CHƯƠNG 1
Câu 1. Bối cảnh lịch sử nội dung bản của Cương lĩnh chính trị (2-1930) của
Đảng. Ý nghĩa sự ra đời của Đảng.
a. Hoàn cảnh lịch sử:
- Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức Cộng
sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản
thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào Cộng sản ở Việt Nam.
- Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng sản Đông Dương tài
liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản Đông Dương, yêu cầu những người
Cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm Cộng sản và
thành lập một đảng của giai cấp vô sản.
- Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Cửu
Long, Hương Cảng, Trung Quốc.
-Hội nghị thảo luận thông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt của Đảng,
Sách lược vắn tắt Đảng, Chương trình tóm tắt Đảng Điều lệ vắn tắt của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện này đã hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
b. Nội dung cơ bản:
* Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: Cách mạng Việt Nam phải
trải qua 2 giai đoạn: sản dân quyền cách mạng thổ địa cách mạng để đi tới hội
cộng sản. Tập trung giải quyết 2 mâu thuẫn bản của dân tộc Việt Nam mâu thuẫn
dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
* Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
-Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp bọn phong kiến; làm cho nước
Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội
công nông.
-Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của
bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch
thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp nông nghiệp; thi
hành luật này làm 8 giờ.
-Về văn hóa - hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông
giáo dục theo công nông hóa.
* Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày
phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ
phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền dân cày khỏi dưới quyền lực
ảnh hưởng của bọn sản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu sản, trí thức, trung
nông, Thanh niên, Tân Việt, để kéo họ đi vào phe sản giai cấp. Đối với phú nông,
trung, tiểu địa chủ bản An Nam chưa mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng,
ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải
đánh đổ.
* Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấpsản lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng đội tiên phong của giai cấp sản, phải thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với
các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích của công
nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
* Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng Việt Nam một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với
các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
c. Đánh giá cương lĩnh:
- Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam. Cương
lĩnh vừa đúng đắn, vừa sáng tạo, vừa nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp lại thấm
đượm tinh thần dân tộc
d. Ý nghĩa cương lĩnh:
- Là cơ sở để ĐCSVN trở thành tổ chức lãnh đạo cách mạng
- Giải quyết được khủng hoảng về đường lối CM, giai cấp lãnh đạo CM, lực lượng
CM, phương pháp CM, quan hệ với CMTG
- Mở ra con đường, phương hướng phát triển mới cho đất nước VN
e. Ý nghĩa sự ra đời của Đảng:
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kỳ
mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên
chủ nghĩa hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những
nội dung bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những
nhu cầu bức thiết của lịch sử trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất
các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.
- Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng
của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt
sự khủng hoảng về đường lối tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt
Nam đầu thế kỷ XX. Đó kết quả của sự vận động, phát triển thống nhất
phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sĩ tiên phong vì lợi ích
của giai cấp, của dân tộc.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác -
Lênin với phong trào công nhân phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai
cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách
mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những
thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh hòa
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.
Câu 2. Những nội dung bản của đường lối cách mạng Việt Nam qua Cương lĩnh
chính trị (2- 1930) của Đảng - Nhận xét.
* Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam: Cách mạng Việt Nam phải
trải qua 2 giai đoạn: sản dân quyền cách mạng thổ địa cách mạng để đi tới hội
cộng sản. Tập trung giải quyết 2 mâu thuẫn bản của dân tộc Việt Nam mâu thuẫn
dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
* Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
-Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp bọn phong kiến; làm cho nước
Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội
công nông.
-Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của
bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch
thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp nông nghiệp; thi
hành luật này làm 8 giờ.
-Về văn hóa - hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông
giáo dục theo công nông hóa.
* Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày
phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ
phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền dân cày khỏi dưới quyền lực
ảnh hưởng của bọn sản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu sản, trí thức, trung
nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông,
trung, tiểu địa chủ bản An Nam chưa mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng,
ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải
đánh đổ.
* Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấpsản lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng đội tiên phong của giai cấp sản, phải thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với
các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích của công
nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
* Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng Việt Nam một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với
các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
* Đánh giá cương lĩnh:
- Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam. Cương
lĩnh vừa đúng đắn, vừa sáng tạo, vừa nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp lại thấm
đượm tinh thần dân tộc
* Ý nghĩa cương lĩnh:
- Là cơ sở để ĐCSVN trở thành tổ chức lãnh đạo cách mạng
- Giải quyết được khủng hoảng về đường lối CM, giai cấp lãnh đạo CM, lực lượng
CM, phương pháp CM, quan hệ với CMTG
- Mở ra con đường, phương hướng phát triển mới cho đất nước VN
Câu 3. Những nội dung bản của đường lối cách mạng Việt Nam qua Luận cương
chính trị (10-1930) của Đảng - Nhận xét
* Nội dung của Luận cương:
-LCCT: Tháng 4/1930, sau thời gian học tập Liên Xô, Trần Phú được Quốc tế
Cộng sản cử về nước hoạt động. Tháng 7/1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban
Chấp hành Trung ương Đảng. Từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, Ban Chấp hành
Trung ương họp lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì.
Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình nhiệm vụ cần kíp của Đảng;
thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng điều lệ các tổ chức
quần chúng. Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị quyết định đổi tên
Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị cử Ban
chấp hành Trung ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
- Luận cương chính trị đã phân tích đặc điểm, tình hình hội thuộc địa nửa phong
kiến nêu lên những vấn đề bản của cách mạng sản dân quyền Đông
Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo.
-Mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên thợ thuyền, dân cày các
phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
Chỉ ra một mâu thuẫn, chưa đề cập đến mâu thuẫn cơ bản, quan trọng nhất trong xã hội
Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thể nhân dân và đế quốc Pháp.
-Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: Luận cương chỉ rõ: “Tư
sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”, sau khi cách
mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ bổn
tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.
Đây quan niệm chủ quan duy ý chí, không phù hợp với hoàn cảnh nước ta lúc bấy
giờ.
-Nhiệm vụ của cách mạng sản dân quyền: Đánh đổ phong kiến, thực hành
cách mạng ruộng đất triệt để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khắng khít với
nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, để tiến hành
cách mạng thổ địa thắng lợi, phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh
đổ được đế quốc chủ nghĩa.
-Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định: “Vấn đề thổ địa cái cốt của
cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày.
Luận cương xác định bản chất chính CMTS dân quyền kiểu mới với kẻ thù chính là
phong kiến. Đề cao giải quyết vai trò ruộng đất không đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng
đầu.
-Về lực lượng cách mạng: Giai cấp sản vừa động lực chính của cách mạng
tư sản dân quyền, vừa giai cấp lãnh đạo cách mạng. Dân cày lực lượng đông
đảo nhất động lực mạnh của cách mạng. sản thương nghiệp thì đứng về
phe đế quốc địa chủ chống lại cách mạng, còn sản công nghiệp thì đứng về
phía quốc gia cải lương khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc.
Trong giai cấp tiểu sản, bộ phận thủ công nghiệp thì thái độ do dự; tiểu
sản thương gia thì không tán thành cách mạng; tiểu tư sản trí thức thì xu hướng
quốc gia chủ nghĩa chỉ thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kỳ
đầu. Chỉ các phần tử lao khổ đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ
công nhỏ, trí thức thất nghiệp thì mới đi theo cách mạng mà thôi.
Chưa đánh giá đúng mức vai trò cách mạng của gc tiểu sản , phủ nhận mặt tích cực
của bộ phận tư sản dân tộc
Chưa nhận thấy được khả năng phân hoá lôi kéo 1 bộ phận địa chủ vừa nhỏ
trong cách mạng giải phóng dân tộc
Không đề ra được 1 chiến lược liên minh giữa dân tộc và giai cấp rộng rãi
-Về phương pháp cách mạng: Để đạt được mục tiêu bản của cuộc cách mạng
là đánh đổ để quốc phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra
sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường . trang bạo“võ trang bạo động”
động để giành chính quyền một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà
binh”.
-Về quan hệ quốc tế: Cách mạng Đông Dương một bộ phận của cách mạng
sản thế giới, thế giai cấp sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp
vô sản thế giới, trước hết là sản Pháp, phải mật thiết liên lạc với phong trào
cách mạng các nước thuộc địa nửa thuộc địa nhằm mở rộng tăng cường
lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương.
-Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản điều kiện cốt
yếu cho thắng lợi của cách mạng. Đảng phải đường lối chính trị đúng đắn,
kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng. Đảng là đội tiên phong của giai
cấp vô sản, lấy chủ nghĩa MácLênin làm nền tảng tưởng, đại biểu chung cho
quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt được mục đích cuối
cùng là chủ nghĩa cộng sản.
-Đánh giá: Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã xác định nhiều vấn đề bản
về chiến lược cách mạng. Về bản thống nhất với nội dung của Chính cương,
sách lược vắn tắt của Hội nghị thành lập Đảng tháng 2-1930. Tuy nhiên, Luận
cương đã không nêu mâu thuẫn chủ yếu của hội Việt Nam thuộc địa, không
nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, nặng về đấu tranh giai cấp cách
mạng ruộng đất; không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc giai cấp
rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược tay sai. Nguyên nhân
của những hạn chế đó do nhận thức chưa đầy đủ về thực tiễn cách mạng thuộc
địa chịu ảnh hưởng của tưởng tả khuynh, nhấn mạnh một chiều đấu tranh
giai cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản một số Đảng Cộng sản trong thời
gian đó.
Câu 4. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược của Đảng giai đoạn 1939-1941.
1. Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
a. Tình hình thế giới và trong nước
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
- Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, hai ngày sau Anh Pháp tuyên
chiến với Đức, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Phát Xít Đức lần lượt chiếm
các nước châu Âu. Đế quốc Pháp lao vào vòng chiến. Chính phủ Pháp đã thi hành
biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ trong nước phong trào cách mạng
thuộc địa. Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Đảng cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài
vòng pháp luật.
- Tháng 6- 1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp đầu ng Đức. Ngày 22-6-
1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Từ khi Phát Xít Đức xâm lược Liên
Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân
chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Tình hình trong nước:
- Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến Đông Dương
Việt Nam. Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên
truyền cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản
Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn tịch
thu tài sản của các tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo nhà xuất bản, cấm hội họp
và tụ tập đông người.
- Trong thực tế, Việt Nam Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách
thời chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp
phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản
Đông Dương. ng nghìn cuộc khám xét bất ngờ đã diễn ra khắp nơi. Một số
quyền tự do, dân chủ đã giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu. Chúng
ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách nhằm tăng"kinh tế chỉ huy"
cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh của đế quốc. Hơn bảy vạn
thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn.
- Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng sơn
và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng
Nhật. Từ dó, nhân dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng áp bức, bóc lột của Pháp -
Nhật. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta và đế quốc, phát xít Pháp — Nhật trở nên gay gắt
hơn bao giờ hết.
b. Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng (ỔN)
Kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp
Hội nghị lần thứ sáu (tháng 11-1939), Hội nghị lần thứ bảy (tháng 11-1940) Hội nghị
lần thứ tám (tháng 5-1941). Trên sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế
giới thứ hai căn cứ vào tình hình cụ thể trong nước, Ban Chấp hành Trung ương đã
quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
-Một là, đưa ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ban chấp hành
Trung ương nêu mâu thuẫn chủ yếu nước ta đòi hỏi phải được giải quyết cấp
bách mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật. Bởi
“Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân
tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm
cũng không đòi lại được”. Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc
này, Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác lại khẩu hiệu "Đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày" "Tịch thu ruộng đất của, thay bằng khẩu hiệu
bọn đế quốc Việt Nam cho dân cày nghèo", "Chia lại ruộng đất công cho công
bằng và giảm tô, giảm tức"...
-Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết tập hợp lực
lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc. Để tập hợp lực lượng cách
mạng đông đảo trong cả nước, Ban Chấp hành Trung ương quyết định thành lập
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt Việt Minh thay cho Mặt trận
thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương; đổi tên các Hội phản đế thành Hội cứu
quốc để vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần,
lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
-Ba là, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa trang nhiệm vụ trung
tâm của Đảng nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại. Để đưa ra cuộc khởi
nghĩa trang đến thắng lợi, cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng, bao
gồm lực lượng chính trị lực lượng trang, xúc tiến y dựng căn cứ địa cách
mạng. Ban Chấp nh Trung ương chỉ rõ: Việc "chuẩn bị khởi nghĩa nhiệm vụ
trung tâm của Đảng tadân ta trong giai đoạn hiện tại". Trung ương quyết định
duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập những đội đu kích hoạt
động phân tán, dùng hình thức trang vừa chiến đấu chống địch, bảo vệ nhân
dân, vừa phát triển sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc
Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm.
-Ban Chấp hành Trung ương xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở
nước ta: "Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào hội
thuận tiện hơn cả đánh lại quân thù... với lực lượng sẵn có, tathể lãnh đạo
một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể dành thắng lợi
mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn".
- Ban Chấp hành Trung ương còn đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm
nâng cao lực lượng tổ chức nh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút
đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự
đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
c. Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
- Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn
chỉnh s chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số một của
cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đúng đắn để thực hiện mục
tiêu ấy.
- Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc
lên hàng đầu, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt
Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng cả nông thôn thành thị,
xây dựng căn cứ địa cách mạng lực lượng trang, ngọn cdẫn đường cho
nhân n ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành
độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
- Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (tháng 5-1941), Nguyễn Ái
Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp
Nhật. Người nhấn mạnh: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn
hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc bọn Việt gian
đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng".
- Thực hiện Nghị quyết của Đảng lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, các cấp bộ
đảng Mặt trận Việt Minh đã tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc của quần
chúng, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị phong trào đấu tranh của
quần chúng. Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh tuyên bố ra đời. Mặt trận Việt
Minh đã tuyên bố ra 10 chính sách vừa ích nước vừa lợi n nên được nhân dân
nhiệt liệt hưởng ứng. Từ đầu nguồn cách mạng Pác Bó, Việt Minh đã lan tỏa khắp
nông thôn, thành thị hệ thống từ. Trung ương đến sở. Một tổ chức chính trị
yêu nước ra đời đã tham gia làm thành viên của Mặt trận Việt Minh như Đảng
Dân chủ Việt Nam (tháng 6-1944). Lực lượng chính trị quần chúng ngày càng
đông đảo và được rèn luyện trong đấu tranh chống Pháp - Nhật theo khẩu hiệu của
Mặt trận Việt Minh.
- Trên cơ sở lực lượng chính trị của quần chúng, Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho
quần chúng cách mạng, từng bước tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Từ các đội du kích mật, các đội Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân đã thành lập Việt Nam giải phóng quân. Đảng chỉ đạo việc lập các
chiến khu và căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn — Vũ Nhai và căn
cứ Cao Bằng. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi ở các khu căn
cứ khắp các địa phương trong cả nước đã cổ thúc đẩy mạnh mẽ phong
trào cách mạng quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền.
Câu 5. Những nội dung ý nghĩa thể hiện việc hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược cách mạng của Đảng trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941).
Nội dung của Hội nghị Trung ương Đảng lần VIII:
* Nhận định của Hội nghị: Hội nghị nhận định mâu thuẫn giữa các dân tộc ta với đế
quốc phát xít u thuẫn chủ yếu nhất, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào
bằng. Vì vậy, lúc này nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất.
* Chủ trương:
-Xác định kẻ thù: Kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật
-Nhiệm vụ: Nhiệm vụ bức thiết nhất giải phóng cho được các dân tộc Đông
Dương khói ách Pháp - Nhật. Đây là chủ trương quan trọng nhất vì Nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể
dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà
quyền lợi của một bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
-Khẩu hiệu đấu tranh: Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ đề ra
tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian chia cho dân cày.
-Hình thức tập hợp lực lượng: Để phát huy sức mạnh dân tộc mỗi nước Đông
Dương, cần phải đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi mỗi nước.Vì vậy Hội nghị chủ
trương mỗi nước cần thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất riêng. Ơ Việt
Nam thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), bao gồm các tổ
chức quần chúng lấy tên là Hội cứu quốc….
-Hình thức đấu tranh: Đề ra chủ trương khởi nghĩa trang coi đó nhiệm vụ
của toàn Đảng toàn quân toàn dân ta. Chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới khởi
nghĩa trang giành chính quyền. Hội nghị còn vạch rõ: Khởi nghĩa trang
muốn thắng lợi thì phải được chuẩn bị chu đáo nổ ra đúng thời cơ, phải đi từ
khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa.
Hội nghị TW 8 được coi là hội nghị hoàn chỉnh chủ trương chiến lược của Đảng vì:
Hội nghị đã hoàn chỉnh chủ trương chiến lược được đề ra từ hội nghị tháng 11- 1939,
khắc phục triệt để những hạn chế của luận cương chính trị 10/1930, khẳng định lại đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của đảng
và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Đó ngọn cờ dẫn đường
cho toàn dân Việt Nam đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự nghiệp
đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do.
Câu 6. Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
* Khách quan:
- Đầu tháng 8/1945, quân đồng minh tấn công quân Nhật Châu Á - Thái Bình
Dương. Ngày 6 9/8/1945, Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima
Nagasaki
- Ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật
Đông Bắc Trung quốc. Ngày 14/8/1945, Nhật đầung quân Đồng minh điều
kiện
* Chủ quan:
- Ngay từ ngày 13/8/1945, khi nhận được những thông tin về Nhật đầu hàng, Trung
ương Đảng Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc,
ban bố Quân lệnh số 1 chính thức phát Lệnh Tổng khởi nghĩa cả nước.
- Từ ngày 14 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp Tân Trào
(Tuyên Quang), quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cnước, giành chính
quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; quyết định những vấn đề quan
trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyền.
- Từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân được triệu tập Tân Trào, n
thành Tổng khởi nghĩa của Đảng thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Ủy
Ban dân tộc Giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại hội
quyết định lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm quốc kỳ, bài hát Tiến quân ca
quốc ca.
* "Thời cơ ngàn năm có một"
- Ngày 15/8/1945, Phát xít Nhật đầu hàng đồng minh điều kiện. Quân Nhật
Đông Dương bị liệt, bọn tay sai hoang mang, dao động đến cực độ. Trong lúc
đó quân Đồng Minh chưa kịp vào nước ta.
- Như vậy khoảng thời gian sau khi Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh trước khi
quân Đồng Minh vào nước ta thời ta phải đứng dậy"Ngàn năm có một"
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền đứng thế của nước độc lập để tiếp
Đồng Minh
- Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 cũng diễn ra đúng trong khoảng thời gian
đó và ta giành thắng lợi nhanh chóng
Vì sao nói thời tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 không những đã chín muồi
còn là thời cơ ngàn năm có một?
* Thời của cách mạng tháng Tám thời chín muồi vì: Đến tháng 8-
1945, Đảng ta đã sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối phương pháp cách mạng
cho một cuộc Tổng khởi nghĩa. Toàn đảng, toàn dân đã sẵn sàng hành động, kiên
quyết hy sinh để giành độc lập.
-Về mặt đường lối: Hội nghị tháng 5-1941, đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết vấn đề dân tộc trong
khuôn khổ từng nước Đông Dương, thành lập mặt trận Việt Minh, đề ra chủ
trương khởi nghĩa vũ trang.
-Về mặt lực lượng: lực lượng chính trị, lực lượng trang, căn cứ địa cách mạng
đều đã được đảng ta chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm 1930 - 1945.
-Về phía quần chúng nhân dân: đã sẵn sàng cùng Đảng vùng lên đấu tranh.
-Về phía tầng lớp trung gian đã ngả về phía cách mạng. Từ khi Nhật đảo chính
Pháp, tầng lớp tiểu sản, sản dân tộc, địa chủ nhỏ cũng đứng về phía cách
mạng. Nhiều nhà sản dân tộc sẵn sàng bỏ tiền ra mua phiếu ủng hộ Việt Minh.
Bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp cũng trở thành quần chúng cảm
tình với cách mạng, nhờ đó các cán bộ cách mạng điều kiện hoạt động tích cực
trong thành phố.
* Là thời cơ "ngàn năm có một" vì:
- Quân đồng minh đang thắng lợi trên tất cả các mặt trận, phát xít Đức đầu hàng,
Nhật Bản bị tấn công lập => Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán chiến tranh sẽ
nhanh chóng kết thúc, Nhật Bản sẽ thua trận.
- Tại Đông Dương, quân Pháp đã bị Nhật hất cẳng từ trước. Quân Nhật thì lại đang
thua trận, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, rệu => kẻ thù đang suy yếu,
đây là thời cơ thuận lợi.
- Trong khi đó, quân đồng minh đang bận đối phó với Nhật. Sau khi chiến tranh kết
thúc, quân đồng minh sẽ viện cớ giải giáp phát xít Nhật để tiến vào nước ta. Bản
chất của chúng đều chủ nghĩa đế quốc xâm lược không khác Pháp - Nhật. =>
Vì vậy, ta phải giành chính quyền ngay khi quân đồng minh chưa kịp vào nước ta.
=> Đây chính thời , nếu không chớp thời cơ để giành chính"ngàn năm một"
quyền thì sẽ không có cơ hội tốt đẹp như vậy lần sau nữa.
=> Trong bối cảnh trên, Đảng ta quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc
để giành chính quyền.
* Ý nghĩa đối với thế giới:
- Góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng
hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
- Cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực
tiếp đến cách mạng Lào và Campuchia.
Câu 7. Chủ trương khởi nghĩa từng phần tổng khởi nghĩa giành chính quyền của
Đảng trong năm 1945.
I. Chủ trương của Đảng về khởi nghĩa từng phần từ tháng 3 đến tháng 8/1945:
- Vào thời điểm Nhật phát đảo chính trên toàn khu vực Đông Dương, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng đã tổ chức cuộc họp tại Bắc Ninh để đối thoại về tình hình.
Vào ngày 12/3/1945, trong bối cảnh cuộc đảo chính vừa diễn ra, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng đã đưa ra một chỉ thị quan trọng mang tên “Nhật Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị này phản ánh chủ trương chiến lược
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng chính trị vùng Đông
Dương và tình hình chung của quốc gia.
* Nội dung của chỉ thị này bao gồm:
-Đánh giá tình hình: Cuộc đảo chính đã tạo ra sự khủng hoảng chính trị sâu sắc
trong vùng, nhưng điều kiện cho việc khởi nghĩa trang vẫn chưa đủ hoàn thiện.
Tình hình còn đang tiếp tục phát triển chưa thể thay đổi tương lai một cách
ràng.
-Xác định kẻ thù: Tại thời điểm này, kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương
phát xít Nhật. Điều này đã dẫn đến việc thay đổi khẩu hiệu chiến đấu từ “Đánh
đuổi Pháp – Nhật” “Đánh đuổi phát xít Nhật”sang . Điều này phản ánh mức độ tổ
chức và tầm quan trọng của phát xít Nhật như một thế lực áp bức.
