Câu 1: Dựa vào kiến thức nền văn minh Ấn Độ, hãy nêu quá trình phát triển
của đạo Phật Ấn Độ từ tôn giáo địa phương trở thành tôn giáo thế giới. từ
đó, liên hệ Phật giáo ở Việt Nam.
Nền văn minh phương Đông được xem cái nôi của nhiều thành tựu tinh
thần lớn của nhân loại, trong đó văn minh Ấn Độ giữ vị trí nổi bật về triết
học, tôn giáo tưởng nhân sinh. Trên mảnh đất này, Phật giáo ra đời
từ một tôn giáo địa phương Bắc Ấn đã từng bước vượt qua biên giới, tr
thành một tôn giáo thế giới. Quá trình ấy thể hiện sức sống bền bỉ của Phật
giáo cũng như khả năng thích nghi linh hoạt với các điều kiện văn hóa
hội khác nhau. Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo tiếp tục được bản địa
hóa, hòa quyện với truyền thống dân tộc trthành một bộ phận quan
trọng trong đời sống tinh thần của người Việt.
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên trong bối cảnh
hội Ấn Độ cổ đại đang trải qua những biến động sâu sắc. Xã hội lúc bấy giờ bị
chi phối mạnh mẽ bởi hệ thống đẳng cấp Varna và Jāti của đạo Bà-la-môn,
tạo nên sự phân hóa bất bình đẳng nghiêm trọng giữa các tầng lớp. Việc
độc quyền tri thức con đường cứu độ của giới tăng lữ Bà-la-môn, cùng với
các nghi lễ hiến tế phức tạp tốn kém, đã khiến phần lớn dân chúng, đặc
biệt tầng lớp lao động và thương nhân, rơi vào trạng thái khủng hoảng tinh
thần. Trong bối cảnh đó, sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công
nghiệp thương mại đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa, làm xuất hiện tầng
lớp thương nhân tiềm lực kinh tế nhưng bị hạn chế về địa vị xã hội và tôn
giáo. Chính những biến đổi này đã tạo điều kiện cho các trào lưu tưởng
phản tư, trong đó nổi bật phong trào Sa-môn, đặt nghi vấn đối với uy
quyền của truyền thống Vệ Đà và tìm kiếm con đường giải thoát mới cho con
người.
Trong bối cảnh hội, kinh tế tưởng đầy biến động ấy, Tất-đạt-đa
Cồ-đàm, xuất thân từ tầng lớp Sát-đế-lỵ, đã từ bỏ đời sống vương giả để đi
tìm chân giải thoát. Sau sáu năm tu khổ hạnh thiền định, ông đạt được
giác ngộ tại Bồ-đề Đạo Tràng và trở thành Đức Phật “người tỉnh thức”. T
đó, ông bắt đầu truyền giảng giáo của mình, mở đầu bằng bài thuyết pháp
tại vườn Lộc Uyển. Triết cốt lõi của Phật giáo xoay quanh việc hiểu
chấm dứt khổ đau thông qua giáo TThánh Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo)
thực hành Bát Chánh Đạo 8 con đường tu tập đúng đắn, hướng tới mục tiêu
Giác Ngộ, giải thoát khỏi luân hồi, đạt đến Niết Bàn, với các nguyên nền
tảng như Vô thường, Duyên sinh, Vô ngã, Nhân quả. Tbi trí tuệ là hai
trụ cột trong giáo Phật giáo. Toàn bộ giáo Phật giáo nhằm hướng con
người đến việc sử dụng trí tuệ của mình nhận thức thế giới đúng như nó thật
là để từ đó sống từ bi, buông bỏ chấp trước.
Trong giai đoạn đầu, Phật giáo vẫn chỉ một tôn giáo địa phương, chủ yếu
phát triển tại miền Bắc Ấn Độ, đặc biệt khu vực lưu vực sông Hằng nơi
tập trung các vương quốc lớn như Magadha Kosala. Sự bảo trợ của các vị
vua như Bimbisara Pasenadi, cùng với hình tổ chức chặt chẽ của tăng
đoàn, đã giúp Phật giáo nhanh chóng bám rễ vào đời sống chính trị, xã hội và
tinh thần của khu vực này. Việc sử dụng ngôn ngữ Pali bình dân thay cho
Sanskrit của giới quý tộc càng giúp giáo lý Phật giáo trở nên gần gũi với quần
chúng. Trải qua các kỳ kết tập kinh điển từ thế kỷ V trước Công nguyên đến
thế kỷ I sau Công nguyên, giáo pháp của Đức Phật dần được hệ thống hóa,
hình thành Tam tạng kinh điển, tạo sở tưởng tổ chức vững chắc cho
sự phát triển lâu dài của Phật giáo.
Bước ngoặt mang tính quyết định trong quá trình biến Phật giáo từ một tôn
giáo địa phương thành tôn giáo thế giới diễn ra vào thế kỷ III trước Công
nguyên dưới triều đại vua Ashoka của đế quốc Maurya. Sau khi thống nhất
gần như toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ, Ashoka đã lựa chọn Phật giáo làm nền
tảng đạo đức cho việc cai trị một đế quốc đa sắc tộc. Bằng chính sách “đức
trị”, thông qua các sắc lệnh khắc trên trụ đá, nhà vua kêu gọi nhân dân sống
theo tinh thần từ bi, bất bạo động và khoan dung. Quan trọng hơn, Ashoka đã
tổ chức Hội nghị kết tập lần thứ ba, chuẩn hóa giáo và cử các đoàn truyền
giáo đến nhiều khu vực bên ngoài Ấn Độ như Sri Lanka, Đông Nam Á, Trung
Á thậm chí đến các vùng thuộc thế giới Hy Lạp La Mã. Chính trong giai
đoạn này, Phật giáo chính thức vượt khỏi biên giới Ấn Độ và bước vào không
gian văn minh thế giới.
Tthế kỷ I trđi, cùng với sự xuất hiện của Phật giáo Đại thừa dưới sự bảo
trợ của vua Kanishka thuộc đế quốc Kushan, Phật giáo tiếp tục những
biến đổi quan trọng về tưởng hình thức truyền bá. Phật giáo Đại thừa
nhấn mạnh tưởng Bồ Tát, mở rộng con đường cứu độ cho đại chúng và cho
phép sự linh hoạt trong tu tập, từ đó tăng khả năng thích nghi với các nền
văn hóa khác nhau. Thông qua Con đường tơ lụa trên bộ và các tuyến thương
mại đường biển, Phật giáo được các thương nhân tăng lữ truyền rộng
khắp Trung Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Đông Nam Á. Quá trình
giao lưu văn hóa ấy còn tạo nên những thành tựu nghệ thuật đặc sắc như
nghệ thuật Gandhara, thể hiện sự kết hợp giữa Phật giáo yếu tố Hy Lạp –
La Mã, góp phần làm cho Phật giáo mang diện mạo quốc tế.
Đến thời trung đại, trong khi Phật giáo suy tàn dần tại chính quê hương Ấn
Độ do sự phục hưng của Ấn Độ giáo, quá trình hàn lâm hóa nội tại và đặc biệt
các cuộc xâm lăng của Hồi giáo, thì ở nhiều khu vực khác của châu Á, Phật
giáo lại phát triển rực rỡ. Tại Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản Đông
Nam Á, Phật giáo không chỉ tồn tại còn trở thành trụ cột văn hóa,
tưởng đạo đức của hội, khẳng định vị thế của mình như một tôn giáo
thế giới thực sự.
Việt Nam, Phật giáo được du nhập từ rất sớm, khoảng thế kỷ II trước Công
nguyên, qua cả đường biển từ Ấn Độ Đông Nam Á lẫn đường bộ từ Trung
Quốc. Sự gặp gỡ giữa Phật giáo Nam truyền Bắc truyền đã tạo nên diện
mạo đa dạng phong phú của Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt, dưới thời Lý
Trần, Phật giáo trở thành quốc giáo, gắn mật thiết với vận mệnh dân tộc
đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhà nước, bảo vệ đất nước.
Phật giáo Việt Nam không rập khuôn giáo ngoại lai được Việt hóa sâu
sắc, tiêu biểu Thiền phái Trúc Lâm, kết hợp hài hòa giữa tinh thần nhập
thế, lòng yêu nước và triết lý giải thoát.
Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, Phật giáo hòa quyện với
tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên tín ngưỡng nông nghiệp, tạo nên
những nét đặc trưng riêng như hình “tiền Phật hậu Thánh, hệ thống
chùa chiền các lễ hội truyền thống như lễ Vu Lan, lễ Phật Đản. Về mặt đạo
đức hội, triết nhân quả, từ bi thường của Phật giáo đã góp phần
hình thành lối sống hiền hòa, nhân ái, đề cao trách nhiệm nhân tinh
thần cộng đồng của người Việt Nam. Trong bối cảnh hiện đại, tưởng “tìm
Niết bàn trong hiện thực” tiếp tục khẳng định giá trị của Phật giáo như một
triết sống, giúp con người làm chủ bản thân, sống đạo đức hài hòa
với xã hội.
thể khẳng định rằng, sự phát triển của Phật giáo từ một tôn giáo địa
phương Ấn Độ thành một tôn giáo thế giới kết quả của giáo nhân văn
sâu sắc, khả năng tổ chức chặt chẽ, sự bảo trợ của vương quyền và đặc biệt là
năng lực thích nghi linh hoạt với các nền văn hóa khác nhau. Tại Việt Nam,
Phật giáo không chỉ một tôn giáo còn một phần không thể tách rời
của bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp tục lan tỏa những giá trị từ bi, trí tuệ
nhân ái trong đời sống xã hội hôm nay.
THÀNH TỰU KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA AI CẬP VÀ HI LẠP CỔ
ĐẠI
Ai Cập Hy Lạp hai nền văn minh cổ đại rực rỡ, giữ vị trí quan trọng
trong lịch sử phát triển của nhân loại để lại những đóng góp to lớn cho
kho tàng tri thức chung. Trong đó, khoa học tự nhiên lĩnh vực tiêu biểu
phản ánh nhất trí tuệ, óc quan sát tinh tế khả năng sáng tạo vượt bậc
của con người thời cổ đại. Cả Ai Cập Hy Lạp đều đạt được những thành
tựu khoa học tự nhiên đáng kinh ngạc, không chỉ phục vụ trực tiếp cho đời
sống đương thời còn đặt nền móng quan trọng cho sự hình thành và phát
triển của khoa học ở các thời kỳ sau.
Trước hết, xét về điểm tương đồng, cả Ai Cập và Hy Lạp đều sớm hình thành
tri thức khoa học tự nhiên dựa trên nhu cầu nhận thức cải tạo thế giới
xung quanh. Trong lĩnh vực toán học, người Ai Cập và người Hy Lạp đều biết
thực hiện các phép tính cơ bản, hiểu mối quan hệ giữa các hình học đơn giản
vận dụng toán học vào đời sống. Ai Cập sử dụng toán học để đo đạc ruộng
đất, xây dựng kim tự tháp, đền đài, trong khi Hy Lạp phát triển toán học lên
trình độ thuyết với các định hệ thống chứng minh chặt chẽ. lĩnh
vực thiên văn học, cả hai nền văn minh đều quan sát bầu trời để xác định
thời gian, phương hướng chu kỳ tự nhiên. Người Ai Cập dựa vào sự xuất
hiện của sao Sirius để dự đoán sông Nile xây dựng lịch mặt trời 365
ngày, còn người Hy Lạp quan sát chuyển động của các thiên thể để xây dựng
hình trụ dự đoán vị trí hành tinh. Trong y học, cả hai đều có những
hiểu biết nhất định về thể người, biết phân loại bệnh và sử dụng dược liệu
tự nhiên để chữa bệnh.
