Câu 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Thống nhất giữa luận thực tiễn
một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. luận không liên hvới
thực tiễn luận suông". (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995, tập 8, tr. 496); Từ lý luận của triết học Mác Lênin, Hãy:
a.
Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thc.
b.
Vận dụng để giải quyết vấn đề của bản than sinh viên
Bài m:
a.
Định nghĩa:(0,25 điểm) Thực tiễn toàn bộ hoạt động vật
chất tính mục đích, tính lịch sử hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên
hội theo yêu cầu của đời sống con người.
Thực tiễn 3 hình thức bản:(0,25 điểm)
-Hoạt động sản xuất vật chất
-Hoạt động chính trị - hội
-Hoạt động thực nghiệm khoa học
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức là:(1,5 điểm)
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò sở, động lực, mục đích của nhận
thức và tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận
thức chân lý:
Thực tiễn nguồn gốc, siểm xuất phát) của nhận thức:
Thông qua hoạt động giải trí thực tiễn, con người nhận ra được cấu trúc ; đặc
thù những mối quan hệ giữa những đối tượng người tiêu dùng để hình thành
tri thức về đối tượng người tiêu dùng. Hoạt động thực tiễn bổ tr kiểm soát
điều chỉnh những tri thức đã được khái quát. Thực tiễn đề ra nhu yếu, trách
nhiệm, phương pháp khuynh hướng hoạt động tăng trưởng của nhận thức.
Chính nhu yếu giải, nhận thức và tái tạo quốc tế buộc con người tác động
ảnh hưởng trực tiếp vào đối tượng người dùng bằng hoạt động giải trí thực tiễn
của mình. Chính sự ảnh hưởng tác động đó đã làm cho những đối tượng người
tiêu dùng thể hiện những thuộc tính, những mối liên hệ và những quan hệ khác
nhau giữa chúng đem lại cho con người những tri thức, giúp cho con người
nhận thức được những quy luật hoạt động và tăng trưởng của quốc tế. Trên
sở đó hình thành những triết lý khoa học .
Thực tiễn động lực của nhận thức: Hoạt động thực tiễn góp
thêm phần triển khai xong những giác quan, tạo ra năng lực phản ánh nhạy bén,
đúng chuẩn, nhanh hơn ; tạo ra những công cụ, phương tiện đi lại để tăng năng
lượng phản ánh của con người so với tự nhiên. Những tri thức được vận dụng
vào thực tiễn đem lại động lực kích thích quy trình nhận thức tiếp theo .+ Thực
tiễn sản xuất vật chất cải biến quốc tế đặt ra nhu yếu buộc con người phải
nhận thức vquốc tế .+ Thực tiễn m cho những giác quan, duy của con
người tang trưởng triển khai xong, từ đó giúp con người nhận thức ngày càng
thâm thúy hơn về quốc tế .
Thực tiễn mục đích của nhận thức: Mục đích sau cuối của
nhận thức giúp con người hoạt động giải trí thực tiễn nhằm mục đích cải
biến quốc tế. Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho rằng : Quan
điểm vđời sống, về thực tiễn, phải quan điểm thứ nhất bản của
luận vnhận thức .Nhận thức không riêng tho mãn nhu yếu hiểu biết
còn phân phối nhu yếu nâng cao năng lượng hoạt động giải trí để đưa lại hiệu
suất cao cao hơn, phân phối nhu yếu ngày càng tăng của con người. Thực tiễn
luôn hoạt động, tăng trưởng nhờ đó, thực tiễn thôi thúc nhận thức hoạt động,
tăng trưởng theo. Thực tiễn đặt ra những yếu tố luận cần xử .Chỉ
trải qua hoạt động giải trí thực tiễn, thì tri thức con người mới bộc lộ được sức
mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới ý nghĩa. Bằng thực tiễn
kiểm chứng nhận thức đúng hay sai, khi nhận thức đúng thì ship hàng thực
tiễn tăng trưởng và ngược lại
Thực tiễn tiêu chuẩn tiêu chuẩn của chân : Bằng thực tiễn
kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì nó sẽ giúp thực
tiễn tăng trưởng và ngược lại. Nvậy, thực tiễn thước đo đúng chuẩn nhất
để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, xác nhận tri thức đó phải chân
hay không. Mác đã từng khẳng định chắc chắn : Vấn đề tìm hiểu khám
phá xem tư duy của con người hoàn toàn có thđạt tới chân khách quan hay
không, trọn vẹn không phải yếu tố luận một yếu tthực tiễn. Chính
trong thực tiễn mà con người phải chứng tỏ chân lý ” .
