



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA DU LỊCH HỌC _______________ TIỂU LUẬN
ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM
Giảng viên: PGS.TS. Phạm Hồng Long
Sinh viên: Nguyễn Ngọc Phương Linh Lớp: K66 Quản trị DVDL&LH
Đề tài: Các địa danh du lịch tiêu biểu tại Hà Nội Hà Nội, tháng 6 năm 2022 MỤC LỤC
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................................................. 3
1.1. Khái niệm du lịch: ..................................................................................................... 3
1.2. Cơ sở hình thành nên du lịch: .................................................................................... 4
1.3. Khái niệm về du lịch sinh thái và du lịch văn hóa: ................................................... 4
1.4. Tổng quan về Hà Nội: ............................................................................................... 5
II. CÁC ĐỊA DANH DU LỊCH TIÊU BIỂU TẠI HÀ NỘI PHÂN THEO LOẠI HÌNH
DU LỊCH .............................................................................................................................. 6
2.1. Các địa danh thuộc loại hình du lịch văn hóa: .......................................................... 6
2.1.1. Hoàng thành Thăng Long – Di sản văn hóa thế giới: ........................................ 6
2.1.2. Văn Miếu – Quốc Tử Giám: ............................................................................. 11
2.1.3. Chợ Đồng Xuân – Khu phố cổ - Phố đi bộ Hoàn Kiếm: .................................. 16
2.2. Du lịch sinh thái: ..................................................................................................... 19
2.2.1.Vườn quốc gia Ba Vì: ........................................................................................ 19
2.2.2. Núi Hàm Lợn: ................................................................................................... 25
2.3. Định hướng phát triển du lịch Hà Nội: .................................................................... 26
2.3.1. Về phía Nhà nước: ............................................................................................ 26
2.3.2. Về phía người dân bản địa: ............................................................................... 27
2.3.3. Về phía các doanh nghiệp lữ hành: .................................................................. 27
III. KẾT LUẬN .................................................................................................................. 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................. 29
CÁC ĐỊA DANH DU LỊCH TIÊU BIỂU TẠI HÀ NỘI TÓM TẮT Hà N i
ộ là Thủ đô ngàn năm văn hiến, có quá trình lịch sử phát triển lâu đời, nằm ở vị trí trung tâm c a
ủ miền Bắc. Giao thông từ Hà Nội đến các tỉnh khác c a ủ Việt Nam tương i đố thuận
lợi bao gồm: đường không, đường bộ, đường sắt,... Những điều kiện này đã thu hút nhiều khách du lịch qu c t
ố ế lẫn nội địa. Bên cạnh đó Hà N i còn n ộ i ti
ổ ếng với truyền th ng ố ẩm thực với nhiều
món ăn ngon nổi tiếng và cũng là một trong những trung tâm mua sắm sầm uất c a c ủ ả nước do đó
cũng thu hút khách du lịch. Một lợi thế không nhỏ nữa của du lịch Hà Nội là du lịch sinh thái kết
hợp với du lịch văn hóa tâm linh. Như vậy, với những lợi thế kể trên Hà Nội là một trong những
điểm du lịch thu hút khách đi tham quan, du lịch, mang lại doanh thu lớn cho đất nước.
Từ khóa: Du lịch Việt Nam; Du lịch Hà Nội; địa danh du lịch; danh lam, thắng cảnh Hà Nội. I. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái niệm du lịch:
Nói về khái niệm du lịch, một mảng dịch vụ vốn đã rất quen thuộc trong đời sống
hằng ngày liên quan đến nhiều khía cạnh khác: lữ hành, dịch vụ giao thông, dịch vụ hướng
dẫn,… Song, có thể nói, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cho hai từ “du lịch”. Về
cách tiếp cận khái niệm này, thực chất rất rộng và đa chiều. Sau đây là một số cách tiếp
cận phổ biến về khái niệm du lịch:
Tiếp cận dưới giác độ nhu cầu: Du lịch là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư
trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục
đích kiếm việc làm (kiếm tiền) và trong thời gian đó (họ) phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được.1
Tiếp cận dưới góc độ của người cung cấp: Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang
nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Do vậy, hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch không chỉ bao gồm các yếu tố riêng của ngành mà còn bao
gồm các yếu tố của các ngành khác có liên quan cũng như của xã hội được huy động vào