Tuy nhiên, sự khác biệt căn bản giữa khoa học Ai Cập khoa học Hy Lạp
nằm phương pháp tiếp cận mục tiêu nhận thức. Khoa học Ai Cập mang
đậm tính thực tiễn kinh nghiệm. Mọi tri thức khoa học đều nảy sinh từ
nhu cầu cụ thể của đời sống sản xuất, xây dựng và tôn giáo. Toán học Ai Cập
chủ yếu là toán học ứng dụng, tập trung vào việc tính diện tích, thể tích, thuế
khóa y dựng công trình. Thiên văn học phục vụ trực tiếp cho nông
nghiệp nghi lễ tôn giáo, còn y học phát triển mạnh nhờ kỹ thuật ướp xác,
giúp người Ai Cập hiểu cấu tạo thể con người nhưng vẫn còn hạn chế
trong nghiên cứu sinh học người sống. Nhìn chung, khoa học Ai Cập đạt
trình độ cao về mặt kỹ thuật nhưng chưa hình thành duy luận trừu
tượng và hệ thống hóa tri thức.
Ngược lại, khoa học Hy Lạp cổ đại đánh dấu một bước ngoặt quan trọng
trong lịch sử khoa học nhân loại khi con người lần đầu tiên tách việc nhận
thức tự nhiên ra khỏi thần thoại và tôn giáo. Các nhà khoa học Hy Lạp không
chỉ quan sát còn đặt câu hỏi về bản chất của trụ các quy luật chi
phối thế giới. Trong toán học, người Hy Lạp xây dựng tư duy tiên đề – định lý
chứng minh, tiêu biểu là bộ “Cơ sở” của Euclid, tạo nên nền móng cho toán
học hiện đại. Trong thiên văn học, họ đưa ra những tưởng táo bạo như
Trái Đất hình cầu, đo chính xác chu vi Trái Đất và thậm chí đề xuất mô hình
nhật tâm từ rất sớm. Trong vật , các nhà tưởng như Democritus,
Aristotle Archimedes đã đặt nền móng cho cơ học, thuyết nguyên tử và tư
duy khoa học hệ thống. Y học Hy Lạp, với Hippocrates và Herophilus, đã tách
khỏi tín, coi bệnh tật hiện tượng tự nhiên và đề cao quan sát lâm sàng,
trở thành tiền đề cho y học khoa học sau này.
Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ điều kiện lịch sử – xã hội của mỗi nền văn minh.
Ai Cập một quốc gia tập quyền, ổn định lâu dài, khoa học chủ yếu phục vụ
nhà nước, tôn giáo trật tự hội. Trong khi đó, Hy Lạp gồm nhiều thành
bang độc lập, đời sống chính trị dân chủ tự do tranh luận đã tạo môi
trường thuận lợi cho duy phản biện, sáng tạo phát triển khoa học
thuyết. Chính bối cảnh này đã giúp khoa học Hy Lạp vượt khỏi giới hạn thực
dụng để vươn tới việc khám phá các quy luật phổ quát của tự nhiên.
thể nói, mặc những cách tiếp cận khác nhau, cả hai nền văn minh
Ai Cập Hy Lạp đều những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của
khoa học tự nhiên. Trong khi người Ai Cập để lại những thành tựu giá trị
thực tiễn cao, người Hy Lạp đã đặt nền móng cho phương pháp nghiên cứu
khoa học hiện đại. Sự kết hợp giữa tính thực tiễn của Ai Cập và tư duy lý luận
của Hy Lạp đã tạo nên nền tảng vững chắc cho khoa học phương Tây sau này,
đồng thời cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp giữa thuyết thực
tiễn trong nghiên cứu khoa học.
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG VĂN MINH
PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
Trong tiến trình lịch sử nhân loại, văn minh là trình độ phát triển cao của xã
hội loài người, được thể hiện qua những thành tựu nổi bật về kinh tế, tổ chức
xã hội, nhà nước, chữ viết, khoa học, tư tưởng và đời sống tinh thần. Trên nền
tảng đó, lịch sử cổ đại đã chứng kiến sự hình thành của hai hệ thống văn
minh lớn văn minh phương Đông văn minh phương Tây cổ đại, mỗi hệ
thống mang những đặc trưng riêng phát triển theo những quỹ đạo khác
nhau.
1. So sánh cơ sở địa lý – tự nhiên
Văn minh phương Đông hình thành sớm trên lưu vực các dòng sông lớn như
sông Nile, Tigris Euphrates, sông Ấn Hằng, Hoàng Trường Giang.
Đây những khu vực đất đai màu mỡ, phù sa phong phú, khậu nhìn
chung ấm áp, mưa nhiều, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp ngay cả khi
công cụ lao động còn thô sơ. Chính sự ưu đãi này giúp dân phương Đông
sớm tạo ra thặng lương thực, từ đó dẫn đến sự tan rã của công xã nguyên
thủy, hình thành nhà nước bước vào kỷ nguyên văn minh từ rất sớm
(khoảng 4000 BCE).
Tuy nhiên, các khu vực này lại có địa hình tương đối khép kín, bị bao bọc bởi
sa mạc, núi cao hoặc biển, khiến giao lưu bên ngoài bị hạn chế. Điều này góp
phần tạo nên những nền văn minh ổn định, bền vững nhưng chậm biến đổi,
mang đậm tính bảo thủ.
Ngược lại, văn minh phương Tây cổ đại hình thành trong không gian Địa
Trung Hải, nơi đất đai khô cằn, đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình bị chia cắt bởi
đồi núi biển đảo. Điều kiện tự nhiên không ưu đãi cho nông nghiệp diện
rộng, buộc cư dân phương Tây phải thích nghi sáng tạo, phát triển các ngành
ngoài nông nghiệp như thủ công nghiệp, thương mại hàng hải. Đặc biệt,
biển Địa Trung Hải đóng vai trò như một “trục giao thông tự nhiên, giúp các
cộng đồng phương Tây không bị lập, sớm giao lưu với các nền văn minh
khác.
2. So sánh cơ sở cư dân
Văn minh phương Đông là kết quả của quá trình dung hợp lâu dài giữa nhiều
tộc người: người Hamites thổ dân châu Phi ở Ai Cập, các tộc người Sumer
Akkad Babylon Lưỡng Hà, Dravida Aria Ấn Độ, Hoa Hạ các tộc
xung quanh Trung Quốc. Mặc nguồn gốc đa dạng, xu hướng chung
đồng hóa văn hóa và ngôn ngữ, hình thành những cộng đồng cư dân ổn định,
thống nhất, gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ và truyền thống.
phương Tây, cư dân Hy Lạp và La Mã cũng có nguồn gốc đa dạng, nhưng sự
pha trộn này diễn ra trong bối cảnh giao lưu mở. Người Hy Lạp hình thành
từ nhiều tộc người khác nhau nhưng sớm thống nhất trong ý thức “Hellenes”,
đối lập với “Barbarians”. Người La kết quả của sự tổ chức tiếp biến
linh hoạt giữa người Latin, Sabine, Etruscan Hy Lạp, sau đó còn mở rộng
bằng chính sách trao quyền công dân cho các tộc người bị chinh phục.
3. So sánh cơ sở kinh tế – xã hội
Nền tảng kinh tế của phương Đông nông nghiệp trồng lúa nước, phụ
thuộc chặt chẽ vào sông ngòi thủy lợi. Sản xuất mang tính tự cung tự cấp,
kinh tế hàng hóa kém phát triển, thủ công nghiệp thương nghiệp chỉ giữ
vai trò bổ trợ. Chế độ ruộng đất công và công xã nông thôn tồn tại bền vững,
hội phân hóa nhưng chưa hình thành các giai cấp đối kháng rệt. Nô lệ
không phải lực lượng sản xuất chính.
Trái lại, phương Tây phát triển nền kinh tế đa dạng và mở. Do hạn chế nông
nghiệp, họ tập trung vào tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản, thương
mại hàng hải. Sự phát triển mạnh của sản xuất hàng hóa, tiền tệ giao
thương quốc tế dẫn tới phân hóa hội sâu sắc, trong đó nô lệ trở thành lực
lượng sản xuất chủ yếu. Đô thị hóa diễn ra sớm, hình thành tầng lớp thương
nhân và chủ xưởng giàu có.
4. So sánh cơ sở chính trị – nhà nước
phương Đông, nhu cầu trị thủy tổ chức sản xuất quy lớn đã dẫn tới
sự ra đời sớm của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, nơi
vương quyền gắn chặt với thần quyền. Nhà vua nắm quyền lực tuyệt đối, nhà
nước kiểm soát ruộng đất, lao động và đời sống xã hội.
Ngược lại, phương Tây hình thành những hình nhà nước đa dạng và tiến
bộ hơn. Hy Lạp phát triển nhà nước thành bang, nơi công dân trực tiếp tham
gia chính trị, đặt nền móng cho duy dân chủ. La phát triển nhà nước
pháp quyền, coi luật pháp công cụ tổ chức kiểm soát quyền lực, tạo
sở cho ý thức công dân và quyền cá nhân.
Mặc hình thành trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử khác nhau, văn
minh phương Đông văn minh phương Tây cổ đại vẫn có nhiều điểm tương
đồng căn bản. Cả hai đều ra đời trên sở lao động sản xuất của dân cổ
đại, gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp trao đổi
buôn bán. Sự xuất hiện của nhà nước, chữ viết và các thiết chế xã hội là bước
ngoặt chung, đánh dấu quá trình con người thoát khỏi xã hội nguyên thủy để
bước vào kỷ nguyên văn minh. Đồng thời, cả hai nền văn minh đều đạt được
những thành tựu đáng kể trong khoa học tự nhiên, kiến trúc, luật pháp và
tưởng, phản ánh khát vọng nhận thức, tổ chức cải biến thế giới của con
người cổ đại.
Tóm lại, tồn tại nhiều khác biệt về điều kiện hình thành con đường
phát triển, văn minh phương Đông văn minh phương y cổ đại vẫn gặp
nhau những nền tảng chung của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, sự khác
biệt về tự nhiên, kinh tế chính trị đã tạo nên hai hình văn minh với
những đặc trưng riêng: Văn minh phương Đông ra đời sớm, ổn định và rực r
nhưng mang tính bảo thủ, chậm biến đổi. Văn minh phương y hình thành
muộn hơn, song lại năng động, cởi mở, đặt nền móng cho tư duy lý tính, dân
chủ pháp quyền. Chính từ những sở hình thành khác biệt ấy, hai nền
văn minh đã để lại những di sản riêng biệt, góp phần làm n diện mạo
phong phú của lịch sử văn minh nhân loại.
