









Preview text:
Phần I. Cơ sở Lý Luận về Cán cân Thanh toán Quốc tế (BOP)
1. Khái niệm Cán cân Thanh toán Quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế là bảng cân đối thống kê tổng hợp có hệ thống, ghi chép
lại các giá trị giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú trong một thời
kỳ nhất định (thường là năm).
- Người cư trú của một quốc gia cần hội đủ cả hai điều kiện:
+ Thời hạn cư trú từ tại quốc gia đó từ 1 năm trở lên.
+ Có nguồn thu nhập chính từ quốc gia nơi cư trú (được xem là trung tâm lợi ích
kinh tế chủ yếu của họ).
Người không đủ đồng thời hai điều kiện trên đều trở thành người không cư trú.
Ở Việt Nam, các trường hợp về người cư trú và người không cư trú được quy định tại
Chương I, Điều 4, mục 2 và mục 3 của Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTV ngày
13 tháng 12 năm 2005 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Ngoại hối
số 06/2013/UBTVQH13 ngày 18 tháng 3 năm 2013.
* Cần chú ý khi xác định "người cư trú" và "người không cư trú" với một số trường hợp sau:
- Khi lập cán cân thanh toán chỉ quan tâm tới nơi cư trú mà không để ý tới quyền công dân thuộc nước nào.
- Đối với các công ty đa quốc gia là cư dân của nhiều nước, trụ sở của công ty đặt tại
nước nào thì được coi là cư trú ở nước đó.
- Các tổ chức Quốc tế như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế, Ngân hàng Thế Giới, Liên Hiệp
Quốc,...là người không cư trú đối với mọi quốc gia, ngay cả quốc gia mà tổ chức đó đóng trụ sở.
- Các đại sứ quán, căn cứ quân sự nước ngoài, các lưu học sinh, khách du lịch, người
khám chữa bệnh ở nước ngoài,...không kể thời hạn cư trú là bao nhiêu điều là người
không cư trú đối với nước đến và là người cư trú đối với nước đi.
2. Nguyên tắc của cán cân thanh toán quốc tế a. Ghi chép
- Các giao dịch chuyển tiền quốc tế được phản ánh vào bên Có và bên Nợ của cán cân thanh toán quốc tế.
+ Bên Có: phản ánh các khoảng thu tiền của người nước ngoài, tức là những khoản
giao dịch mang về cho quốc gia một số lượng ngoại tệ nhất định, tức là phát sinh cung
ngoại tệ, được ký hiệu dương (+).
+ Bên Nợ: phản ánh các khoản chi tiền ra thanh toán cho người nước ngoài, tức là
những khoản giao dịch làm cho quỹ ngoại tệ ở trong nước giảm đi, làm phát sinh cầu
ngoại tệ, được ký hiệu âm (-) của cán cân thanh toán.
- Các giao dịch làm phát sinh cung cầu ngoại tệ:
+ Giao dịch làm phát sinh cung ngoại tệ (+): xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ,
thu thu nhập, rút tiền gửi ở nước ngoài, đi vay nước ngoài, giảm dự trữ ngoại hối, nhập khẩu vốn
+ Giao dịch làm phát sinh cầu ngoại tệ (-): Nhập khẩu hàng hóa, nhập khẩu dịch vụ,
chị thu nhập, mua cổ phiếu nước ngoài trả nợ nước ngoài, tăng dự trữ ngoại hối, xuất khẩu vốn
b. Nguyên tắc hạch toán (bút toán kép)
- Nguyên tắc bút toán kép (double entry) là nguyên tắc ghi bằng hai bút toán có giá trị
tuyệt đối bằng nhau nhưng ngược dấu.
+ Bên thu: khoản thu từ người không cư trú được ghi "có" và biểu hiện bằng dấu "+":
phản ánh sự gia tăng của cung ngoại tệ.
+ Bên chi: Khoản chi cho người không cư trú được ghi "nợ" và biểu hiện bằng dấu
"-", phản ánh sự gia tăng về cầu ngoại tệ.
- Việc ghi chép theo các nguyên tắc nhất định và thống nhất: + Qui tắc 1:
• Mọi khoản thu (+), đều phải được sử dụng (-)
• Mọi khoản chi (-), phải có thu (+) + Qui tắc 2:
• Mọi khoản thu (+), đều có thể phát sinh nhu câu chi (-):
Chi nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Chi cho chuyên giao một chiều và chi thu nhập
Chi làm tăng TSC (như gửi tiền tại NH nước ngoài...)
