



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA DU LỊCH HỌC _______________ TIỂU LUẬN ĐỊA LÝ THẾ GIỚI
Giảng viên: TS. Nguyễn Quang Anh Sinh viên: Ngô Hà My
Lớp: K67 – 2022 – QTDVDL&LH Mã sinh viên: 22030879
Mã lớp học phần: GEO 1001 1 Hà Nội, tháng 12 năm 2024 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................................2
NỘI DUNG .......................................................................................................................3
PHẦN I: ĐÁNH GIÁ VẤN ĐỀ PHÂN BIỆT ĐẲNG CẤP XÃ HỘI TẠI ẤN ĐỘ ...... 3
1.1. Khái quát Ấn Độ ........................................................................................................3
1.2. Khái quát hệ thống đẳng cấp caste ............................................................................4
1.2.1. Khái niệm và lịch sử hình thành ...............................................................4
1.2.2. Cấu trúc và đặc điểm ................................................................................7
1.2.3. Ảnh hưởng của hệ thống đẳng cấp và thực trạn
g hiện nay ...................11
1.2.4. Nguyên nhân tồn tại ................................................................................13
1.3. Giải pháp ..................................................................................................................14
PHẦN II: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA BARCELONA ...15
2.1. Cơ sở lý luận .....................................................................................................15
2.1.1. Điểm đến du lịch .....................................................................................15
2.1.2. Sản phẩm du lịch .................................................................................... 15
2.1.3. Giới thiệu qua về thành phố Barcelona ................................................. 16
2.2. Thực trạng sản phẩm du lịch hiện nay của Barcelona ..................................... 18
2.2.1. Tài nguyên du lịch .................................................................................. 18
2.2.2. Cơ sở hạ tầng ..........................................................................................23
2.2.3. Nguồn nhân lực .......................................................................................25
2.2.4. Chiến lược marketing và cơ chế quản lý ................................................25 2.2.5. Hiện trạn
g và số liệu khai thác .............................................................. 27
2.3. Giải pháp ...........................................................................................................27
KẾT LUẬN .................................................................................................................... 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................30 LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn – TS. Nguyễn Quang
Anh đã dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập
vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học Địa lý thế giới của thầy, em đã có thêm c
mình nhiều kiến thức bổ ích và nhiều kỹ năng trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Phương pháp dạy học của thầy đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu
thực tiễn của sinh viên và có thể áp dụng cho quá trình học tập, làm việc sau này.
Trong quá trình làm bài nghiên cứu còn nhiều sai sót, em cảm ơn thầy đã tận tâm giú
đỡ, giải đáp thắc mắc cũng như đưa ra các lời nhận xét, lời khuyên thiết thực để em sửa đổi. Em xin chân thành cảm ơn! 1 LỜI MỞ ĐẦU
Đây là bài báo cáo cuối kỳ của em đã được tìm hiểu và trình bày theo sự hướng
dẫn chi tiết của thầy. Bài báo cáo về vấn đề xã hội - chế độ đẳng cấp tại Ấn Độ, đưa ra
giải pháp về mặt địa lý cho vấn đề trên và phân tích các sản phẩm du lịch tại thành p
Barcelona - Tây Ban Nha, cuối cùng là đưa ra các khuyến nghị của bản thân cho các
thực trạng đã được phân tích. 2 NỘI DUNG
PHẦN I: ĐÁNH GIÁ VẤN ĐỀ PHÂN BIỆT ĐẲNG CẤP XÃ HỘI TẠI ẤN ĐỘ 1.1. Khái quát Ấn Độ
Vị trí địa lý: là quốc gia thuộc khu vực Nam Á, với vị trí tiếp giáp cụ thể là p
Bắc giáp Trung Quốc, Buhtan và Nepal; phía Đông Bắc giáp Bangladesh, Myanmar;
phía Tây Bắc giáp Afghanistan và Pakistan; phía Tây, phía Đông và phía Nam được
Ấn Độ Dương bao bọc và xung quanh có Sri Lanka và Maldives. Ấn Độ có khoảng
14,103 km đường biên giới đất liền và 7,516 km bờ biển. Xếp thứ 7 trên thế giới về
diện tích với khoảng 3.287.590 km2, trong đó phần diện tích đất liền chiếm 90,44% và
diện tích mặt nước chiếm 9,56%.
Điều kiện tự nhiên: là nơi có nhiều con sông lớn nhất Nam Á chảy qua như
sông Ấn, sông Hằng, sông Brahmaputra. Các con sông này đều đóng vai trò quan
trọng trong kinh tế như phục vụ trong nông nghiệp, trong xã hội như phục vụ nhu cầu
sinh hoạt của người dân Ấn Độ và trong văn hóa đều là các con sông liên quan đến vấn
đề thần linh, tôn giáo đặc biệt là sông Hằng - nơi diễn ra nhiều tục lệ lâu năm và là
người dân sinh hoạt hằng ngày rất nhiều. Ngoài ra, khí hậu tại quốc gia này phân bố rõ
ràng theo từng vùng do chịu sự ảnh hưởng của dãy núi Himalaya, các bán đảo, đồng
bằng và sa mạc Thar. Cụ thể, ở khu vực dãy núi Himalaya nhiệt độ được chia theo độ
cao, dưới chân núi khí hậu nhiệt đới ẩm, lượng mưa nhiều; vùng chân núi khí hậu ôn
hòa, mùa hè mát mẻ, mùa đông vẫn được coi là ấm áp; vùng núi cao khắc nghiệt hơn
với khí hậu lạnh giá, tuyết dày. Khí hậu đặc trưng tại đồng bằng sông Hằng là nhiệt
đới gió mùa, tại bán đảo Deccan là nhiệt đới và tại sa mạc Thar là nhiệt đới khô hạn.
Dân cư: Tính đến ngày 28/11/2024, theo Liên Hợp Quốc, dân số Ấn Độ ước
tính là 1.447.034.235 người. Tổng quan dân số Ấn Độ chiếm 17,76% dân số thế giới,
đứng thứ hai trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ. Dâ
số đông dẫn tới mật độ lên tới 487 người/km2và nhiều vấn đề trong xã hội, môi trường,
kinh tế, chính trị,… Trong năm 2024, dân số của Ấn Độ dự kiến sẽ tăng 13.092.189
người và đạt 1.448.210.906 người vào đầu năm 2025. Người Ấn chủ yếu nói tiếng
Hindi và nói được cả tiếng Anh. Ấn Độ cũng nổi tiếng với trình độ kỹ thuật và người
Ấn thường được trọng dụng vào các lĩnh vực liên quan đến kỹ thuật ở các nước phát
triển như Mỹ, Canada, Anh,…
Tôn giáo: Ấn Độ là quốc gia đa dạng về văn hóa, tôn giáo hay còn được gọi l
cái nôi của nhiều tôn giáo trên thế giới, trong đó phần lớn là theo đạo Hindu, đạo Hồ
giáo, đạo Phật và đạo Cơ Đốc giáo. Sự tồn tại của nhiều văn hóa trong một đất nước
làm cho văn hóa đất nước được giao thoa với nhau, tồn tại nhiều kiến trúc mang đậm 3
tính tôn giáo và nhiều lễ hội của các tôn giáo diễn ra quanh năm. Chính sự đa dạng tôn
giáo này cũng đã dẫn tới các vấn đề nghiêm trọng như xung đột tôn giáo, sự xung đột
này là nguyên nhân của nhiều cuộc tấn công, biểu tình, thậm chí do mâu thuẫn về niề
tin tôn giáo nên nhiều người đã bị sát hại.