1 Ngô Thị Diệu An (2014). Giáo trình Tổng quan du lịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, trang 4.
hoạt động nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ du lịch đa dạng, đồng bộ thỏa mãn nhu cầu của con người.1
Hay theo một số cơ quan, tổ chức lớn: Tổ chức Du lịch Thế giới: “Du lịch bao gồm
tất cả những hoạt động của cá nhân đi, đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời
gian không dài (hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày”
Theo Chương I, Điều 3 của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: Du lịch là các hoạt
động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời
gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm
hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.2
1.2. Cơ sở hình thành nên du lịch:
Mọi sự phát triển, thay đổi, thích nghi, đều xuất hiện do nhu cầu của con người. Về
phía cầu, xã hội ngày một phát triển, kinh tế ngày một ổn định, thế nhưng đi kèm với đó,
con người hiện nay phải làm việc trong một môi trường có phần áp lực, căng thẳng hơn.
Từ đây, nhu cầu được giải tỏa tâm lý được đẩy mạnh, con người đi du lịch ngày càng nhiều.
Về phía cung, khi nhận được được thị trường du lịch tiềm năng cũng đã nhanh chóng ra
đời các dịch vụ cung ứng về tổ chức, kỹ thuật hay sự liên kết các bên liên quan (nhà hàng,
khách sạn, dịch vụ nghỉ dưỡng,…) để cho ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú để
phục vụ thị hiếu của khách hàng. Không chỉ vậy, đến nay, du lịch đã trở thành một ngành
học có tính học thuật cao, đòi hỏi những nhà nghiên cứu để tìm hiểu về đề tài này cần một
lượng kiến thức khá sâu rộng về không chỉ du lịch mà còn về mối liên kết giữa các ngành khác nhau.
1.3. Khái niệm về du lịch sinh thái và du lịch văn hóa:
Theo Luật Du lịch (2017), “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên,
gắn với bản sắc văn hóa địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo
dục về bảo vệ môi trường.”
1 Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (2005), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.
2 Luật Du lịch (2017), Luật số 09/2017/QH14, Luật Du lịch 2017, Luật số 09/2017/QH14 mới nhất 2021
(luatvietnam.vn), xem 28/6/2022.
Theo Luật Du lịch (2017), “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch được phát triển trên
cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống,
tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại.”
1.4. Tổng quan về Hà Nội:
Hà Nội có vị trí 21.0278° vĩ độ Bắc và 105.8342° kinh độ Đông. Tổng dân số của
Thành phố Hà Nội tại thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 là 8.053.663 người, là Thành phố
đông dân thứ hai của cả nước, sau Thành phố Hồ Chí Minh (8.993.082 người). Mật độ dân
số của thành phố Hà Nội là 2.398 người/km2.1
Theo Tổng cục Thống kê, sơ bộ năm 2020, doanh thu từ ngành Du lịch tại Hà Nội lên
tới 5.082,90 tỉ đồng, cao nhất toàn vùng Đồng bằng sông Hồng, cao thứ hai cả nước, chỉ
sau Thành phố Hồ Chí Minh (7.996,70 tỉ đồng). Hà Nội có tiềm năng du lịch to lớn như
vậy, chính bởi nguồn tài nguyên hết sức dồi dào, giá trị. Chiều 1/12, Sở Văn hoá và Thể
thao đã công bố danh mục 5.922 di tích lịch sử, văn hoá sau khi thực hiện kiểm kê di tích,
đánh giá và phân loại từ năm 2013-2016 trên địa bàn Hà Nội. Trong đó có 01 di sản văn
hóa thế giới, 11 di tích quốc gia đặc biệt, 1.182 di tích cấp quốc gia, 1.202 di tích cấp thành
phố, 3.487 di tích chưa xếp hạng.
Mang trong mình hơi thở của lịch sử, thời đại, với giá trị di tích dày đặc về cả số lượng
lẫn chất lượng, có thể nói, mảnh đất Thủ đô của Việt Nam xứng đáng được biết đến là nơi
có tiềm lực phát triển loại hình du lịch nhân văn lớn nhất cả nước. Không chỉ vậy, cơ sở hạ
tầng, vật chất kĩ thuật ở nơi đây cũng được đầu tư kĩ lưỡng nhất trong vùng Đồng bằng sông
Hồng. Cuối cùng, không thể kể đến đội ngũ cán bộ, quản lý Du lịch tại vùng này cũng là
những cá thể có trình độ cao. Tóm lại, Hà Nội có đầy đủ các yếu tố để được coi là một trong
những trung tâm du lịch trọng điểm của Việt Nam.