SO SÁNH “VĂN MINH” VỚI NỀN VĂN MINH
Trong nghiên cứu lịch sử thế giới cổ đại, hai khái niệm “văn minh” “nền
văn minhthường xuyên được sử dụng song song, đôi khi dễ gây nhầm lẫn
nếu không đặt chúng trong mối quan hệ bản chất. Thực chất, đây không phải
hai khái niệm đồng nhất, hai cấp độ khác nhau dùng để phản ánh
trình độ phát triển của hội loài người trong những không gian thời
điểm lịch sử xác định.
Trước hết, “văn minh” được hiểu trạng thái phát triển cao của hội loài
người, thể hiện ở trình độ tổ chức xã hội, đời sống vật chất và tinh thần, khoa
học kỹ thuật khả năng con người cải biến tự nhiên. Văn minh không tồn
tại như một thực thể hữu hình cụ thể, tổng hòa các thành tựu mà con
người đạt được khi hội đã vượt qua thời nguyên thủy, nhà nước, chữ
viết, phân công lao động và tri thức khoa học khai. Nói cách khác, văn
minh mức độ phát triển, là “chất lượng” của đời sống xã hội. Ví dụ, khi nói
đến văn minh nông nghiệp lúa nước, văn minh đô thị hay văn minh chữ viết,
ta đang đề cập đến những đặc trưng trình độ phản ánh bước tiến của con
người trong việc tổ chức sản xuất đời sống, chứ không gắn với một quốc
gia hay khu vực cụ thể nào.
Trong khi đó, “nền văn minh lại một khái niệm cụ thể hóa văn minh
trong không gian và thời gian lịch sử xác định. Một nền văn minh là tổng thể
các giá trị vật chất tinh thần do một cộng đồng cư dân sáng tạo ra, tồn tại
trong một khu vực địa nhất định gắn với một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Nếu văn minh “mức độ phát triển, thì nền văn minh chính hình thức
tồn tại cụ thể của văn minh trong lịch sử. Chẳng hạn, khi nhắc đến nền văn
minh Ai Cập cổ đại, ta không chỉ nói đến trình độ văn minh nói chung, mà là
toàn bộ hệ thống thành tựu đặc thù của dân Ai Cập sống dọc sông Nile,
bao gồm nhà nước Pharaoh, chữ tượng hình, lịch 365 ngày, toán học, y học và
đặc biệt là kiến trúc kim tự tháp.
Sự khác biệt giữa hai khái niệm này thể hiện qua dụ cụ thể của Kim tự
tháp Giza. Kim tự tháp không chỉ một công trình kiến trúc riêng lẻ, mà là
kết tinh của trình độ văn minh về toán học, thiên văn học, tổ chức lao động
kỹ thuật xây dựng của con người cổ đại. Những hiểu biết về hình học, số
Pi, định hướng theo các sao hay khả năng huy động hàng vạn lao động cho
thấy hội Ai Cập đã đạt tới một trình độ văn minh cao. Tuy nhiên, Kim tự
tháp Giza chỉ thực sự có ý nghĩa đầy đủ khi đặt trong nền văn minh Ai Cập cổ
đại, nơi các yếu tố chính trị (vương quyền thần thánh), tôn giáo (niềm tin vào
thế giới bên kia), kinh tế (nông nghiệp sông Nile) khoa học cùng hòa
quyện, tạo nên một chỉnh thể văn minh đặc thù, không thể tách rời.
Như vậy, thể thấy văn minh mang tính khái quát trừu tượng, còn nền
văn minh mang tính cụ thể và lịch sử. Văn minh trả lời cho câu hỏi xã hội loài
người đã phát triển đến trình độ nào, còn nền văn minh trả lời cho câu hỏi
trình độ ấy được thể hiện ra sao, đâu bởi cộng đồng nào. Một trình độ
văn minh thể được biểu hiện qua nhiều nền văn minh khác nhau. Chẳng
hạn, cùng văn minh nông nghiệp và văn minh chữ viết, nhưng nền văn
minh Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ hay Trung Quốc lại mang những sắc thái rất
riêng, do điều kiện tự nhiên, cư dân và tổ chức xã hội khác nhau quy định.
Tóm lại, văn minh nền văn minh là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ
nhưng không đồng nhất. Văn minh là thước đo trình độ phát triển của xã hội
loài người, còn nền văn minh là hình thức tồn tại cụ thể của trình độ ấy trong
lịch sử. Việc phân biệt hai khái niệm này không chỉ giúp hiểu đúng bản
chất các thành tựu cổ đại như Kim tự tháp Giza, còn sở quan trọng
để tiếp cận phân tích lịch sử văn minh thế giới một cách khoa học, hệ
thống và sâu sắc.
TÍNH CHẤT DÂN CHỦ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ
CHỦ NÔ ATHENS
Trong lịch sử nhân loại, nền dân chủ Athens cổ đại được xem hình thức
dân chủ sớm nhất tiêu biểu nhất của thế giới cổ đại phương Tây. Ra đời và
phát triển trong bối cảnh đặc thù của thành bang Athens, nền dân chủ này
không chỉ sản phẩm của những cải cách chính trị liên tiếp còn phản
ánh sâu sắc điều kiện kinh tế, xã hội và tư tưởng của Hy Lạp cổ đại. Việc phân
tích tính chất dân chủ của nhà nước cộng hòa dân chủ chủ Athens thế
cần được đặt trong tiến trình lịch sử cụ thể, từ quá trình hình thành đến đỉnh
cao dưới thời Pericles, đồng thời nhận diện rõ những giới hạn mang tính bản
chất của mô hình này.
Khái niệm dân chủ Athens được thể hiện nét qua tuyên bố nổi tiếng của
Pericles: “Quyền lực thuộc về đa số, chứ không phải thiểu số”. Tuy nhiên, “đa
sốtrong bối cảnh Athens thế kỷ V TCN không mang ý nghĩa phổ quát như
trong dân chủ hiện đại. Dân Athens bao gồm nhiều nhóm hội khác
nhau như công dân, phụ nữ, kiều dân lệ, nhưng chỉ nam công dân
trưởng thành mới được công nhận là chủ thể chính trị. Họ có quyền trực tiếp
tham gia Đại hội công dân, thảo luận và biểu quyết luật pháp, bầu chọn quan
chức quyết định những vấn đề trọng đại của thành bang. vậy, dân chủ
Athens dân chủ của cộng đồng công dân, chứ chưa phải dân chủ của toàn
xã hội.
Sự ra đời của dân chủ Athens kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài. Về
mặt địa kinh tế, Athens nằm trên bán đảo Attica với địa hình kcằn,
không thuận lợi cho nông nghiệp quy lớn nhưng lại bờ biển dài vị
trí thuận lợi cho giao thương hàng hải. Điều này thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của thủ công nghiệp thương mại, làm xuất hiện các tầng lớp bình dân,
thương nhân thợ thủ công ngày càng vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế. Sự lớn mạnh của các tầng lớp này từng bước phá vỡ thế độc quyền
kinh tế chính trị của giới quý tộc, tạo tiền đề cho những yêu cầu cải cách
chính trị nhằm mở rộng quyền tham gia của công dân.
Trong bối cảnh đó, các cải cách của Solon vào đầu thế kỷ VI TCN đánh dấu
bước ngoặt quan trọng. Bằng việc xóa bỏ nợ nần, giải phóng lệ nợ
cấm dùng thân thể con người làm vật thế chấp, Solon đã bảo vệ quyền tự do
nhân của công dân Athens. Đồng thời, việc chia công dân thành các đẳng
cấp dựa trên tài sản thay huyết thống đã làm suy yếu sở chính trị của
chế độ quý tộc thị tộc, mở đường cho sự hình thành khái niệm quyền công
dân gắn với nghĩa vụ và quyền lợi chính trị.
Trên nền tảng đó, cải cách của Cleisthenes cuối thế kỷ VI TCN đã hoàn thiện
bước chuyển từ hội thị tộc sang nhà nước cộng hòa dân chủ. Việc tổ chức
dân theo đơn vị hành chính dựa trên nơi trú, thay cho bộ lạc huyết
thống, đã triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng chính trị của các dòng họ quý tộc.
Hội đồng 500 Đại hội công dân được củng cố, trở thành những thiết chế
trung tâm bảo đảm quyền lực thuộc về công dân Athens. Đặc biệt, cơ chế bỏ
phiếu bằng vỏ nhằm trục xuất những nhân nguy đe dọa nền dân
chủ cho thấy ý thức rõ ràng của người Athens trong việc bảo vệ thể chế chính
trị mới hình thành.
Nền dân chủ Athens đạt đến đỉnh cao dưới thời Pericles trong thế kỷ V TCN.
Việc áp dụng chế độ trả lương cho những công dân tham gia hoạt động công
quyền đã tạo điều kiện để cả những người nghèo cũng thể tham gia quản
nhà nước, khiến dân chủ không chỉ tồn tại trên danh nghĩa trở thành
thực chất hơn. Quyền lực của Đại hội công dân được đề cao, nguyên tắc bình
đẳng trước pháp luật tự do ngôn luận được bảo đảm trong phạm vi cộng
đồng công dân. Chính môi trường chính trị dân chủ này đã tạo điều kiện cho
sự nở rộ rực rỡ của văn hóa, triết học, nghệ thuật khoa học Athens, đưa
thành bang này trở thành trung tâm của văn minh Hy Lạp cổ đại.
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tiến bộ, nền dân chủ Athens mang trong
mình những hạn chế mang tính lịch sử không thể phủ nhận. Trước hết, đây
nền dân chủ chủ nô, chỉ dành cho một thiểu số công dân nam giới tự do,
trong khi đa số dân như lệ, phụ nữ kiều dân hoàn toàn bị loại khỏi
đời sống chính trị. Sự tham gia chính trị rộng rãi của công dân Athens thực
chất được duy trì trên cơ sở lao động cưỡng bức của nô lệ, tạo nên mâu thuẫn
sâu sắc giữa tưởng tự do thực tiễn hội. Hơn nữa, hình dân chủ
trực tiếp cũng dễ bị chi phối bởi cảm xúc đám đông những chính khách
dân túy, đặc biệt sau khi Athens mất đi những nhà lãnh đạo tầm nhìn
chiến lược như Pericles.
Chính những mâu thuẫn nội tại đó, kết hợp với tác động của chiến tranh
Peloponnesus sự trỗi dậy của Macedonia, đã dẫn đến sự suy yếu và sụp đổ
của nền dân chủ Athens vào cuối thế kỷ IV TCN. Tuy vậy, sự sụp đổ này
không làm lu mờ giá trị lịch sử to lớn của dân chủ Athens. Trái lại, cho
thấy dân chủ một quá trình lịch sử lâu dài, đầy thử nghiệm và điều chỉnh.
Những nguyên Athens đặt nền móng quyền lực thuộc về công dân,
bình đẳng trước pháp luật sự tham gia chính trị đã trở thành di sản
tưởng bền vững, góp phần định hình nền dân chủ hiện đại sau này.