Kinh tế: Ấn Độ là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới
GDP bình quân đầu người đã tăng 55% từ năm 2014 đến năm 2023. Quốc gia này
cũng đi từ nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới lên nền kinh tế lớn thứ 5 trong khoảng
thời gian đó và cũng có mức tăng trưởng GDP lớn nhất so với các nền kinh tế lớn kh
Sự mở rộng bền vững sẽ đẩy Ấn Độ lên cao hơn trong bảng xếp hạng các nền kinh t
lớn nhất thế giới, với một số nhà quan sát dự báo nước này sẽ trở thành nền kinh tế lớ
thứ 3 chỉ sau Mỹ và Trung Quốc vào năm 2027. Trong những năm gần đây, quốc gia
Nam Á này cũng đã xây dựng một loạt nền tảng công nghệ - được gọi là cơ sở hạ tầ
công cộng kỹ thuật số - nhằm thay đổi cuộc sống và hoạt động kinh doanh. Ví dụ,
chương trình Aadhaar được triển khai năm 2009 đã lần đầu tiên cung cấp cho hàng
triệu người Ấn Độ định danh cá nhân. Cơ sở dữ liệu sinh trắc học lớn nhất thế giới
cũng đã giúp chính phủ tiết kiệm hàng triệu USD bằng cách giảm tham nhũng trong các sáng kiến phúc lợi.
Một số vấn đề: Ấn Độ là một quốc gia đang phát triển thế nhưng vẫn còn tồn
tại nhiều hủ tục, lối suy nghĩ lạc hậu. Cụ thể tại quốc gia Nam Á này còn tình trạng
trọng nam khinh nữ khá sâu sắc, người phụ nữ chủ yếu ở nhà làm việc nội trợ, không
có tiếng nói trong gia đình và xã hội, thậm chí các công việc kinh doanh ngoài chợ
buôn bán đa phần là đàn ông, điều này cũng dẫn tới vấn đề nhiều phụ nữ bị đàn ông
tấn công tình dục và không tìm được công lý, gần đây nhất là vụ việc nữ bác sĩ đã bị
cưỡng hiếp tập thể và bị sát hại đã gây chấn động trong nước và quốc tế. Nhiều bác
trên cả nước đã đình công, tham gia biểu tình đòi lại công bằng cho phụ nữ nói chung
và nạn nhân nói riêng. Ngoài ra còn có vấn đề nổi trội chính là nạn tảo hôn tại đất
nước này, bộ phim nổi tiếng Cô dâu 8 tuổi cũng đã được xây dựng dựa trên tập tục n
nhằm lên án, truyền bá cho người dân biết được tác hại của hủ tục này cũng như bạn
bè quốc tế biết được và kêu gọi chấm dứt. Tuy nhiên tại một số vùng quê nghèo thì h
tục này vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ. Bên cạnh đó cũng còn một số vấn đề liên quan
đến sự phân biệt các tầng lớp trong xã hội.
1.2. Khái quát hệ thống đẳng cấp caste
1.2.1. Khái niệm và lịch sử hình thành
Chế độ đẳng cấp (caste system) là một trong những hệ thống xã hội phức tạp và
tồn tại lâu đời nhất trên thế giới, có nguồn gốc từ Ấn Độ. Hệ thống này không chỉ ch 4
phối đời sống cá nhân, xã hội mà còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến các vấn đề văn hóa, tô
giáo và chính trị của Ấn Độ. Hệ thống đẳng cấp không chỉ phản ánh sự phân chia
quyền lực mà còn thể hiện rõ các chuẩn mực xã hội và tôn giáo. Hệ thống đẳng cấp
này đã tồn tại ở Ấn Độ trong ít nhất 3.000 năm dưới nhiều hình thức. Đây là một hệ
thống phân cấp xã hội được truyền qua các gia đình và có thể quyết định nghề nghiệp
mà một người có thể làm cũng như các khía cạnh trong cuộc sống xã hội của họ, bao
gồm cả việc họ có thể kết hôn với ai. Ban đầu hệ thống này từ đạo Hindu tạo ra nhưng
dần dần trở thành một phần quan trọng của cuộc sống và đến ngày nay hầu hết người
dân Ấn Độ đều đồng nhất với một đẳng cấp này, bất kể tôn giáo của họ là gì. Trong
ngôn ngữ Ấn Độ, không có từ nào cụ thể để chỉ đại diện cho từ “chủng tộc, dòng dõi
mà chỉ có từ gần đúng là varna và jati. Hệ thống caste này nguồn gốc từ tiếng Bồ Đà
Nha là casta nghĩa là giống, dòng dõi, chủng tộc và nghĩa nguyên sơ là tinh khiết, không pha trộn.
Nguồn gốc của hệ thống đã là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong giới các học gi
Ấn Độ. Cụ thể là các nhà nhân chủng học, khảo cổ học, sử học Ấn Độ và trên thế giớ
đã đưa nhiều giả thuyết nhưng chủ yếu là ba nhóm lý thuyết là lý thuyết chủng tộc, lý
thuyết ngẫu nhiên và từ di truyền học. Có hai nhà nghiên cứu, quản lý người Anh J. C
Nesfield và H. H. Risley tại Ấn Độ đã tranh cãi nhau về vấn đề này. Risley cho rằng
nó được hình thành từ nạn xung đột chủng tộc khi mà chủng tộc Aryan - những người
da sáng màu - đã vào Ấn Độ và xâm lược chủng tộc Dravidian - những người da đen
bản địa. Ông cho rằng người da trắng đã thành công và trở nên có quyền lực, họ bắt
các người phụ nữ sau đó nhiều thế hệ con lai được ra đời, những thế hệ lai này được
coi là đẳng cấp hơn cả. Nhà nghiên cứu còn lại thì nêu quan điểm cho rằng do yếu t
văn hóa tác động thêm. Vốn dĩ ban đầu sự phân biệt chủng tộc này để làm tôn lên đ
vị của giới phương Tây ở đây. Thế nhưng suy nghĩ của Risley lại bị các nhà học giả
Ấn Độ phản đối bởi họ chỉ ra rằng vấn đề xuất phát từ các bộ tộc với nhau chứ khôn
phải từ hai chủng tộc đã nêu trên. Trong đó nhà nghiên cứu Ketkar cho rằng bản chất
người Ấn Độ đều là từ một chủng tộc duy nhất, chỉ có rất ít ngoại lệ và lý thuyết chủng
tộc có thể sẽ gây chia rẽ xã hội nặng nề. Giới khoa học Ấn Độ đã nêu quan điểm xuất
phát từ lý thuyết ngẫu nhiên tức chế độ đẳng cấp là sản phẩm của những sự kiện lịch
sử cụ thể, có thể bị giới hạn trong một khoảng thời gian và địa điểm cụ thể. B.S
Ambedkar - người xuất thân từ đẳng cấp Dalit, đồng thời cũng là người soạn thảo Hiến
pháp Ấn Độ - đã bác bỏ lý thuyết chủng tộc nêu trên. Ông nhấn mạnh về nghiên cứu
của Nesfield với kết luận không hề có sự khác biệt về chủng tộc giữa các đẳng cấp
khác nhau trong cùng một khu vực, đồng thời kết luận "hệ thống đẳng cấp là sự phân
biệt trong xã hội giữa những người cùng chủng tộc”. Sau thời gian dài tranh luận thì 5
đến giữa những năm 90 các nhà khoa học đã sử dụng di truyền học để kiểm tra nguồn
gốc của chế độ này và mối liên hệ giữa các đẳng cấp. Với các nghiên cứu đầu tiên th
chỉ ra rằng lý thuyết ngẫu nhiên là phù hợp, tức là các mối quan hệ di truyền không
thực sự liên quan đến cấu trúc xã hội. Tuy nhiên khi hàng loạt các kết quả nghiên cứu
tiếp theo ra đời thì cũng chỉ ra rằng lý thuyết chủng tộc cũng có phần đúng. Tổng quan
là đưa ra những kết quả rất khác nhau và hiện tại công trình nghiên cứu này vẫn đang
được thực hiện cho đến nay.