1 Cục Thống kê TP. Hà Nội (2019). Hà Nội: Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019. Tạp chí Con số SỰ KIỆN.
II. CÁC ĐỊA DANH DU LỊCH TIÊU BIỂU TẠI HÀ NỘI PHÂN THEO LOẠI HÌNH DU LỊCH
2.1. Các địa danh thuộc loại hình du lịch văn hóa:
2.1.1. Hoàng thành Thăng Long – Di sản văn hóa thế giới:
Với tổng diện tích lên tới 20ha, được bao bọc bởi 4 con đường: Phan Đình Phùng
(phía bắc), Điện Biên Phủ (phía nam), Nguyễn Tri Phương (phía đông), Hoàng Diệu (phía
tây), khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long hùng vĩ bao gồm khu khảo cổ học 18
Hoàng Diệu và các di tích còn sót lại trong khu di tích Thành cổ Hà Nội như điện Kính
Thiên, cột cờ Hà Nội, Bắc Môn, Đoan Môn,…
Nguồn gốc lịch sử của Hoàng thành Thăng Long:
Năm 1009: Lý Công Uẩn lên ngôi, sáng lập nên triều Lý
7/1010: Nhà vua dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Ngay trong thời gian này, cho xây thành Thăng Long.
1011: Hoàn tất việc xây dựng Kinh thành Thăng Long theo mô hình “tam trùng thành
quách”. Tức vòng ngoài cùng là La thành hay Kinh thành bao bọc toàn bộ kinh đô,
vòng thành thứ hai là Hoàng thành, là nơi làm việc của các quan lại triều đình. Cuối
cùng là Tử Cấm thành, nơi ở của vua, hoàng hậu và số ít cung tần, mỹ nữ.
1225 – 1515: Nhà Trần và Lê sơ lần lượt chiếm đóng kinh thành Thăng Long, tiếp
tục trùng tu và mở rộng, xây thêm một vài công trình.
1516 – 1788: Nhà Mạc và Lê chiếm đóng, Kinh thành bị tàn phá nhiều lần.
1789: Quang Trung rời đô về Phú Xuân, Thăng Long trở thành Bắc thành.
1802: Nguyễn Ánh lên ngôi, những gì còn sót lại của Hoàng Thành Thăng Long lần
lượt được đem vào Phú Xuân để xây kinh thành mới. Điện Kính Thiên và Hậu Lâu
được giữ lại làm nơi ở của vua quan khi ngự giá Bắc thành.
Năm 1805: Vua Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng thành cũ, xây Thành Hà Nội
theo kiểu Vauban của Pháp với quy mô nhỏ hơn nhiều.
Năm 1831: Vua Minh Mạng khi cải cách hành chính đã cho đổi tên Thăng Long thành tỉnh Hà Nội.
Khi bị Pháp đô hộ, Hà Nội được chọn là thủ đô của liên bang Đông Dương, thành
Hà Nội bị phá để lấy làm doanh trại cho người .
1954: Bộ đội ta giành lại thủ đô, Thành Hà Nội được chọn làm trụ sở Bộ quốc phòng.
Như vậy giá trị đầu tiên, cốt lõi của khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long phải kể
đến chính là vai trò như một chứng nhân lịch sử bền bỉ, kiên cường. Âm thầm chứng kiến
cho dòng chảy lịch sử dài hơn 10 thế kỷ, Thành Thăng Long vẫn sừng sững, hiên ngang từ
thời Đại La cho đến tận ngày như một minh chứng huy hoàng, hào hùng cho những mốc
son bi tráng của dân tộc. Sau đây, xin được giới thiệu chi tiết hơn về một số di tích bên trong thành.
a. Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu:
Được Bộ Văn hóa và Thông tin nước ta khai quật lần đầu vào năm 2004, các nhà khảo
cổ đã phát hiện ra khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu ẩn chứa trong mình các lớp di vật, di tích,
kiến trúc nằm chất chồng lên nhau theo các triều đại trị vì trong quá khứ:
Đào từ 1-2 mét đất: Lớp văn hóa thời Lê (XV – XVIII).
Từ 2-3 mét đất: Lớp văn hóa thời Lý – Trần (XI – XIV).
Từ 3-4 mét đất: Lớp văn hóa Đại La – Bắc thuộc (VII – IX).