SỰ KHÁC BIỆT VỀ KINH TẾ GIỮA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ
PHƯƠNG TÂY
Lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại luôn chủ đề thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của các nhà sử học. Đặc biệt, sự khác biệt về đặc điểm kinh tế
giữa các quốc gia cổ đại phương Đông phương y một trong những vấn đề
được chú ý nghiên cứu nhiều nhất. Mặc những điểm tương đồng nhất định,
nhưng giữa hai khu vực này vẫn tồn tại những khác biệt sâu sắc về hình phát
triển kinh tế, được định hình bởi điều kiện tự nhiên nhu cầu phát triển của mỗi
vùng.
Trước hết, cần phải ghi nhận rằng các quốc gia cổ đại cả phương Đông và
phương y đều những điểm chung trong quá trình phát triển kinh tế. Cả hai
khu vực đều trải qua giai đoạn phát triển từ nền sản xuất nguyên thủy công
thị tộc. Sự tan của nền kinh tế nguyên thủy chính tiền đề quan trọng để hình
thành nền kinh tế cổ đại ở cả hai khu vực. Bên cạnh đó, cả phương Đông và phương
y đều phát triển kinh tế dựa trên việc khai thác tối đa lợi thế từ điều kiện tự
nhiên sẵn có và tìm cách khắc phục những hạn chế do thiên nhiên gây ra. Về cơ cấu
kinh tế, cả hai khu vực đều đầy đủ ba ngành kinh tế chính: nông nghiệp, thủ
công nghiệp và thương nghiệp.
Tuy nhiên, điểm khác biệt bản nằm vai trò mức độ phát triển của
từng ngành trong nền kinh tế. các quốc gia phương Đông, nông nghiệp đóng vai
trò chủ đạo với đặc trưng là trồng lúa nước. Nền nông nghiệp này mang tính tự cấp,
tự túc cao, tập trung vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng. Người
dân không chỉ trồng lúa còn đa dạng hóa sản xuất với nhiều loại ngũ cốc khác
như ngô, kê phát triển chăn nuôi gia súc như bò, cừu, lợn. Ngược lại, phương
y, nông nghiệp không giữ vai trò chủ đạo gắn liền với nhu cầu thị trường. H
tập trung vào các loại cây trồng đặc thù như lúa mì, nho, ô liu, định hướng sản xuất
theo nhu cầu thị trường và xuất khẩu.
Về thủ công nghiệp, sự khác biệt càng trở nên rệt. Tại phương Đông, thủ
công nghiệp được xem ngành phụ trợ cho nông nghiệp, thường được thực hiện
trong thời gian nông nhàn với mức độ chuyên môn hóa thấp. Các sản phẩm đặc
trưng bao gồm gốm sứ ở Trung Quốc và Lưỡng Hà, dệt may ở Trung Quốc, và giấy ở
Ai Cập. Trong khi đó, thủ công nghiệp phương Tây phát triển thành một ngành
kinh tế độc lập với mức độ chuyên môn hóa cao. Họ sản xuất các mặt hàng như
rượu nho, dầu ô liu, vũ khí, đồ gỗ theo nhu cầu thị trường với năng suất cao.
Về thương nghiệp, trong khi các quốc gia phương Đông bị hạn chế bởi tính tự
cấp tự túc, với hình thức trao đổi chủ yếu vật đổi vật tiền tệ chưa phổ biến
rộng rãi, thì phương Tây lại phát triển mạnh mẽ về thương mại, đặc biệt là thương
mại đường biển. Họ đã thiết lập được mạng lưới thương mại rộng lớn kết nối ba
châu lục: Á, Phi, Âu, với hệ thống tiền tệ phát triển.
Những khác biệt này nguồn gốc sâu xa từ điều kiện địa khí hậu của
mỗi khu vực. Phương Đông được thiên nhiên ưu đãi với các con sông lớn như Nin,
Tigơrơ, Ơphơrát, Ấn, Hằng, Hoàng Hà, Trường Giang, tạo nên những đồng bằng phì
nhiêu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa dồi dào cùng các đồng bằng rộng
lớn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, phương Tây
với vị trí địa nằm trên các bán đảo, nhiều vũng vịnh kín gió, lại thuận lợi cho
phát triển hàng hải. Khí hậu Địa Trung Hải với lượng mưa ít hơn địa hình đa
dạng đã buộc họ phải tìm kiếm các hướng phát triển khác ngoài nông nghiệp.
Tóm lại, sự khác biệt về đặc điểm kinh tế giữa các quốc gia cổ đại phương
Đông phương y kết quả tất yếu của quá trình thích nghi với điều kiện tự
nhiên và đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi khu vực. Trong khi phương Đông phát
triển theo hình kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc, thì phương Tây lại hướng đến
hình kinh tế thương mại - thủ công nghiệp gắn với thị trường. Mỗi mô hình đều
những ưu điểm hạn chế riêng, phản ánh sự thích nghi sáng tạo của con người
với điều kiện tự nhiên trong giai đoạn đầu của nền văn minh nhân loại. Nghiên cứu
những khác biệt này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử phát triển của
các nền văn minh cổ đại còn cung cấp những bài học quý giá về mối quan hệ
giữa con người với môi trường tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CƠ ĐỐC GIÁO (THIÊN CHÚA
GIÁO/ĐẠO KITÔ) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP TI VIỆT NAM
Trong dòng chảy lịch sử văn minh nhân loại, đạo Kitô đã trải qua hành
trình phát triển hơn hai thiên niên kỷ để lại những dấu ấn sâu đậm. T
vùng đất Palestine xa xôi, đạo Kitô không chỉ lan tỏa khắp thế giới mà còn có
những ảnh hưởng đóng góp quan trọng tại mỗi quốc gia, trong đó có Việt
Nam.
Khởi nguồn từ việc Chúa Giêsu giảng đạo tại Palestine, đạo Kitô ban
đầu chỉ là một nhánh nhỏ của Do Thái giáo. Tuy nhiên, sau khi Chúa Giêsu bị
đóng đinh phục sinh, các tông đồ đã chia nhau đi khắp nơi truyền đạo,
khiến đức tin Kitô giáo dần lan rộng. Trong thời kỳ đầu, các tín đồ Kitô giáo
phải đối mặt với nhiều cuộc bách hại từ Đế quốc La Mã, nhưng điều này
không ngăn cản được sự phát triển của tôn giáo này.
Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 313, khi Hoàng đế Constantine ban
hành Chiếu chỉ Milan, công nhận tự do tín ngưỡng trong đế quốc. Tđây,
đạo Kitô bắt đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành quốc
giáo của Đế quốc La sau đó là nhiều quốc gia châu Âu. Trong suốt thời
kỳ Trung cổ, Giáo hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, văn
hóa hội. Tuy nhiên, đây cũng thời kỳ xảy ra nhiều biến động lớn,
đáng kể nhất sự chia tách giữa Công giáo La Mã và Chính thống giáo Đông
phương vào năm 1054.
Bước sang thế kỷ XVI, phong trào Cải cách của Martin Luther đã tạo
nên một bước ngoặt mới. Sự ra đời của Tin Lành giáo không chỉ làm phong
phú thêm thế giới Kitô giáo còn đánh dấu sự thay đổi trong cách tiếp cận
đức tin, với việc nhấn mạnh trở về với Kinh Thánh và đức tin thuần túy.
Tại Việt Nam, đạo Kitô được truyền bá từ thế kỷ XVI thông qua các nhà
truyền giáo phương y. Trong số đó, Alexandre de Rhodes công lớn
không chỉ trong việc truyền đạo còn trong việc phát triển chữ Quốc ngữ.
Dưới các triều đại phong kiến, mặc dù trải qua nhiều thăng trầm, có lúc được
chấp nhận, lúc bị cấm đoán, nhưng đạo Kitô vẫn để lại những đóng góp
quan trọng cho xã hội Việt Nam.
Về văn hóa giáo dục, công lao lớn nhất của các giáo việc sáng
tạo hoàn thiện chữ Quốc ngữ, tạo nền tảng cho việc hiện đại hóa văn hóa
Việt Nam. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống trường học công giáo cũng
góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí. Các giáo còn ghi chép
nhiều tài liệu quý về lịch sử, văn hóa Việt Nam, góp phần bảo tồn di sản văn
hóa dân tộc.
Trong lĩnh vực y tế và xã hội, đạo Kitô đã có những đóng góp thiết thực
thông qua việc xây dựng các bệnh viện, sở y tế phục vụ cộng đồng. Nhiều
sở từ thiện, nuôi dưỡng trẻ mồ côi được thành lập, các hoạt động cứu trợ,
giúp đỡ người nghèo được tổ chức thường xuyên, thể hiện tinh thần bác ái
của đạo.
Đặc biệt, đạo Kitô đã đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu văn
hóa Đông - Tây. Thông qua các giáo sĩ, Việt Nam hội tiếp xúc với văn
minh phương Tây, từ đó tiếp nhận những giá trị văn hóa mới, góp phần vào
quá trình hiện đại hóa đất nước.
Ngày nay, sau hơn 2000 năm phát triển, đạo Kitô vẫn không ngừng lan
tỏa những đóng góp tích cực cho xã hội. Tại Việt Nam, dù không phải là
tôn giáo số lượng tín đồ đông đảo nhất, nhưng những đóng góp của đạo
Kitô trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục hội không thể phủ nhận.
Những giá trị nhân văn, tinh thần phục vụ cộng đồng của đạo Kitô tiếp tục
được phát huy, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước trong thời đại
mới.
VĂN MINH (KHÁI NIỆM, NỘI HÀM, CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN)
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, con người không chỉ tồn tại
để sinh tồn còn không ngừng vươn tới những hình thức tổ chức hội
ngày càng hoàn thiện. Tnhững cộng đồng nguyên thủy đơn giản đến các xã
hội nhà nước, đô thị chữ viết, nhân loại đã từng bước tạo nên những
thành tựu to lớn về vật chất tinh thần. Trạng thái phát triển cao đó được
khái quát bằng khái niệm văn minh một dấu mốc quan trọng phản ánh
trình độ tiến bộ của xã hội loài người.
1. Khái niệm văn minh

Preview text:

Câu 1: Dựa vào kiến thức nền văn minh Ấn Độ, hãy nêu quá trình phát triển
của đạo Phật ở Ấn Độ từ tôn giáo địa phương trở thành tôn giáo thế giới. từ
đó, liên hệ Phật giáo ở Việt Nam.
Nền văn minh phương Đông được xem là cái nôi của nhiều thành tựu tinh
thần lớn của nhân loại, trong đó văn minh Ấn Độ giữ vị trí nổi bật về triết
học, tôn giáo và tư tưởng nhân sinh. Trên mảnh đất này, Phật giáo ra đời và
từ một tôn giáo địa phương ở Bắc Ấn đã từng bước vượt qua biên giới, trở
thành một tôn giáo thế giới. Quá trình ấy thể hiện sức sống bền bỉ của Phật
giáo cũng như khả năng thích nghi linh hoạt với các điều kiện văn hóa – xã
hội khác nhau. Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo tiếp tục được bản địa
hóa, hòa quyện với truyền thống dân tộc và trở thành một bộ phận quan
trọng trong đời sống tinh thần của người Việt.