Chi làm giảm TSN (như trả nợ vay nước ngoài...)
Dùng để làm tăng dự trữ ngoại hối QG
• Mọi khoản chi (-), đều phải trên cơ sở có thu (+) từ các khoản sau:
Thu từ xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ
Thu từ chuyển giao một chiều hoặc thu nhập
Thu làm giảm TSC (như giảm số dư tiền gửi nước ngoài...)
Thu làm tăng TSN (như đi vay nước ngoài...)
Giảm dự trữ ngoại hối QG
+ Qui tắc 3: Có 5 giao dịch đặc trưng giữa người cư trú với người không cư trú:
• Trao đổi hàng hóa, dịch vụ này để lấy hàng hóa, dịch vụ khác
• Trao đối hàng hóa, dịch vụ để lấy TS tài chính
• Trao đổi TS tài chính này lấy TS tài chính khác
• Chuyển giao hàng hóa, dịch vụ một chiều (tài trợ vũ khí, làm từ thiện, quà tặng...)
• Chuyển giao TS tài chính một chiều
c. BoP chỉ phản ánh giá trị do giao dịch tạo ra
Chỉ phản ảnh giá trị do các giao dịch tạo ra, các giá trị khác không do giao dịch tạo ra
thì không được phản ánh trong Bo.
d. Nguyên tắc xác định thời điểm thống kê
Có 4 căn cứ để xác định thời điểm giao dịch, gồm: thời điểm cam kết giao dịch (ký
hợp đồng), thời điểm phát sinh giao dịch, thời điểm cam kết thanh toán, thời điểm thanh toán.
Đối với thống kê BoP, IMF khuyến nghị nên xác định thời điểm thống kê là thời
điểm phát sinh giao dịch, theo đó, các giao dịch được ghi chép tại thời điểm giá trị kinh
tế hình thành, biến đổi, trao đổi, chuyển giao hoặc triệt tiêu.
e. Nguyên tắc đồng tiền hạch toán
Đồng tiền sử dụng trong ghi chép BoP:
+ Nội tệ: những nước phát triển có đồng tiền tự do chuyển đổi
+ Ngoại tệ: đồng tiền không tự do chuyển đổi hoặc thường xuyên biến động
+ Đồng SDR: thống kê tài chính quốc tế
3. Cấu trúc của Cán cân thanh toán quốc tế
a. Kết cấu theo chiều dọc và chiều ngang của BoP
- Theo chiều dọc : gồm 4 cột chính • Nội dung giao dịch • Doanh số thu • Doanh số chi • Cán cân ròng
Bất kỳ một khoản thu hay bằng bất kì đồng tiền nào đều được ghi vào cột “thu”,
được ghi có, có dấu (+), phản ánh cung ngoại tệ trên FX.
Bất kỳ 1 khoản chi hay bằng bất kỳ đồng tiền nào đều được ghi vào cột “Chi”, được
ghi nợ, phản ánh cầu ngoại tệ trên FX.
Do được hạch toán theo nguyên tắc bút toán kép nên tổng các bút toán ghi có luôn
bằng tổng các bút toán ghi nợ nhưng ngược dấu, nghĩa là BoP luôn tự động cân bằng.
Chênh lệch giữa các bút toán ghi có và tổng các bút toán ghi nợ của từng cán cân bộ
phận tạo ra cán cân ròng của cán cân này.
- Theo chiều ngang: gồm 5 bộ phận • Cán cân vãng lai (CA) • Cán cân vốn (K) • Lỗi và sai sót (OM) • Cán cân tổng thể(OB)
• Cán cân bù đắp chính thức OFB
Cán cân tổng thể OB = CA + K + OM
Cán cân bù đắp chính thức OFB = - OB
Việc phân loại các tài khoản thuộc BoP được căn cứ vào bản chất nguồn gốc kinh tế
của các giao dịch kinh tế giữa người cư trú với người không cư trú. Các giao dịch trong
hạch toán BoP được phân loại thành các tài khoản chính, gồm: Tài khoản vãng lai (CA),
tài khoản vốn (KA), tài khoản tài chính (FA). (i)
Tiêu chí cho Tài khoản Vãng lai (CA) và Tài khoản Vốn (KA)
CA và KA ghi nhận các giao dịch liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu tài
sản giữa người cư trú và người không cư trú.
