














Preview text:
21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
HỌC PHẦN : CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM (2 TÍN CHỈ)
Buổi 1: Các khái niệm cơ bản
1. Khái niệm văn hóa
1.1. “Văn hóa” là gì?
Xét về mặt từ nguyên, theo cách hiểu của phương Tây, “văn hoá” trong các tiếng Anh, Pháp :
“Culture” ; Đức “Kulto” … đều có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Cultus”. Cultus có nghĩa là trồng trọt,
luyện tập. Có hai từ để chỉ khái niệm văn hóa xuất phát từ Cultus là Culture agri: trồng trọt ngoài đồng
và Culture animi: trồng trọt tinh thần. Như vậy, văn hoá chỉ toàn bộ những sản phẩm cả về vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo ra. Những sản phẩm ấy luôn biến đổi theo thời gian cùng với sự
phát triển của văn minh nhân loại. Khi nó được mở rộng và được chú ý như một đối tượng nghiên
cứu khoa học, đã hình thành nên bộ môn Văn hoá học.
Văn hoá dưới con mắt của người phương Đông có đôi chút khác biệt. Ở phương Đông từ “văn hoá”
đã có từ rất sớm. Theo nghĩa gốc Hán, “văn” có nghĩa là đẹp, vẻ đẹp, “hóa” là làm cho thành, trở nên
thành. Văn hoá là viết tắt của câu “văn trị giáo hoá” tức là làm cho trở thành đẹp. Trong tiếng Việt, từ
“văn hoá” vừa là danh từ vừa là tính từ. Khi là danh từ, nó thường để chỉ về nền văn hoá, loại hình
văn hoá. Khi là tính từ, nó được dùng để chỉ học thức, trình độ học vấn.
Văn hoá là gì? Cho tới nay có hơn 600 khái niệm khác nhau về văn hóa, mỗi nhà nghiên cứu tiếp
cận văn hóa dưới những góc độ khác nhau.
+ Chủ tịch Hồ Chí Minh : “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa.”.
+ Giáo sư Phan Ngọc : “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay
một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô
hình tồn tại trong biểu tượng.”
+ Giáo sư Nguyễn Từ Chi: “Tất cả những gì không phải là tự nhiên thì là văn hóa”.
+ Giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo ra và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác
giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”.
1.2. Đặc trưng và chức năng văn hóa :
1.2.1. Đặc trưng văn hóa : * Tính hệ thống: 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Đặc trưng này giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc
một nền văn hóa, phát hiện các đặc trưng, những qui luật hình thành và phát triển của nó. Mọi hiện
tượng, sự kiện thuộc một nền văn hoá đều có liên quan mật thiết với nhau.
Với tư cách là một khoa học lý luận, văn hoá học có nhiệm vụ nghiên cứu văn hoá như một đối
tượng riêng biệt trên cơ sở những tư liệu do các ngành khác: dân tộc học, sử học, ngôn ngữ học, tôn
giáo học… cung cấp với mục đích phát hiện các đặc trưng, những qui luật hình thành và phát triển.
Nghiên cứu văn hoá dân tộc theo lối này, nhờ đi vào bề sâu, tìm hiểu những mối liên hệ có tính bản 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
chất giữa các sự kiện, văn hoá học sẽ cho phép ta, chẳng hạn, nếu biết được một dân tộc sống ở đâu,
ăn như thế nào, có thể nói được rằng dân tộc đó mặc và ở ra sao, suy nghĩ và ứng xử như thế nào …
Từ đó, người đọc có thể suy ngẫm và lý giải các tư liệu văn hoá mà anh ta bắt gặp. * Tính giá trị:
Theo tiếng Hán “văn hoá” có nghĩa là trở thành đẹp, thành có giá trị. Văn hoá chỉ chứa cái đẹp,
chứa các giá trị. Tính giá trị giúp cho ta phân biệt được “văn hóa” với những sản phẩm khác cũng do
con người tạo ra nhưng không phục vụ đời sống đích thực hay những mục đích tốt đẹp cho con
người: giết người, cướp của, khủng bố… Có nhiều cách phân loại giá trị văn hóa:
+ Theo mục đích chia thành: Giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần
(phục vụ cho nhu cầu tinh thần).