Các di tích thuộc lớp văn hóa mỗi thời có sự liên hệ với nhau, tạo nên một ẩn số liên
hoàn nhưng đầy phức tạp của các thời kì. Ẩn số ấy cuốn hút và hấp dẫn không chỉ đối với
những nhà khảo cổ học đã tìm ra chúng mà còn là sự thích thú đối với khách tham quan, du
lịch khi được chiêm ngưỡng sự thay đổi của Hoàng thành Thăng Long qua các di vật. Đây
chính là sự đặc sắc và là điểm nhấn cho khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long.
Không thể không kể đến, số lượng lớn đồ gốm sứ được sử dụng trong hoàng cung
qua nhiều thời được tìm thấy khi khai quật di vật tại đây còn như một ánh sáng soi đường
cho việc nghiên cứu về gốm Thăng. Qua đó, tìm ra được những dẫn chứng sát thực về trình
độ phát triển văn hóa, kinh tế của nước ta qua các thời đại cũ. Thêm vào đó, những tờ tiền,
đồ gốm sứ từ nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản,… khi được tìm thấy cũng là manh
mối để đưa ra kết luận về sự giao lưu văn hóa trong khu vực và tiếp thu những giá trị tinh
hoa của nhân loại của nước ta.
Hình 1: Khi di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu Nguồn: Internet b. Điện Kính Thiên:
Điện Kính Thiên là một kiến trúc quan trọng bậc nhất trong tổng thể Thành cổ Hà
Nội. Được đặt ở vị trí trung tâm Hoàng Thành, phía trước là Đoan Môn, phía sau là Hậu
Lâu, điện Kính Thiên luôn mang trong mình những nét linh thiêng, trang nghiêm vô ngần.
Mặt trước, hướng chính nam của điện là hệ thống bậc lên bằng đá gồm 3 lối lên đều
nhau tạo thành thêm rồng, 4 rồng đá và 10 bậc thang. Bốn con rồng đá được điêu khắc vào
thế kỷ 15 thuộc thời nhà lê, minh chứng cho tay nghề điêu luyện và nghệ thuật điêu khắc của thời kỳ này.
Hình 2: Rồng đá điện Kính Thiên năm 1886 Nguồn: Wikipedia
Hình 3: Rồng đá điện Kính Thiên năm 2015 Nguồn: Internet
Họa tiết rồng ở điện được chạm khắc bằng đá xanh, ngậm hạt ngọc, bờm lượng ra
sau, sừng dài, có nhánh. Thân rồng uốn lượng, nhỏ dần khi lên cao. Lưng rồng có vây dài,
nhấp nhô như đám mây, tia lửa. Tất cả những họa tiết, hoa văn đều góp phần thể hiện tay
nghề cao trong điêu khắc và sự đầu tư kĩ lưỡng cho điện Kính Thiên xưa. Tuy nhiên, năm
1886, Pháp đã cho phá bỏ điện Kính Thiên. Điện lúc này chỉ còn nền điện và đôi rồng đá. c. Đoan Môn:
Đoan Môn là cửa chính để vào Hoàng thành và Cấm thành, cửa chính giữa ngày
trước chỉ dành cho vua chúa đi lại, được thiết kế hình chữ “U” ngược, chiều dài từ đông
sang tây là 46,5m; chiều rộng từ nam lên bắc là 13m, hai cánh gà có chiều dài 26,5m; cao
khoảng 6m, phía trên lối đi chính giữa có biển đá khắc chữ “Đoan Môn”. Cuối năm 1999,
các nhà khảo cổ đã khai quật được “con đường lát gạch hoa chanh” nối từ điện Kính Thiên
tới Đoan Môn, nằm sâu 2m, dài 15m, rộng 1,3m. Con đường này được các nhà khảo cổ
nhận định xuất hiện ở thời Lý – Trần. Phía trước Đoan Môn từng là Tam Môn cho đến khi
bị vua Gia Long cho phá hủy để xây Kỳ Đài. Hình 4: Đoan Môn
Nguồn: hoangthanhthanglong.com d. Kỳ đài Hà Nội:
Kỳ đài Hà Nội - Cột cờ Hà Nội được xây dựng trong khoảng 1805 – 1812 dưới triều
vua Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội theo kiểu Vô-băng (Vauban). Cột cờ cao 60m,
gồm có chân đế, thân cột và vọng canh. Chân đế hình vuông chiếm 2007 m² và 3 cấp thóp
dần lên. Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18 bậc tại mặt phía Đông và mặt phía
Tây. Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây. Còn cấp
thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc với các tên gọi lần lượt là "Nghênh húc" (Đón ánh
nắng ban mai), "Hồi quang" (ánh nắng phản chiếu), "Hướng Minh" (hướng về ánh sáng).