Kết quả chính xác cuối cùng hiện tại vẫn chưa có cụ thể những đã bác bỏ được
“thần tính” về nguồn gốc của kinh Vệ Đà. Vệ Đà đã cho rằng đẳng cấp khác nhau thì
sinh ra từ các bộ phận khác nhau của người sơ thủy, cụ thể người đẳng cấp cao thì s
ra từ thân trên còn đẳng cấp thấp nhất thì sinh ra từ lòng bàn chân. Với quan niệm nà
đã hình thành suy nghĩ ở người dân rằng “đẳng cấp vốn là tự nhiên, là bất biến” nhưn
thực chất thì không phải và chính kết luận này đã phần nào giúp đẳng cấp dưới giải
thoát khỏi sự phân biệt trong xã hội,… Thế nhưng cũng có khả năng rằng chính trị -
hội là yếu tố khởi nguồn chứ không phải tôn giáo, là công cụ mà các nhà chính trị đ
tự tạo ra nhằm kiểm soát, ổn định được xã hội có trật tự và dễ dàng điều hành, cai qu hơn.
Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống đẳng cấp từ kinh Vệ Đà, trong cá
thời kỳ lịch sử, trong thời kỳ là thuộc địa của Anh và sau khi Ấn Độ giành độc lập.
thống này được hình thành từ kinh Vệ Đà, chỉ ra các tầng lớp được sinh ra từ bộ phận
nào của thần linh và có các nhiệm vụ gì trong xã hội. Ban đầu các đẳng cấp này luô
linh hoạt, tức các cá nhân có gặt hái tốt trong cuộc sống, làm được việc có ích lớn vẫ
được thay đổi đẳng cấp của mình thế nhưng dần dần hệ thống này trở nên cứng nhắc
hơn và cố định hơn. Luật Manu (Manusmriti) là một trong những văn bản quan trọng
nhất đã củng cố chế độ đẳng cấp dưới dạng luật pháp và tôn giáo. Văn bản này đưa
các quy tắc cụ thể về cách thức hoạt động của hệ thống đẳng cấp, trong đó mỗi varna
có nghĩa vụ và trách nhiệm rõ ràng và không được phép vi phạm các ranh giới giữa
các đẳng cấp. Thời kỳ Gupta (319 - 467 CN) sự phân chia đẳng cấp xã hội giờ đây dựa
vào di truyền và luật tôn giáo, vì vậy mà người thuộc đẳng cấp thì vẫn sẽ giữ nguyên
qua nhiều thế hệ, sinh ra đã được định trước số phận phải làm gì. Hôn nhân giữa đẳng
cấp khác nhau bị cấm hoàn toàn nên càng khó thay đổi số phận của mình trong xã hội.
Xã hội giờ đây trở thành một vòng khép kín, đẳng cấp nào thì hoạt động, làm việc,
thực hiện vai trò của mình. Đến thời kỳ Mughal (1526 - 1857 CN) Ấn Độ do người
Hồi giáo cai trị nhưng hệ thống này vẫn tồn tại và tiếp tục duy trì trong cộng đồng
Hindu giáo. Ảnh hưởng của nó lan rộng ra lĩnh vực chính trị và xã hội. Trong khoảng
thời gian làm thuộc địa của Anh, hệ thống này tiếp tục phát triển và thậm chí được hợ 6
pháp hóa và củng cố hơn nhờ chính quyền thuộc địa Anh. Người Anh dùng nó để cai
quản đất nước này dễ hơn, kiểm soát xã hội theo đẳng cấp. Chính quyền Anh đã khiế
nó trở nên khắt khe và phân biệt hơn khi họ xây dựng các chính sách dựa trên hệ thố
này. Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ này, nhiều phong trào xã hội và cải cách đã nổi lê
để chống lại hệ thống đẳng cấp. Những nhà lãnh đạo như Mahatma Gandhi và B.R.
Ambedkar đã đấu tranh để xóa bỏ sự phân biệt đẳng cấp và bảo vệ quyền lợi của các
tầng lớp bị áp bức, đặc biệt là người Dalit. Năm 1947, Ấn Độ giành độc lập và ra Hiến
pháp vào năm 1950, trong đó đã cấm hoàn toàn hệ thống đẳng cấp này và cấm sự phân
biệt đối xử. Điều đáng kinh ngạc cho thấy sự thay đổi rõ nét chính là Tiến sĩ B.R.
Ambedkar đã trở thành một nhà lãnh đạo Dalit và là người kiến tạo Hiến pháp Ấn Độ
người thuộc đẳng cấp này vốn dĩ không bao giờ được làm những việc cao cả như trên
đã đưa ra những điều khoản pháp lý mạnh mẽ nhằm bảo vệ quyền lợi cho những ngư
thuộc các tầng lớp bị thiệt thòi như Dalit và Shudra. Tuy đã có luật lệ rõ ràng nhưng
thực tế cho đến nay thì nhiều người vẫn dựa vào nó để phân biệt đối xử người từ đẳn
cấp khác và các cuộc biểu tình đòi quyền lợi từ tầng lớp thấp vẫn diễn ra.
1.2.2. Cấu trúc và đặc điểm
Hệ thống đẳng cấp chia thành 4 nhóm xã hội gọi là Varna, bao gồm Brahmin,
Kshatriya, Vaishya và Shudra. Bốn nhóm đẳng cấp này đều có các vai trò, trách nhiệm
và có hưởng các quyền lợi khác nhau khá rõ ràng trong xã hội. Ngoải ra có một nhóm
ngoài lề không thuộc bất kì loại đẳng cấp nào và bị đối xử khinh miệt chính là Dalit.
Hình 1. Tháp hệ thống đẳng cấp caste ở Ấn Độ Nguồn: Shashi Tharoor
Tầng lớp Brahmin (Bà la môn) là cao nhất trong hệ thống xã hội, là những
người thuộc tầng lớp tri thức, hiểu biết về Vệ Đà và các vấn đề tâm linh. Họ thường là
linh mục, giáo viên và nhà triết học, nắm giữ vai trò quan trọng nhất trong các nghi lễ
tôn giáo. Người ta tin rằng những người này có mối liên hệ với thần linh, họ được tiếp 7
xúc gần nhất và là trung gian giữa con người và thần linh trong Ấn Độ giáo. Trong
một đất nước đa dạng và luôn đề cao vấn đề tôn giáo tín ngưỡng thì tầng lớp này cà
trở nên cao quý hơn cả. Các nhà lãnh đạo và vua chúa đôi khi sẽ có cố vấn tôn giáo
thuộc tầng lớp này nhằm lấy được lòng tin người dân và thay đổi chính trị, quân sự.
