằng khoảng từ 1/3 đến 1/2. Về học vấn,
một phần sự bảo lưu định kiến giới truyền
chỉ có nhóm trung học phổ thông là có xác
thống về vai trò của người vợ và người
suất hài lòng cao hơn đáng kể so với nhóm
chồng trong kinh tế gia đình.
có học vấn trung cấp - cao đẳng - đại học.
Như đã chỉ ra ở một số nghiên cứu,
Những người có một con có xác suất rất
trong nhiều năm qua đã có một số thay đổi
hài lòng về hôn nhân cao hơn những người
đáng kể về bình đẳng giới trong đời sống
khác. Về giới tính con cái, điều đặc biệt là
gia đình, tuy nhiên, khuôn mẫu giới trong
nhóm chỉ có con trai lại có xác suất rất hài
công việc nhà vẫn còn được bảo lưu mạnh
lòng thấp hơn đáng kể so với nhóm có cả
mẽ [1], [6, tr.51-59]. Nghiên cứu hôn nhân
con trai và con gái. Nhìn chung, có nếp có
2017 tiếp tục xác nhận khuôn mẫu đó. Tỷ lệ
tẻ vẫn là mong ước lớn của nam giới.
các gia đình có người vợ là người làm công
Đối với nam giới thì sự khác biệt thu
việc nội trợ nhiều hơn người chồng là khá
nhập hay tham gia công việc nội trợ có tác
cao. Tuy nhiên, xét chung thì sự thay đổi
động đến sự hài lòng hôn nhân mạnh hơn
khuôn mẫu này theo hướng chia sẻ công
so với mô hình chung. Những người mà
việc nội trợ chưa tác động mạnh để làm
trong gia đình công việc nội trợ được chia
tăng sự hài lòng hôn nhân cho người dân.
sẻ ngang nhau giữa vợ và chồng thì xác
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, sau
suất hài lòng hôn nhân cao là gấp 1,7 lần so
khi đã tính đến vai trò của các biến số khác,
với những người mà một trong hai vợ
những người ở nông thôn có xác suất hài
chồng phải làm việc nội trợ nhiều hơn. 67
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
Đối với phụ nữ (mô hình nữ), khác với
hợp với hầu hết phát hiện của các nghiên
nam giới, ảnh hưởng của yếu tố tuổi đến sự
cứu trước đây [10, tr.59-70], [20, tr.226-
hài lòng hôn nhân là không đáng kể. Những
230], [17, tr.1143-1155]. Người cao tuổi
người có học vấn thấp thì xác suất rất hài
hài lòng về hôn nhân hơn người trẻ tuổi, lý
lòng hôn nhân cao hơn rõ rệt so với người
do cơ bản có thể là vì những người cao tuổi
có học vấn cao. Trong trường hợp vợ có thu
về cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu cuộc
nhập cao hơn chồng thì xác suất rất hài lòng
sống, trong khi những người trẻ tuổi hơn thì
hôn nhân không thấp đáng kể so với trường
đang có nhiều mối quan tâm phải giải
hợp vợ chồng thu nhập bằng nhau, cho dù
quyết. Kết quả này khác với một số phát
khả năng rất hài lòng cũng thấp hơn. Một
hiện đã có trước đây [20, tr.226-230], [27,
điểm nữa là sự tham gia công việc nội trợ
tr.941-955]. Những người có học vấn cao
khác nhau giữa vợ và chồng không có tác
hơn dường như có yêu cầu cao hơn về cuộc
động đáng kể đến xác suất rất hài lòng hôn
sống hôn nhân của mình, vì vậy sự hài lòng
nhân của người vợ. Nói cách khác, các biến
hôn nhân của họ thấp hơn những người có
số đo lường về định kiến giới cho thấy yếu
học vấn thấp. Số lượng con cái có ảnh
tố này ảnh hưởng đến nam giới nhiều hơn
hưởng đến sự hài lòng hôn nhân, tuy nhiên,
đến phụ nữ. Ngoài ra, khác biệt giữa nhóm
theo xu hướng ngược với khuôn mẫu truyền
phụ nữ sống ở nông thôn và thành thị
thống. Những người có một - hai con có
không thực sự đáng kể.
mức độ hài lòng hôn nhân cao hơn những
người chưa có con và những người có 3 con
trở lên. Trong khi đó, giới tính con cái 4. Kết luận
không có ảnh hưởng đáng kể đến sự hài
lòng hôn nhân. Những kết quả này khác với
Với một lượng mẫu phân tích lớn, kết quả
một số phát hiện trước đây ở các nước.