Ý nghĩa:(1 điểm)
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt
quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu:
Phải không cho quan điểm thực tiễn : việc nhận thức phải xuất
phát từ thực tiễn .
Nghiên cứu luận phải song song với thực tiễn ; học phải
song song với hành. Xa rời thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy
móc, quan liêu .
Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt
đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng .
b.
Vận dụng:( 2 điểm)
Để nâng cao n nữa hiệu qu vận dụng quan điểm “Học đi đôi với hành
của HChí Minh trong dạy học các nhà trường Quân đội hiện nay cần
thực hiện tốt những giải pháp sau:
Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học. Thực tiễn cho thấy,
việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện năng, hình thành thái độ của người học chỉ
ý nghĩa khi được phối hợp, kết nối và trthành năng lực giải quyết một
cách hiệu quả các tình huống đặt ra trong nhiệm vhọc tập, lao động, làm
việc cuộc sống. Theo đó, đổi mới phương pháp dạy phải hướng đến tăng
cường các phương pháp sáng tạo, thông qua tổ chức các hoạt động học tập độc
lập của học viên trong quá trình dạy học. Người dạy cần chuyển từ vai trò
người “truyền thụ kiến thức” sang vai trò người “dạy cách học”, người trực tiếp
tổ chức hoạt động giáo dục đào tạo; chuyển từ phương pháp giảng giải, “độc
thoại” chủ yếu sang sử dụng chủ yếu phương pháp tổ chức, dẫn dắt, định
hướng quá trình học tập của người học thúc đẩy động cơ, truyền cảm hứng
cho người học, làm cho người học tự giác cao độ vviệc học tập, tự tìm kiếm
kiến thức bằng suy nghĩ, hành động của bản thân. Người dạy trở thành người
“đạo diễn”, “bạn đồng hành” “bình đẳng” cùng người học trong quá trình đi tìm
chân lí. Việc đổi mới cách thức giảng dạy của giảng viên sẽ buộc học viên phải
thay đổi cách thức học tập, tăng cường hoạt động tự học, chuyển từ học th
động sang tự học chủ động, phát triển năng lực của mình; biến quá trình dạy
học thành tự học, quá trình đào tạo thành tự đào tạo để phát triển năng lực của
học viên, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn nghề nghiệp quân sự.
Hai là, tăng cường dạy học thực hành tập luyện năng vận dụng kiến thức
vào giải quyết những vấn đề thực tiễn theo hình, mục tiêu đào tạo. Theo đó,
các nhà trường Quân đội cần tăng tỉ trọng thực hành trong chương trình đào tạo
từng môn học; tăng cường các hình thức phương pháp dạy học thực hành,
nhất đưa học viên vào thực hành xử các tình huống thực tiễn thông qua bài
tập tình huống. Cả người dạy người học cần chuyển mạnh từ duy học để
biết, để hiểu sang học đ làm; tcách học thụ động “thầy nói sao trò biết vậy”
sang cách học chủ động, tích cực, sáng tạo, tự học viên phải tìm ra tri thức, tìm
ra chân dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giảng viên. Đthực hiện được điều
đó, cần rèn luyện cho học viên các năng phương pháp học tập từ nghe
giảng, ghi chép tự học. Học viên cần học cách học, cách phát hiện, cách giải
quyết vấn đề, từ đó hình thành năng lực thực hành năng lực tự học, từng
bước hình thành phát triển năng lực của bản thân. Mỗi học viên trong quá
trình học tập phải biết vận dụng ngay những kiến thức đã lĩnh hội được vào để
giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra theo yêu cầu nghề nghiệp.
Ba là, tăng cường sử dụng các phương tiện thuật, thiết bị dạy học hiện đại
trong quá trình dạy học. Phương tiện kĩ thuật, thiết bị dạy học hiện đại
vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học; đặc biệt các phần mềm dạy học, thiết b
phỏng,... giúp học viên hình dung các công việc sẽ phải thực hiện theo chức
trách, nhiệm vụ sau khi ra trường. Vì vậy, từng giảng viên cần đặc biệt coi
trọng sử dụng, ứng dụng các phương tiện thuật, thiết bị dạy học hiện đại, góp
phần phát triển năng lực thực hành cho người học.