Nói cách khác, tầng lớp này đóng vai trò gián tiếp trong việc điều hành đất nước dù
không nắm bất cứ quyền gì. Nguồn gốc của tầng lớp Bà la môn bắt nguồn từ các văn
bản tôn giáo cổ đại. Trong kinh Rigveda, một phần của Vệ Đà, có đề cập đến hệ thống
xã hội được chia thành bốn đẳng cấp (varna), mỗi đẳng cấp có một vai trò và nhiệm v
riêng. Theo mô tả trong Rigveda, hệ thống đẳng cấp được xem như một cơ thể vũ trụ,
trong đó Bà la môn được sinh ra từ đầu của thần Purusha – biểu tượng của trí tuệ và s
lãnh đạo tinh thần. Ban đầu, hệ thống đẳng cấp không phải là một hệ thống di truyền
và cứng nhắc như sau này, mà chủ yếu dựa trên vai trò và nhiệm vụ của từng cá nhâ
trong xã hội. Tuy nhiên, theo thời gian, hệ thống này trở nên khắt khe và phân biệt hơn
với sự xuất hiện của các văn bản luật pháp và tôn giáo như Manusmriti, quy định rõ
ràng quyền lợi và trách nhiệm của mỗi đẳng cấp, trong đó Bà la môn giữ vai trò độc
tôn trong lĩnh vực tôn giáo và tri thức.
Kshatriya là tầng lớp chiến binh và quý tộc, có nhiệm vụ bảo vệ và cai trị xã hội
Kshatriya chiếm vị trí quan trọng trong quân đội và chính trị, đóng vai trò lãnh đạo các
vương quốc và tiểu bang. Các vua chúa và tướng lĩnh thường xuất thân từ đẳng cấp
này. Họ thường có mối liên hệ chặt chẽ với Brahmin vì có nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn
các truyền thống và giá trị tôn giáo. Ngoài ra họ là những binh lính chiến đấu bảo vệ
đất nước, đảm bảo trật tự hòa bình và sự an toàn của tầng lớp cao. Tầng lớp này nắm
giữ vai trò chính trong quân sự và chính trị, nắm quyền điều hành và quyết định các
vấn đề chiến tranh, hòa bình và pháp luật. Nhưng họ vẫn cần phải nghe theo lời
khuyên và hướng dẫn từ Bà la môn, chính vì vậy mà có mối quan hệ chặt chẽ giữa
quyền lực chính trị và quyền lực tôn giáo. Kshatriya xuất hiện lần đầu trong kinh Vệ
Đà và được cho là sinh ra từ cánh tay của thần Purusha, biểu tượng của sức mạnh và
khả năng bảo vệ. Đặc biệt là trong hai sử thi Mahabharata và Ramayana - hai sử thi
đánh dấu thời kỳ quan trọng phát triển tầng lớp này - đã nhấn mạnh về vai trò và trá
nhiệm của tầng lớp này trong việc bảo vệ và duy trì trật tự xã hội.
Vaishya là tầng lớp thương nhân và nông dân, những người tham gia vào các
hoạt động kinh tế như buôn bán, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp thủ công.
Vaishya đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển kinh tế và cung cấp
lương thực, hàng hóa cho xã hội. Nằm ở vị trí trung gian trong tầng lớp xã hội, không
có vai trò cao quý về chính trị và tôn giáo nhưng cũng nắm giữ yếu tố then chốt về lĩn
vực kinh tế giúp đất nước phát triển và ổn định cuộc sống. Họ thường là những nhà 8
kinh doanh, chủ của các doanh nghiệp gia đình, chủ trang trại hoặc các doanh nghiệp
buôn bán lớn. Kinh doanh lớn là yếu tố giúp họ thành công và có khối tài sản lớn, họ
có quyền sở hữu tài sản và của cải của mình chính vì vậy mà tầm ảnh hưởng trong x
hội lớn dù không có quyền lực trực tiếp về tôn giáo và quân sự. Tầng lớp Vaishya
cũng xuất phát từ kinh Vệ Đà, được sinh ra từ đùi của Purusha, biểu trưng cho sức
mạnh kinh tế và sự phồn thịnh của xã hội. Theo Rigveda, vai trò chính của Vaishya là
đảm bảo sự lưu thông hàng hóa và sản phẩm, cung cấp lương thực và tạo ra của cải
cho cộng đồng. Các kinh Vệ Đà đã định hình tầng lớp Vaishya như một tầng lớp có
nghĩa vụ nuôi dưỡng và bảo vệ xã hội bằng cách thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh
Đây là lý do tại sao Vaishya được miêu tả là tầng lớp quan trọng thứ ba trong hệ thố
đẳng cấp varna, chỉ đứng sau tầng lớp Brahmin (tăng lữ) và Kshatriya (chiến binh).
Trong sử thi đã nêu rằng các nhà thương nhân giàu có có mối quan hệ mật thiết cung
cấp cho nhà vua và giới quý tộc. Họ cung cấp tài chính cho lĩnh vực quân sự và tài
cho các nghi lễ tôn giáo và các công trình xây dựng.
Sudra là tầng lớp thấp nhất trong hệ thống varna, là những người lao động chân
tay nhằm phục vụ cho các đẳng cấp cao cấp hơn. Tầng lớp này chỉ làm chủ yếu là
nông nghiệp, xây dựng và các nghề thủ công phục vụ. Các nghi lễ tôn giáo cao cấp v
hệ thống giáo dục thường không cho họ tham gia, đặc biệt không có quyền về tôn giáo,
chính trị, không có quyền sở hữu tài sản. Xuất phát từ kinh Vệ Đà, tầng lớp Shudra
được sinh ra từ đôi chân của Purusha, biểu trưng cho sức mạnh lao động và sự kiên
nhẫn. Họ là những người công nhân, là những người duy trì và hỗ trợ cả ba tầng lớp
trên và thường làm việc trong gia đình của các đẳng cấp đó, hay còn gọi là người giú
việc. Nhiệm vụ của họ cũng là đảm bảo cung cấp nguồn lực để ba đẳng cấp trên thực
hiện được tốt nghĩa vụ tôn giáo, chính trị, quân sự. Trong xã hội, đẳng cấp thứ tư này
không thể phát triển hay tiến lên một đẳng cấp khác, nhiều thế hệ trôi qua và họ vẫn s
thuộc đẳng cấp Sudra, ngoài ra còn phải đối diện với nhiều luật lệ khắt khe không
được làm trái mà hệ thống xã hội đã lập ra. Dù vẫn đóng vai trò then chốt trong xã h
khi phải làm việc chân tay như xây dựng giúp xã hội phát triển hơn, đáp ứng nhu cầu
đông dân của quốc gia này nhưng họ lại không nhận được sự tôn trọng, bị coi là đáy x
hội, thường xuyên nhận lại sự khinh bỉ, coi thường. Trong xã hội cổ đại, chính nhờ
tầng lớp Sudra mà vương quốc Ấn Độ mới xây dựng được nhiều công trình vĩ đại, đồ
sộ và nông nghiệp phát triển, cung cấp lương thực cho toàn xã hội.