Phật giáo ra đời vào khoảng thế kỷ VI trước Công nguyên trong bối cảnh xã
hội Ấn Độ cổ đại đang trải qua những biến động sâu sắc. Xã hội lúc bấy giờ bị
chi phối mạnh mẽ bởi hệ thống đẳng cấp Varna và Jāti của đạo Bà-la-môn,
tạo nên sự phân hóa và bất bình đẳng nghiêm trọng giữa các tầng lớp. Việc
độc quyền tri thức và con đường cứu độ của giới tăng lữ Bà-la-môn, cùng với
các nghi lễ hiến tế phức tạp và tốn kém, đã khiến phần lớn dân chúng, đặc
biệt là tầng lớp lao động và thương nhân, rơi vào trạng thái khủng hoảng tinh
thần. Trong bối cảnh đó, sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, thủ công
nghiệp và thương mại đã thúc đẩy quá trình đô thị hóa, làm xuất hiện tầng
lớp thương nhân có tiềm lực kinh tế nhưng bị hạn chế về địa vị xã hội và tôn
giáo. Chính những biến đổi này đã tạo điều kiện cho các trào lưu tư tưởng
phản tư, trong đó nổi bật là phong trào Sa-môn, đặt nghi vấn đối với uy
quyền của truyền thống Vệ Đà và tìm kiếm con đường giải thoát mới cho con người.
Trong bối cảnh xã hội, kinh tế và tư tưởng đầy biến động ấy, Tất-đạt-đa
Cồ-đàm, xuất thân từ tầng lớp Sát-đế-lỵ, đã từ bỏ đời sống vương giả để đi
tìm chân lý giải thoát. Sau sáu năm tu khổ hạnh và thiền định, ông đạt được
giác ngộ tại Bồ-đề Đạo Tràng và trở thành Đức Phật – “người tỉnh thức”. Từ
đó, ông bắt đầu truyền giảng giáo lý của mình, mở đầu bằng bài thuyết pháp
tại vườn Lộc Uyển. Triết lý cốt lõi của Phật giáo xoay quanh việc hiểu và
chấm dứt khổ đau thông qua giáo lý Tứ Thánh Đế (Khổ, Tập, Diệt, Đạo) và
thực hành Bát Chánh Đạo 8 con đường tu tập đúng đắn, hướng tới mục tiêu
Giác Ngộ, giải thoát khỏi luân hồi, đạt đến Niết Bàn, với các nguyên lý nền
tảng như Vô thường, Duyên sinh, Vô ngã, và Nhân quả. Từ bi và trí tuệ là hai
trụ cột trong giáo lý Phật giáo. Toàn bộ giáo lý Phật giáo nhằm hướng con
người đến việc sử dụng trí tuệ của mình nhận thức thế giới đúng như nó thật
là để từ đó sống từ bi, buông bỏ chấp trước.
Trong giai đoạn đầu, Phật giáo vẫn chỉ là một tôn giáo địa phương, chủ yếu
phát triển tại miền Bắc Ấn Độ, đặc biệt là khu vực lưu vực sông Hằng – nơi
tập trung các vương quốc lớn như Magadha và Kosala. Sự bảo trợ của các vị
vua như Bimbisara và Pasenadi, cùng với mô hình tổ chức chặt chẽ của tăng
đoàn, đã giúp Phật giáo nhanh chóng bám rễ vào đời sống chính trị, xã hội và
tinh thần của khu vực này. Việc sử dụng ngôn ngữ Pali bình dân thay cho
Sanskrit của giới quý tộc càng giúp giáo lý Phật giáo trở nên gần gũi với quần
chúng. Trải qua các kỳ kết tập kinh điển từ thế kỷ V trước Công nguyên đến
thế kỷ I sau Công nguyên, giáo pháp của Đức Phật dần được hệ thống hóa,
hình thành Tam tạng kinh điển, tạo cơ sở tư tưởng và tổ chức vững chắc cho
sự phát triển lâu dài của Phật giáo.
Bước ngoặt mang tính quyết định trong quá trình biến Phật giáo từ một tôn
giáo địa phương thành tôn giáo thế giới diễn ra vào thế kỷ III trước Công
nguyên dưới triều đại vua Ashoka của đế quốc Maurya. Sau khi thống nhất
gần như toàn bộ tiểu lục địa Ấn Độ, Ashoka đã lựa chọn Phật giáo làm nền
tảng đạo đức cho việc cai trị một đế quốc đa sắc tộc. Bằng chính sách “đức
trị”, thông qua các sắc lệnh khắc trên trụ đá, nhà vua kêu gọi nhân dân sống
theo tinh thần từ bi, bất bạo động và khoan dung. Quan trọng hơn, Ashoka đã
tổ chức Hội nghị kết tập lần thứ ba, chuẩn hóa giáo lý và cử các đoàn truyền
giáo đến nhiều khu vực bên ngoài Ấn Độ như Sri Lanka, Đông Nam Á, Trung
Á và thậm chí đến các vùng thuộc thế giới Hy Lạp – La Mã. Chính trong giai
đoạn này, Phật giáo chính thức vượt khỏi biên giới Ấn Độ và bước vào không gian văn minh thế giới.
Từ thế kỷ I trở đi, cùng với sự xuất hiện của Phật giáo Đại thừa dưới sự bảo
trợ của vua Kanishka thuộc đế quốc Kushan, Phật giáo tiếp tục có những
biến đổi quan trọng về tư tưởng và hình thức truyền bá. Phật giáo Đại thừa
nhấn mạnh lý tưởng Bồ Tát, mở rộng con đường cứu độ cho đại chúng và cho
phép sự linh hoạt trong tu tập, từ đó tăng khả năng thích nghi với các nền
văn hóa khác nhau. Thông qua Con đường tơ lụa trên bộ và các tuyến thương
mại đường biển, Phật giáo được các thương nhân và tăng lữ truyền bá rộng
khắp Trung Á, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Đông Nam Á. Quá trình
giao lưu văn hóa ấy còn tạo nên những thành tựu nghệ thuật đặc sắc như
nghệ thuật Gandhara, thể hiện sự kết hợp giữa Phật giáo và yếu tố Hy Lạp –
La Mã, góp phần làm cho Phật giáo mang diện mạo quốc tế.
Đến thời trung đại, trong khi Phật giáo suy tàn dần tại chính quê hương Ấn
Độ do sự phục hưng của Ấn Độ giáo, quá trình hàn lâm hóa nội tại và đặc biệt
là các cuộc xâm lăng của Hồi giáo, thì ở nhiều khu vực khác của châu Á, Phật
giáo lại phát triển rực rỡ. Tại Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Đông
Nam Á, Phật giáo không chỉ tồn tại mà còn trở thành trụ cột văn hóa, tư
tưởng và đạo đức của xã hội, khẳng định vị thế của mình như một tôn giáo thế giới thực sự.
Ở Việt Nam, Phật giáo được du nhập từ rất sớm, khoảng thế kỷ II trước Công
nguyên, qua cả đường biển từ Ấn Độ và Đông Nam Á lẫn đường bộ từ Trung
Quốc. Sự gặp gỡ giữa Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền đã tạo nên diện
mạo đa dạng và phong phú của Phật giáo Việt Nam. Đặc biệt, dưới thời Lý –
Trần, Phật giáo trở thành quốc giáo, gắn bó mật thiết với vận mệnh dân tộc
và đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhà nước, bảo vệ đất nước.
Phật giáo Việt Nam không rập khuôn giáo lý ngoại lai mà được Việt hóa sâu
sắc, tiêu biểu là Thiền phái Trúc Lâm, kết hợp hài hòa giữa tinh thần nhập
thế, lòng yêu nước và triết lý giải thoát.
Trong đời sống văn hóa – tinh thần của người Việt, Phật giáo hòa quyện với
tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên và tín ngưỡng nông nghiệp, tạo nên
những nét đặc trưng riêng như mô hình “tiền Phật hậu Thánh”, hệ thống
chùa chiền và các lễ hội truyền thống như lễ Vu Lan, lễ Phật Đản. Về mặt đạo
đức xã hội, triết lý nhân quả, từ bi và vô thường của Phật giáo đã góp phần
hình thành lối sống hiền hòa, nhân ái, đề cao trách nhiệm cá nhân và tinh
thần cộng đồng của người Việt Nam. Trong bối cảnh hiện đại, tư tưởng “tìm
Niết bàn trong hiện thực” tiếp tục khẳng định giá trị của Phật giáo như một
triết lý sống, giúp con người làm chủ bản thân, sống có đạo đức và hài hòa với xã hội.
Có thể khẳng định rằng, sự phát triển của Phật giáo từ một tôn giáo địa
phương ở Ấn Độ thành một tôn giáo thế giới là kết quả của giáo lý nhân văn
sâu sắc, khả năng tổ chức chặt chẽ, sự bảo trợ của vương quyền và đặc biệt là
năng lực thích nghi linh hoạt với các nền văn hóa khác nhau. Tại Việt Nam,
Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà còn là một phần không thể tách rời
của bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp tục lan tỏa những giá trị từ bi, trí tuệ và
nhân ái trong đời sống xã hội hôm nay.
THÀNH TỰU KHOA HỌC TỰ NHIÊN CỦA AI CẬP VÀ HI LẠP CỔ ĐẠI
Ai Cập và Hy Lạp là hai nền văn minh cổ đại rực rỡ, giữ vị trí quan trọng
trong lịch sử phát triển của nhân loại và để lại những đóng góp to lớn cho
kho tàng tri thức chung. Trong đó, khoa học tự nhiên là lĩnh vực tiêu biểu
phản ánh rõ nhất trí tuệ, óc quan sát tinh tế và khả năng sáng tạo vượt bậc
của con người thời cổ đại. Cả Ai Cập và Hy Lạp đều đạt được những thành
tựu khoa học tự nhiên đáng kinh ngạc, không chỉ phục vụ trực tiếp cho đời
sống đương thời mà còn đặt nền móng quan trọng cho sự hình thành và phát
triển của khoa học ở các thời kỳ sau.
Trước hết, xét về điểm tương đồng, cả Ai Cập và Hy Lạp đều sớm hình thành
tri thức khoa học tự nhiên dựa trên nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới
xung quanh. Trong lĩnh vực toán học, người Ai Cập và người Hy Lạp đều biết
thực hiện các phép tính cơ bản, hiểu mối quan hệ giữa các hình học đơn giản
và vận dụng toán học vào đời sống. Ai Cập sử dụng toán học để đo đạc ruộng
đất, xây dựng kim tự tháp, đền đài, trong khi Hy Lạp phát triển toán học lên
trình độ lý thuyết với các định lý và hệ thống chứng minh chặt chẽ. Ở lĩnh
vực thiên văn học, cả hai nền văn minh đều quan sát bầu trời để xác định
thời gian, phương hướng và chu kỳ tự nhiên. Người Ai Cập dựa vào sự xuất
hiện của sao Sirius để dự đoán lũ sông Nile và xây dựng lịch mặt trời 365
ngày, còn người Hy Lạp quan sát chuyển động của các thiên thể để xây dựng
mô hình vũ trụ và dự đoán vị trí hành tinh. Trong y học, cả hai đều có những
hiểu biết nhất định về cơ thể người, biết phân loại bệnh và sử dụng dược liệu
tự nhiên để chữa bệnh.