Bốn là, tiếp tục đổi mới công c kiểm tra, đánh gkết quả học tập của học
viên. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập vai trò quan trọng, chi phối các
khâu khác của quá trình dạy học, nhất phương pháp dạy học. Theo đó, các
trường nhà trường Quân đội cần tăng cường đổi mới ng tác kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của học viên, nhằm đánh giá khách quan, chính xác kết quả
học tập trong từng môn học trong toàn khoá học. quan khảo thí, bảo đảm
chất lượng giáo dục đào tạo từng nhà trường cần thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ, các khâu, các bước trong quá trình giáo dục đào tạo, góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
trong thời gian tới để nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác
đào đạo, bồi dưỡng tại nhà trường nói chung cũng như nâng cao chất
lượng, hiệu quả của việc giảng dạy luận chính trị nói chung theo hướng
lý luận gắn với thực tiễn cần tập trung vào một vấn đề như sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể giảng viên về sự cần thiết của
việc nghiên cứu, vận dụng nguyên tắc “lý luận gắn với thực tiễn" của HChí
Minh trong hoạt động giảng dạy tại nhà trưởng.
Đối với những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy luận nói chung,
nghiên cứu, giảng dạy luận chính trị tại trường chính trị nói riêng việc học
tập duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, luận gắn với
thực tiễn một vấn đ ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi thông qua việc
nghiên cứu, học tập quan điểm trên của Hồ Chí Minh sẽ không những giúp cho
người giảng viên xây dựng được cho mình một phương pháp làm việc khoa
học, hiệu quả trong công tác nghiên cứu, giảng dạy còn giúp cho giảng viên
tích cực trong việc học tập, nâng cao trình độ luận, thu thập, tích luỹ kiến
thức thực tế, từ đó làm cho kiến thức của mình ngày càng thêm phong phú từ
phương diện luận lẫn cả thực tiễn, đảm bảo quá trình giảng dạy ngày càng có
hiệu quả, chất lượng.
Hai là, đội ngũ giảng viên cần phải thường xuyên thực hiện công tác nghiên
cứu luận thông qua việc tích cực tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về
trình độ chuyên môn; thông qua việc nghiên cứu tài liệu, sách, báo... nhằm nắm
vững kiến thức về lý luận.
Để thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình đó giảng dạy luận
chính trị, đòi hỏi bản thân người giảng viên cần phải vốn kiến thức về
luận chính trị. Song, ngoài việc nắm vững kiến thức về mặt chuyên môn, giảng
viên cũng cần nghiên cứu, trang bị thêm cho mình kiến thức một số lĩnh vực
khác để nhắm mở rộng sự hiểu biết làm cho kiến thức của mình ngày càng
thêm phong phú. Trên thực tế, khi vốn kiến thức luận sâu rộng người
giảng viên sẽ chủ động, tự tin trong quá trình truyền đạt, chia stri thức cũng
như bảm bảo việc truyền đạt tri thức đến người học một cách hiệu quả, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên,
để từng bước nâng cao trình đ luận chính trị của bản thân đòi hỏi người
giảng viên cần sự chủ động trong công tác nghiên cứu luận thông qua việc
tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng từ đào tạo về trình độ chuyên môn, tập
huấn chuyên môn; thường xuyên nghiên cứu tài liệu từ ch, báo, tạp chi...
cũng như tham gia viết các bài báo khoa học. Thực hiện thường xuyên những
công việc như trên sẽ không những giúp cho giảng viên tăng cường, trau dồi
khả năng nghiên cứu luận, nghiên cứu khoa học n tạo điều kiện cho
giảng viên vừa nắm vững kiến thức luận, vừa nâng cao trình độ luận của
mình.
Ba là, tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu thực tế tại các địa phương nhằm
tích luỹ kinh nghiệm thực tế, kiến thức thực tiễn để thể vận dụng vào trong
hoạt động giảng dạy.