+ Theo ý nghĩa chia thành: Giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ. Giá trị đạo đức và
giá trị thẩm mỹ thuộc phạm trù giá trị tinh thần.
+ Theo thời gian chia thành: Giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời (gồm giá trị đã lỗi thời, giá trị
hiện hành, giá trị đang hình thành).
Xét về mặt đồng đại, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tuỳ thuộc góc độ nhìn
hay bình diện được xem xét.
Ví dụ: chiến tranh, chửi nhau … có phần giá trị là giải quyết xung đột tinh thần. Ô tô, máy bay, tàu
hoả,… trong khi đem lại lợi ích rõ rệt cho con người đồng thời cũng làm ô nhiễm môi trường, mất
cân bằng sinh thái, phi giá trị. Muốn kết luận một hiện tượng, sự vật có thuộc phạm trù văn hoá hay
không phải xem xét mối tương quan giữa mức độ “giá trị” và “phi giá trị”.
Xét về mặt lịch đại, cùng một hiện tượng, vào những thời điểm lịch sử khác nhau sẽ có thể có
hay không có giá trị tuỳ thuộc vào chuẩn mực văn hoá của từng giai đoạn. * Tính nhân sinh:
Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội với các giá trị tự nhiên.
Văn hoá là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người. Nhưng văn hoá
không phải là sản phẩm của hư vô mà có nguồn gốc tự nhiên: văn hoá là cái tự nhiên đã được biến
đổi dưới sự tác động của con người, là phần giao giữa “tự nhiên và con người”.
Văn hóa = tự nhiên + con người
Ví dụ: luyện quặng để chế tạo đồ dùng, đẽo gỗ tạc tượng (vật chất); đặt tên, tạo truyền thuyết cho
các cảnh quan thiên nhiên: hòn Vọng Phu, vịnh Hạ Long …
Do gắn liền với con người và hoạt động của con người trong xã hội, văn hoá trở thành công cụ
giao tiếp quan trọng. Nếu ngôn ngữ là hình thức giao tiếp thì văn hoá là nội dung của giao tiếp. * Tính lịch sử:
Tính lịch sử của văn hoá thể hiện ở chỗ: văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và
được tích luỹ qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hoá một bề dày, một chiều sâu và chính nó 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu ợ ỹ q ệ ị ạ ộ y, ộ
buộc văn hoá thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành và phân bố lại các giá trị. Tính lịch sử của văn
hoá được duy trì bằng các truyền thống văn hoá (truyền = chuyển giao, thống = nối tiếp). Truyền thống
văn hoá là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu
xã hội được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hoá
dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, dư luận …
1.2.2. Chức năng văn hóa: 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu Chức năng giáo dục:
+ Chức năng giáo dục để bồi dưỡng con người, hướng lý tưởng, đạo đức và hành vi của con người
vào “điều hay lẽ phải, điều khôn, lẽ thiệt” theo những khuôn mẫu, chuẩn mực đã qui định.
+ Truyền thống văn hoá tồn tại được nhờ giáo dục. Văn hoá thực hiện chức năng giáo dục
không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống) mà còn bằng cả những giá trị đang hình
thành. Nhờ đó mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người.
Chức năng nhận thức: Đây là chức năng đầu tiên của mọi hoạt động văn hóa, thiếu nó, không
thể nói đến chức năng nào khác.
Chức năng thẩm mỹ: Cùng với nhu cầu hiểu biết, con người có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới
cái đẹp. Xét cho cùng, văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp.