+ Giao dịch tạo nguồn thu (tăng quyền sở hữu tài sản) được ghi Có.
+ Giao dịch tạo khoản chi (giảm quyền sở hữu tài sản) được ghi Nợ.
Sự khác biệt chính giữa CA và KA nằm ở tính chất của giao dịch:
+ CA: Dành cho các giao dịch thường xuyên như mua bán hàng hóa, dịch vụ, thu
nhập và chuyển giao vãng lai một chiều.
+ KA: Dành cho các giao dịch liên quan đến vốn, bao gồm mua bán tài sản phi tài
chính, phi sản xuất (ví dụ: bằng sáng chế), các khoản nợ được xóa bỏ, hoặc viện trợ
nhằm mục đích đầu tư cơ sở hạ tầng. (ii)
Tiêu chí cho Tài khoản Tài chính (FA)
FA ghi nhận các giao dịch liên quan đến việc chuyển giao quyền sử dụng tài sản giữa
người cư trú và người không cư trú. Các giao dịch này chủ yếu phản ánh sự thay đổi
trong các tài sản tài chính (TSC) và nghĩa vụ tài chính (TSN).
- Các dòng tiền chảy vào (ghi có) làm tăng quyền sử dụng gồm:
+ Giảm TSC như thu hồi nợ cho vay, bán chứng khoán ghi bằng ngoại tệ, giảm số dư
tiền gửi ở nước ngoài...
+ Tăng TSN như đi vay, phát hành các chứng khoán nợ ghi bằng ngoại tệ, nhận tiền
gửi từ người không cư trú...
- Các dòng tiền chảy ra (ghi nợ) làm giảm quyền sử dụng gồm:
+ Tăng TSC như cho vay người không cư trú, mua chứng khoán ghi bằng ngoại tệ,
tăng số dư tiền gửi ở nước ngoài...
+ Giảm TSN như trả nợ vay cho người không cư trú, thanh toán các chứng khoán nợ
đã phát hành trước đó, hoàn trả tiền gửi cho người không cư trú...
Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm 5 hạng mục sau: Cán cân vãng lai, cán cân vốn
và tài chính, lỗi và sai sót, cán cân tổng thể và tài trợ chính thức.
b. Các cán cân bộ phận của BoP
(1) Cán cân vãng lai
Cán cân tài khoản vãng lai là cán cân bộ phận chính của BoP, phản ánh các giao dịch
quốc tế về thương mại hàng hóa (xuất nhập khẩu hàng hóa), thương mại dịch vụ (xuất
nhập khẩu dịch vụ), thu nhập sơ cấp (thu nhập về đầu tư và lao động), và thu nhập thứ
cấp (chuyển giao vãng lai). Bao gồm 4 bộ phận là: - Cán cân thương mại. - Cán cân dịch vụ. - Cán cân thu nhập.
- Cán cân chuyển giao vãng lai 1 chiều.
Phương pháp thống kê từng hạng mục như sau:
* Cán cân thương mại (KA): (Cán cân hữu hình)
- Cán cân thương mại còn được gọi là cán cân hữu hình vì nó phản ánh chênh lệch giữa
các khoản thu từ xuất khẩu và những khoản chi cho nhập khẩu hàng hóa mà các hàng
hóa này lại có thể quan sát được bằng mắt thường khi di chuyển qua biên giới. Khi thu
nhập từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu, thì cán cân thương mại thặng dư. Ngược
lại, khi thu nhập từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu thì cán cân thương mại thâm hụt.
Các nhân tố ảnh hưởng lên cán cân thương mại bao gồm các nhân tố ảnh hưởng lên giá
trị xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa. Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất khẩu là
giống với các nhân tố ảnh hưởng tới giá trị nhập khẩu nhưng có tác động ngược chiều. Bao gồm: - Tỷ giá - Lạm phát |
- Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu
- Thu nhập của người không cư trú
- Thế quan và hạn ngạch ở nước ngoài
- Khi cán cân thương mại thặng dư điều này có nghĩa là nước đó đã thu được từ xuất
khẩu nhiều hơn phải trả cho nhập khẩu. Ngược lại, cán cân bội chi phản ánh nước đó
nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu.
+ Khi xuất khẩu, trị giá hàng xuất khẩu được phản ánh vào bên Có.