Hầu hết đối tượng học viên tham gia các lớp đào tạo trung cấp luận chính trị
tại Trường đều những cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong hệ
thống chính tr trên địa bàn tỉnh. Họ không những người trình độ chuyên
môn còn kiến thức thực tế về ngành, lĩnh vực nhất định; đặc biệt kinh
nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác. Do vậy, để th làm cho bài giảng,
tiết giảng thực sự thu hút người học cũng như làm cho quá trình giảng dạy thật
sự hiệu quả, đòi hỏi người giảng viên bên cạnh việc nắm vững kiến thức v
luận còn phải kiến thức về thực tiễn. kiến thức về thực tiễn sẽ giúp cho
người giảng viên khi giảng dạy thể liên hệ, đối chiếu, so nh giữa luận
thực tiễn; liên hệ, minh họa kiến thức từ thực tiễn nhằm làm hơn những vấn
đề luận, từ đó không chỉ giúp cho người học khắc sâu nội dung bài học
còn làm cho quá trình giảng dạy được sinh động, thu t sự chú ý, tham gia
chia sẻ của học viên nhất về những vấn đề đã và đang đặt ra trong thực tiễn.
Để được vốn kiến thực thực tiễn, đòi hỏi người giảng viên cần tích cực,
mạnh dạn, chủ động thâm nhập thực tế thông qua hoạt động nghiên cứu thực tế
sở, các ban ngành... Bởi các vấn đnảy sinh từ thực tế sở hàng ngày
qua những câu chuyện, những svụ, sự việc, tình huống đất đa dạng, phong
phú, người giảng viên chỉ qua hoạt động nghiên cứu, thâm nhập thực tế mới
thể nắm bắt được.
Bốn là, tích cực, chủ động trong nghiên cửu đổi mới phương pháp giảng dạy
theo hướng lý luận gắn với thực tiễn.
Đổi mới phương pháp giảng dạy một yêu cầu rất cần thiết đối với hoạt động
dạy học i chung giảng dạy luận chính trị nói riêng. Song, xuất phát từ
thực tế, đối tượng học viên của ntrường những người vừa trình độ
chuyên môn vừa kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn; do vậy, trong giảng dạy
người giảng viên cần phải quan tâm chú trọng đến việc đổi mới phương
pháp sao cho phù hợp với đối tượng theo hướng luận gắn với thực tiễn. Hiện
nay, nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại đã đang được thực hiện theo
phương châm luận gắn với thực tiễn: phương pháp đặt giải quyết vấn đề,
phương pháp tình huống. Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại,
giảng viên đóng vai trò người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập của học
viên nên rút ngắn được thời gian giảng bài, giúp giảng viên điều kiện chia
sẻ, trao đổi, thảo luận với học viên nhiều hơn vnhững vấn đề thực tiễn đặt
ra xuất phát từ luận. Đối với học viên, khi áp dụng phương pháp dạy hiện đại
theo hướng luận gắn với thực tiễn sẽ giúp học viên chủ động, sáng tạo hơn
trong việc tiếp thu xử các tri thức từ tri thức luận đến kiến thức thực
tiễn. Qua đó học viên thể đối chiếu, vận dụng những kiến thức luận vào
trong thực tiễn mà mình đang công tác.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về luận gắn với thực tiễn" trong giai
đoạn hiện nay vẫn còn mang giá trị, ý nghĩa hết sức to lớn cả về phương diện
luận thực tiễn nhất trong hoạt động giảng dạy, trong đó phải kể đến giảng
dạy luận chính trị. Việc gắn luận với thực tiễn trong quá trình giảng dạy
không những giúp cho người giảng viên xây dựng được ý thức tự giác trong
học tập, nâng cao trình đluận; thu thập, tích lukiến thức thực tế mà còn
giúp cho học viên cái nhìn khách quan vào thực tiễn đqua đó giúp cho họ
thấy rằng việc học luận thiết thực, mối quan hệ giữa luận với thực tiễn
mối quan hệ biện chứng việc thống nhất giữa luận thực tiễn
nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Câu 2: “Trong mọi thời đại, những tưởng của giai cấp thống trị những
tưởng thống trị. Điều đó nghĩa giai cấp nào lực lượng vật chất thống
trị trong hội thì cũng lực ợng tinh thần thống tr hội" (C.Mác Ph.
Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.66); Từ luận
của triết học Mác – Lênin, Hãy:
a.
Phân tích quy luật quan hệ biện chứng giữa sở hạ tầng
kiến trúc thượng tầng.
b.