Ngoài bốn tầng lớp đẳng cấp trên thì còn có Dalit (Untouchables) hay còn gọi là
tiện dân, là những người không thuộc đẳng cấp nào mà bị coi là người ngoài xã hội.
Người thuộc đẳng cấp này nếu bị chạm vào sẽ làm ô uế những người thuộc tầng lớp
trên. Có thể thấy họ là những người không được làm gì trong xã hội, không được coi 9
con người và thậm chí mọi người còn coi như họ không tồn tại. Những người này
không được tham gia các hoạt động tôn giáo, thậm chí đến gần đến thờ là cũng không
được phép, họ gần như có điều kiện sống khó khăn và khó tiếp cận giáo dục cũng như
việc làm. Từ hàng nghìn năm họ đã bị loại khỏi hệ thống đẳng cấp không chỉ vì tôn
giáo mà còn vì truyền thống, văn hóa kéo dài nhiều đời không thay đổi chính vì vậy
mà từ thời Ấn Độ cổ đại đến bây giờ họ vẫn không được coi trọng. Công việc mà đẳng
cấp này làm thường là dọn vệ sinh, thu gom rác thải, chăm sóc gia súc, xử lý xác
chết,… hầu hết là những công việc bị coi là “bẩn thỉu”, “ô uế”. Trong thời kỳ Ấn Độ
cho rằng họ thuộc tầng lớp thấp kém này là vì quả báo, nghiệp từ đời trước chính vì
vậy mà phân biệt đối xử với họ là hợp lý, là thích đáng.
Đặc điểm của hệ thống đẳng cấp tại Ấn Độ gồm:
Tính bất khả xâm phạm: Tuy ban đầu hệ thống này linh hoạt, có thể thay đổi số
phận của mỗi người nhưng qua các thời lỳ phát triển khác nhau mà nó trở nên biến
chất, cứng nhắc, không thể thay đổi được. Từ khi sinh ra mỗi cá nhân đã biết mìn
có nhiệm vụ gì, được làm gì và không được làm gì ttrong xã hội. Việc thay đổi
đẳng cấp là rất khó khăn, gần như không thể. Sự phân chia nghiêm ngặt của các
đẳng cấp khiến cho người ở đẳng cấp khác nhau thì không thể liên quan đến nhau
ảnh hưởng đến nhiều mối quan hệ dù cho bây giờ đã cấm hệ thống này.
Quy định hôn nhân: Hôn nhân chủ yếu diễn ra trong cùng một đẳng cấp hoặc
giữa các đẳng cấp gần nhau. Sở dĩ có điều này vì các tầng lớp thấp kém, nằm
ngoài hệ thống này làm tổn hại danh tiếng của tầng lớp cao nên các cặp đôi chênh
lệch vị thế xã hội quá nhiều không thể đến được với nhau, hoặc có các trường hợp
là người ở đẳng cấp cao hơn phải từ bỏ vị thế của mình, chấp nhận không được
làm các công việc cao quý, mất đi quyền lợi của mình để được kết hôn.
Nghề nghiệp: Như đã phân tích cụ thể từng đẳng cấp ở trên ta có thể thấy mỗi
đẳng cấp có những nghề nghiệp truyền thống riêng. Người thuộc đẳng cấp khác
không được làm dù có giỏi đến đâu và thậm chí còn không được đến gần các khu
vực đó. Ngày nay nhiều người Ấn Độ vẫn còn có cái nhìn xấu về những người là
phục vụ, kể cả ở các nhân viên phục vụ tại nhà hàng, khách sạn cao cấp bởi họ
rằng công việc này ở thời kỳ nào thì vẫn là thấp kém.
Quyền lợi và nghĩa vụ: Mỗi đẳng cấp có những quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau,
thường đi kèm với sự phân biệt đối xử. Người ở đẳng cấp cao được dạy lễ nghĩa,
cách ứng xử, thậm chí được đào tạo để nắm giữ các vị trí cao từ khi còn bé. Còn
những người tầng lớp thấp thì được dạy về những điều mình không được làm và
được dạy cách tránh tiếp xúc với những người đẳng cấp cao để tránh có những 10
mâu thuẫn không đáng có vì dù đúng hay sai thì họ cũng vẫn sẽ bị phân biệt đối xử
và đôi khi còn bị xử phạt thậm tệ.
1.2.3. Ảnh hưởng của hệ thống đẳng cấp và thực trạn g hiện nay
Lĩnh vực kinh tế: hệ thống này đã ảnh hưởng không có trong nền kinh tế của
Ấn Độ với nhiều hạn chế và ảnh hưởng. Đầu tiên, rõ ràng nhất là hạn chế cơ hội việc
làm. Các đẳng cấp thường có truyền thống làm một ngành nghề chủ yếu từ nhiều đời
chính vì vậy mà đôi khi các cá nhân muốn làm một công việc từ đẳng cấp khác so với
xuất thân cũng khó có khả năng và đẳng cấp thấp không thể làm các công việc của
tầng lớp trên. Vốn dĩ người ở tầng lớp trên làm các công việc cao quý, thu nhập tốt
hơn so với những công việc mà tầng lớp “tiện dân” làm. Việc này dẫn tới phân chia
giàu nghèo ngày càng rõ rệt và khó thay đổi hơn. Tầng lớp nghèo thì ngày càng nghè
còn tầng lớp giàu sang thì ngày càng giàu hơn. Với sự mặc định, bảo thủ về hệ thống
đẳng cấp nên nhiều người không còn muốn phấn đấu nữa, sợ hãi sự thay đổi, người
tầng lớp thấp cho rằng họ có cố gắng như nào thì vẫn bị đối xử thấp kém nên họ từ b
phát triển bản thân còn những người giàu đôi khi lại cho rằng họ thuộc tầng lớp cao rồi,
gia đình đã có truyền thống cao quý lâu đời nên họ cũng không cần tự phát triển cá
nhân nữa mà trở nên dựa dẫm vào gia đình. Các nhà đầu tư, kinh doanh ngần ngại đầ
tư ở các khu vực sinh sống của người ở đẳng cấp thấp, từ đó mà các khu vực này điề
kiện sinh sống ngày càng tồi tệ. Nhiều ngành nghề cần có sự liên kết với nhau nhưng
vì hệ thống này mà trở thành rào cản cho việc phát triển của doanh nghiệp. So với
công việc của tầng lớp cao thuận lợi thì ở tầng lớp thấp họ gặp nhiều khó khăn như
việc cần nguồn vốn từ các nhà đầu tư, không có mạng lưới kinh doanh trong xã hội,…
Cùng là chủ doanh nghiệp nhưng đẳng cấp cao thì được kính trọng, ưu tiên hơn là ở
đẳng cấp thấp nhất. Cụ thể, Maurya - một người có tổ tiên được sinh ra là Dalit - phả
trả giá cho những tội lỗi của mình, tội lỗi được người ở đẳng cấp cao cho rằng là vô s
Maurya là một người thợ lột da động vật và theo luật của Hindu tiếp xúc với da động
vật làm cho anh bị ô uế, một người đáng bị tránh xa. Cuộc sống kinh doanh của anh
khá ổn định và được coi là khá giả nhưng điều đó với đẳng cấp cao là tội lỗi. Anh đ
mua được một khu đất trong làng mà đáng nhẽ “tiện dân” như anh là không thể và
không được. Ngoài ra, anh dự định sẽ đòi quyền sử dụng giếng mới của làng. Khi
Maurya đi vắng, tám người đàn ông thuộc đẳng cấp cao hơn đến trang trại của anh. Họ
phá hủy trang trại, lấy cắp máy cầy, đánh đập vợ con và đốt nhà của Maurya. Những
hành động trên đã đưa ra một thông điệp rất rõ ràng: hãy chấp nhận cuộc sống tiện dâ
mà anh thuộc về. Cuối cùng gia đình anh đã chạy trốn khỏi làng và chỉ dám quay về sau hai năm. 11
Lĩnh vực xã hội: trong xã hội phân chia rõ ràng thì vấn đề hôn nhân là việc khó
khăn hơn cả. Các cá nhân thuộc đẳng cấp khác nhau rất khó kết hôn với nhau do sự
chênh lệch về địa vị xã hội quá cao. Nhiều gia đình sẵn sàng từ bỏ quan hệ với nhau
nếu một thành viên trong gia đình địa vị cao lấy một người ở địa vị “đáy xã hội”.