Chức năng giải trí: Trong cuộc sống, ngoài hoạt động lao động, con người còn có nhu cầu giải
tỏa tinh thần, tâm lý … Trong một chừng mực nhất định, sự giải trí ấy là cần thiết, bổ ích.
1.3. Cấu trúc của một nền văn hóa:
Cấu trúc của một nền văn hóa được hiểu là các thành tố hay yếu tố cấu thành văn hóa. Có
nhiều cách phân chia cấu trúc của một nền văn hóa.
- Theo quan điểm của Trần Ngọc Thêm, ông xem văn hóa như một hệ thống gồm bốn thành tố:
+ Văn hoá nhận thức.
+ Văn hoá tổ chức cộng đồng.
+ Văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên.
+ Văn hoá ứng xử với môi trường xã hội.
- Theo Trần Quốc Vượng, ông xem cấu trúc của một nền văn hóa được tạo bởi nhiều thành tố khác nhau:
+ Ngôn ngữ; Tín ngưỡng; Phong tục - Lễ tết – Lễ hội; Nghệ thuật âm thanh và trình diễn; Nghệ
thuật tạo hình; Nhà cửa- Kiến trúc;…
- Theo cách nhìn truyền thống, văn hoá được chia thành văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần.
+ Văn hóa Tổ chức đời sống vật chất: Văn hóa Ứng xử môi trường tự nhiên và Văn hóa Tổ chức cộng đồng.
+ Văn hóa Tổ chức đời sống tinh thần: Phong tục, Tín ngưỡng, Lễ tết ...
2. Mối quan hệ giữa con người - văn hóa
2.1. Con người - chủ thể/khách thể của văn hóa:
Mối quan hệ giữa con người và văn hóa được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, thể hiện qua ba khía cạnh:
+ Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa. Con người thực hiện sự phát triển xã hội, mà trước hết
là sự phát triển lực lượng sản xuất.
+ Con người cũng là sản phẩm của văn hóa. Con người hưởng thụ những thành quả của sự phát triển 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu g g p g g ụ g q ự p xã hội.
+ Con người cũng là đại biểu mang giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra.
Mối quan hệ này cho thấy vai trò của con người với xã hội và với môi trường tự nhiên. Con
người là chủ thể, là trung tâm.
2.2. Con người Việt Nam - chủ/khách thể của văn hóa Việt Nam: 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Chủ thể văn hóa Việt Nam là 54 dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Người Việt
ngày nay đều có chung một nguồn gốc là chủng Indonesien nhưng đa dạng và sống rải rác từ Bắc đến Nam.
Chủ thể văn hóa Việt Nam ra đời trong phạm vi trung tâm hình thành loài người phương Đông
và trong khu vực hình thành của đại chủng phương Nam. Quá trình hình thành chủ thể văn hóa Việt
Nam trải qua 3 giai đoạn, bắt đầu từ thời kỳ đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước).
+ Chủng Indonesien (Đông Nam Á tiền sử): Vào thời đồ đá giữa (khoảng 10.000 năm về trước), có
một dòng người thuộc đại chủng Mongoloid từ vùng Tây Tạng thiên di về phía Đông Nam, nay là
vùng Đông Dương thì dừng lại. Tại đây diễn ra sự hợp chủng với dân bản địa (đại chủng Úc) và
hình thành chủng Indonesien (còn gọi là cổ La Mã) với nước da ngăm đen, tóc quăn lượn sóng, tầm
vóc thấp … Từ đây người Indonesien lan toả và cư trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam Á cổ đại.
+ Chủng Nam Á: Từ cuối thời đá mới, đầu thời đại đồ đồng (khoảng gần 5.000 năm về trước),
chủng Indonesien có sự tiếp xúc thường xuyên với đại chủng Mongoloid từ phía Bắc, đã hình thành
một chủng mới - chủng Nam Á. Với chủng Nam Á, các nét đặc trưng Mongoloid lại càng nổi trội.