khảo sát hôn nhân năm 2017 cho thấy, nhìn
Điều này cho thấy tính đa dạng trong ảnh
chung, người dân Việt Nam hài lòng về hôn
hưởng của yếu tố con cái đến sự hài lòng
nhân của mình cũng như với các mặt cụ thể hôn nhân.
của đời sống hôn nhân với mức độ cao. Mối
Những người có trình độ nghề nghiệp
tương quan mạnh giữa sự hài lòng chung và
cao hơn thể hiện mức độ hài lòng cao hơn
hài lòng ở từng khía cạnh cụ thể cho thấy, 6
đối với hôn nhân của mình. Mức sống cao
lĩnh vực được phân tích là những mặt rất
cũng có ảnh hưởng đáng kể làm tăng sự hài
quan trọng trong đời sống hôn nhân. Kết
lòng về hôn nhân như đã được chỉ ra ở một
quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, tình cảm
số nghiên cứu khác [11]. Những người sống
vợ chồng có ý nghĩa quan trọng nhất đối
ở nông thôn có xác suất hài lòng cao hơn
với đời sống hôn nhân, tiếp đó là tính cách
những người ở đô thị. Điều này có thể được
và ứng xử của vợ/chồng.
lý giải là do đòi hỏi cao hơn về cuộc sống
Xem xét vai trò của các biến số nhân
hôn nhân của những người dân đô thị.
khẩu - xã hội đối với sự hài lòng về hôn
Một số phát hiện quan trọng trong nghiên
nhân, kết quả phân tích cho thấy, nam hài
cứu này có liên quan đến việc so sánh
lòng hôn nhân cao hơn nữ, điều này là phù
đặc điểm vợ chồng, bởi lẽ trong hôn nhân, 68
Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng
sự hòa hợp, tương tác giữa hai vợ chồng rất
[3] Phan Thị Mai Hương (2014), “Cảm nhận hạnh
có ý nghĩa. Phân tích cho thấy, chênh lệch
phúc chủ quan của người nông dân”, Tạp chí
tuổi giữa vợ và chồng không thực sự có tác
Tâm lý học, số 185.
động quan trọng đến sự hài lòng hôn nhân.
[4] Trần Đình Hượu (1991), “Về gia đình truyền
Trong khi đó, sự khác biệt giữa vợ và
thống Việt Nam với ảnh hưởng nho giáo”,
chồng về học vấn, thu nhập đều có ảnh
Những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt
hưởng đáng kể đến sự hài lòng hôn nhân.
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Điểm chung của các phát hiện này là,
[5] Đỗ Thiên Kính (2009), “Gia đình hạnh phúc ở
dường như định kiến giới truyền thống về
nông thôn Việt Nam hiện nay”, Tạp chí
vai trò của vợ và chồng vẫn có sức sống
Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 1.
mạnh mẽ trong đời sống hôn nhân ở Việt
[6] Nguyễn Hữu Minh (2015), “Gia đình Việt
Nam. Những người trong gia đình có vợ
Nam sau 30 năm đổi mới”, Tạp chí Khoa học
học cao hơn chồng hay vợ có thu nhập cao
xã hội Việt Nam, số 11.
hơn chồng thì có sự hài lòng thấp hơn. Tuy [7]
Nguyễn Hữu Minh (2018), Khảo sát thực tế trong
nhiên, một điểm sáng về thay đổi nhận thức
đề tài “Những đặc điểm cơ bản của hôn nhân ở Việt
giới đó là, giới tính con cái không ảnh
Nam hiện nay và các yếu tố ảnh hưởng”.
hưởng đến sự hài lòng hôn nhân. Phát hiện
[8] Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Hồng (2011),
đáng quan tâm nữa là, định kiến giới về
“Thái độ của thanh thiếu niên Việt Nam về hôn
trách nhiệm trong việc lo kinh tế và thực
nhân và gia đình”, Tạp chí Nghiên cứu Gia
hiện công việc nội trợ của gia đình ảnh
đình và Giới, số 4.
hưởng đến sự hài lòng về hôn nhân của
[9] Hoàng Bá Thịnh (2012), “Sự hài lòng với hôn
nam giới hơn là của phụ nữ.
nhân, gia đình”, Tạp chí Dân số và Phát triển, số 8 (137).