-Hình thức đấu tranh: Chỉ thị quy định ràng về các hình thức đấu tranh
Đảng và nhân dân nên thực hiện. Trong đó bao gồm bất hợp tác,i thị, biểu tình,
cũng như chuẩn bị sẵn sàng cho việc tham gia vào các hoạt động trang du kích.
Điều này phản ánh tính linh hoạt của chiến lược chống Nhật, từ các hoạt động
không vũ trang đến các hoạt động vũ trang.
-Quyết định phát động “Cao trào kháng Nhật cứu nước”: Một phần quan trọng
của chỉ thị quyết định phát động . Điều này“Cao trào kháng Nhật cứu nước”
đánh dấu s tập trung phối hợp của Đảng nhân dân trong việc đối phó với
phát xít Nhật, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và độc lập cho dân tộc.
- Chủ trương và chiến lược này đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc
tận dụng tình hình biến đổi, tối ưu hóa sự hiện diện của Đảng nhân dân trong
cuộc chiến chống lại sự thống trị của phát xít Nhật và bảo vệ độc lập của quốc gia.
II. Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng trong năm 1945
Bối cảnh lịch sử của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945:
* Nắm bắt được thời cơ chín muồi, chớp thời cơ quyết đoán:
- Thời chín muồi được xem một trong những nhân tố dẫn đến sự thành công
của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. thể nhận thấy, yếu tố quan trọng
bậc nhất đó nghệ thuật chuẩn bị lực lượng nắm bắt, chớp thời một cách
quyết đoán của Đảng ta. Hay nói cách khác, thành công của cách mạng tháng Tám
1945 đến từ thời cơ chín muồi mà Đảng ta đã nhanh chóng nắm bắt được.
- Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã bước vào giai đoạn cuối năm 1945. Hồng
quân Liên liên tiếp giành thắng lợi trên chiến trường châu ÂU, giải phóng
nhiều nước và tiến thẳng vào sào huyệt của chủ nghĩa phát xít Đức tại Béc lin.
- Ngày 9/5/1945 là một ngày lịch sử đáng nhớ. Đó là ngày phát xít Đức đầu hàng vô
điều kiện, chấm dứt chiến tranh tại châu Âu.
- châu Á, ngày 8/8/1945 Liên tiến công mạnh mẽ vào quân đội Nhật, buộc
Nhật phải đầu hàng đồng minh điều kiện vào ngày 14/8, chấm dứt hoàn toàn
cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đau thương, tàn khốc
- Ở Đông Dương, theo như thỏa thuận của các nước Đồng minh rằng quân đội Anh,
Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp khí Nhật sau khi Nhật đầu hàng. Bấy
giờ, thực dân Pháp lăm le lợi dụng đồng minh để khôi phục lại vai trò thống trị.
Trong khi đó, đế quốc Mỹ cũng chống lưng cho các thế lực này can thiệp o
Đông Dương. Các phần tử phản động trong nước âm mưu thay thầy đổi chủ để
chống lại cách mạng.
* Phát triển lực lượng khi trải qua một số cao trào Cách mạng:
- Cao trào cách mạng (1930 – 1931) với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh
- Cao trào vận động dân chủ từ năm 1936 – 1939
- Cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945
* Tình hình trong nước khi tiến hành khởi nghĩa tháng 8 năm 1945:
- Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương đã
quyết định phát động cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa. Tháng
3/1945 Đảng ta ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
- Tháng 8 năm 1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng ta đã họp tại Tân Trào -
Tuyên Quang đã khẳng định ràng: . “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới”
Từ đó cũng quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa để giành chính quyền từ tay
phát xít Nhật cùng với tay sai trước khi quân đồng minh tiến vào Đông Dương.
- Bên cạnh đó thì Hội nghị cũng đã đề ra nguyên tắc nhằm đảm bảo tổng khởi nghĩa
được diễn ra thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời.
* Diễn biến tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945:
- Ngày 16 - 8 - 1945, một đơn vị Giải phóng tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên.
- Ngày 17 - 8 - 1945, quần chúng Hà Nội tổ chức mít tinh, thể hiện sự ủng hộ chính
quyền cách mạng.
- Ngày 18 - 8 - 1945, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành
chính quyền.
- Ngày 19 - 8 - 1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi.
- Ngày 23 - 8 - 1945, giành chính quyền ở Huế.
- Ngày 25 - 8 - 1945, giành chính quyền ở Sài Gòn.
- Ngày 28 - 8 - 1945, Đồng Nai Thượng Tiên các tỉnh giành chính quyền
muộn nhất.
- Ngày 30 - 8 - 1945, Vua Bảo Đại thoái vị. Chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn
sụp đổ.
* Kết quả của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945: Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Đảng ta, cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 đã diễn ra nhanh
chóng giành được thắng lợi vang dội.
* Ý nghĩa lịch sử tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945:
- Mở ra một bước ngoặt lịch sử, lật đổ phong kiến và đế quốc.
- Ý nghĩa lịch sử tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945
- Cổ vũ mạnh mẽ các cuộc đấu tranh cách mạng trên toàn thế giới
* Nguyên nhân thắng lợi:
- Kết quả của 15 năm xây dựng lực lượng và biết chớp thời cơ
- Đường lối chiến lược và chỉ đạo đúng đắn của Đảng
- Xây dựng thành công Đảng ngang tầm với nhiệm vụ giải phóng dân tộc
* Bài học kinh nghiệm: Từ thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nhà
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã ra đời, đánh dấu một bước tiến đại trong lịch sử
dân tộc ta. thế, thể khẳng định rằng cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 ý
nghĩa đặc biệt với lịch sử nước nhà và trên toàn thế giới.
Câu 8. Sự chuẩn bị của Đảng lãnh tụ Hồ Chí Minh cho Cách mạng Tháng Tám
năm 1945.
1. Sự chuẩn bị của Đảng:
-Thứ nhất, Đảng chuẩn bị về chủ trương, đường lối cách mạng chủ động
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược khi tình hình thay đổi.
+ Xác định nhiệm vụ cách mạng: Việc xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu của dân tộc để
đề ra nhiệm vụ đúng đắn cho cách mạng Việt Nam điều cần thiết, tính chất quyết
định đến thắng lợi của cách mạng. Nếu như trong cao trào 1930 1931, Luận cương
chính trị tháng 10/1930 của Đảng chủ trương phải tiến hành song song 2 nhiệm vụ chống
đế quốc chống phong kiến, thì qua quá trình đấu tranh cách mạng, đặc biệt, từ Hội
nghị trung ương 6 (11/1939) đến Hội nghị trung ương 8 (5/1941), Đảng ta đã nêu cao
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng trước tiên của cách
mạng Đông Dương.
+ Thành lập Mặt trận để đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân: mỗi
giai đoạn cách mạng, Đảng ta đều chủ trương thành lập Mặt trận để đoàn kết, tập hợp
rộng rãi các tầng lớp nhân dân đấu tranh, phù hợp với tình thế cách mạng. Từ hình thức
Mặt trận đầu tiên Hội phản đế đồng minh trong phong trào 1930 1931 đến Mặt trận
dân chủ Đông Dương (6/1938) trong phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ,
rồi thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939), Việt Nam độc
lập đồng minh (5/1941) khi CTTG II bùng nổ chủ nghĩa phát xít đang trở thành họa
của thế giới để tập hợp mọi giai cấp, mọi đảng phái, dân tộc, tôn giáo...không phân biệt
tuổi tác, giới tính...miễn lòng yêu nước vào các đoàn thể cứu quốc để đấu tranh
chung dưới một ngọn cờ thống nhất nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc.
- Thứ hai, tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt, xây dựng lực lượng chính trị
kết hợp với lực lượng vũ trang.
+ Qua các cao trào cách mạng, Đảng ta đã p hợp ng rãi mọi tầng lớp nhân dân,
giai cấp tạo dựng lực lượng cách mạng, tích cực chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa
giành chính quyền. Đă c biê t, từ năm 1941, với viê c thành p t trâ n Viê t Minh
bao gồm các tổ chức quần chúng như Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc,
Thanh niên cứu quốc…, Đảng đã đô ng viên tinh thần ái quốc của mọi giai cấp,
tầng lớp trong xã hô i, bồi dưỡng và phát huy cao đô sức mạnh to lớn của lực lượng
chính trị trong chuẩn bị và thực hành tổng khởi nghĩa.
+ Để giành được chính quyền cách mạng, Đảng luôn chủ trương y dựng lực
lượng trang, xây dựng căn c cách mạng. Đảng ta đã lãnh đạo từng bước xây
dựng các đô i du kích, tiền thân của lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia chiến đấu
giành chính quyền trong những ngày tổng khởi nghĩa sau này như đô i du kích Bắc
Sơn, Ba Tơ, đô i Viê t Nam tuyên truyền giải phóng quân…
+ Bên cạnh đó, Đảng ta cũng luôn nhấn mạnh viê c chuẩn bị căn cứ cách mạng làm
chỗ dựa cho vũ trang khởi nghĩa. Khu giải phóng Việt Bắc đã được thành p gồm
các tỉnh: Cao - Bắc - Lạng - - Tuyên - Thái đóng vai trò căn c địa quan
trọng của tổng khởi nghĩa.
- Thứ ba, sự nhạy bén, chủ động nhanh chóng chớp thời cơ
+ Đảng ta đã phân tích sâu sắc sự phát triển của tình hình cách mạng, dự đoán các khả
nǎng, chủ động đối phó với mọi tình huống thể xảy ra. Ngay đêm 09-3-1945, sau khi
phát xít Nhâ t nổ súng lật đổ Pháp Đông Dương, với Chỉ thị Nhật Pháp bắn nhau
hành động của chúng ta”, Đảng đã nhận định rằng, mặc tình hình chính trị đã khủng
hoảng đến độ sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa Đông Dương vẫn chưa thực sự chín
muồi mà đang đi tới chín muồi nhanh chóng và quyết định phát động cao trào kháng Nhật
cứu nước để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
+ Như vậy, Đảng ta nhanh chóng chớp lấy thời cơ, quyết định phát động tổng khởi nghĩa
đúng thời điểm, ngay khi Nhật Chính phủ nhìn hoang mang, tan rã. Trong khi đó,
lực lượng Đồng minh chưa điều kiện vào tiếp nhận sđầu hàng của quân Nhật. Đó
một quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng ta để tránh trường hợp bất lợi, cùng một lúc
đối phó với nhiều kẻ thù.
+ Chính những chủ trương đúng đắn, sự lãnh đạo tài tình, khôn khéo của Đảng ta đã cổ
vũ tinh thần dân tộc Việt Nam vốn sẵn từ ngàn năm trước, lôi cuốn các tầng lớp nhân
dân tham gia vào cuộc tổng khởi nghĩa, để giành chính quyền một cách nhanh chóng và ít
đổ máu.
2. Sự chuẩn bị của Hồ Chí Minh:
- Tháng 5-1941, Bác đã triệu tập chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Đảng tại Khuổi
Nậm (Pác Bó). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng
minh gọi tắt Việt Minh. Lúc này Mặt trận Việt Minh tổ chức lãnh đạo chỉ
đạo cách mạng giải phóng: “Chúng ta hội Việt Minh. Đủ tài lãnh đạo chúng
mình đấu tranh”.
- Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp quần chúng cả nước đứng lên khởi nghĩa
giành chính quyền, góp phần quyết định sự thành công của Cách mạng Tháng 8 và
vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh cực kỳ to lớn, người cầm lái con u cách
mạng vượt qua bão táp để cập bến độc lập, tự do.