+ Những tộc người cụ thể: Thời kỳ sau đó, chủng Nam Á được chia tách thành một loại các chủng
tộc mà trong cổ thư Việt Nam và Trung Hoa được gọi là Bách Việt, bao gồm: Điền Việt, Dương
Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt,… sinh sống khắp khu vực phía Nam sông Dương Tử cho tới
tận Bắc Trung Bộ ngày nay, họp thành những khối cư dân lớn như: Môn - Khơmer, Việt - Mường,
Tày - Thái, Mèo - Dao. . Quá trình chia tách này tiếp tục diễn tiến, dần dần dẫn đến sự hình thành
các dân tộc cụ thể (cùng với sự chia tách ngôn ngữ), trong đó người Việt đã tách từ khối Việt -
Mường chung khoảng cuối thời kỳ Bắc thuộc (VII-VIII). Trong khi đó, ở phía Nam, dọc theo dải
Trường Sơn, vẫn là địa bàn cư trú của người Indonesien. Thời gian làm cho họ chuyển biến thành
chủng có tên gọi là Nam Đảo (Austronesien). Cuộc sống biệt lập khiến cho khối người này lưu giữ
được nhiều đặc điểm của truyền thống văn hoá cổ gần gũi với các cư dân hải đảo. Đó là tổ tiên của
người Chàm, Êđê Giarai, Churu,..
Như vậy, người Việt và tuyệt đại bộ phận các dân tộc Việt Nam đều xuất phát từ cùng một
nguồn gốc chung là nhóm loại hình Indonesien, chính điều đó đã tạo nên tính thống nhất – thống
nhất trong sự đa dạng của con người và văn hoá Việt Nam. Trong sự đa dạng chung đó lại có sự
thống nhất của các dân tộc cùng gốc Nam Á. Như vậy, cách đây khoảng 4000 năm, các dân tộc Việt
đã hình thành quốc gia đầu tiên gọi là Văn Lang, đồng thời mở mang bờ cõi về phương Nam.
3. Các khái niệm liên quan đến văn hóa
3.1. Văn minh:
Đã có không ít người sử dụng khái niệm văn hoá và văn minh như một từ đồng nghĩa. Thực ra
đây là hai khái niệm vừa có điểm giống và điểm khác nhau. Văn minh xét về mặt từ nguyên của các
tiếng châu Âu bắt nguồn từ chữ Latinh: “civitas” có nghĩa là thành thị, thành bang, thị dân. Theo 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu g g g ị, g, ị
nghĩa ban đầu, văn minh có nghĩa là thành thị hoá, thành bang hoá, thị dân hoá.
+ Người phương Tây quan niệm: Văn minh là chỉ một trình độ phát triển nhất định của xã hội về vật chất.
+ Trong quan niệm của người Trung Quốc, “văn” có nghĩa là vẻ đẹp, nét đẹp, “minh” có nghĩa là
toả sáng, “văn minh” là văn hoá toả ra ánh sáng đẹp. 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
“Văn minh là khái niệm chỉ toàn bộ những giá trị văn hóa phát triển ở một trình độ cao, chủ yếu về
phương diện vật chất, có sức lan tỏa, ảnh hưởng trong không gian và thời gian”
Phân biệt hai khái niệm: Văn hoá Văn minh
- Là khái niệm rộng hơn, gồm cả giá trị vật chất Là khái niệm hẹp hơn, thiên về giá trị vật ch thần. thuật.
- Mang tính liên tục, truyền thống văn hoá.
- Có tính đứt đoạn.
- Thiên về bảo tồn, giữ gìn.
- Toả sáng, ảnh hưởng tới các khu vực khác.
- Phát triển chậm nhưng đều.
- Có thể so sánh văn minh cao hay thấp.