Chính vì vậy mà phải lựa chọn người bạn đời cùng đẳng cấp với mình hoặc nghe theo
sự lựa chọn của bố mẹ. Hệ thống giáo dục được coi là chỉ dành cho các đẳng cấp cao
người ở tầng lớp Dalit và Sudra càng khó tiếp cận hơn làm cho nhận thức, kiến thức
của tầng lớp này càng ngày càng hạn hẹp hơn. Các dịch vụ cơ bản ngoài xã hội cũng b
hạn chế người có thể tiếp cận, hoặc chỉ được tiếp cận các dịch vụ có chất lượng kém
Rào cản trong xã hội ngày càng rõ ràng, xã hội chia rẽ và trở nên khép kín khiến cho
các quốc gia khó phát triển đồng đều, tỷ lệ nghèo đói vẫn tăng cao. Cụ thể, một cuộc
triển lãm ảnh tư liệu về giai cấp Dalit vừa được tổ chức tại thành phố Mumbai. Nhà
nhiếp ảnh Sudharak Olwe đã ghi lại những định kiến lạc hậu của xã hội Ấn Độ đối v
hàng triệu người vốn được xem là “đẳng cấp thứ 5” với ghi nhận hơn 40.000 tội ác
chống lại giai cấp này trong năm 2016 mặc dù đã có luật cấm phân biệt giai cấp này.
Cô bé 10 tuổi Rajashree Kamble (thuộc tầng lớp Dalit) qua đời do ngã khi đang đi lấy
nước vì khu dân cư của họ thuộc đẳng cấp thấp kém nên không nhận được nguồn nướ
sinh hoạt. Vào tháng 2 năm 2016, mọi giếng nước trong làng đều cạn kiệt do khô hạn.
Hội đồng làng xoay sở cung cấp được nước cho các khu dân cư khác nhưng từ chối
giúp nhóm người Dalit. Bố của cô bé đã cố đi tìm công lý nhưng ông không thể kiện
trưởng làng và các vị chức sắc. Ngoài ra trong xã hội Ấn Độ còn có nhiều tội ác ghê
rợn mà đẳng cấp trên gây ra cho người Dalit.
Hình 2. Bố của Rajashree tại giếng nơi con gái qua đời Nguồn: Sudharak Olwe
Lĩnh vực chính trị: như đã phân tích về nhiệm vụ của các giai cấp thì chính trị
thuộc về giai cấp Kshatriya nắm quyền, điều này dẫn tới các nhóm thuộc đẳng cấp 12
thấp không được có quyền lợi. Các chính sách ưu tiên, có lợi cho người đẳng cấp cao
hơn còn người Dalit bị đè nén và không có chủ trương phát triển từ những người đứng
đầu. Tính công bằng trong xã hội không còn và xã hội nhiều đảng mâu thuẫn với nha
Các nhóm người không được hưởng quyền lợi sẽ có xu hướng đứng dậy đấu tranh, nổ
ra các cuộc biểu tình khiến xã hội ngày càng hỗn loạn, không có tổ chức và trật tự an
ninh xã hội. Ngày 20/7/2017, ông Ram Nath Kovind chính thức trở thành Tổng thống
Ấn Độ và theo tờ New York Times đưa tin ông là người thứ hai thuộc tầng lớp Dalit
làm Tổng thống của đất nước này. Ông xuất thân từ tầng lớp Kori, là một nhánh nhỏ
của Dalit và cũng được coi là thấp kém hơn những nhánh khác của Dalit.
Lĩnh vực văn hóa và tôn giáo: mỗi đẳng cấp sẽ thực hiện các nghi lễ như đám
cưới, lễ tang,… khác nhau, người ở đẳng cấp cao sẽ được tổ chức trang trọng, cầu kỳ
còn tầng lớp thấp kém thì sơ sài, qua loa hơn. Hệ thống đẳng cấp tạo ra những quan
niệm về sự tinh khiết và ô uế. Người thuộc các đẳng cấp cao hơn thường coi mình là
tinh khiết và tránh tiếp xúc với những người thuộc đẳng cấp thấp hơn. Văn hóa nghệ
thuật Ấn Độ phản ánh rõ nét sự phân chia đẳng cấp, với các hình thức nghệ thuật khá
nhau dành cho từng đẳng cấp. Văn học cũng vậy, thường đề cập đến các vấn đề liên
quan đến đẳng cấp và các mối quan hệ giữa các đẳng cấp. Tuy được bắt nguồn từ
Hindu giáo nhưng các tôn giáo khác cũng bị ảnh hưởng và quy chuẩn theo hệ thống
này dù đã cố gắng hạn chế nhất có thể. Các đền thờ của Hindu giáo có các quy định
nghiêm ngặt rằng các nghi lễ ai được tham gia và không được tham gia, ai được phép
vào nơi linh thiêng và ai không được.
1.2.4. Nguyên nhân tồn tại
Nguyên nhân ra đời của hệ thống này do trong thời Ấn Độ cổ đại sự phân hóa
xã hội ngày càng trở nên rõ ràng hơn dựa trên nghề nghiệp, quyền lực, giàu nghèo. Sự
phân chia này được xem là tất yếu, tự nhiên ở bất kỳ nền văn hóa cổ đại nào. Các c
xâm lược cũng đã tác động tới như giữa người bản địa và người ngoại lai, người cai trị
và người bị trị. Các kinh sách Hindu giáo được viết rõ ràng về các đẳng cấp từ đó làm
cơ sở cho người dân dựa vào đó để nghe theo và được tiếp tục truyền cho các đời sau
Niềm tin rằng mình sinh ra ở đẳng cấp này là do nghiệp quả kiếp trước mình gây ra
chính vì vậy mà mọi người thường chấp nhận với cách mình sinh ra và cũng khó thay
đổi trong xã hội. Các bộ tộc ngày xưa chủ yếu kết hôn nội tộc để duy trì được văn hó
tục lệ của của mình dần dần trở thành một vòng tròn khép kín, truyền từ đời này sang đời khác.