Hình 5: Kỳ Đài – Cột cờ Hà Nội
Nguồn: Báo An ninh Thủ đô
2.1.2. Văn Miếu – Quốc Tử Giám:
Từ xa xưa, dân ta có truyền thống trọng chữ nghĩa. Truyền thống ấy, cho đến nay
vẫn không hề mai một, tạo nên một hệ thống giáo dục là cái nôi cho biết bao hiền tài trong
nhiều lĩnh vực: văn hóa, quân sự, nghệ thuật,… Trong đó, việc xây dựng Văn Miếu – Quốc
Tử Giám, nơi được coi như biểu tượng của tri thức, học vấn lúc bấy giờ là một minh chứng
sống cho tinh thần khuyến học của người Việt Nam ta.
Nguồn gốc lịch sử của Văn Miếu – Quốc Tử Giám:
1070: Văn Miếu được xây dựng dưới thời nhà Lý để thờ Khổng Tử.
1075: Lý Nhân Tông mở khoa thi “Minh kinh bác học” đầu tiên của Việt Nam. Một
năm sau lại mở Quốc Tử Giám ở phía sau Văn Miếu, trường học cho con em quý tộc.
Thời Trần: Quốc Tử Giám mở rộng quy mô, cho phép cả những người dân thường ưu tú tới học tập.
Thời Lê: Được coi là thời hoàng kim của giáo dục: khoa thi nghiêm ngặt, giáo dục
phát triển. Nhất là ở thời Lê sơ, việc lập bia Tiến sĩ để vinh danh những người đỗ
đạt tại Văn Miếu hay tổ chức lễ Vinh quy bái tổ,… đã cho thấy chính sách khuyến
học được đề ra có không khí long trọng, uy nghiêm, hình thức lại rất phong phú.
Như vậy, có thể nói, truyền thống hiếu học chính là giá trị cốt lõi của Văn Miếu –
Quốc Tử Giám. Giá trị này mang tính dân tộc, thời đại và được duy trì, phát triển cho đến
tận ngày nay. Không chỉ nổi bật với giá trị văn hóa, giáo dục, những giá trị kiến trúc được
thể hiện tại khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám cũng là một điểm nhấn vô cùng đặc sắc.
a. Khuê Văn Các – Biểu tượng của Thủ đô Hà Nội:
Khuê Văn Các do Nguyễn Văn Thành (1958 - 1817) cho xây dựng. Trên bức hoành
phi ghi ba chữ "Khuê Văn Các", dòng lạc khoản đề "Gia Long tứ niên xuân" (Làm vào mùa
xuân năm 1805). Có kiến trúc đặc biệt và tinh tế, tầng dưới Khuê Văn Các là 4 trụ gạch trát
vữa, xung quanh khắc họa phù điêu rồng cách điệu thành hình hoa lá. Hình 6: Hoa văn
Hình 7.1: Toàn cảnh Khuê Văn Các cột trụ Khuê Văn Các Nguồn: Báo Nhân Dân Nguồn: vanmieu.gov.vn
Tầng lầu trên Khuê Văn Các là các cửa sổ tròn, lan can gỗ trang trí hình con tiện
truyền thống, quen thuộc bo 4 góc của lầu, biểu trưng cho sao Khuê và ánh sáng tỏa ra 4
phía. Nhận xét về những ngôi sao Khuê, sách Hiếu Kinh có ghi “Khuê chủ văn chương” –
“Sao Khuê phô khoe chủ yếu về vẻ đẹp của văn chương”. Không chỉ vậy, 4 phía Khuê Văn
Các còn được chạm trổ các câu đối ca ngợi truyền thống văn hóa của dân tộc:
Khuê tinh thiên lãng nhân văn xiển - Bích thuỷ xuân thâm đạo mạch trường.
Hy triều phấn sức long văn trị - Kiệt các trân tàng tập đại quan.
Thành lâm Bắc đẩu hồi nguyên khí - Nguyệt tế thu đàm chiếu cổ tâm.
Thánh hiền nhất thống đồ thư phủ - Văn hiến thiên thu lễ nghĩa bang. Tức là:
Sao Khuê chiếu sáng giữa trời, văn chương và con người đều rạng tỏ - Trường học
đượm sắc xuân, mạch đạo còn dài lâu.