+ Khi nhập khẩu, trị giá hàng nhập khẩu được phản ánh vào bên Nợ. Vì xuất khẩu
làm phát sinh cung ngoại tệ và cầu nội tệ trên thị trường ngoại hối. Nhập khẩu làm phát sinh cầu ngoại tệ.
* Cán cân dịch vụ (Cán cân vô hình).
- Phản ánh các khoản thu chi từ các hoạt động dịch vụ về vận tải (cước phí vận chuyển
thuê tàu, bến bãi...) du lịch, bưu chính, cố vấn pháp luật, dịch vụ kỹ thuật, bản quyền, bằng phát minh...
- Thực chất của cán cân dịch vụ là cán cân thương mại nhưng gắn với việc xuất nhập khẩu dịch vụ.
Tương tự như xuất khẩu hàng hóa, xuất khẩu dịch vụ làm phát sinh cung ngoại tệ, nên
khi hạch toán vào BOP được ghi có và ghi dấu (+), nhập khẩu dịch vụ làm phát sinh cầu
ngoại tệ, nên nó được ghi bên nợ và có dấu (-). Các nhân tố ảnh hưởng lên giá trị xuất
nhập khẩu dịch vụ cũng giống như các yếu tố ảnh hưởng lên giá trị xuất nhập khẩu hàng hóa.
* Cán cân thu nhập ( Yếu tố thu nhập):
- Thu nhập của người lao động: là các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu
nhập khác bằng tiền, hiện vật do người không cư trú trả cho người cư trú và ngược lại.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động bao gồm: số lượng và chất
lượng của những người lao động ở nước ngoài.
- Thu nhập về đầu tư: là các khoản thu từ lợi nhuận đầu trực tiếp, lãi từ đầu tư giấy tờ có
giá và các lãi đến hạn của các khoản vay giữa người cư trú và người không cư trú.
Các khoản thu nhập của người cư trú từ người không cư trú làm phát sinh cung ngoại
tệ, nên khi hạch toán vào BOP được ghi bên có (+), các khoản thu nhập trả cho người
không cư trú làm phát sinh cầu ngoại tệ nên được ghi nợ (-). Nhân tố ảnh hướng lên giá
trị về đầu tư là số lượng đầu tư và tỷ lệ sinh lời của các dự án đầu tư nước ngoài. Yếu tố
tỷ giá chỉ đóng vai trò thứ yếu, bởi vì tỷ giá chỉ ảnh hưởng lên giá trị chuyển hóa thu
nhập sang các đồng tiền khác.
* Cán cân chuyển giao vãng lai 1 chiều.
Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều phản ánh sự phân phối lại thu nhập của người
cư trú với người không cư trú. Các khoản thu làm phát sinh cung ngoại tệ và các khoản
chi làm phát sinh cầu ngoại tệ. - Bao gồm:
+ Viện trợ không hoàn lại.
+ Khoản bồi thường, quà tặng, quà biếu.
+ Trợ cấp tư nhân, trợ cấp chính phủ. - Ghi chép:
+ Các khoản thu đơn phương được xem như tăng thu nhập nội địa do thu được từ
nước ngoài, làm tăng cung ngoại tệ phản ánh vào bên có.
+ Các khoản phải trả đơn phương do phải thanh toán cho người nước ngoài,phát sinh
cầu ngoại tệ phản ánh vào bên Nợ.
(3) Tài khoản Vốn (Capital Account – KA)
Tài khoản Vốn ghi nhận các giao dịch liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu tài
sản mà không tạo ra một đối ứng kinh tế trực tiếp hoặc đối ứng kinh tế mang tính trao
đổi thông thường. Các giao dịch này chủ yếu bao gồm chuyển giao vốn một chiều và
mua bán các tài sản phi tài chính, phi sản xuất.
- Chuyển giao vốn một chiều (Capital Transfers):
Là các khoản chuyển giao tài sản (thường là tài sản cố định hoặc tiền mặt dùng để
mua tài sản cố định) mà không có bất kỳ khoản đối ứng hay nghĩa vụ thanh toán ngược
lại nào từ bên nhận. Những giao dịch này thường có quy mô lớn, không thường xuyên
và có tính chất đặc biệt.
+ Ghi Có (Credit): Phản ánh các khoản chuyển giao vốn từ người không cư trú vào
người cư trú, làm tăng tài sản hoặc giảm nghĩa vụ của người cư trú. Ví dụ:
Viện trợ không hoàn lại từ nước ngoài nhằm mục đích đầu tư cơ sở hạ tầng (ví
dụ: xây dựng đường sá, cầu cống, bệnh viện).