Tuy nhiên, sự khác biệt căn bản giữa khoa học Ai Cập và khoa học Hy Lạp
nằm ở phương pháp tiếp cận và mục tiêu nhận thức. Khoa học Ai Cập mang
đậm tính thực tiễn và kinh nghiệm. Mọi tri thức khoa học đều nảy sinh từ
nhu cầu cụ thể của đời sống sản xuất, xây dựng và tôn giáo. Toán học Ai Cập
chủ yếu là toán học ứng dụng, tập trung vào việc tính diện tích, thể tích, thuế
khóa và xây dựng công trình. Thiên văn học phục vụ trực tiếp cho nông
nghiệp và nghi lễ tôn giáo, còn y học phát triển mạnh nhờ kỹ thuật ướp xác,
giúp người Ai Cập hiểu rõ cấu tạo cơ thể con người nhưng vẫn còn hạn chế
trong nghiên cứu sinh lý học người sống. Nhìn chung, khoa học Ai Cập đạt
trình độ cao về mặt kỹ thuật nhưng chưa hình thành tư duy lý luận trừu
tượng và hệ thống hóa tri thức.
Ngược lại, khoa học Hy Lạp cổ đại đánh dấu một bước ngoặt quan trọng
trong lịch sử khoa học nhân loại khi con người lần đầu tiên tách việc nhận
thức tự nhiên ra khỏi thần thoại và tôn giáo. Các nhà khoa học Hy Lạp không
chỉ quan sát mà còn đặt câu hỏi về bản chất của vũ trụ và các quy luật chi
phối thế giới. Trong toán học, người Hy Lạp xây dựng tư duy tiên đề – định lý
– chứng minh, tiêu biểu là bộ “Cơ sở” của Euclid, tạo nên nền móng cho toán
học hiện đại. Trong thiên văn học, họ đưa ra những tư tưởng táo bạo như
Trái Đất hình cầu, đo chính xác chu vi Trái Đất và thậm chí đề xuất mô hình
nhật tâm từ rất sớm. Trong vật lý, các nhà tư tưởng như Democritus,
Aristotle và Archimedes đã đặt nền móng cho cơ học, thuyết nguyên tử và tư
duy khoa học hệ thống. Y học Hy Lạp, với Hippocrates và Herophilus, đã tách
khỏi mê tín, coi bệnh tật là hiện tượng tự nhiên và đề cao quan sát lâm sàng,
trở thành tiền đề cho y học khoa học sau này.
Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ điều kiện lịch sử – xã hội của mỗi nền văn minh.
Ai Cập là một quốc gia tập quyền, ổn định lâu dài, khoa học chủ yếu phục vụ
nhà nước, tôn giáo và trật tự xã hội. Trong khi đó, Hy Lạp gồm nhiều thành
bang độc lập, đời sống chính trị dân chủ và tự do tranh luận đã tạo môi
trường thuận lợi cho tư duy phản biện, sáng tạo và phát triển khoa học lý
thuyết. Chính bối cảnh này đã giúp khoa học Hy Lạp vượt khỏi giới hạn thực
dụng để vươn tới việc khám phá các quy luật phổ quát của tự nhiên.
Có thể nói, mặc dù có những cách tiếp cận khác nhau, cả hai nền văn minh
Ai Cập và Hy Lạp đều có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của
khoa học tự nhiên. Trong khi người Ai Cập để lại những thành tựu có giá trị
thực tiễn cao, người Hy Lạp đã đặt nền móng cho phương pháp nghiên cứu
khoa học hiện đại. Sự kết hợp giữa tính thực tiễn của Ai Cập và tư duy lý luận
của Hy Lạp đã tạo nên nền tảng vững chắc cho khoa học phương Tây sau này,
đồng thời cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực
tiễn trong nghiên cứu khoa học.
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG VĂN MINH
PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
Trong tiến trình lịch sử nhân loại, văn minh là trình độ phát triển cao của xã
hội loài người, được thể hiện qua những thành tựu nổi bật về kinh tế, tổ chức
xã hội, nhà nước, chữ viết, khoa học, tư tưởng và đời sống tinh thần. Trên nền
tảng đó, lịch sử cổ đại đã chứng kiến sự hình thành của hai hệ thống văn
minh lớn là văn minh phương Đông và văn minh phương Tây cổ đại, mỗi hệ
thống mang những đặc trưng riêng và phát triển theo những quỹ đạo khác nhau.
1. So sánh cơ sở địa lý – tự nhiên
Văn minh phương Đông hình thành sớm trên lưu vực các dòng sông lớn như
sông Nile, Tigris – Euphrates, sông Ấn – Hằng, Hoàng Hà – Trường Giang.
Đây là những khu vực có đất đai màu mỡ, phù sa phong phú, khí hậu nhìn
chung ấm áp, mưa nhiều, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp ngay cả khi
công cụ lao động còn thô sơ. Chính sự ưu đãi này giúp cư dân phương Đông
sớm tạo ra thặng dư lương thực, từ đó dẫn đến sự tan rã của công xã nguyên
thủy, hình thành nhà nước và bước vào kỷ nguyên văn minh từ rất sớm (khoảng 4000 BCE).
Tuy nhiên, các khu vực này lại có địa hình tương đối khép kín, bị bao bọc bởi
sa mạc, núi cao hoặc biển, khiến giao lưu bên ngoài bị hạn chế. Điều này góp
phần tạo nên những nền văn minh ổn định, bền vững nhưng chậm biến đổi,
mang đậm tính bảo thủ.
Ngược lại, văn minh phương Tây cổ đại hình thành trong không gian Địa
Trung Hải, nơi đất đai khô cằn, đồng bằng nhỏ hẹp, địa hình bị chia cắt bởi
đồi núi và biển đảo. Điều kiện tự nhiên không ưu đãi cho nông nghiệp diện
rộng, buộc cư dân phương Tây phải thích nghi sáng tạo, phát triển các ngành
ngoài nông nghiệp như thủ công nghiệp, thương mại và hàng hải. Đặc biệt,
biển Địa Trung Hải đóng vai trò như một “trục giao thông tự nhiên”, giúp các
cộng đồng phương Tây không bị cô lập, sớm giao lưu với các nền văn minh khác.
2. So sánh cơ sở cư dân
Văn minh phương Đông là kết quả của quá trình dung hợp lâu dài giữa nhiều
tộc người: người Hamites và thổ dân châu Phi ở Ai Cập, các tộc người Sumer
– Akkad – Babylon ở Lưỡng Hà, Dravida – Aria ở Ấn Độ, Hoa Hạ và các tộc
xung quanh ở Trung Quốc. Mặc dù nguồn gốc đa dạng, xu hướng chung là
đồng hóa văn hóa và ngôn ngữ, hình thành những cộng đồng cư dân ổn định,
thống nhất, gắn bó chặt chẽ với lãnh thổ và truyền thống.
Ở phương Tây, cư dân Hy Lạp và La Mã cũng có nguồn gốc đa dạng, nhưng sự
pha trộn này diễn ra trong bối cảnh giao lưu mở. Người Hy Lạp hình thành
từ nhiều tộc người khác nhau nhưng sớm thống nhất trong ý thức “Hellenes”,
đối lập với “Barbarians”. Người La Mã là kết quả của sự tổ chức và tiếp biến
linh hoạt giữa người Latin, Sabine, Etruscan và Hy Lạp, sau đó còn mở rộng
bằng chính sách trao quyền công dân cho các tộc người bị chinh phục.
3. So sánh cơ sở kinh tế – xã hội
Nền tảng kinh tế của phương Đông là nông nghiệp trồng lúa nước, phụ
thuộc chặt chẽ vào sông ngòi và thủy lợi. Sản xuất mang tính tự cung tự cấp,
kinh tế hàng hóa kém phát triển, thủ công nghiệp và thương nghiệp chỉ giữ
vai trò bổ trợ. Chế độ ruộng đất công và công xã nông thôn tồn tại bền vững,
xã hội phân hóa nhưng chưa hình thành các giai cấp đối kháng rõ rệt. Nô lệ
không phải lực lượng sản xuất chính.
Trái lại, phương Tây phát triển nền kinh tế đa dạng và mở. Do hạn chế nông
nghiệp, họ tập trung vào tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản, thương
mại và hàng hải. Sự phát triển mạnh của sản xuất hàng hóa, tiền tệ và giao
thương quốc tế dẫn tới phân hóa xã hội sâu sắc, trong đó nô lệ trở thành lực
lượng sản xuất chủ yếu. Đô thị hóa diễn ra sớm, hình thành tầng lớp thương
nhân và chủ xưởng giàu có.
4. So sánh cơ sở chính trị – nhà nước
Ở phương Đông, nhu cầu trị thủy và tổ chức sản xuất quy mô lớn đã dẫn tới
sự ra đời sớm của nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, nơi
vương quyền gắn chặt với thần quyền. Nhà vua nắm quyền lực tuyệt đối, nhà
nước kiểm soát ruộng đất, lao động và đời sống xã hội.
Ngược lại, phương Tây hình thành những mô hình nhà nước đa dạng và tiến
bộ hơn. Hy Lạp phát triển nhà nước thành bang, nơi công dân trực tiếp tham
gia chính trị, đặt nền móng cho tư duy dân chủ. La Mã phát triển nhà nước
pháp quyền, coi luật pháp là công cụ tổ chức và kiểm soát quyền lực, tạo cơ
sở cho ý thức công dân và quyền cá nhân.
Mặc dù hình thành trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử khác nhau, văn
minh phương Đông và văn minh phương Tây cổ đại vẫn có nhiều điểm tương
đồng căn bản. Cả hai đều ra đời trên cơ sở lao động sản xuất của cư dân cổ
đại, gắn liền với sự phát triển của nông nghiệp, thủ công nghiệp và trao đổi
buôn bán. Sự xuất hiện của nhà nước, chữ viết và các thiết chế xã hội là bước
ngoặt chung, đánh dấu quá trình con người thoát khỏi xã hội nguyên thủy để
bước vào kỷ nguyên văn minh. Đồng thời, cả hai nền văn minh đều đạt được
những thành tựu đáng kể trong khoa học tự nhiên, kiến trúc, luật pháp và tư
tưởng, phản ánh khát vọng nhận thức, tổ chức và cải biến thế giới của con người cổ đại.