Đời thịnh điểm tô hưng vương nền đại trị - Gác báu lưu tàng hội tụ vẻ đẹp tươi.
Sao Bắc Đẩu sáng kinh thành hồi nguyên khí - Đầm thu đọng bóng trăng soi rọi tấm lòng xưa.
Phủ đồ thư như một ối thánh hiền - Nước lễ nghĩa nghìn năm văn hiến.
Hình 7.2: Khuê Văn Các lầu trên Nguồn: Internet b. Khu Thái Học:
Khu Thái Học được xây dựng lần đầu từ thời vua Lê Thánh Tông (1442-1497), vừa để dạy
học, in, cất sách, vừa có dãy trọ cho các giám sinh. Song, đến thế kỉ XX, nhà Nguyễn rời đô tới
Huế, Quốc Tử Giám trở thành trường học của phủ Hoài Đức, sau đó bị phá bỏ để xây điện Khải
Thánh, thờ cha mẹ Khổng Tử. 1946, điện Khải Thánh bị phá hủ
y trong chiến tranh Đông Dương.
Cảnh vật khắp nơi sau này trở nên hoang phế, khuyết thiếu nhiều phần, dòng chảy lịch sử ở nơi
đây bị ngắt quãng, để lại nhiều nuối tiếc cho hậu thế.
Năm 1996, trong cuộc họp lấy ý kiến các nhà khoa học cho “Dự án đầu tư Bảo tồn,
tu bổ, tôn tạo và khai thác khu di tích Văn Miếu-Quốc Tử Giám Hà Nội giai đoạn 1996-
2000”, GS.KTS Hoàng Đạo Kính đã đưa ý kiến: “Vì tư liệu lịch sử còn quá ít ỏi, không
còn căn cứ vật chất đủ tin cậy để phục hồi lại khu Thái Học từng có. Khu Thái Học cần
được làm mới để làm sống lại một phần hữu cơ của Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Công trình
mới sẽ có những công năng không hoàn toàn lập lại cái cũ, mà trong khuôn khổ văn hóa -
giáo dục, là sự phát triển tự nhiên của một công trình văn hóa có tầm cỡ đặc biệt trong di
sản văn hóa dân tộc”.
Cuối cùng, thành phố Hà Nội đã phê duyệt dự án xây dựng công trình Thái Học mới.
Sau 15 tháng thi công, công trình Thái Học đã được khánh thành vào tháng 12 năm 2000,
vừa đúng dịp kỉ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Hình 8: Khu Thái Học Nguồn: vanmieu.gov.vn
Đến nay, Thái Học đã trải qua 22 năm tu sửa, phần nào khoác lên mình hơi thở, tấm
áo của thời gian. Tuy là một công trình mới được phục dựng, nhưng đây vẫn là nơi tiếp nối
mạch nguồn lịch sử trong nét đẹp hiếu học của truyên thống dân tộc. Tại đây, rất nhiều
những hoạt động văn hóa, giáo dục của Thủ đô vẫn thường xuyên được tổ chức, đặc biệt là
với tầng lớp thanh thiếu niên trẻ, những người sẽ kết thừa và phát triển truyền thống tôn sư
trọng đạo của Việt Nam mãi sau này. Có thể nói, Khu Thái Học mang ý nghĩa như một cầu
nối giữa tiền nhân và hậu thế, quá khứ và tương lai, truyền thống và hiện đại. c. Khu giếng Thiên Quang:
Là một hồ nước lớn hình vuông, hai bên là khu vực vườn bia tiến sĩ. Từ 1442 – 1787,
nhà Lê đã tổ chức 124 khoa thi tiến sĩ. Nhưng đến nay, Văn Miếu chỉ còn lưu giữ 82 bia đề
danh. 82 bia xếp thành hai khu, mỗi khu 41 tấm, chia hai hàng, không theo thứ tự thời gian.