Các khoản nợ đã vay của quốc gia được các chủ nợ nước ngoài xóa bỏ.
Tài sản (tiền mặt hoặc hiện vật) của người di cư chuyển vào quốc gia mà họ đến cư trú.
+ Ghi Nợ (Debit): Phản ánh các khoản chuyển giao vốn từ người cư trú ra người
không cư trú, làm giảm tài sản hoặc tăng nghĩa vụ của người cư trú. Ví dụ:
Quốc gia viện trợ không hoàn lại cho nước ngoài để đầu tư.
Tài sản của người di cư chuyển ra khỏi quốc gia mà họ rời đi.
Mua bán tài sản phi tài chính, phi sản xuất (Acquisition/Disposal of
Nonproduced Nonfinancial Assets):
- Mua bán tài sản phi tài chính, phi sản xuất (Acquisition/Disposal of Nonproduced Nonfinancial Assets):
Là các giao dịch mua bán quyền sở hữu đối với các tài sản không phải là kết quả của
quá trình sản xuất thông thường hoặc các tài sản vô hình.
+ Ghi Có (Credit): Khi người không cư trú mua các tài sản này từ người cư trú. Ví dụ:
Bán bằng sáng chế, bản quyền, giấy phép khai thác tài nguyên thiên nhiên
(như quyền khai thác mỏ, rừng) cho các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài.
Bán quyền sử dụng nhãn hiệu thương mại cho đối tác nước ngoài.
+ Ghi Nợ (Debit): Khi người cư trú mua các tài sản này từ người không cư trú. Ví dụ:
Mua bằng sáng chế, bản quyền từ các công ty nước ngoài.
Mua quyền khai thác tài nguyên từ một quốc gia khác.
(4) Tài khoản Tài chính (Financial Account – FA)
Tài khoản Tài chính ghi nhận tất cả các giao dịch liên quan đến sự thay đổi trong quyền
sử dụng các tài sản tài chính và các nghĩa vụ tài chính giữa người cư trú và người không
cư trú. Đây là tài khoản phản ánh dòng chảy của vốn đầu tư và các khoản vay mượn qua
biên giới, và là phần lớn nhất trong Cán cân Vốn và Tài chính. Các giao dịch trong Tài
khoản Tài chính được phân loại thành các hạng mục chính sau:
- Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI):
Là khoản đầu tư mà nhà đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức) từ một quốc gia thực hiện vào
một doanh nghiệp tại quốc gia khác, nhằm mục đích thiết lập lợi ích lâu dài và có quyền
kiểm soát đáng kể đối với hoạt động của doanh nghiệp đó (thường được quy định là sở
hữu từ 10% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên). FDI không chỉ liên quan đến
dòng tiền mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý.
+ Ghi Có (Credit): Phản ánh dòng vốn FDI chảy vào quốc gia. Điều này xảy ra khi
người không cư trú tăng tài sản tài chính của họ ở quốc gia này (ví dụ: xây dựng nhà
máy, mua lại một phần hoặc toàn bộ công ty trong nước). Các hình thức FDI vào bao gồm:
Vốn cổ phần: Người nước ngoài mua cổ phần hoặc góp vốn vào các doanh nghiệp trong nước.
Thu nhập tái đầu tư: Lợi nhuận kiếm được từ FDI trước đó không được
chuyển về nước mà được tái đầu tư vào doanh nghiệp tại quốc gia nhận đầu tư.
Vốn khác: Các khoản vay và tín dụng thương mại giữa các đơn vị có mối
quan hệ trực tiếp trong cùng một tập đoàn đa quốc gia.
+ Ghi Nợ (Debit): Phản ánh dòng vốn FDI chảy ra khỏi quốc gia. Điều này xảy ra khi
người cư trú tăng tài sản tài chính của họ ở nước ngoài (ví dụ: công ty trong nước xây
dựng nhà máy hoặc mua cổ phần chi phối của một công ty ở nước ngoài).