Tóm lại, dù tồn tại nhiều khác biệt về điều kiện hình thành và con đường
phát triển, văn minh phương Đông và văn minh phương Tây cổ đại vẫn gặp
nhau ở những nền tảng chung của văn minh nhân loại. Tuy nhiên, sự khác
biệt về tự nhiên, kinh tế và chính trị đã tạo nên hai mô hình văn minh với
những đặc trưng riêng: Văn minh phương Đông ra đời sớm, ổn định và rực rỡ
nhưng mang tính bảo thủ, chậm biến đổi. Văn minh phương Tây hình thành
muộn hơn, song lại năng động, cởi mở, đặt nền móng cho tư duy lý tính, dân
chủ và pháp quyền. Chính từ những cơ sở hình thành khác biệt ấy, hai nền
văn minh đã để lại những di sản riêng biệt, góp phần làm nên diện mạo
phong phú của lịch sử văn minh nhân loại.
SO SÁNH “VĂN MINH” VỚI NỀN VĂN MINH
Trong nghiên cứu lịch sử thế giới cổ đại, hai khái niệm “văn minh” và “nền
văn minh” thường xuyên được sử dụng song song, đôi khi dễ gây nhầm lẫn
nếu không đặt chúng trong mối quan hệ bản chất. Thực chất, đây không phải
là hai khái niệm đồng nhất, mà là hai cấp độ khác nhau dùng để phản ánh
trình độ phát triển của xã hội loài người trong những không gian và thời
điểm lịch sử xác định.
Trước hết, “văn minh” được hiểu là trạng thái phát triển cao của xã hội loài
người, thể hiện ở trình độ tổ chức xã hội, đời sống vật chất và tinh thần, khoa
học – kỹ thuật và khả năng con người cải biến tự nhiên. Văn minh không tồn
tại như một thực thể hữu hình cụ thể, mà là tổng hòa các thành tựu mà con
người đạt được khi xã hội đã vượt qua thời nguyên thủy, có nhà nước, chữ
viết, phân công lao động và tri thức khoa học sơ khai. Nói cách khác, văn
minh là mức độ phát triển, là “chất lượng” của đời sống xã hội. Ví dụ, khi nói
đến văn minh nông nghiệp lúa nước, văn minh đô thị hay văn minh chữ viết,
ta đang đề cập đến những đặc trưng trình độ phản ánh bước tiến của con
người trong việc tổ chức sản xuất và đời sống, chứ không gắn với một quốc
gia hay khu vực cụ thể nào.
Trong khi đó, “nền văn minh” lại là một khái niệm cụ thể hóa văn minh
trong không gian và thời gian lịch sử xác định. Một nền văn minh là tổng thể
các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng cư dân sáng tạo ra, tồn tại
trong một khu vực địa lý nhất định và gắn với một giai đoạn lịch sử cụ thể.
Nếu văn minh là “mức độ phát triển”, thì nền văn minh chính là hình thức
tồn tại cụ thể của văn minh trong lịch sử. Chẳng hạn, khi nhắc đến nền văn
minh Ai Cập cổ đại, ta không chỉ nói đến trình độ văn minh nói chung, mà là
toàn bộ hệ thống thành tựu đặc thù của cư dân Ai Cập sống dọc sông Nile,
bao gồm nhà nước Pharaoh, chữ tượng hình, lịch 365 ngày, toán học, y học và
đặc biệt là kiến trúc kim tự tháp.
Sự khác biệt giữa hai khái niệm này thể hiện rõ qua ví dụ cụ thể của Kim tự
tháp Giza. Kim tự tháp không chỉ là một công trình kiến trúc riêng lẻ, mà là
kết tinh của trình độ văn minh về toán học, thiên văn học, tổ chức lao động
và kỹ thuật xây dựng của con người cổ đại. Những hiểu biết về hình học, số
Pi, định hướng theo các vì sao hay khả năng huy động hàng vạn lao động cho
thấy xã hội Ai Cập đã đạt tới một trình độ văn minh cao. Tuy nhiên, Kim tự
tháp Giza chỉ thực sự có ý nghĩa đầy đủ khi đặt trong nền văn minh Ai Cập cổ
đại, nơi các yếu tố chính trị (vương quyền thần thánh), tôn giáo (niềm tin vào
thế giới bên kia), kinh tế (nông nghiệp sông Nile) và khoa học cùng hòa
quyện, tạo nên một chỉnh thể văn minh đặc thù, không thể tách rời.
Như vậy, có thể thấy văn minh mang tính khái quát và trừu tượng, còn nền
văn minh mang tính cụ thể và lịch sử. Văn minh trả lời cho câu hỏi xã hội loài
người đã phát triển đến trình độ nào, còn nền văn minh trả lời cho câu hỏi
trình độ ấy được thể hiện ra sao, ở đâu và bởi cộng đồng nào. Một trình độ
văn minh có thể được biểu hiện qua nhiều nền văn minh khác nhau. Chẳng
hạn, cùng là văn minh nông nghiệp và văn minh chữ viết, nhưng nền văn
minh Lưỡng Hà, Ai Cập, Ấn Độ hay Trung Quốc lại mang những sắc thái rất
riêng, do điều kiện tự nhiên, cư dân và tổ chức xã hội khác nhau quy định.
Tóm lại, văn minh và nền văn minh là hai khái niệm có mối quan hệ chặt chẽ
nhưng không đồng nhất. Văn minh là thước đo trình độ phát triển của xã hội
loài người, còn nền văn minh là hình thức tồn tại cụ thể của trình độ ấy trong
lịch sử. Việc phân biệt rõ hai khái niệm này không chỉ giúp hiểu đúng bản
chất các thành tựu cổ đại như Kim tự tháp Giza, mà còn là cơ sở quan trọng
để tiếp cận và phân tích lịch sử văn minh thế giới một cách khoa học, hệ thống và sâu sắc.
TÍNH CHẤT DÂN CHỦ CỦA NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ CHỦ NÔ ATHENS
Trong lịch sử nhân loại, nền dân chủ Athens cổ đại được xem là hình thức
dân chủ sớm nhất và tiêu biểu nhất của thế giới cổ đại phương Tây. Ra đời và
phát triển trong bối cảnh đặc thù của thành bang Athens, nền dân chủ này
không chỉ là sản phẩm của những cải cách chính trị liên tiếp mà còn phản
ánh sâu sắc điều kiện kinh tế, xã hội và tư tưởng của Hy Lạp cổ đại. Việc phân
tích tính chất dân chủ của nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô Athens vì thế
cần được đặt trong tiến trình lịch sử cụ thể, từ quá trình hình thành đến đỉnh
cao dưới thời Pericles, đồng thời nhận diện rõ những giới hạn mang tính bản chất của mô hình này.
Khái niệm dân chủ Athens được thể hiện rõ nét qua tuyên bố nổi tiếng của
Pericles: “Quyền lực thuộc về đa số, chứ không phải thiểu số”. Tuy nhiên, “đa
số” trong bối cảnh Athens thế kỷ V TCN không mang ý nghĩa phổ quát như
trong dân chủ hiện đại. Dân cư Athens bao gồm nhiều nhóm xã hội khác
nhau như công dân, phụ nữ, kiều dân và nô lệ, nhưng chỉ nam công dân
trưởng thành mới được công nhận là chủ thể chính trị. Họ có quyền trực tiếp
tham gia Đại hội công dân, thảo luận và biểu quyết luật pháp, bầu chọn quan
chức và quyết định những vấn đề trọng đại của thành bang. Vì vậy, dân chủ
Athens là dân chủ của cộng đồng công dân, chứ chưa phải dân chủ của toàn xã hội.
Sự ra đời của dân chủ Athens là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài. Về
mặt địa lý và kinh tế, Athens nằm trên bán đảo Attica với địa hình khô cằn,
không thuận lợi cho nông nghiệp quy mô lớn nhưng lại có bờ biển dài và vị
trí thuận lợi cho giao thương hàng hải. Điều này thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của thủ công nghiệp và thương mại, làm xuất hiện các tầng lớp bình dân,
thương nhân và thợ thủ công ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế. Sự lớn mạnh của các tầng lớp này từng bước phá vỡ thế độc quyền
kinh tế – chính trị của giới quý tộc, tạo tiền đề cho những yêu cầu cải cách
chính trị nhằm mở rộng quyền tham gia của công dân.
Trong bối cảnh đó, các cải cách của Solon vào đầu thế kỷ VI TCN đánh dấu
bước ngoặt quan trọng. Bằng việc xóa bỏ nợ nần, giải phóng nô lệ vì nợ và
cấm dùng thân thể con người làm vật thế chấp, Solon đã bảo vệ quyền tự do
cá nhân của công dân Athens. Đồng thời, việc chia công dân thành các đẳng
cấp dựa trên tài sản thay vì huyết thống đã làm suy yếu cơ sở chính trị của
chế độ quý tộc thị tộc, mở đường cho sự hình thành khái niệm quyền công
dân gắn với nghĩa vụ và quyền lợi chính trị.
Trên nền tảng đó, cải cách của Cleisthenes cuối thế kỷ VI TCN đã hoàn thiện
bước chuyển từ xã hội thị tộc sang nhà nước cộng hòa dân chủ. Việc tổ chức
cư dân theo đơn vị hành chính dựa trên nơi cư trú, thay cho bộ lạc huyết
thống, đã triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng chính trị của các dòng họ quý tộc.
Hội đồng 500 và Đại hội công dân được củng cố, trở thành những thiết chế
trung tâm bảo đảm quyền lực thuộc về công dân Athens. Đặc biệt, cơ chế bỏ
phiếu bằng vỏ sò nhằm trục xuất những cá nhân có nguy cơ đe dọa nền dân
chủ cho thấy ý thức rõ ràng của người Athens trong việc bảo vệ thể chế chính trị mới hình thành.
Nền dân chủ Athens đạt đến đỉnh cao dưới thời Pericles trong thế kỷ V TCN.
Việc áp dụng chế độ trả lương cho những công dân tham gia hoạt động công
quyền đã tạo điều kiện để cả những người nghèo cũng có thể tham gia quản
lý nhà nước, khiến dân chủ không chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà trở thành
thực chất hơn. Quyền lực của Đại hội công dân được đề cao, nguyên tắc bình
đẳng trước pháp luật và tự do ngôn luận được bảo đảm trong phạm vi cộng
đồng công dân. Chính môi trường chính trị dân chủ này đã tạo điều kiện cho
sự nở rộ rực rỡ của văn hóa, triết học, nghệ thuật và khoa học Athens, đưa
thành bang này trở thành trung tâm của văn minh Hy Lạp cổ đại.
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tiến bộ, nền dân chủ Athens mang trong
mình những hạn chế mang tính lịch sử không thể phủ nhận. Trước hết, đây
là nền dân chủ chủ nô, chỉ dành cho một thiểu số công dân nam giới tự do,
trong khi đa số cư dân như nô lệ, phụ nữ và kiều dân hoàn toàn bị loại khỏi
đời sống chính trị. Sự tham gia chính trị rộng rãi của công dân Athens thực
chất được duy trì trên cơ sở lao động cưỡng bức của nô lệ, tạo nên mâu thuẫn
sâu sắc giữa lý tưởng tự do và thực tiễn xã hội. Hơn nữa, mô hình dân chủ
trực tiếp cũng dễ bị chi phối bởi cảm xúc đám đông và những chính khách
dân túy, đặc biệt sau khi Athens mất đi những nhà lãnh đạo có tầm nhìn
chiến lược như Pericles.