- Hai năm 1941, 1942 Cao Bằng, Bác viết rất nhiều tác phẩm kêu gọi toàn dân
đoàn kết một lòng, tuyên truyền, cổ vũ mọi tầng lớp, giai cấp chờ thời cơ đứng lên
đánh giặc cứu Tổ quốc, Và thực tế lịch sử đã chứng minh đúng sự thiên tài này của
Người vào ngày 2-9-1945, nước Việt Nam mới của ta đã ra đời; Kính cáo đồng
bào (6-6-1941) - thể hiện rất tưởng về giải phóng dân tộc: “Trong lúc này
quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ
bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng”...
-Về việc chuẩn bị lực lượng cho cuộc cách mạng giải phóng, Bác viết tác phẩm
“Cách đánh du kích” (1941). Tác phẩm đã góp phần quan trọng giáo dục lòng yêu
nước, tinh thần đoàn kết chiến đấu cho đảng viên và quần chúng cách mạng, đồng
thời giới thiệu kinh nghiệm lịch sử bước đầu nêu lên một số vấn đề về đường
lối quân sự, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.
- Cùng với việc chuẩn bị tài liệu cho huấn luyện, Bác cho đầu tiênmở lớp quân sự
tại Pác Bó. Bác gọi đây lớp tổ du kích Pác giao cho đồng chí Đinh Sửu
phụ trách lớp.
- Bác đã dạy: “Làm cách mạng phải biết dựa vào thời và phải nhìn chung phong
trào mọi nơi, mọi chốn mới chiến thắng”, nên khi cuộc đại chiến thế giới lần thứ
hai chuyển biến lợi cho phe Đồng Minh, Bác đã cho cách xác định nhiệm vụ
mạng nước ta “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng Minh quốc sắp
tránh được sự thắng lợi cuối cùng. hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong
một năm, hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”.
- Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân được thành lập theo chỉ thị của Bác.
- Đêm 9-3-1945, Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, độc chiếm Đông
Dương. Trước tình hình mới, để điều kiện kịp thời chỉ đạo phong trào cách
mạng đang dâng cao trong cả nước, từ đầu tháng 5-1945, Bác cho chuyển “đại
bản doanh” của cách mạng từ Pác (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên
Quang) chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.
- Chấp hành chỉ thị của Bác, ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập Hội
nghị cán bộ tuyên bố chính thức thành lập Khu giải phóng - hình ảnh một nước
Việt Nam mới cho thế trận tổng khởi nghĩa. Tháng 8-1945, phát xít Đức đầu hàng
Đồng Minh, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn quốc của Đảng và
Đại hội đại biểu Quốc dân Tân Trào. Bác đã ra chỉ thị: “Lúc này thời thuận
lợi đã tới, hy sinh tới đâu,phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên
quyết giành cho được độc lập”.
- Để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi tới thắng lợi, Đại hội Quốc dân
Tân Trào cử ra do nh tụ Hồ Chí MinhỦy ban dân tộc giải phóng Việt Nam
làm Chủ tịch.
- Đại hội Quốc dân Tân Trào đã hoàn thành nhiệm vụ như của một Quốc hội dân
cử. Đại hội đã thể hiện sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc Việt Nam trong Mặt
trận Việt Minh, biểu thị lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và lãnh
tụ Hồ Chí Minh, biểu thị ý chí quyết tâm đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thắng
lợi hoàn toàn vào 19-8-1945 2-9-1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
- Qua những dẫn chứng trên đây, ràng Pác - Cao Bằng, trong đó Cốc Bó,
Khuổi Nậm là điểm khởi nguồn sự chuẩn bị công phu, chu đáo của Đảng, của Bác
Hồ, đảm bảo chắc chắn cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tới thành
công.
- Rõ ràng những sự kiện lịch sử, những sự chuẩn bị trên đây sở chắc chắn cho
sự thắng lợi tất yếu của cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945, cả “một kho lịch
sử bằng vàng” về ngày độc lập dân tộc mà Bác Hồ đã viết nên từ 73 năm trước.
CHƯƠNG 2
Câu 9. Những nét chính về tình hình nước ta ngay sau khi CM Tháng Tám thành
công.
- Thuận lợi cơ bản:
Nhân dân đã giành quyền làm chủ, được hưởng quyền lợi do chính
quyền cách mạng mang lại nên phấn khởi và gắn bó với chế độ.
Cách mạng nước ta Đảng, đứng đầu Chủ tịch Hồ Chí Minh
sáng suốt lãnh đạo.
Hệ thống hội chủ nghĩa đang hình thành với sự chống lưng của
Liên các nước đông âu, phong trào cách mạng thế giới phát
triển.
Phong trào đấu tranhhòa bình, dân chủ phát triển nhiều nước tư
bản.
- Khó khăn:
Trên chiến trường quốc tế: Cách mạng 3 nước Đông Dương đương
đầu với nhiều bất lợi, khó khăn, thử thách to lớn, nghiêm trọng.
Phe ĐQCN âm mưu mới: “Chia lại hệ thống thuộc địa thế
giới”, đàn áp CM thế giới, CM VN
Không nước nào ủng hộ lập trường độc lập công nhận
địa vị pháp lý của NN VNDCCH
QTCS tuyên bố tự giải tán
Cách mạng VN nằm trong vòng vây của CNĐQ, cách biệt
với TG
Khó khăn trong nước:
Chính trị:
Chính quyền non trẻ, thiếu thốn, còn nhiều yếu kém.
Lực lượng vũ trang còn sơ khai, trang bị thiếu
Khối đại đoàn kết còn phân tán
Kinh tế:
Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá
nặng nề;
lụt, hạn hán, thiên tai, mất mùa diễn ra liên miên
gây nhiều thiệt hại.
Ruộng đất bị bỏ hoang, hoang hóa trên 50%
Nhiều nghiệp còn nằm trong tay bản Pháp. Các
sở công nghiệp của ta chưa kịp phục hồi sản xuất.
Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân
dân gặp nhiều khó khăn.
Tài chính:
Ngân sách Nhà nước trống rỗng.
Chính quyền cách mạng chưa quản được Ngân hàng
Đông Dương.
Quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại
tiền đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối
loạn.
Văn hóa: Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong
kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số không biết chữ.
Kẻ thù:
Thù trong
Nhiều tổ chức thành lập tranh giành ảnh hưởng
với Đảng, chính quyền: Việt Quốc, Việt Cách,
Đại Việt theo chân quân TGT với âm mưu
Diệt cộng, cầm Hồ”, phá Việt Minh.
Giặc ngoài
6 vạn quân nhật hoàng chưa giải giáp
20 vạn quân Tưởng giới thạch dưới sự bảo trợ
của Mỹ với danh nghĩa quân Đồng Minh vào
giải giáp quân đội Nhật, theo chân lực lượng
tay sai, Việt gian
2/9/1945, Pháp gây hấn tại SG Chợ lớn. 2
vạn quân Anh Ấn vào SG giải giáp quân
Nhật, tạo điều kiện cho Pháp đánh chiếm SG,
lần thứ 2 xâm lược VN
=> Tình trạng “NGÀN CÂN TREO SỢI TÓC”
Tổ quốc lâm nguy
Nền độc lập của dân tộc có thể bị thủ tiêu
Nhân dân ta có nguy cơ trở lại cuộc sống nô lệ
Câu 10. Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta giải quyết những
khó khăn để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám.
Trước tình hình đất nước bị bao vây bốn phía, rơi vào tình trạng “ngàn cân treo
sợi tóc” Đảng và CP đã xác định nhiệm vụ lớn trước mắt là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và
diệt giặc ngoại xâm thông qua các chỉ thị: Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), chỉ thị
tình hình và chủ trương (3/3/1946), chỉ thị Hòa để tiến (9/3/1946)
(*) Nội dung đường lối:
Chỉ đạo chiến lược: dân tộc giải phóng với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết. Tổ Quốc
trên hết”
Kẻ thù chính: thực dân Pháp
Phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương:
Xd củng cố chính quyền CM, bài trừ nội phản:
Cử tri cả nước đi bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I (1/6/1946)
Mở phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I (2/3/1946)
CP do Bác Hồ làm chủ tịch
Tại kỳ họp thứ 2, QH đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên
(9/11/1946)
Cải thiện đời sống nhân dân:
Chống giặc đói, tăng gia sản xuất
Chống giặc dốt, phát triển giáo dục
Chống giặc ngoại xâm: Xây dựng lực lượng trang kháng chiến Nam
Bộ
Thêm bạn bớt thù.
(*) Đối sách của Đảng và CP:
Chủ trương: *Khi nào hòa với tưởng; Khi nào hòa với Pháp; Hòa với Tưởng để
đánh Pháp; Hòa với Pháp để đuổi Tưởng; Bác đi Pháp trở về tạm ước 1949
như thế nào. Đảng Chủ tịch HCM đã thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân
nhượng với kẻ thù để bảo vệ thành quả CMT8:
- Hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc với quân Tưởng (9/1945-3/1946)
+ bổ sung thêm 70 ghế QH không qua bầu cử cho Việt Cách, Việt Quốc
+ cung cấp lương thực, thực phẩm, sử dụng tiền Quan Kim của Tưởng
+ mở rộng thành quần Chính Phủ liên hiệp
+ ngày 11/11/1945, Đảng rút vào hoạt động bí mật, ra thông báo ĐCS ĐD tự giải tán

Preview text:

CHƯƠNG 1
Câu 1. Bối cảnh lịch sử và nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị (2-1930) của
Đảng. Ý nghĩa sự ra đời của Đảng.

a. Hoàn cảnh lịch sử:
- Đến cuối năm 1929, những người cách mạng Việt Nam trong các tổ chức Cộng
sản đã nhận thức được sự cần thiết và cấp bách phải thành lập một Đảng Cộng sản
thống nhất, chấm dứt sự chia rẽ trong phong trào Cộng sản ở Việt Nam.
- Ngày 27-10-1929, Quốc tế Cộng sản gửi những người Cộng sản Đông Dương tài
liệu Về việc thành lập một Đảng Cộng sản ở Đông Dương, yêu cầu những người
Cộng sản Đông Dương phải khắc phục ngay sự chia rẽ giữa các nhóm Cộng sản và
thành lập một đảng của giai cấp vô sản.
- Nhận được tin về sự chia rẽ của những người cộng sản ở Đông Dương, Nguyễn Ái
Quốc rời Xiêm đến Trung Quốc. Người chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng, tại Cửu
Long, Hương Cảng, Trung Quốc.
-Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chính cương vắn tắt của Đảng,
Sách lược vắn tắt Đảng, Chương trình tóm tắt Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Các văn kiện này đã hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
b. Nội dung cơ bản:
* Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: Cách
mạng Việt Nam phải
trải qua 2 giai đoạn: Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản. Tập trung giải quyết 2 mâu thuẫn cơ bản của dân tộc Việt Nam là mâu thuẫn
dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
* Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
-Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước
Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội công nông.
-Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của tư
bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch
thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi
hành luật này làm 8 giờ.
-Về văn hóa - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông
giáo dục theo công nông hóa.
* Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và
phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và
phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày khỏi ở dưới quyền lực và
ảnh hưởng của bọn tư sản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung
nông, Thanh niên, Tân Việt, để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng,
ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ.
* Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với
các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công
nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
* Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với
các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
c. Đánh giá cương lĩnh:
- Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam. Cương
lĩnh vừa đúng đắn, vừa sáng tạo, vừa nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp lại thấm
đượm tinh thần dân tộc
d. Ý nghĩa cương lĩnh:
- Là cơ sở để ĐCSVN trở thành tổ chức lãnh đạo cách mạng
- Giải quyết được khủng hoảng về đường lối CM, giai cấp lãnh đạo CM, lực lượng
CM, phương pháp CM, quan hệ với CMTG
- Mở ra con đường, phương hướng phát triển mới cho đất nước VN
e. Ý nghĩa sự ra đời của Đảng:
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã mở ra thời kỳ
mới cho cách mạng Việt Nam - thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác định được những
nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam; đáp ứng được những
nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết thống nhất
các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và toàn thể dân tộc.
- Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng quan trọng
của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt
sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt
Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển và thống nhất
phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về mọi mặt của Lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến sĩ tiên phong vì lợi ích
của giai cấp, của dân tộc.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa Mác -
Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng tỏ giai
cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng
sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận
của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách
mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những
thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân loại trên thế giới.
Câu 2. Những nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam qua Cương lĩnh
chính trị (2- 1930) của Đảng - Nhận xét.
* Phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam là: Cách mạng Việt Nam phải
trải qua 2 giai đoạn:
Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội
cộng sản. Tập trung giải quyết 2 mâu thuẫn cơ bản của dân tộc Việt Nam là mâu thuẫn
dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
* Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng:
-Về chính trị: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; làm cho nước
Việt Nam được hoàn toàn độc lập; lập chính phủ công nông binh; tổ chức quân đội công nông.
-Về kinh tế: Thủ tiêu hết các thứ quốc trái; tịch thu toàn bộ sản nghiệp lớn của tư
bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh quản lý; tịch
thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày
nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; thi
hành luật này làm 8 giờ.
-Về văn hóa - xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức; nam nữ bình quyền; phổ thông
giáo dục theo công nông hóa.
* Về lực lượng cách mạng: Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và
phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng, đánh đổ bọn đại địa chủ và
phong kiến; phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dân cày khỏi ở dưới quyền lực và
ảnh hưởng của bọn tư sản quốc gia; phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung
nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Đối với phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng,
ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ.
* Về lãnh đạo cách mạng: Giai cấp vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt
Nam. Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, phải thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng; trong khi liên lạc với
các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ một chút lợi ích gì của công
nông mà đi vào con đường thỏa hiệp.
* Về quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới:
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, phải thực hành liên lạc với
các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
* Đánh giá cương lĩnh:
- Cương lĩnh đã vạch ra những vấn đề cơ bản nhất của cách mạng Việt Nam. Cương
lĩnh vừa đúng đắn, vừa sáng tạo, vừa nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp lại thấm
đượm tinh thần dân tộc
* Ý nghĩa cương lĩnh:
- Là cơ sở để ĐCSVN trở thành tổ chức lãnh đạo cách mạng
- Giải quyết được khủng hoảng về đường lối CM, giai cấp lãnh đạo CM, lực lượng
CM, phương pháp CM, quan hệ với CMTG
- Mở ra con đường, phương hướng phát triển mới cho đất nước VN
Câu 3. Những nội dung cơ bản của đường lối cách mạng Việt Nam qua Luận cương
chính trị (10-1930) của Đảng - Nhận xét
* Nội dung của Luận cương:

-LCCT: Tháng 4/1930, sau thời gian học tập ở Liên Xô, Trần Phú được Quốc tế
Cộng sản cử về nước hoạt động. Tháng 7/1930, Trần Phú được bổ sung vào Ban
Chấp hành Trung ương Đảng. Từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, Ban Chấp hành
Trung ương họp lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc) do Trần Phú chủ trì.
Hội nghị đã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng;
thảo luận Luận cương chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng và điều lệ các tổ chức
quần chúng. Thực hiện chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị quyết định đổi tên
Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị cử Ban
chấp hành Trung ương chính thức và cử Trần Phú làm Tổng Bí thư.
- Luận cương chính trị đã phân tích đặc điểm, tình hình xã hội thuộc địa nửa phong
kiến và nêu lên những vấn đề cơ bản của cách mạng tư sản dân quyền ở Đông
Dương do giai cấp công nhân lãnh đạo.
-Mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các
phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc.
Chỉ ra một mâu thuẫn, chưa đề cập đến mâu thuẫn cơ bản, quan trọng nhất tr ⇒ ong xã hội
Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn dân tộc giữa toàn thể nhân dân và đế quốc Pháp.
-Phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: Luận cương chỉ rõ: “Tư
sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”, sau khi cách
mạng tư sản dân quyền thắng lợi sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà
tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”.

⇒ Đây là quan niệm chủ quan duy ý chí, không phù hợp với hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ.
-Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền: Đánh đổ phong kiến, thực hành
cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. Hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ khắng khít với
nhau, vì có đánh đổ đế quốc chủ nghĩa mới phá được giai cấp địa chủ, để tiến hành
cách mạng thổ địa thắng lợi, và có phá tan được chế độ phong kiến thì mới đánh
đổ được đế quốc chủ nghĩa.
-Trong hai nhiệm vụ này, Luận cương xác định: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của
cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày.
⇒ Luận cương xác định bản chất chính là CMTS dân quyền kiểu mới với kẻ thù chính là
phong kiến. Đề cao giải quyết vai trò ruộng đất mà không đặt nhiệm vụ dân tộc lên hàng đầu.
-Về lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản vừa là động lực chính của cách mạng
tư sản dân quyền, vừa là giai cấp lãnh đạo cách mạng. Dân cày là lực lượng đông
đảo nhất và là động lực mạnh của cách mạng. Tư sản thương nghiệp thì đứng về
phe đế quốc và địa chủ chống lại cách mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về
phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc.
Trong giai cấp tiểu tư sản, bộ phận thủ công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu tư
sản thương gia thì không tán thành cách mạng; tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng
quốc gia chủ nghĩa và chỉ có thể hăng hái tham gia chống đế quốc trong thời kỳ
đầu. Chỉ có các phần tử lao khổ ở đô thị như những người bán hàng rong, thợ thủ
công nhỏ, trí thức thất nghiệp thì mới đi theo cách mạng mà thôi.
⇒ Chưa đánh giá đúng mức vai trò cách mạng của gc tiểu tư sản , phủ nhận mặt tích cực
của bộ phận tư sản dân tộc
⇒ Chưa nhận thấy được khả năng phân hoá và lôi kéo 1 bộ phận địa chủ vừa và nhỏ
trong cách mạng giải phóng dân tộc
Không đề ra được 1 chiến lược liên minh giữa dân tộc và giai cấp rộng rãi ⇒
-Về phương pháp cách mạng: Để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng
là đánh đổ để quốc và phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra
sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo động”. Võ trang bạo
động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”.
-Về quan hệ quốc tế: Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô
sản thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp
vô sản thế giới, trước hết là vô sản Pháp, và phải mật thiết liên lạc với phong trào
cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhằm mở rộng và tăng cường
lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương.
-Về vai trò lãnh đạo của Đảng: Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cốt
yếu cho thắng lợi của cách mạng. Đảng phải có đường lối chính trị đúng đắn, có
kỷ luật tập trung, liên hệ mật thiết với quần chúng. Đảng là đội tiên phong của giai
cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, đại biểu chung cho
quyền lợi của giai cấp vô sản ở Đông Dương, đấu tranh để đạt được mục đích cuối
cùng là chủ nghĩa cộng sản.
-Đánh giá: Luận cương chính trị tháng 10-1930 đã xác định nhiều vấn đề cơ bản
về chiến lược cách mạng. Về cơ bản thống nhất với nội dung của Chính cương,
sách lược vắn tắt của Hội nghị thành lập Đảng tháng 2-1930. Tuy nhiên, Luận
cương đã không nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa, không
nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc, mà nặng về đấu tranh giai cấp và cách
mạng ruộng đất; không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp
rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai. Nguyên nhân
của những hạn chế đó là do nhận thức chưa đầy đủ về thực tiễn cách mạng thuộc
địa và chịu ảnh hưởng của tư tưởng tả khuynh, nhấn mạnh một chiều đấu tranh
giai cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng Cộng sản trong thời gian đó.
Câu 4. Hoàn cảnh lịch sử, nội dung và ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược của Đảng giai đoạn 1939-1941.

1. Hoàn cảnh lịch sử và sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng
a. Tình hình thế giới và trong nước
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:
- Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan, hai ngày sau Anh và Pháp tuyên
chiến với Đức, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Phát Xít Đức lần lượt chiếm
các nước châu Âu. Đế quốc Pháp lao vào vòng chiến. Chính phủ Pháp đã thi hành
biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước và phong trào cách mạng ở
thuộc địa. Mặt trận nhân dân Pháp tan vỡ. Đảng cộng sản Pháp bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.
- Tháng 6- 1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp đầu hàng Đức. Ngày 22-6-
1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô. Từ khi Phát Xít Đức xâm lược Liên
Xô, tính chất chiến tranh đế quốc chuyển thành chiến tranh giữa các lực lượng dân
chủ do Liên Xô làm trụ cột với các lực lượng phát xít do Đức cầm đầu.
Tình hình trong nước:
- Chiến tranh thế giới thứ hai đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp đến Đông Dương
và Việt Nam. Ngày 28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cấm tuyên
truyền cộng sản, cấm lưu hành, tàng trữ tài liệu cộng sản, đặt Đảng Cộng sản
Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn và tịch
thu tài sản của các tổ chức đó, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp
và tụ tập đông người.
- Trong thực tế, ở Việt Nam và Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách
thời chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp
phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng Cộng sản
Đông Dương. Hàng nghìn cuộc khám xét bất ngờ đã diễn ra khắp nơi. Một số
quyền tự do, dân chủ đã giành được trong thời kỳ 1936-1939 bị thủ tiêu. Chúng
ban bố lệnh tổng động viên, thực hiện chính sách "kinh tế chỉ huy" nhằm tăng
cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ chiến tranh của đế quốc. Hơn bảy vạn
thanh niên bị bắt sang Pháp để làm bia đỡ đạn.
- Lợi dụng lúc Pháp thua Đức, ngày 22-9-1940 phát xít Nhật đã tiến vào Lạng sơn
và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng
Nhật. Từ dó, nhân dân ta chịu cảnh một cổ hai tròng áp bức, bóc lột của Pháp -
Nhật. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta và đế quốc, phát xít Pháp — Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.
b. Nội dung chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng (ỔN)
Kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp
Hội nghị lần thứ sáu (tháng 11-1939), Hội nghị lần thứ bảy (tháng 11-1940) và Hội nghị
lần thứ tám (tháng 5-1941). Trên cơ sở nhận định khả năng diễn biến của Chiến tranh thế
giới thứ hai và căn cứ vào tình hình cụ thể trong nước, Ban Chấp hành Trung ương đã
quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược như sau:
-Một là, đưa ra nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ban chấp hành
Trung ương nêu rõ mâu thuẫn chủ yếu ở nước ta đòi hỏi phải được giải quyết cấp
bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, phát xít Pháp - Nhật. Bởi
“Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi
được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân
tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm
cũng không đòi lại được”
. Để tập trung cho nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng lúc
này, Ban Chấp hành Trung ương quyết định tạm gác lại khẩu hiệu "Đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày"
, thay bằng khẩu hiệu "Tịch
thu ruộng đất của
bọn đế quốc và Việt Nam cho dân cày nghèo", "Chia lại ruộng đất công cho công
bằng và giảm tô, giảm tức"...