Hệ thống đẳng cấp này đã xuất hiện ở Ấn Độ từ thời xa xưa nhưng đến tận bây
giờ vẫn còn tồn tại vì một số nguyên nhân sau: 13
Giống như nguyên nhân ra đời thì các sách Hindu giáo được ghi chép rõ ràng
và lưu giữ cho các thế hệ lấy đó làm thước đo và học hỏi theo. Đặc biệt đối với
đất nước đa tín ngưỡng như Ấn Độ thì tục lệ lâu năm như vậy là vô cùng quan
trọng, cần tiếp tục lưu truyền và họ có niềm tin mãnh liệt vào những ghi chép
từ tổ tiên. Những văn bản đó đã coi hệ thống đẳng cấp là một trật tự xã hội tự
nhiên và thiêng liêng. Sự phân chia xã hội dựa trên nghề nghiệp, nguồn gốc và
các yếu tố khác đã tồn tại từ lâu và dần hình thành nên hệ thống đẳng cấp cứn nhắc.
Củng cố quyền lực là một trong các nguyên nhân hệ thống này còn tồn tại cho
đến nay. Các tầng lớp cao quý cố gắng duy trì hệ thống để bảo vệ các đặc
quyền, quyền lợi của mình trong xã hội. Ngoài ra, họ là những người cai quản
đất nước, là những người có chức vụ cao chính vì vậy hệ thống này để tiếp
quản dễ dàng hơn, xã hội có trật tự và tuân theo các quy định hơn.
Nhiều người cho rằng họ sợ thay đổi, sợ rằng sẽ bị tầng lớp trên trừng phạt nếu
không tuân theo các quy chuẩn vốn có, giống như ví dụ đã nêu ở trên, đã có
nhiều trường hợp cố gắng thay đổi chất lượng cuộc sống của bản thân nhưng
cũng đã bị đe dọa, gây ảnh hưởng tính mạng nghiêm trọng. Tâm lý của họ đã
trở nên quen thuộc với lối sống nhiều năm khiến hệ thống là một phần không
thể thiếu trong văn hóa và tâm lý của người Ấn Độ. Để thay đổi cần nhiều thời
gian và các chính sách rõ ràng.
Hệ thống giáo dục cũng như các công việc, cơ hội trong các lĩnh vực được cho
là thuộc về tầng lớp cao, tầng lớp Dalit gặp nhiều hạn chế trong việc phát triển
mọi mặt, người lớn không được tiếp cận giáo dục từ bé dẫn tới con cái cũng
không được tiếp thu kiến thức từ bố mẹ,… Nhìn chung nó sẽ tạo thành một
vòng lẩn quẩn nghèo đói và khó khăn để thoát khỏi đẳng cấp của mình.
Thiếu sự can thiệp mạnh mẽ của chính quyền: mặc dù đã có hiến pháp quy
định bãi bỏ hệ thống này cũng như các đạo luật bất khả xâm phạm, các chính
sách giành riêng cho Dalit, cấm các tình trạng phân biệt đối xử các tầng lớp
thấp thế nhưng thực trạng xã hội hiện nay. Các quan chức cấp cao “thờ ơ” và
chưa quyết liệt với chính sách nhằm xóa bỏ hệ thống đẳng cấp. Các chính trị
gia thường xuất thân từ tầng lớp cao và họ không dứt khoát chấp dứt hệ thống
vì cần sự ủng hộ từ các cá nhân có đẳng cấp giống họ. 1.3. Giải pháp
Về mặt địa lý, hiện nay các tầng lớp khác nhau thường sống ở các vùng, khu
vực khác nhau. Các khu vực nông thôn, vùng cao còn tồn tại quan niệm, phong tục tậ 14
quán đẳng cấp này và khu vực miền Bắc có hệ thống chặt chẽ hơn so với ở miền Na
Với mỗi địa hình khác nhau sẽ có tác động đến xã hội theo kiểu khác. Ví dụ như ở khu
vực đồng bằng sông Hằng tập trung đông dân cư nên hệ thống sẽ phát triển phức tạp
hơn là vùng núi cao Himalaya có các cộng đồng dân tộc thiểu số với hệ thống xã hội
riêng biệt nên ít bị ảnh hưởng bởi đẳng cấp. Chính phủ cần dứt khoát hơn về các chín
sách đảm bảo từng bước chấm dứt hoàn toàn chế độ này bằng một số cách thức. Đầu
tư cơ sở hạ tầng để điều kiện, chất lượng cuộc sống của người dân Dalit tốt hơn, được
tiếp cận nguồn điện, nước, bệnh viện, ngân hàng, trường học để thu hẹp khoảng cách
đẳng cấp cũng như tránh tình trạng họ phải đi trộm cắp gây ảnh hưởng tới đẳng cấp
này nhiều hơn. Tạo điều kiện việc làm cho mọi đẳng cấp được tiếp cận dễ dàng hơn
như chú trọng đầu tư đào tạo nghề, thúc đẩy phát triển du lịch địa phương,…Đảm bảo
người dân được hưởng các quyền cơ bản của con người, được học tập nâng cao nhận
thức, cơ hội phát triển lên cao hơn mà không còn bị hạn chế như trước và các chương
trình an sinh xã hội hỗ trợ người nghèo, người yếu thế.
PHẦN II: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM SẢN PHẨM DU LỊCH CỦA BARCELONA 2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Điểm đến du lịch
Theo khoản 4, 7 Điều 3 Luật Du lịch 2017, không có định nghĩa về điểm đến du
lịch mà chỉ có “điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu tư, khai thác phục
vụ khách du lịch. Trong đó, tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự
nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch,
điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch”.
Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization: UNWTO) đã chỉ ra
khái niệm điểm đến du lịch: “Điểm đến du lịch là một không gian vật lý có hoặc không
có ranh giới hành chính và/hoặc phân tích trong đó khách tham quan có thể ở lại qua
đêm. Đây là cụm sản phẩm và dịch vụ (đồng địa điểm), các hoạt động và kinh nghiệm
dọc theo chuỗi giá trị du lịch và là đơn vị phân tích cơ bản về du lịch. Một đích đến k
hợp các bên liên quan khác nhau và có thể kết nối mạng lưới để hình thành các đích
đến lớn hơn. Nó cũng mơ hồ với hình ảnh và danh tính có thể ảnh hưởng đến khả nă
cạnh tranh thị trường”. 2.1.2. Sản phẩm du lịch
Sản phẩm được hiểu là thành quả sau khi trải qua quá trình thu gom, thay đổi
nhằm thỏa mãn với nhu cầu tiêu dùng và mua bán của con người. Bất kì một ngành
nghề, lĩnh vực nào đều đem lại sản phẩm của riêng nó như trong nông nghiệp đem lại 15
nguồn lương thực, ngành công nghệ thông tin tạo ra Internet, Smartphone,… Du lịch
cũng tạo ra thành quả của riêng mình, chính là sản phẩm du lịch.
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên
du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch - theo điều 3, chương 1, Luật du lịch năm 2017.
Cũng trong điều 3, chương 1, Luật du lịch năm 2017 nêu ra: “Tài nguyên du
lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hìn
thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài
nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa.”
Các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch gồm:
-Ẩm thực: các món ăn truyền thống, đặc sản địa phương tại các điểm du lịch.