Chính những mâu thuẫn nội tại đó, kết hợp với tác động của chiến tranh
Peloponnesus và sự trỗi dậy của Macedonia, đã dẫn đến sự suy yếu và sụp đổ
của nền dân chủ Athens vào cuối thế kỷ IV TCN. Tuy vậy, sự sụp đổ này
không làm lu mờ giá trị lịch sử to lớn của dân chủ Athens. Trái lại, nó cho
thấy dân chủ là một quá trình lịch sử lâu dài, đầy thử nghiệm và điều chỉnh.
Những nguyên lý mà Athens đặt nền móng – quyền lực thuộc về công dân,
bình đẳng trước pháp luật và sự tham gia chính trị – đã trở thành di sản tư
tưởng bền vững, góp phần định hình nền dân chủ hiện đại sau này.
SỰ KHÁC BIỆT VỀ KINH TẾ GIỮA PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
Lịch sử phát triển của các nền văn minh cổ đại luôn là chủ đề thu hút sự
quan tâm nghiên cứu của các nhà sử học. Đặc biệt, sự khác biệt về đặc điểm kinh tế
giữa các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây là một trong những vấn đề
được chú ý nghiên cứu nhiều nhất. Mặc dù có những điểm tương đồng nhất định,
nhưng giữa hai khu vực này vẫn tồn tại những khác biệt sâu sắc về mô hình phát
triển kinh tế, được định hình bởi điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển của mỗi vùng.
Trước hết, cần phải ghi nhận rằng các quốc gia cổ đại ở cả phương Đông và
phương Tây đều có những điểm chung trong quá trình phát triển kinh tế. Cả hai
khu vực đều trải qua giai đoạn phát triển từ nền sản xuất nguyên thủy và công xã
thị tộc. Sự tan rã của nền kinh tế nguyên thủy chính là tiền đề quan trọng để hình
thành nền kinh tế cổ đại ở cả hai khu vực. Bên cạnh đó, cả phương Đông và phương
Tây đều phát triển kinh tế dựa trên việc khai thác tối đa lợi thế từ điều kiện tự
nhiên sẵn có và tìm cách khắc phục những hạn chế do thiên nhiên gây ra. Về cơ cấu
kinh tế, cả hai khu vực đều có đầy đủ ba ngành kinh tế chính: nông nghiệp, thủ
công nghiệp và thương nghiệp.
Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản nằm ở vai trò và mức độ phát triển của
từng ngành trong nền kinh tế. Ở các quốc gia phương Đông, nông nghiệp đóng vai
trò chủ đạo với đặc trưng là trồng lúa nước. Nền nông nghiệp này mang tính tự cấp,
tự túc cao, tập trung vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng. Người
dân không chỉ trồng lúa mà còn đa dạng hóa sản xuất với nhiều loại ngũ cốc khác
như ngô, kê và phát triển chăn nuôi gia súc như bò, cừu, lợn. Ngược lại, ở phương
Tây, nông nghiệp không giữ vai trò chủ đạo mà gắn liền với nhu cầu thị trường. Họ
tập trung vào các loại cây trồng đặc thù như lúa mì, nho, ô liu, định hướng sản xuất
theo nhu cầu thị trường và xuất khẩu.
Về thủ công nghiệp, sự khác biệt càng trở nên rõ rệt. Tại phương Đông, thủ
công nghiệp được xem là ngành phụ trợ cho nông nghiệp, thường được thực hiện
trong thời gian nông nhàn với mức độ chuyên môn hóa thấp. Các sản phẩm đặc
trưng bao gồm gốm sứ ở Trung Quốc và Lưỡng Hà, dệt may ở Trung Quốc, và giấy ở
Ai Cập. Trong khi đó, thủ công nghiệp ở phương Tây phát triển thành một ngành
kinh tế độc lập với mức độ chuyên môn hóa cao. Họ sản xuất các mặt hàng như
rượu nho, dầu ô liu, vũ khí, đồ gỗ theo nhu cầu thị trường với năng suất cao.
Về thương nghiệp, trong khi các quốc gia phương Đông bị hạn chế bởi tính tự
cấp tự túc, với hình thức trao đổi chủ yếu là vật đổi vật và tiền tệ chưa phổ biến
rộng rãi, thì phương Tây lại phát triển mạnh mẽ về thương mại, đặc biệt là thương
mại đường biển. Họ đã thiết lập được mạng lưới thương mại rộng lớn kết nối ba
châu lục: Á, Phi, Âu, với hệ thống tiền tệ phát triển.
Những khác biệt này có nguồn gốc sâu xa từ điều kiện địa lý và khí hậu của
mỗi khu vực. Phương Đông được thiên nhiên ưu đãi với các con sông lớn như Nin,
Tigơrơ, Ơphơrát, Ấn, Hằng, Hoàng Hà, Trường Giang, tạo nên những đồng bằng phì
nhiêu. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa dồi dào cùng các đồng bằng rộng
lớn tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, phương Tây
với vị trí địa lý nằm trên các bán đảo, có nhiều vũng vịnh kín gió, lại thuận lợi cho
phát triển hàng hải. Khí hậu Địa Trung Hải với lượng mưa ít hơn và địa hình đa
dạng đã buộc họ phải tìm kiếm các hướng phát triển khác ngoài nông nghiệp.
Tóm lại, sự khác biệt về đặc điểm kinh tế giữa các quốc gia cổ đại phương
Đông và phương Tây là kết quả tất yếu của quá trình thích nghi với điều kiện tự
nhiên và đáp ứng nhu cầu phát triển của mỗi khu vực. Trong khi phương Đông phát
triển theo mô hình kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc, thì phương Tây lại hướng đến
mô hình kinh tế thương mại - thủ công nghiệp gắn với thị trường. Mỗi mô hình đều
có những ưu điểm và hạn chế riêng, phản ánh sự thích nghi sáng tạo của con người
với điều kiện tự nhiên trong giai đoạn đầu của nền văn minh nhân loại. Nghiên cứu
những khác biệt này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về lịch sử phát triển của
các nền văn minh cổ đại mà còn cung cấp những bài học quý giá về mối quan hệ
giữa con người với môi trường tự nhiên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CƠ ĐỐC GIÁO (THIÊN CHÚA
GIÁO/ĐẠO KITÔ) VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP TẠI VIỆT NAM
Trong dòng chảy lịch sử văn minh nhân loại, đạo Kitô đã trải qua hành
trình phát triển hơn hai thiên niên kỷ và để lại những dấu ấn sâu đậm. Từ
vùng đất Palestine xa xôi, đạo Kitô không chỉ lan tỏa khắp thế giới mà còn có
những ảnh hưởng và đóng góp quan trọng tại mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Khởi nguồn từ việc Chúa Giêsu giảng đạo tại Palestine, đạo Kitô ban
đầu chỉ là một nhánh nhỏ của Do Thái giáo. Tuy nhiên, sau khi Chúa Giêsu bị
đóng đinh và phục sinh, các tông đồ đã chia nhau đi khắp nơi truyền đạo,
khiến đức tin Kitô giáo dần lan rộng. Trong thời kỳ đầu, các tín đồ Kitô giáo
phải đối mặt với nhiều cuộc bách hại từ Đế quốc La Mã, nhưng điều này
không ngăn cản được sự phát triển của tôn giáo này.
Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 313, khi Hoàng đế Constantine ban
hành Chiếu chỉ Milan, công nhận tự do tín ngưỡng trong đế quốc. Từ đây,
đạo Kitô bắt đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng trở thành quốc
giáo của Đế quốc La Mã và sau đó là nhiều quốc gia châu Âu. Trong suốt thời
kỳ Trung cổ, Giáo hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, văn
hóa và xã hội. Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ xảy ra nhiều biến động lớn,
đáng kể nhất là sự chia tách giữa Công giáo La Mã và Chính thống giáo Đông phương vào năm 1054.
Bước sang thế kỷ XVI, phong trào Cải cách của Martin Luther đã tạo
nên một bước ngoặt mới. Sự ra đời của Tin Lành giáo không chỉ làm phong
phú thêm thế giới Kitô giáo mà còn đánh dấu sự thay đổi trong cách tiếp cận
đức tin, với việc nhấn mạnh trở về với Kinh Thánh và đức tin thuần túy.
Tại Việt Nam, đạo Kitô được truyền bá từ thế kỷ XVI thông qua các nhà
truyền giáo phương Tây. Trong số đó, Alexandre de Rhodes có công lớn
không chỉ trong việc truyền đạo mà còn trong việc phát triển chữ Quốc ngữ.
Dưới các triều đại phong kiến, mặc dù trải qua nhiều thăng trầm, có lúc được
chấp nhận, có lúc bị cấm đoán, nhưng đạo Kitô vẫn để lại những đóng góp
quan trọng cho xã hội Việt Nam.
Về văn hóa và giáo dục, công lao lớn nhất của các giáo sĩ là việc sáng
tạo và hoàn thiện chữ Quốc ngữ, tạo nền tảng cho việc hiện đại hóa văn hóa
Việt Nam. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống trường học công giáo cũng
góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí. Các giáo sĩ còn ghi chép
nhiều tài liệu quý về lịch sử, văn hóa Việt Nam, góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc.
Trong lĩnh vực y tế và xã hội, đạo Kitô đã có những đóng góp thiết thực
thông qua việc xây dựng các bệnh viện, cơ sở y tế phục vụ cộng đồng. Nhiều
cơ sở từ thiện, nuôi dưỡng trẻ mồ côi được thành lập, các hoạt động cứu trợ,
giúp đỡ người nghèo được tổ chức thường xuyên, thể hiện tinh thần bác ái của đạo.
Đặc biệt, đạo Kitô đã đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu văn
hóa Đông - Tây. Thông qua các giáo sĩ, Việt Nam có cơ hội tiếp xúc với văn
minh phương Tây, từ đó tiếp nhận những giá trị văn hóa mới, góp phần vào
quá trình hiện đại hóa đất nước.
Ngày nay, sau hơn 2000 năm phát triển, đạo Kitô vẫn không ngừng lan
tỏa và có những đóng góp tích cực cho xã hội. Tại Việt Nam, dù không phải là
tôn giáo có số lượng tín đồ đông đảo nhất, nhưng những đóng góp của đạo
Kitô trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và xã hội là không thể phủ nhận.
Những giá trị nhân văn, tinh thần phục vụ cộng đồng của đạo Kitô tiếp tục
được phát huy, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước trong thời đại mới.
VĂN MINH (KHÁI NIỆM, NỘI HÀM, CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN)
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, con người không chỉ tồn tại
để sinh tồn mà còn không ngừng vươn tới những hình thức tổ chức xã hội
ngày càng hoàn thiện. Từ những cộng đồng nguyên thủy đơn giản đến các xã
hội có nhà nước, đô thị và chữ viết, nhân loại đã từng bước tạo nên những
thành tựu to lớn về vật chất và tinh thần. Trạng thái phát triển cao đó được
khái quát bằng khái niệm văn minh – một dấu mốc quan trọng phản ánh
trình độ tiến bộ của xã hội loài người. 1. Khái niệm văn minh