-Hai là, quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để đoàn kết tập hợp lực
lượng cách mạng nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc. Để tập hợp lực lượng cách
mạng đông đảo trong cả nước, Ban Chấp hành Trung ương quyết định thành lập
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận
thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương; đổi tên các Hội phản đế thành Hội cứu
quốc để vận động, thu hút mọi người dân yêu nước không phân biệt thành phần,
lứa tuổi, đoàn kết bên nhau đặng cứu Tổ quốc, cứu giống nòi.
-Ba là, quyết định xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung
tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại. Để đưa ra cuộc khởi
nghĩa vũ trang đến thắng lợi, cần phải ra sức phát triển lực lượng cách mạng, bao
gồm lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, xúc tiến xây dựng căn cứ địa cách
mạng. Ban Chấp hành Trung ương chỉ rõ: Việc "chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ
trung tâm của Đảng ta và dân ta trong giai đoạn hiện tại"
. Trung ương quyết định
duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn và chủ trương thành lập những đội đu kích hoạt
động phân tán, dùng hình thức vũ trang vừa chiến đấu chống địch, bảo vệ nhân
dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùng Bắc
Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm.
-Ban Chấp hành Trung ương xác định phương châm và hình thái khởi nghĩa ở
nước ta: "Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội
thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù... với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo
một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể dành thắng lợi
mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn".

- Ban Chấp hành Trung ương còn đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng nhằm
nâng cao lực lượng tổ chức và lãnh đạo của Đảng, đồng thời chủ trương gấp rút
đào tạo cán bộ, cán bộ lãnh đạo, cán bộ công vận, nông vận, binh vận, quân sự và
đẩy mạnh công tác vận động quần chúng.
c. Ý nghĩa của sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược
- Với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn
chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược nhằm giải quyết mục tiêu số một của
cách mạng là độc lập dân tộc và đề ra nhiều chủ trương đúng đắn để thực hiện mục tiêu ấy.
- Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc
lên hàng đầu, tập hợp rộng rãi mọi người Việt Nam yêu nước trong Mặt trận Việt
Minh, xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị,
xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang, là ngọn cờ dẫn đường cho
nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp đánh Pháp, đuổi Nhật, giành
độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
- Sau Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (tháng 5-1941), Nguyễn Ái
Quốc gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp —
Nhật. Người nhấn mạnh: "Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn
hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian
đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng".

- Thực hiện Nghị quyết của Đảng và lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc, các cấp bộ
đảng và Mặt trận Việt Minh đã tích cực xây dựng các tổ chức cứu quốc của quần
chúng, đẩy nhanh việc phát triển lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh của
quần chúng. Ngày 25-10-1941, Mặt trận Việt Minh tuyên bố ra đời. Mặt trận Việt
Minh đã tuyên bố ra 10 chính sách vừa ích nước vừa lợi dân nên được nhân dân
nhiệt liệt hưởng ứng. Từ đầu nguồn cách mạng Pác Bó, Việt Minh đã lan tỏa khắp
nông thôn, thành thị có hệ thống từ. Trung ương đến cơ sở. Một tổ chức chính trị
yêu nước ra đời và đã tham gia làm thành viên của Mặt trận Việt Minh như Đảng
Dân chủ Việt Nam (tháng 6-1944). Lực lượng chính trị quần chúng ngày càng
đông đảo và được rèn luyện trong đấu tranh chống Pháp - Nhật theo khẩu hiệu của Mặt trận Việt Minh.
- Trên cơ sở lực lượng chính trị của quần chúng, Đảng đã chỉ đạo việc vũ trang cho
quần chúng cách mạng, từng bước tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Từ các đội du kích bí mật, các đội Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân đã thành lập Việt Nam giải phóng quân. Đảng chỉ đạo việc lập các
chiến khu và căn cứ địa cách mạng, tiêu biểu là căn cứ Bắc Sơn — Vũ Nhai và căn
cứ Cao Bằng. Công việc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang diễn ra sôi nổi ở các khu căn
cứ và khắp các địa phương trong cả nước đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ phong
trào cách mạng quần chúng vùng lên đấu tranh giành chính quyền.
Câu 5. Những nội dung có ý nghĩa thể hiện việc hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược cách mạng của Đảng trong Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941).
Nội dung của Hội nghị Trung ương Đảng lần VIII:
* Nhận định của Hội nghị:
Hội nghị nhận định mâu thuẫn giữa các dân tộc ta với đế
quốc phát xít là mâu thuẫn chủ yếu nhất, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào
bằng. Vì vậy, lúc này nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất. * Chủ trương:
-Xác định kẻ thù: Kẻ thù của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật
-Nhiệm vụ: Nhiệm vụ bức thiết nhất là giải phóng cho được các dân tộc Đông
Dương khói ách Pháp - Nhật. Đây là chủ trương quan trọng nhất vì Nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể
dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà
quyền lợi của một bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
-Khẩu hiệu đấu tranh: Tiếp tục tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ đề ra
tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc, Việt gian chia cho dân cày.
-Hình thức tập hợp lực lượng: Để phát huy sức mạnh dân tộc ở mỗi nước Đông
Dương, cần phải đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi mỗi nước.Vì vậy Hội nghị chủ
trương ở mỗi nước cần thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất riêng. Ơ Việt
Nam thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), bao gồm các tổ
chức quần chúng lấy tên là Hội cứu quốc….
-Hình thức đấu tranh: Đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang coi đó là nhiệm vụ
của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta. Chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới khởi
nghĩa vũ trang giành chính quyền. Hội nghị còn vạch rõ: Khởi nghĩa vũ trang
muốn thắng lợi thì phải được chuẩn bị chu đáo và nổ ra đúng thời cơ, phải đi từ
khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa.
Hội nghị TW 8 được coi là hội nghị hoàn chỉnh chủ trương chiến lược của Đảng vì:
Hội nghị đã hoàn chỉnh chủ trương chiến lược được đề ra từ hội nghị tháng 11- 1939,
khắc phục triệt để những hạn chế của luận cương chính trị 10/1930, khẳng định lại đường
lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của đảng
và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc. Đó là ngọn cờ dẫn đường
cho toàn dân Việt Nam đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị lực lượng, tiến lên trong sự nghiệp
đánh Pháp, đuổi Nhật, giành độc lập tự do.
Câu 6. Vấn đề thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. * Khách quan:
- Đầu tháng 8/1945, quân đồng minh tấn công quân Nhật ở Châu Á - Thái Bình
Dương. Ngày 6 và 9/8/1945, Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki
- Ngày 9/8/1945, Hồng quân Liên Xô tiêu diệt đội quân Quan Đông của Nhật ở
Đông Bắc Trung quốc. Ngày 14/8/1945, Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện * Chủ quan:
- Ngay từ ngày 13/8/1945, khi nhận được những thông tin về Nhật đầu hàng, Trung
ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc,
ban bố Quân lệnh số 1 chính thức phát Lệnh Tổng khởi nghĩa cả nước.
- Từ ngày 14 đến ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào
(Tuyên Quang), quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, giành chính
quyền trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương; quyết định những vấn đề quan
trọng về chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyền.
- Từ ngày 16 đến ngày 17/8/1945, Đại hội quốc dân được triệu tập ở Tân Trào, tán
thành Tổng khởi nghĩa của Đảng thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Ủy
Ban dân tộc Giải phóng Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại hội
quyết định lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm quốc kỳ, bài hát Tiến quân ca là quốc ca.
* "Thời cơ ngàn năm có một"
- Ngày 15/8/1945, Phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Quân Nhật ở
Đông Dương bị tê liệt, bọn tay sai hoang mang, dao động đến cực độ. Trong lúc
đó quân Đồng Minh chưa kịp vào nước ta.
- Như vậy khoảng thời gian sau khi Phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh và trước khi
quân Đồng Minh vào nước ta là thời cơ "Ngàn năm có một" ta phải đứng dậy
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đứng ở tư thế của nước độc lập để tiếp Đồng Minh
- Cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 cũng diễn ra đúng trong khoảng thời gian
đó và ta giành thắng lợi nhanh chóng
Vì sao nói thời cơ tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 không những đã chín muồi mà
còn là thời cơ ngàn năm có một?

* Thời cơ của cách mạng tháng Tám là thời cơ chín muồi vì: Đến tháng 8-
1945, Đảng ta đã có sự chuẩn bị đầy đủ về đường lối và phương pháp cách mạng
cho một cuộc Tổng khởi nghĩa. Toàn đảng, toàn dân đã sẵn sàng hành động, kiên
quyết hy sinh để giành độc lập.
-Về mặt đường lối: Hội nghị tháng 5-1941, đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên
hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, giải quyết vấn đề dân tộc trong
khuôn khổ từng nước Đông Dương, thành lập mặt trận Việt Minh, đề ra chủ
trương khởi nghĩa vũ trang.
-Về mặt lực lượng: lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng
đều đã được đảng ta chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm 1930 - 1945.
-Về phía quần chúng nhân dân: đã sẵn sàng cùng Đảng vùng lên đấu tranh.
-Về phía tầng lớp trung gian đã ngả về phía cách mạng. Từ khi Nhật đảo chính
Pháp, tầng lớp tiểu tư sản, tư sản dân tộc, địa chủ nhỏ cũng đứng về phía cách
mạng. Nhiều nhà tư sản dân tộc sẵn sàng bỏ tiền ra mua phiếu ủng hộ Việt Minh.
Bộ phận binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp cũng trở thành quần chúng cảm
tình với cách mạng, nhờ đó các cán bộ cách mạng có điều kiện hoạt động tích cực trong thành phố.
* Là thời cơ "ngàn năm có một" vì:
- Quân đồng minh đang thắng lợi trên tất cả các mặt trận, phát xít Đức đầu hàng,
Nhật Bản bị tấn công và cô lập => Chủ tịch Hồ Chí Minh dự đoán chiến tranh sẽ
nhanh chóng kết thúc, Nhật Bản sẽ thua trận.
- Tại Đông Dương, quân Pháp đã bị Nhật hất cẳng từ trước. Quân Nhật thì lại đang
thua trận, chính phủ Trần Trọng Kim hoang mang, rệu rã => kẻ thù đang suy yếu,
đây là thời cơ thuận lợi.
- Trong khi đó, quân đồng minh đang bận đối phó với Nhật. Sau khi chiến tranh kết
thúc, quân đồng minh sẽ viện cớ giải giáp phát xít Nhật để tiến vào nước ta. Bản
chất của chúng đều là chủ nghĩa đế quốc xâm lược không khác gì Pháp - Nhật. =>
Vì vậy, ta phải giành chính quyền ngay khi quân đồng minh chưa kịp vào nước ta.
=> Đây chính là thời cơ "ngàn năm có một", nếu không chớp thời cơ để giành chính
quyền thì sẽ không có cơ hội tốt đẹp như vậy lần sau nữa.
=> Trong bối cảnh trên, Đảng ta quyết định phát động Tổng khởi nghĩa trong toàn quốc để giành chính quyền.
* Ý nghĩa đối với thế giới:
- Góp phần vào thắng lợi của cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít; chọc thủng
hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
- Cổ vũ các dân tộc thuộc địa trong cuộc đấu tranh tự giải phóng; có ảnh hưởng trực
tiếp đến cách mạng Lào và Campuchia.
Câu 7. Chủ trương khởi nghĩa từng phần và tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng trong năm 1945. I.
Chủ trương của Đảng về khởi nghĩa từng phần từ tháng 3 đến tháng 8/1945:
- Vào thời điểm Nhật phát đảo chính trên toàn khu vực Đông Dương, Ban Thường
vụ Trung ương Đảng đã tổ chức cuộc họp tại Bắc Ninh để đối thoại về tình hình.