Không chỉ vậy, mỗi kích thước, họa tiết, hoa văn trên mỗi tấm bia đều là độc nhất, không
trùng lặp. Song, dù khác nhau về hình dáng nhưng tất cả bia đá đều được dựng trên lưng
rùa. Đầu rùa ngẩng cao, bốn chân xòe ra như gắng sức bò lên như biết mình đang vác trên
vai trách nhiệm, sức nặng của tri thức. Hình ảnh rùa trong dân gian xưa còn mang ý nghĩa
của sự trường tồn, bất tử. Theo đó, biểu tượng của bia rùa là đề cao sự vĩnh hằng của trí
tuệ, tinh hoa dân tộc, tôn vinh những hiền tài của đời trước, nêu gương cho thế hệ con cháu sau này. Hình 9: Giếng Thiên Quang Nguồn: Báo Tuyên Quang Hình 10: Bia tiến sĩ Nguồn: vanmieu.gov.vn
2.1.3. Chợ Đồng Xuân – Khu phố cổ - Phố đi bộ Hoàn Kiếm: a. Chợ Đồng Xuân:
Những khu chợ luôn đại diện cho sự tấp nập, sôi nổi của một nền kinh tế. Sài Gòn
có chợ Bến Thành, Hà Nội có Đồng Xuân. Xuất hiện từ năm 1889 trên địa phận Đồng
Xuân. Ban đầu chợ họp ngoài trời, sau được xây thêm những khung sắt lợp tôn tráng kẽm.
Đầu những năm 90, chợ được xây lại thành ba tầng khang trang như ngày nay, song, vẫn
có những bộ phận lưu giữ kiến trúc cũ. Chợ Đồng Xuân buôn bán hầu như mọi loại mặt
hàng phục vụ đời sống thường nhật lẫn trong sản xuất, là chợ buôn lớn nhất của miền Bắc.
Tại đây, khách du lịch có thể dễ dàng tìm thấy hàng loạt các sạp hàng bán đồ lưu niệm đủ
mẫu mã, mang đậm phong cách, hơi thở văn hóa của Việt Nam. Những chú chuồn chuồn
nước bằng gỗ, búp bê mặc áo dài gắn nam châm để dán tủ,… cho đến các loại đồ ăn: mứt, bánh,…
Hình 11: Ba tầng chợ Đồng Xuân Nguồn: redsvn.net b. Khu phố cổ:
“Rủ nhau chơi khắp Long Thành,
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.”
- Ca dao: Rủ nhau chơi khắp Long Thành -
Đi ngang qua chợ Đồng Xuân, ta sẽ tới khu phố cổ. Có thể nói, 36 phố phường, khu
phố cổ Hà Nội là một địa danh nổi tiếng không chỉ đối với người Việt mà có lẽ cũng được
nêu lên trong tâm tưởng của nhiều vị du khách nước ngoài khi nhắc về Hà Nội. Ngày xưa,
các con phố này được đặt tên để cho biết mặt hàng mà mình buôn bán, mang nghĩa như một
con phố làng nghề truyền thống. Khi ấy, cư dân các phố luôn qua lại các nơi, khiến khung
cảnh quanh 36 phố luôn rộn rã, sầm uất. Tuy nhiên, có những khu phố không tuân theo quy
luật “Hàng + mặt hàng buôn bán”. Ví dụ như Hàng Đào lại là một phố bán vải được nhuộm
đỏ, tức là màu hồng đào chứ không phải bán quả đào hay hoa đào; Hàng Hòm không phải
nơi bán quan tài mà là bán những chiếc hòm đựng quần áo, đồ đạc;…
Ngày nay, khu phu ấy vẫn có nơi duy trì buôn bán mặt hàng thuộc nghề truyền thống,
nhiều nhà theo định hướng kết hợp buôn bán và phát triển các mặt hàng phục vụ du lịch.
Dù định hướng kinh doanh của các chủ buôn có là gì, ngày nay, khi đến thăm khu phố cổ
Hà Nội, du khách vẫn sẽ được chiêm ngưỡng trọn vẹn không gian cổ kính, nhuốm màu thời
gian của những ngôi nhà kiểu thấp, mái ngói, tường rêu. Điều này biến nơi đây trở thành
một địa danh đầy lôi cuốn bởi vẻ đẹp xưa cũ giữa lòng thành phố hiện đại.
Hình 12: Một góc phố cổ Nguồn: ticotravel.com.vn c. Khu phố đi bộ:
Bắt đầu hoạt động từ năm 2016, khu phố đi bộ quanh hồ Hoàn Kiếm ngay khi khánh
thành đã trở thành một nơi vui chơi, thư giãn lý tưởng của người Hà Nội. Không chỉ vậy,
nơi đây còn có giá trị quảng bá hình ảnh cao trong mắt bạn bè quốc tế. Đến đây, người dân
cũng như du khách có thể được thưởng thức những màn biểu diễn nghệ thuật đường phố:
múa, hát, nhảy, xiếc, ảo thuật,... hay có khi là cả những trò chơi dân gian truyền thống được
tổ chức: ô ăn quan, nhảy dây, chơi chuyền,... Không chỉ vậy, khu phố đi bộ còn nổi tiếng
với ẩm thực và những món đồ nhật dụng giá rẻ. Đây cũng là một điểm nhấn khi dạo quanh phố đi bộ.