Liên hệ với sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng Việt Nam
hiện nay.
Bài làm
Mỗi một hội đều sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng của nó, đây hai
mặt của đời sống hội được hình thành một cách khách quan, gắn liền với
những điều kiện lịch sử hội cụ thể. Không ncác quan niệm duy tâm giải
thích sự vận động của các quan hệ kinh tế bằng những nguyên nhân thuộc về ý
thức, tưởng hay thuộc vvai trò của nhà nước pháp quyền, trong Lời tựa
tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã khẳng định:
“không thể lấy bản thân những quan h pháp quyền cũng như những hình thái
nhà nước, hay lấyi gọi sự phát triển chung của tinh thần của con người, để
giải thích những quan hệvà hình thái đó, trái lại, phải thấy rằng những quan
hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”
Thứ nhất vai trò quyết định của sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng
tầng thể hiện qua:
Mỗi sở htầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với
nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng do tính chất của sở h tầng quyết
định. Trong hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm
địa vthống trị về mặt chính trị đời sống tinh thần của xã hội. c mâu
thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực
chính trị tưởng; cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tưởng biểu hiện
những đối kháng trong đời sống kinh tế. Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng
tầng nnhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo,… đều trực tiếp hay gián
tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định.
Khi shạ tầng thay đổi kéo theo kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
Quá trình thay đổi diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh
tế hội này sang hình thái kinh tế xã hội khác, còn diễn ra ngay trong
bản thân mỗi hình thái kinh tế hội. Sự thay đổi sở hạ tầng dẫn đến làm
thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp. Trong đó, những yếu tố
của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sthay đổi sở h
tầng như chính trị, pháp luật
Thứ hai tác động tr lại của kiến trúc thượng tầng đối với sở hạ tầng:
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều tác động đến sở hạ
tầng. Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau vai trò khác nhau, cách thức tác
động khác nhau.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với shạ tầng diễn ra theo hai
chiều. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế
khách quan thì động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác
động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội.
Tuy kiến trúc thượng tầng tác động mạnh mẽ đối với sphát triển kinh tế,
nhưng không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội.
khác:
Vai trò quyết định của sở hạ tầng ( CSHT) đối với kiền trúc thượng
tầng ( KTTT).
CSHT nào sinh ra KTTT ấy
KTTT sự phản ánh CSHT, CSHT nào cũng sự phát triển KTTT tương ứng
tính chất của KTTT do tính chất của CSHT quy định.
Khi CSHT mất đi, CSHT mới ra đời thì sớm hay muộn KTTT mất đi,
KTTT mới ra đời đảm bảo sự tương ứng của nó.
Trong hội giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì chiếm địa vị thống
trị tinh thần mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất, mâu thuẫn
trong lĩnh vực chính trị tưởng biểu hiện của những đối kháng trong đời
sống kinh tế.
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT.
Trong bất kỳ tình huống nào KTTT cũng ra sức bảo vvà phát triển CSHT đã
sinh ra trong đó nhà nước mạnh nhất gần CSHT nhất và bảo vệ CSHT
trực tiếp nhất.
Trong XH giai cấp, KTTT vai trò định hướng cho CSHT hoạt động theo
nhu cầu, mục đích của GC thống trị trong đó KTTT chính trị giữ vai trò định
hướng cho sự phát triển kinh tế.
Các bộ phận của KTTT cũng tác động trở qua lại lẫn nhau đều tác động qua
lại đối với CSHT nhưng các bộ phận đó ch thực sự phát huy tác dụng hiệu lực
thông qua nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng.
Sự tác động trở lại của KTTT với CSHT theo 2 hướng đó sự tác động p
hợp với quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, CSHT phát
triển. Nếu không phù hợp thì sẽ cản trở kìm hãm sự phát triển của kinh tế thạm
chí đẩy nền kinh tế rơi vào trạng thái cải tạo khủng hoảng trầm trọng.
Ý nghĩa phương pháp luận:
(1,5 điểm)
Khi vận dụng mối quan hệ giữa KTTT tức là quan hệ chính trị
với kinh tế chúng ta phải xuất phát từ kinh tế coi trọng chính trị nhưng không
tuyệt đối hóa mặt kinh tế co nhẹ yếu tố chính trị sẽ dẫn đến sai lầm của chủ
nghĩa duy vật tầm thường.