Vào ngày 12/3/1945, trong bối cảnh cuộc đảo chính vừa diễn ra, Ban Thường vụ
Trung ương Đảng đã đưa ra một chỉ thị quan trọng mang tên “Nhật – Pháp bắn
nhau và hành động của chúng ta”
. Chỉ thị này phản ánh chủ trương và chiến lược
của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh khủng hoảng chính trị vùng Đông
Dương và tình hình chung của quốc gia.
* Nội dung của chỉ thị này bao gồm:
-Đánh giá tình hình: Cuộc đảo chính đã tạo ra sự khủng hoảng chính trị sâu sắc
trong vùng, nhưng điều kiện cho việc khởi nghĩa vũ trang vẫn chưa đủ hoàn thiện.
Tình hình còn đang tiếp tục phát triển và chưa thể thay đổi tương lai một cách rõ ràng.
-Xác định kẻ thù: Tại thời điểm này, kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là
phát xít Nhật. Điều này đã dẫn đến việc thay đổi khẩu hiệu chiến đấu từ “Đánh
đuổi Pháp – Nhật”
sang “Đánh đuổi phát xít Nhật”. Điều này phản ánh mức độ tổ
chức và tầm quan trọng của phát xít Nhật như một thế lực áp bức.
-Hình thức đấu tranh: Chỉ thị quy định rõ ràng về các hình thức đấu tranh mà
Đảng và nhân dân nên thực hiện. Trong đó bao gồm bất hợp tác, bãi thị, biểu tình,
cũng như chuẩn bị sẵn sàng cho việc tham gia vào các hoạt động vũ trang du kích.
Điều này phản ánh tính linh hoạt của chiến lược chống Nhật, từ các hoạt động
không vũ trang đến các hoạt động vũ trang.
-Quyết định phát động “Cao trào kháng Nhật cứu nước”: Một phần quan trọng
của chỉ thị là quyết định phát động “Cao trào kháng Nhật cứu nước”. Điều này
đánh dấu sự tập trung và phối hợp của Đảng và nhân dân trong việc đối phó với
phát xít Nhật, nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và độc lập cho dân tộc.
- Chủ trương và chiến lược này đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc
tận dụng tình hình biến đổi, tối ưu hóa sự hiện diện của Đảng và nhân dân trong
cuộc chiến chống lại sự thống trị của phát xít Nhật và bảo vệ độc lập của quốc gia. II.
Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của Đảng trong năm 1945
● Bối cảnh lịch sử của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945:
* Nắm bắt được thời cơ chín muồi, chớp thời cơ quyết đoán:
- Thời cơ chín muồi được xem là một trong những nhân tố dẫn đến sự thành công
của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945. Có thể nhận thấy, yếu tố quan trọng
bậc nhất đó là nghệ thuật chuẩn bị lực lượng và nắm bắt, chớp thời cơ một cách
quyết đoán của Đảng ta. Hay nói cách khác, thành công của cách mạng tháng Tám
1945 đến từ thời cơ chín muồi mà Đảng ta đã nhanh chóng nắm bắt được.
- Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã bước vào giai đoạn cuối ở năm 1945. Hồng
quân Liên Xô liên tiếp giành thắng lợi trên chiến trường châu ÂU, giải phóng
nhiều nước và tiến thẳng vào sào huyệt của chủ nghĩa phát xít Đức tại Béc lin.
- Ngày 9/5/1945 là một ngày lịch sử đáng nhớ. Đó là ngày phát xít Đức đầu hàng vô
điều kiện, chấm dứt chiến tranh tại châu Âu.
- Ở châu Á, ngày 8/8/1945 Liên Xô tiến công mạnh mẽ vào quân đội Nhật, buộc
Nhật phải đầu hàng đồng minh vô điều kiện vào ngày 14/8, chấm dứt hoàn toàn
cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đau thương, tàn khốc
- Ở Đông Dương, theo như thỏa thuận của các nước Đồng minh rằng quân đội Anh,
Tưởng sẽ vào Đông Dương để giải giáp vũ khí Nhật sau khi Nhật đầu hàng. Bấy
giờ, thực dân Pháp lăm le lợi dụng đồng minh để khôi phục lại vai trò thống trị.
Trong khi đó, đế quốc Mỹ cũng chống lưng cho các thế lực này can thiệp vào
Đông Dương. Các phần tử phản động trong nước âm mưu thay thầy đổi chủ để chống lại cách mạng.
* Phát triển lực lượng khi trải qua một số cao trào Cách mạng:
- Cao trào cách mạng (1930 – 1931) với đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh
- Cao trào vận động dân chủ từ năm 1936 – 1939
- Cao trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945
* Tình hình trong nước khi tiến hành khởi nghĩa tháng 8 năm 1945:
- Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương đã
quyết định phát động cao trào cách mạng làm tiền đề cho tổng khởi nghĩa. Tháng
3/1945 Đảng ta ra chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
- Tháng 8 năm 1945, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng ta đã họp tại Tân Trào -
Tuyên Quang đã khẳng định rõ ràng: “Cơ hội rất tốt cho ta giành độc lập đã tới”.
Từ đó cũng quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa để giành chính quyền từ tay
phát xít Nhật cùng với tay sai trước khi quân đồng minh tiến vào Đông Dương.
- Bên cạnh đó thì Hội nghị cũng đã đề ra nguyên tắc nhằm đảm bảo tổng khởi nghĩa
được diễn ra thắng lợi, đó là: tập trung, thống nhất, kịp thời.
* Diễn biến tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945:
- Ngày 16 - 8 - 1945, một đơn vị Giải phóng tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên.
- Ngày 17 - 8 - 1945, quần chúng Hà Nội tổ chức mít tinh, thể hiện sự ủng hộ chính quyền cách mạng.
- Ngày 18 - 8 - 1945, nhân dân Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam giành chính quyền.
- Ngày 19 - 8 - 1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi.
- Ngày 23 - 8 - 1945, giành chính quyền ở Huế.
- Ngày 25 - 8 - 1945, giành chính quyền ở Sài Gòn.
- Ngày 28 - 8 - 1945, Đồng Nai Thượng và Hà Tiên là các tỉnh giành chính quyền muộn nhất.
- Ngày 30 - 8 - 1945, Vua Bảo Đại thoái vị. Chế độ phong kiến Việt Nam hoàn toàn sụp đổ.
* Kết quả của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945: Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Đảng ta, cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 đã diễn ra và nhanh
chóng giành được thắng lợi vang dội.
* Ý nghĩa lịch sử tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945:
- Mở ra một bước ngoặt lịch sử, lật đổ phong kiến và đế quốc.
- Ý nghĩa lịch sử tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8 năm 1945
- Cổ vũ mạnh mẽ các cuộc đấu tranh cách mạng trên toàn thế giới
* Nguyên nhân thắng lợi:
- Kết quả của 15 năm xây dựng lực lượng và biết chớp thời cơ
- Đường lối chiến lược và chỉ đạo đúng đắn của Đảng
- Xây dựng thành công Đảng ngang tầm với nhiệm vụ giải phóng dân tộc
* Bài học kinh nghiệm: Từ thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, nhà
nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã ra đời, đánh dấu một bước tiến vĩ đại trong lịch sử
dân tộc ta. Vì thế, có thể khẳng định rằng cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 có ý
nghĩa đặc biệt với lịch sử nước nhà và trên toàn thế giới.
Câu 8. Sự chuẩn bị của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
1. Sự chuẩn bị của Đảng:
-Thứ nhất, Đảng chuẩn bị về chủ trương, đường lối cách mạng và chủ động
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược khi tình hình thay đổi.
+ Xác định nhiệm vụ cách mạng: Việc xác định đúng mâu thuẫn chủ yếu của dân tộc để
đề ra nhiệm vụ đúng đắn cho cách mạng Việt Nam là điều cần thiết, có tính chất quyết
định đến thắng lợi của cách mạng. Nếu như trong cao trào 1930 – 1931, Luận cương
chính trị tháng 10/1930 của Đảng chủ trương phải tiến hành song song 2 nhiệm vụ chống
đế quốc và chống phong kiến, thì qua quá trình đấu tranh cách mạng, đặc biệt, từ Hội
nghị trung ương 6 (11/1939) đến Hội nghị trung ương 8 (5/1941), Đảng ta đã nêu cao
nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng trước tiên của cách mạng Đông Dương.
+ Thành lập Mặt trận để đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân: Ở mỗi
giai đoạn cách mạng, Đảng ta đều chủ trương thành lập Mặt trận để đoàn kết, tập hợp
rộng rãi các tầng lớp nhân dân đấu tranh, phù hợp với tình thế cách mạng. Từ hình thức
Mặt trận đầu tiên là Hội phản đế đồng minh trong phong trào 1930 – 1931 đến Mặt trận
dân chủ Đông Dương (6/1938) trong phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ,
rồi thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (11/1939), Việt Nam độc
lập đồng minh (5/1941) khi CTTG II bùng nổ và chủ nghĩa phát xít đang trở thành họa
của thế giới để tập hợp mọi giai cấp, mọi đảng phái, dân tộc, tôn giáo...không phân biệt
tuổi tác, giới tính...miễn là có lòng yêu nước vào các đoàn thể cứu quốc để đấu tranh
chung dưới một ngọn cờ thống nhất nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc.
- Thứ hai, tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt, xây dựng lực lượng chính trị
kết hợp với lực lượng vũ trang.
+ Qua các cao trào cách mạng, Đảng ta đã tâ ‹p hợp rô ‹ng rãi mọi tầng lớp nhân dân,
giai cấp tạo dựng lực lượng cách mạng, tích cực chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa
giành chính quyền. Đă ‹c biê ‹t, từ năm 1941, với viê ‹c thành lâ ‹p Mă ‹t trâ ‹n Viê ‹t Minh
bao gồm các tổ chức quần chúng như Nông dân cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc,
Thanh niên cứu quốc…, Đảng đã
đô ‹ng viên tinh thần ái quốc của mọi giai cấp,
tầng lớp trong xã hô ‹i, bồi dưỡng và phát huy cao đô ‹ sức mạnh to lớn của lực lượng
chính trị trong chuẩn bị và thực hành tổng khởi nghĩa.
+ Để giành được chính quyền cách mạng, Đảng luôn có chủ trương xây dựng lực
lượng vũ trang, xây dựng căn cứ cách mạng. Đảng ta đã lãnh đạo từng bước xây
dựng các đô ‹i du kích, tiền thân của lực lượng vũ trang trực tiếp tham gia chiến đấu
giành chính quyền trong những ngày tổng khởi nghĩa sau này như đô ‹i du kích Bắc
Sơn, Ba Tơ, đô ‹i Viê ‹t Nam tuyên truyền giải phóng quân…
+ Bên cạnh đó, Đảng ta cũng luôn nhấn mạnh viê ‹c chuẩn bị căn cứ cách mạng làm
chỗ dựa cho vũ trang khởi nghĩa. Khu giải phóng Việt Bắc đã được thành lâ ‹p gồm
các tỉnh: Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái đóng vai trò là căn cứ địa quan
trọng của tổng khởi nghĩa.
- Thứ ba, sự nhạy bén, chủ động nhanh chóng chớp thời cơ
+ Đảng ta đã phân tích sâu sắc sự phát triển của tình hình cách mạng, dự đoán các khả
nǎng, chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Ngay đêm 09-3-1945, sau khi
phát xít Nhâ ‹t nổ súng lật đổ Pháp ở Đông Dương, với Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta”, Đảng đã nhận định rằng, mặc dù tình hình chính trị đã khủng
hoảng đến độ sâu sắc, nhưng điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương vẫn chưa thực sự chín
muồi mà đang đi tới chín muồi nhanh chóng và quyết định phát động cao trào kháng Nhật
cứu nước để làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa.