[10] Allendorf, K. and Ghimire, D.J (2013), Chú thích
“Determinants of marital quality in an arranged
marriage society”, Social Science Research, 42 (1).
5 Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,
[11] Amato, P. R., Booth, A., Johnson, D. R., Rogers,
thành phố Cần Thơ, Yên Bái, Nam Định, Thừa
S. F., (2007), “Alone together: how marriage Thiên - Huế, Đắk Lắk.
in America is changing”, Harvard University
Press, the United State. Tài liệu tham khảo
[12] Andersson, G. and Woldemicael, G. (2001),
“Sex composition of children as a determinant
of marriage disruption and marriage formation:
[1] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục
Thống kê, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới,
Evidence from Swedish register data”, Journal
UNICEF (2008), Kết quả điều tra gia đình
of Population Research, 18 (2).
Việt Nam năm 2006, Hà Nội.
[13] Bradbury Thomas N., Frank D. Fincham,
[2] Hoàng Đốp (2004), “Giá trị con cái trong gia
Steven R. H. Beach (2000), “Research on the
đình”, Xu hướng gia đình ngày nay (Một vài NatureandDeterminantsofMarital
đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải
Satisfaction: A Decade in Review”, Journal of
Dương), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Marriage and Family, 62 (4). 69
Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 - 2020
[14] Bulanda, J. R. (2011), “Gender, Marital Power,
[22] Li Tianyuan and Fung Helene H. (2011), “The
and Marital Quality in Later Life”, Journal of
Dynamic Goal Theory of Marital Satisfaction”,
Women & Aging, 23 (1).
Review of General Psychology, Vol. 15, No. 3.
[15] Dillon, L.M. and Beechler, M. P (2010),
[23] Lichter, D. L., & Carmalt, J. H. (2009), “Religion
“Marital satisfaction and the impact of children
and marital quality among low-income couples”,
in collectivist cultures: A meta-analysis”,
Social Science Research, 38.
Journal of Evolutionary Psychology, 8 (1).
[24] Mizell, C. A. and Steelman, L. C. (2000), “All My
[16] Ghahremani, F., Doulabi, M. A., Eslami, M. &
Children: The Consequences of Sibling Group
Shekarriz-Foumani, R. (2017), “Correlation
Characteristics on the Marital Happiness of Young
Between Number and Gender Composition of
Mothers”, Journal of Family Issues, 21 (7).
Children and Marital Satisfaction in Women
[25] Moshfeg, M. and Gharib, E. S. (2012), “Analysis
Presenting to Health Centers in Tehran-Iran,
of the relationship between the value of children
2015”, Iranian Journal of Psychiatry and
and fertility among women in Tehran”, Journal
Behavioral Sciences, 11 (2).
of Women's Strategy Studies, 15 (58).
[17] Halpern-Meekin, S., & Tach, L. (2013),
[26] Onyishi, E.I., Sorokowski, P., Sorokowska, A.,
“Discordance in couples’ reporting of courtship
& Pipitone, R. N. (2012), “Children and
stages: Implications for measurement and
marital satisfaction in a non-Western sample:
marital quality”, Social Science Research, 42.
having more children increases marital
[18] Jose, O. & Alfons, V. (2007), “Do
satisfaction among the Igbo people of Nigeria”,
Demographics Affect Marital Satisfaction?”,
Evolution and Human Behavior, 33 (6).
Journal of Sex & Marital Therapy, 33 (1).
[27] Rhyne, D. (1981), “Bases of marital
[19] Kohler, H.P., Behrman, J.R., & Skytthe, A.
satisfaction among men and women”, Journal
(2005), “Partner + Children = Happiness? The
of Marriage and Family, 43 (4).
Effects of Partnerships and Fertility on Well-
[28] Roach, A., Frazier, L., & Bowden, S. (1981),
Being”, Population Development Review, 31 (3).
“The marital satisfaction scale: Development
[20] Lee, G., & Shehan, C. L. (1989), “Retirement
of a measure of intervention research”, Journal
and marital satisfaction”, Journal of Geron-
of Marriage and Family, 43. tology, 44 (6).
[29] Twenge, J. M., Campbell, W. K. and Foster,
[21] Lundberg, S. (2005), “Sons, daughters, and
C.A. (2003), “Parenthood and marital
parental behavior”, Oxford Review of
satisfaction: A meta-analytic review”, Journal
Economic Policy, 21 (3).
of Marriage and Family, 70