- Đầu tư Gián tiếp Nước ngoài (Foreign Portfolio Investment – FPI):
Là các giao dịch mua bán các chứng khoán tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu) giữa
người cư trú và người không cư trú mà không nhằm mục đích kiểm soát doanh nghiệp
(tức là tỷ lệ sở hữu dưới ngưỡng quy định của FDI, thường là dưới 10%). Mục tiêu
chính của FPI là tối đa hóa lợi nhuận từ biến động giá chứng khoán hoặc từ thu nhập cố
định (cổ tức, lãi suất).
(5) Lỗi và sai sót (OM)
Khoản mục này nếu có là do sự sai lệch về thống kê do nhầm lẫn, bỏ sót hoặc không thu
thập được số liệu. Nguyên nhân: Những ghi chép của những khoản thanh toán hoặc hoá
đơn quốc tế được thực hiện vào những thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau và có
thể bằng những phương pháp khác nhau. Do vậy, những ghi chép này - cơ sở để xây
dựng những thống kê của cán cân thanh toán quốc tế- chắc chắn không hoàn hảo. Từ đó,
dẫn đến những sai số thống kê.
(6) Cán cân tổng thể (OB)
Nếu công tác thống kê đạt mức chính xác tức lỗi và sai sót bằng không thì cán cân
tổng thể là tổng của cán cân vãng lai và cán cân vốn.
Cán cân tổng thể = Cán cân vãng lai + Cán cân vốn + Lỗi và sai sót.
Kết quả của khoản mục này thể hiện thình trạng kinh tế đối ngoại của một quốc gia
trong một thời kỳ hoặc tại một thời điểm. Nếu
- Kết quả của cán cân thanh toán mang dấu +: thu ngoại tệ của quốc gia đã (sẽ) tăng thêm.
- Kết quả của cán cân thanh toán mang dấu -:thu ngoại tệ của quốc gia giảm hoặc sẽ giảm thấp.
(7) Tài trợ chính thức (Cán cân bù đắp chính thức - OFB)
Cán cân bù đắp chính thức bao gồm các khoản mục sau:
- Dự trữ ngoại hối quốc gia.
- Quan hệ với IMF và các ngân hàng trung ương khác.
- Thay đổi dự trữ của các ngân hàng trung ương khác bằng đồng tiền của quốc gia có lập cán cân thanh toán...
Trong đó dự trữ ngoại hối quốc gia đóng vai trò quyết định do đó để đơn giản trong
phân tích, ta coi khoản mục dự trữ ngoại hối chính là cán cân bù đắp chính thức
4. Tầm quan trọng cuả BoP đối với nền kinh tế
Cán cân thanh toán quôc tế phản ánh kết quả của hoạt động trao đôi đổi ngoại của
nước đó với các nước khác. Cho biêt một cách trực quan tình trạng công nợ của một
quôc gia tại một thời điểm nhất định. Cán cân bội thu hay bội chi cho biết nước đó là
chủ nợ hay đang mắc nợ nước ngoài.
Cán cân thanh toán quốc tế phản ánh địa vị kinh tế của một quốc gia trên trường
quốc tế. Địa vị này là kết quả tổng hợp của các hoạt động thương mại, dịch vụ và các
chính sách rút vốn ra khỏi nước khác.
- Ở tầm quản lý kinh tế vĩ mô, BOP là công cụ thiết yếu giúp chính phủ và ngân hàng trung ương:
+ Hoạch định chính sách đối ngoại và thương mại: Cung cấp thông tin nền tảng để
định hình chiến lược thương mại quốc tế và các mối quan hệ đối ngoại kinh tế.
+ Kiểm soát luồng vốn quốc tế: Theo dõi và quản lý dòng vốn đầu tư nước ngoài
(FDI, FPI) và xuất khẩu vốn để đảm bảo ổn định tài chính.
+ Điều hành chính sách tỷ giá: Dựa vào cung cầu ngoại tệ để quyết định can thiệp thị
trường hoặc điều chỉnh tỷ giá nhằm ổn định kinh tế vĩ mô.
- Ở tầm vi mô, BOP ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân:
+ Dự đoán cung cầu ngoại tệ: Giúp doanh nghiệp/nhà đầu tư dự báo biến động tỷ giá
để quản lý rủi ro và ra quyết định.
+ Hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu: Cung cấp thông tin để đánh giá thị trường, chi
phí và lợi nhuận từ hoạt động thương mại quốc tế.
+ Định hướng kinh doanh ngoại tệ: Giúp các tổ chức tài chính và ngân hàng đưa ra
quyết định giao dịch và đầu tư trên thị trường ngoại tệ.