+ Như vậy, Đảng ta nhanh chóng chớp lấy thời cơ, quyết định phát động tổng khởi nghĩa
đúng thời điểm, ngay khi Nhật và Chính phủ bù nhìn hoang mang, tan rã. Trong khi đó,
lực lượng Đồng minh chưa có điều kiện vào tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật. Đó là
một quyết định sáng suốt, kịp thời của Đảng ta để tránh trường hợp bất lợi, cùng một lúc
đối phó với nhiều kẻ thù.
+ Chính những chủ trương đúng đắn, sự lãnh đạo tài tình, khôn khéo của Đảng ta đã cổ
vũ tinh thần dân tộc Việt Nam vốn có sẵn từ ngàn năm trước, lôi cuốn các tầng lớp nhân
dân tham gia vào cuộc tổng khởi nghĩa, để giành chính quyền một cách nhanh chóng và ít đổ máu.
2. Sự chuẩn bị của Hồ Chí Minh:
- Tháng 5-1941, Bác đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Đảng tại Khuổi
Nậm (Pác Bó). Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng
minh gọi tắt là Việt Minh. Lúc này Mặt trận Việt Minh là tổ chức lãnh đạo và chỉ
đạo cách mạng giải phóng: “Chúng ta có hội Việt Minh. Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh”.
- Mặt trận Việt Minh đã lôi cuốn, tập hợp quần chúng cả nước đứng lên khởi nghĩa
giành chính quyền, góp phần quyết định sự thành công của Cách mạng Tháng 8 và
vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cực kỳ to lớn, người cầm lái con tàu cách
mạng vượt qua bão táp để cập bến độc lập, tự do.
- Hai năm 1941, 1942 ở Cao Bằng, Bác viết rất nhiều tác phẩm kêu gọi toàn dân
đoàn kết một lòng, tuyên truyền, cổ vũ mọi tầng lớp, giai cấp chờ thời cơ đứng lên
đánh giặc cứu Tổ quốc, Và thực tế lịch sử đã chứng minh đúng sự thiên tài này của
Người vào ngày 2-9-1945, nước Việt Nam mới của ta đã ra đời; Kính cáo đồng
bào (6-6-1941) - thể hiện rất rõ tư tưởng về giải phóng dân tộc: “Trong lúc này
quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ
bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng”...

-Về việc chuẩn bị lực lượng cho cuộc cách mạng giải phóng, Bác viết tác phẩm
“Cách đánh du kích” (1941). Tác phẩm đã góp phần quan trọng giáo dục lòng yêu
nước, tinh thần đoàn kết chiến đấu cho đảng viên và quần chúng cách mạng, đồng
thời giới thiệu kinh nghiệm lịch sử và bước đầu nêu lên một số vấn đề về đường
lối quân sự, chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang.
- Cùng với việc chuẩn bị tài liệu cho huấn luyện, Bác cho mở lớp quân sự đầu tiên
tại Pác Bó. Bác gọi đây là lớp tổ du kích Pác Bó và giao cho đồng chí Đinh Sửu phụ trách lớp.
- Bác đã dạy: “Làm cách mạng phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong
trào mọi nơi, mọi chốn mới chiến thắng”, nên khi cuộc đại chiến thế giới lần thứ
hai chuyển biến có lợi cho phe Đồng Minh, Bác đã xác định nhiệm vụ cho cách
mạng nước ta “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng Minh quốc sắp
tránh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong
một năm, hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp, ta phải làm nhanh”.

- Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân được thành lập theo chỉ thị của Bác.
- Đêm 9-3-1945, Nhật làm cuộc đảo chính hất cẳng thực dân Pháp, độc chiếm Đông
Dương. Trước tình hình mới, để có điều kiện kịp thời chỉ đạo phong trào cách
mạng đang dâng cao trong cả nước, từ đầu tháng 5-1945, Bác cho chuyển “đại
bản doanh”
của cách mạng từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên
Quang)
chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.
- Chấp hành chỉ thị của Bác, ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh đã triệu tập Hội
nghị cán bộ tuyên bố chính thức thành lập Khu giải phóng - hình ảnh một nước
Việt Nam mới cho thế trận tổng khởi nghĩa. Tháng 8-1945, phát xít Đức đầu hàng
Đồng Minh, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng họp Hội nghị toàn quốc của Đảng và
Đại hội đại biểu Quốc dân ở Tân Trào. Bác đã ra chỉ thị: “Lúc này thời cơ thuận
lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên
quyết giành cho được độc lập”.

- Để lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đi tới thắng lợi, Đại hội Quốc dân
Tân Trào cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
- Đại hội Quốc dân Tân Trào đã hoàn thành nhiệm vụ như của một Quốc hội dân
cử. Đại hội đã thể hiện sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc Việt Nam trong Mặt
trận Việt Minh, biểu thị lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và lãnh
tụ Hồ Chí Minh, biểu thị ý chí và quyết tâm đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thắng
lợi hoàn toàn vào 19-8-1945 và 2-9-1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập khai
sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
- Qua những dẫn chứng trên đây, rõ ràng là Pác Bó - Cao Bằng, trong đó Cốc Bó,
Khuổi Nậm là điểm khởi nguồn sự chuẩn bị công phu, chu đáo của Đảng, của Bác
Hồ, đảm bảo chắc chắn cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tới thành công.
- Rõ ràng những sự kiện lịch sử, những sự chuẩn bị trên đây là cơ sở chắc chắn cho
sự thắng lợi tất yếu của cuộc Cách mạng Tháng 8 năm 1945, là cả “một kho lịch
sử bằng vàng”
về ngày độc lập dân tộc mà Bác Hồ đã viết nên từ 73 năm trước. CHƯƠNG 2
Câu 9. Những nét chính về tình hình nước ta ngay sau khi CM Tháng Tám thành công.

- Thuận lợi cơ bản:
● Nhân dân đã giành quyền làm chủ, được hưởng quyền lợi do chính
quyền cách mạng mang lại nên phấn khởi và gắn bó với chế độ.
● Cách mạng nước ta có Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt lãnh đạo.
● Hệ thống Xã hội chủ nghĩa đang hình thành với sự chống lưng của
Liên Xô và các nước đông âu, phong trào cách mạng thế giới phát triển.
● Phong trào đấu tranh vì hòa bình, dân chủ phát triển ở nhiều nước tư bản. - Khó khăn:
Trên chiến trường quốc tế: Cách mạng 3 nước Đông Dương đương
đầu với nhiều bất lợi, khó khăn, thử thách to lớn, nghiêm trọng.
● Phe ĐQCN âm mưu mới: “Chia lại hệ thống thuộc địa thế
giới”, đàn áp CM thế giới, CM VN
● Không có nước nào ủng hộ lập trường độc lập và công nhận
địa vị pháp lý của NN VNDCCH
● QTCS tuyên bố tự giải tán
● Cách mạng VN nằm trong vòng vây của CNĐQ, cách biệt với TG
■ Khó khăn trong nước: ● Chính trị:
○ Chính quyền non trẻ, thiếu thốn, còn nhiều yếu kém.
Lực lượng vũ trang còn sơ khai, trang bị thiếu
○ Khối đại đoàn kết còn phân tán ● Kinh tế:
○ Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề;
○ Lũ lụt, hạn hán, thiên tai, mất mùa diễn ra liên miên gây nhiều thiệt hại.
○ Ruộng đất bị bỏ hoang, hoang hóa trên 50%
○ Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp. Các
cơ sở công nghiệp của ta chưa kịp phục hồi sản xuất.
Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. ● Tài chính:
○ Ngân sách Nhà nước trống rỗng.
○ Chính quyền cách mạng chưa quản lý được Ngân hàng Đông Dương.
○ Quân Trung Hoa Dân quốc tung ra thị trường các loại
tiền đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối loạn.
Văn hóa: Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong
kiến để lại hết sức nặng nề, hơn 90% dân số không biết chữ. ● Kẻ thù: ○ Thù trong
■ Nhiều tổ chức thành lập tranh giành ảnh hưởng
với Đảng, chính quyền: Việt Quốc, Việt Cách,
Đại Việt theo chân quân TGT với âm mưu
Diệt cộng, cầm Hồ”
, phá Việt Minh. ○ Giặc ngoài
■ 6 vạn quân nhật hoàng chưa giải giáp
■ 20 vạn quân Tưởng giới thạch dưới sự bảo trợ
của Mỹ với danh nghĩa quân Đồng Minh vào
giải giáp quân đội Nhật, theo chân là lực lượng tay sai, Việt gian
■ 2/9/1945, Pháp gây hấn tại SG – Chợ lớn. 2
vạn quân Anh – Ấn vào SG giải giáp quân
Nhật, tạo điều kiện cho Pháp đánh chiếm SG, lần thứ 2 xâm lược VN
=> Tình trạng “NGÀN CÂN TREO SỢI TÓC” ● Tổ quốc lâm nguy
● Nền độc lập của dân tộc có thể bị thủ tiêu
Nhân dân ta có nguy cơ trở lại cuộc sống nô lệ
Câu 10. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta giải quyết những
khó khăn để bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Trước tình hình đất nước bị bao vây bốn phía, rơi vào tình trạng “ngàn cân treo
sợi tóc” Đảng và CP đã xác định nhiệm vụ lớn trước mắt là: diệt giặc đói, diệt giặc dốt và
diệt giặc ngoại xâm thông qua các chỉ thị: Kháng chiến kiến quốc (25/11/1945), chỉ thị
tình hình và chủ trương (3/3/1946), chỉ thị Hòa để tiến (9/3/1946)
(*) Nội dung đường lối:
Chỉ đạo chiến lược: dân tộc giải phóng với khẩu hiệu “Dân tộc trên hết. Tổ Quốc trên hết”
Kẻ thù chính: thực dân Pháp
● Phương hướng, nhiệm vụ, chủ trương:
○ Xd củng cố chính quyền CM, bài trừ nội phản:
■ Cử tri cả nước đi bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa I (1/6/1946)
■ Mở phiên họp đầu tiên của Quốc hội khóa I (2/3/1946)
■ CP do Bác Hồ làm chủ tịch ■ Tại kỳ họp thứ
2, QH đã thông qua bản Hiế n pháp đầu tiên (9/11/1946)
○ Cải thiện đời sống nhân dân:
■ Chống giặc đói, tăng gia sản xuất
■ Chống giặc dốt, phát triển giáo dục
Chống giặc ngoại xâm: Xây dựng lực lượng vũ trang kháng chiến ở Nam Bộ ○ Thêm bạn bớt thù.
(*) Đối sách của Đảng và CP:
Chủ trương: *Khi nào hòa với tưởng; Khi nào hòa với Pháp; Hòa với Tưởng để
đánh Pháp; Hòa với Pháp để đuổi Tưởng; Bác đi Pháp trở về ký tạm ước 1949 như thế
nào. Đảng và Chủ tịch HCM đã thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân
nhượng với kẻ thù để bảo vệ thành quả CMT8:
- Hòa hoãn, nhân nhượng có nguyên tắc với quân Tưởng (9/1945-3/1946)
+ bổ sung thêm 70 ghế QH không qua bầu cử cho Việt Cách, Việt Quốc
+ cung cấp lương thực, thực phẩm, sử dụng tiền Quan Kim của Tưởng
+ mở rộng thành quần Chính Phủ liên hiệp
+ ngày 11/11/1945, Đảng rút vào hoạt động bí mật, ra thông báo ĐCS ĐD tự giải tán