-Lưu trú: đa dạng các loại hình lưu trú và dịch vụ như homestay, resort, hotel, motel,…
-Địa điểm vui chơi, giải trí: làng nghề, chợ đêm, phố đi bộ,…
-Điểm đến: dễ tiếp cận bằng nhiều loại phương tiện, phù hợp với nhu cầu du lịch.
-Sản phẩm lưu niệm: tại các điểm du lịch luôn có những khu bán đồ phục vụ nhu
cầu mua quà, đặc sản của khách du lịch.
2.1.3. Giới thiệu qua về thành phố Barcelona
Về vị trí địa lý, Barcelona nằm ở phía Đông Bắc của Tây Ban Nha Barcelona
cũng là thành phố lớn nhất ở Địa Trung Hải, nằm trên cửa các con sông Llobregat và
Besòs, phía Tây giáp với dãy núi Serra de Collserola nơi có đỉnh cao nhất vào khoảng
512 mét (1680 feet). Phía Đông là đường bờ biển dài và đẹp thuận lợi cho việc phát
triển du lịch và giao thương hàng hóa. Đây là thủ phủ của vùng Catalonia và tỉnh
Barcelona. Địa hình khu vực này tương đối bằng phẳng phù hợp xây dựng và phát
triển đô thị. Khí hậu Địa Trung Hải điển hình tại Barcelona, mùa hè nóng và khô, mùa
đông ấm và ẩm. Đặc biệt vào mùa đông lượng mưa tại đây nhiều nhưng không quá lạnh buốt. 16
Hình 3. Hai con sông lớn đi qua Barcelona và chảy ra biển Địa Trung Hải Nguồn: Internet
Là một trong những cộng đồng tự trị của Tây Ban Nha người dân chủ yếu là
Catalonia chính vì vậy mà ngôn ngữ chính thức và được sử dụng rộng rãi nhất ở đây
Catalan. Phần lớn người ở đây có thể nói cả Calatan và tiếng Tây Ban Nha phổ thông.
Ngoài ra cũng có tiếng Tây Ban Nha Castilian được sử dụng trong các cơ quan hành
chính, giáo dục và truyền thông. Với đặc trưng là thành phố của du lịch chính vì vậy
mà khi đến đây chúng ta sẽ thấy nhiều người bản địa nói được nhiều thứ tiếng để phục
vụ du lịch cũng như nhiều người nhập cư sinh sống và làm việc tại đây với một vài
ngôn ngữ phổ biến như tiếng Anh, tiếng Ý, tiếng Pháp,… Dân số hiện nay tại thành
phố Barcelona khoảng hơn 1 triệu 7 nghìn người và đa phần là dân số trẻ, là thành ph
đáng sinh sống của nhiều thế hệ trẻ ngày nay và cũng được chọn làm nơi học tập của
nhiều du học sinh trên thế giới. Nhờ có sự phát triển hấp dẫn về du lịch, văn hóa, kinh
tế mà thành phố liên tục nhận lượng lớn người nhập cư, dân số tăng trưởng nhanh
chóng. Cộng đồng tại đây được coi là đa dạng về văn hóa, quốc tịch. Công giáo là tô
giáo chính thức của Tây Ban Nha và Barcelona, ngoài ra cũng có các tôn giáo như Hồi
giáo, Do Thái,… Nhìn chung mọi người đa dạng về tôn giáo và tôn trọng, cởi mở về
điều đó, có quyền tự do lựa chọn và hoạt động theo tín ngưỡng của mình. Barcelona
nổi tiếng với lối sống náo nhiệt, sôi động, có nhiều lễ hội, sự kiện nghệ thuật, thể thao
quanh năm và thường xuyên có văn hóa tiệc tùng. Đặc biệt là niềm đam mê với bóng
đá của người dân Tây Ban Nha nói chung và với người Barcelona nói riêng chính là
đội bóng Barcelona FC và đây cũng là quốc gia đam mê bộ môn đua xe Công thức 1
khi có đến hai tay đua người Tây Ban Nha đại diện trong tổng 20 tay đua và có trường
đua tại đây được tổ chức hàng năm thu về lượng lớn khách du lịch. Tuy nhiên bên 17
cạnh đó cũng còn tồn tại một số vấn đề cấp thiết. Du lịch tại đây được coi là vô cùn
đa dạng và phù hợp với người châu Âu chính vì vậy mà dẫn tới tình trạng quá tải tạ
sức ép lên cơ sở hạ tầng, giá cả dịch vụ đồng thời tăng theo dẫn tới sự bất bình của
người dân địa phương cũng sử dụng các dịch vụ như khách du lịch. Hiện nay giá nhà
tại Barcelona đã tăng đáng kể khiến nhiều người dân bản địa sinh sống tại đây gặp khó
khăn. Giờ đây họ còn phải cạnh tranh với khách du lịch để kiếm được nhà ở tại chính
nơi mình sinh sống. Đặc biệt là người trẻ khó có cơ hội mua được nhà hơn. Thực trạn
hiện nay lượng người vô gia cư tại Barcelona đã tăng lên dẫn tới một số các vấn đề
hội, ảnh hưởng tới khách du lịch và hình ảnh thành phố, quốc gia. Vấn đề môi trường
do lượng rác thải khách du lịch thải ra cũng là vấn đề đang được quan tâm.
2.2. Thực trạng sản phẩm du lịch hiện nay của Barcelona 2.2.1. Tài nguyên du lịch
Là một thành phố lớn thứ hai tại Tây Ban Nha sau Madrid, là một trong những
địa điểm thu hút khách du lịch lớn nhất châu Âu bởi đây được coi là thiên đường mu
sắm và đa dạng các loại tài nguyên, loại hình du lịch. Về tài nguyên thiên nhiên,
Barcelona nổi tiếng với các bãi biển đẹp, nước trong xanh, cát vàng, là nơi nhiều người
Tây Ban Nha cũng như khách du lịch đến nghỉ dưỡng vào mùa hè. Ngoài ra còn có c
điểm đến nổi tiếng như công viên Collserola, Núi Tibidabo có đỉnh núi cao nhất ở
Barcelona, có thể ngắm nhìn toàn thành phố, công viên Ciutadella lớn nhất
Barcelona,… Barcelona nổi tiếng với các tài nguyên du lịch văn hóa như Nhà thờ La
Sagrada Familia, Bảo tàng nghệ thuật Picasso Barcelona, bảo tàng Catalan quốc gia, di
sản văn hóa thế giới Công viên tân thời Guell. Thành phố này nổi tiếng với nghệ thuật
Gothic, chủ yếu từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 16 ở châu Âu, nó không chỉ là một phong c
nghệ thuật mà còn phản ánh sâu sắc bối cảnh xã hội và văn hóa thời kỳ Trung cổ. K
trúc Gothic được thiết kế với những vòm nhọn vươn cao, những cửa sổ kính màu đầy
màu sắc và những trụ cột thanh mảnh, đã tạo nên những công trình kiến trúc đồ sộ và
hùng vĩ. Phong cách này không chỉ là một biểu hiện của kỹ thuật xây dựng phát triển
mà còn là một tuyên ngôn về sức mạnh của Giáo hội và niềm tin của con người vào
thế giới bên kia. Ngoài ra còn có các lễ hội La Mercè, lễ hội La noche de San Juan
(đêm của lửa),… thu hút lượng lớn người tham gia. Từ các tài nguyên du lịch trên,
thành phố phát triển với các loại hình du lịch sau: 18