Sự phân biệt này chỉ mang tính tương đối. Văn hoá và văn minh là hai khái niệm bổ sung, hỗ trợ
cho nhau. Trong một xã hội có văn minh vật chất tiến bộ nhưng con người vẫn cảm thấy bất hạnh,
hụt hẫng tinh thần nếu như ở xã hội đó văn minh không đồng hành với văn hoá.
3.2. Văn hiến và văn vật:
- “Văn vật: là những sản phẩm văn hoá vật chất hay những sản phẩm văn hoá cụ thể”
- “Văn hiến là những sản phẩm văn hoá tinh thần. Chúng thường là những truyền thống lâu đời
được bảo tồn và phát triển qua thời gian”
Hai khái niệm văn vật và văn hiến là những khái niệm bộ phận của văn hoá. Chúng khác văn
hoá ở độ bao quát, nói cách khác chúng là sự cụ thể hoá của khái niệm văn hoá. Đặc biệt, đây là hai
khái niệm chỉ riêng có ở phương Đông vì vậy chúng rất khó định nghĩa sang các tiếng nước ngoài.
3.2. Di sản văn hóa:
Là toàn bộ kết quả sáng tạo văn hóa của các thế hệ trước để lại.
Những di sản vản hóa này có thể còn tồn tại một cách nguyên vẹn, cũng có thể chỉ còn một phần
nào đó. Di sản văn hóa gồm:
+ Di sản văn hóa hữu thể: đình, đền, chùa, lăng tẩm, nhà ở…
+ Di sản văn hóa vô thể: các biểu hiện tượng trưng và không “sờ” thấy được của văn hóa được lưu
truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo của đông đảo cộng đồng: âm nhạc,
ngôn ngữ, nghi lễ, phong tục tập quán, nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết, qui trình công nghệ…
Hai loại di sản này gắn bó hữu cơ với nhau không thể tách rời.
Ví dụ: Một số di sản văn hóa Việt Nam được UNESCO vinh danh
Quần thể di tích cố đô Huế; Phố cổ Hội An; Thánh địa Mỹ Sơn; Hoàng thành Thăng Long; Nhã
nhạc cung đình Huế; Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Dân ca Quan họ ….
4. Tiếp xúc và giao lưu, tiếp biến văn hóa
Khái niệm tiếp xúc và giao lưu văn hóa được dịch từ những thuật ngữ của các nước phương 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu Tây:
+ “Cultural exchanges”: trao đổi văn hóa.
+ “Transculturation”: di chuyển văn hóa.
+ “Acculturation”: đan xen văn hóa; hỗn dung văn hóa; giao thoa văn hóa; giao lưu văn hóa, tiếp
(xúc) và biến (đổi) văn hóa).
+ Cách dịch được nhiều người chấp nhận là “giao lưu văn hóa, tiếp biến văn hóa”. 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Năm 1936, các nhà khoa học Mỹ định nghĩa khái niệm này như sau: Dưới từ acculturation, ta
hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp,
gây ra sự biến đổi mô thức văn hóa ban đầu của cả một hay hai nhóm.
Như vậy, giao lưu và tiếp biến văn hóa là sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi dân tộc chủ thể.
Quá trình này luôn đặt mỗi dân tộc phải xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố nội sinh và
yếu tố ngoại sinh. Hai yếu tố này luôn có khả năng chuyển hóa cho nhau và rất khó tách biệt trong
một thực thể văn hóa.
Dưới góc độ tộc người chủ thể, sự tiếp nhận các yếu tố ngoại sinh có hai dạng:
+ Tự nguyện tiếp nhận.
+ Bị cưỡng bức tiếp nhận.
Dưới góc độ tiếp nhận có sáng tạo, sự tiếp nhận có ba mức:
+ Không tiếp nhận toàn bộ mà chọn lọc những giá trị thích hợp.
+ Tiếp nhận cả hệ thống nhưng có sự sắp xếp lại theo quan niệm giá trị của tộc người chủ thể.
+ Mô phỏng và biến thể một số thành tựu và văn hóa của tộc người khác bởi tộc người chủ thể.