Hình 13: Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục thuộc phố đi bộ Nguồn: yan.vn 2.2. Du lịch sinh thái:
2.2.1.Vườn quốc gia Ba Vì:
Nổi bật giữa không gian núi rừng ngút ngàn sắc xanh, Vườn quốc gia Ba Vì chiều
lòng du khách bằng không khí trong lành mát mẻ cùng khung cảnh hoang sơ, hùng vĩ của
thiên nhiên. Vườn quốc gia Ba Vì được thành lập theo Quyết định số 17-CT ngày
16/01/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Hiện nay, Vườn có tổng
diên tích gần 9.702,41 ha, thuộc địa giới hành chính 16 xã, 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất,
Quốc Oai của Thành phố Hà Nội, Kỳ Sơn, Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình.
Núi Ba Vì có 3 đỉnh: đỉnh Vua có độ cao 1.296m, đỉnh Tản Viên có độ cao 1.227m
và đỉnh Ngọc Hoa có độ cao 1.131m. Theo khảo sát gần đây nhất hệ động, thực vật của
Vườn quốc gia Ba Vì rất phong phú và đa dạng với 2.181 loài cây gỗ, 503 loài cây thuốc,
65 loài thú, 194 loài chim, 61 loài bò sát, 27 loài lương cư và 552 loài côn trùng. Trong đó
có nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ, nhiều loài động thực vật đặc hữu: Bọ ngựa
xanh thường, cà cuống, bướm khế, ngài mặt trăng, ếch vạch, thằn lằn tai Ba Vì,…1
Những khu nổi bật bên trong Vườn quốc gia Ba Vì:
a. Rừng thiên nhiên Ba Vì:
Vườn quốc gia Ba Vì có tới 3 kiểu rừng: Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới;
rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới và kiểu rừng lá rộng
thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi thấp. Bên trong rừng có rất nhiều điểm cắm trại đẹp
và đầy ma mị. Khi màn đêm buông xuống hay khi màn sương bao phủ các tán rừng, không
gian xung quanh đem lại một cảm giác rất đặc biệt, khó tìm được ở những nơi khác. b. Nhà thờ cổ Pháp:
Nhà thờ Ba Vì là dấu tích còn sót lại của những kiến trúc Châu Âu được xây dựng
từ những năm 40 của thế kỉ trước. Thời Pháp thuộc, Ba Vì vốn là địa điểm có điều kiện tự
nhiên và cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời nên được chọn làm nơi xây dựng khu nghỉ dưỡng
cho binh sĩ Pháp. Khu vực xây dựng nhà thờ Ba Vì nằm bên cạnh khu trại hè cũ, bạn có thể
kết hợp tham quan nhiều địa điểm trong cùng một chuyến du lịch ở Vườn Quốc gia Ba Vì.
Có thể bắt gặp ở Ba Vì những kiến trúc cổ kính, những tàn tích của các khu biệt thự
và khách sạn nhưng nhà thờ đổ lại rất khác biệt so với chúng. Sự khác biệt có lẽ là duy nhất
này được tạo nên bởi màu sắc của phong cách kiến trúc Phương Tây nay chỉ còn là những
tàn tích ẩn sâu trong núi rừng, được chính thiên nhiên phủ lên mình màu rêu phong tĩnh
mịch, trong cái kỳ vĩ cổ xưa lại có nét âm u huyền bí.
Mỗi mùa, thiên nhiên điểm tô cho màu sắc quang cảnh xung quanh nhà thờ mỗi vẻ.
Sắc vàng man mác của mùa thu, sắc hoa đào mai dại rực rỡ vào mùa xuân, sắc xanh ngút
tầm mắt của mùa xuân, dáng vẻ khẳng khiu buồn tẻ của cây lá vào mùa đông. Có lẽ, nhà
thờ đổ Ba Vì không phải lựa chọn cho các bạn chỉ yêu thích đông vui, náo nhiệt. Đây là nơi
để tâm hồn con người tìm về bầu bạn với thiên nhiên yên bình.
1 Theo thông tin từ vuonquocgiabavixom .vn.