Như vậy, bản sắc và truyền thống không phải là yếu tố nhất thành bất biến.
4.2. Giao lưu, tiếp biến văn hóa trong văn hóa Việt Nam
4.2.1. Cơ tầng văn hóa Đông Nam Á:
Những yếu tố nội sinh của văn hóa Việt Nam chính là cơ tầng văn hóa Đông Nam Á. Đó là
phức thể lúa nước với 3 yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng, văn hóa biển. Trong đó yếu tố đồng
bằng tuy có sau nhưng đóng vai trò chủ đạo. Cơ tầng văn hóa chung ấy được tạo ra từ nhiều yếu tố:
Ví dụ: nghề nông nghiệp lúa nước; các vật dụng, vũ khí chủ yếu được làm từ đồ đồng, đồ sắt; người
phụ nữ có vai trò quyết định trong xã hội; phong tục thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng đa thần ...
4.2.2. Giao lưu, tiếp biến với văn hóa Trung Hoa:
Sự giao lưu tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa diễn ra diễn ra rất dài trong
nhiều thời kỳ của lịch sử Việt Nam.
Quá trình tiếp biến theo hai xu hướng:
+ Giao lưu văn hóa cưỡng bức: xảy ra vào những giai đoạn lịch sử mà người Việt bị đô hộ, xâm
lược, từ thế kỉ I đến thế kỉ X; từ 1407 đến 1427.
+ Giao lưu văn hóa tự nguyện: trong nền văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt.
Cả 2 dạng thức giao lưu đều là nhân tố cho sự vận động của văn hóa Việt Nam qua diễn trình
lịch sử và người Việt tạo ra khá nhiều thành tựu trong quá trình giao lưu văn hóa này.
4.2.3. Giao lưu, tiếp biến với văn hóa Ấn Độ
Văn hóa Ấn Độ thẩm thấu vào văn hóa Việt Nam bằng nhiều hình thức và liên tục. Sự giao lưu,
tiếp biến của văn hóa Ấn Độ diễn ra ở 3 nền văn hóa, qua các thời kì lịch sử khác nhau, bắt đầu từ
thế kỉ I sau công nguyên: văn hóa Việt ở Bắc Bộ; văn hóa Chămpa ở Trung Bộ; văn hóa Óc Eo ở 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu g g y ệ ộ; p g ộ; Nam Bộ.
Giao lưu, tiếp biến với văn hóa Ấn Độ diễn ra một cách tự nhiên, tự nguyện.
4.2.4. Giao lưu, tiếp biến với văn hóa phương Tây
Giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây thực sự diễn ra vào nửa sau
TK XIX. Tiếp biến văn hóa được diễn ra trên bình diện tiếp xúc văn hóa Đông – Tây. Sự tiếp biến
này khiến văn hóa Việt Nam thay đổi trên nhiều phương diện: 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu
Ví dụ: xuất hiện chữ Quốc ngữ; hình thành nhiều ngành công nghiệp; xuất hiện thể loại báo chí,
tiểu thuyết, kịch, …
Giao lưu văn hóa thời kì này có 2 dạng: giao lưu một cách cưỡng bức, áp đặt và giao lưu một cách tự nguyện.
4.2.5. Giao lưu, tiếp biến văn hóa trong giai đoạn hiện nay
Hoàn cảnh lịch sử của giao lưu và tiếp biến văn hóa đã thay đổi về nhiều phương diện.Thời kỳ
này chủ yếu tiếp thu sự tiến bộ của các ngành khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin.
Giao lưu văn hóa là hoàn toàn tự nguyện, chủ động, không bị áp đặt hay cưỡng bức.
Công cuộc giao lưu đặt văn hóa Việt Nam trước những thách thức mới trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu 21:50, 07/01/2026
CSVH B1 Word - Các Khái Niệm Căn Bản Về Văn Hóa Việt Nam - Studocu