Không tuyệt đối hóa yếu tố chính trị coi nhẹ hoặc hạ thấp yếu tố
kinh tế sẽ dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
b. Liên hệ:(2 điểm)
sở hạ tầng
sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ Việt Nam hiện nay bao gồm các kiểu
quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau.
Các hình thức sở hữu đó tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm
chí đối lập nhau, nhưng cùng tồn tại trong một cấu kinh tế thống nhất theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam hiện nay, các hình thức shữu bản gồm shữu nhà nước (hay
sở hữu toàn dân, trong đó nhà nước đại diện của nhân dân), sở hữu tập thể,
sở hữu nhân. Các thành phần kinh gồm kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, hợp
tác xã; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài.
dụ:
Kinh tế nhà nước: Tiêu biểu các tập đoàn Viettel, PVN,
EVN, Vietnam Airline, Vinamilk…
Kinh tế tập thể, hợp tác xã: Tiêu biểu các hợp tác nội
nghiệp, công nghiệp ở các địa phương.
Kinh tế nhân: Tiêu biểu các tập đoàn Vingroup, FLC,
Massan, Vietjet…
Kinh tế vốn đầu nước ngoài: Tiêu biểu Toyota
Vietnam, Huyndai Vietnam…
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đó nền kinh tế hiện đại hội nhập quốc tế, sự quản của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế
nhân động lực quan trọng của nền kinh tế, các thành phần kinh tế khác được
khuyến khích phát triển hết mọi tiềm năng.
Kiến trúc thượng tầng
Trong xây dựng kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt
Nam khẳng định:
Lấy chủ nghĩa Mác Lênin tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tưởng.
Xây dựng hệ thống chính trị hội chủ nghĩa mang tính chất giai cấp ng
nhân, do đội tiên phong của giai cấp công nhân Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo, bảo đảm để nhân dân là người làm chủ xã hội.
Các tổ chức, bộ máy thuộc hệ thống chính trị như Đảng Cộng sản, Quốc hội,
Chính phủ, quân đội, công an, a án, ngân hàng không tồn tại lợi ích của
riêng để phục vụ nhân dân, thực hiện cho được phương châm mọi lợi
ích, quyền lực đều thuộc về nhân dân.
Mỗi bước phát triển của sở hạ tầng hoặc kiến trúc thượng tầng một bước
giải quyết mâu thuẫn giữa chúng.
Câu 3:
V.I.Lênin cho rằng:“Cuộc sống sự phát triển trong giới tự nhiên bao gRm
cả sự tiến hóa chậm rãi cả những bước nhảy vọt nhanh chóng, những sự đứt
đoạn trong liên tục”. (V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mat cơva, 1978, tập
16, tr.319). Từ lý luận của triết học Mác - Lênin, Hãy:
a.
Phân tích quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng
dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại để làm rõ luận điểm trên.
b.
Vận dụng vào trong quá trình học tập hoạt động thực
tiễn của bản thân.
Bài làm :
a.
Khái niệm:
Chất một phạm trù triết học dùng để ch tính quy định khách quan vốn của
sự vật, hiện tượng; sự thống nhất hữu của các thuộc tính làm cho sự vật
chính nó chứ không phải là cái khác.
Lượng một phạm trù triết học dùng đchỉ tính quy định khách quan vốn
của svật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy của sự
tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật
Nội dung quy luật:
Mọi sự vật đều sự thống nhất giữa lượng chất.
Sự vật thay đổi bắt đầu từ lượng. Sự thay đổi dần dần (tiệm
tiến) về lượng tới điểm nút, thông qua bước nhảy, sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất
của sự vật.
Chất mới ra đời c động trở lại sự thay đổi của lượng mới.
*Lượng mới thay đổi lại tạo ra chất mới cao hơn...
Quá trình đó diễn ra liên tục, làm sự vật không ngừng biến đổi.
Ý nghĩa:
Bất sự vật, hiện tượng nào cũng phương diện chất và lượng tồn tại trong
tính quy định, tác động làm chuyển hoá lẫn nhau do đó trong thực tiễn và
nhận phải coi trọng cả hai phương diện chất và lượng.
Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến những sự thay đổi về chất trong điều
kiện nhất định và ngược lại do đó cần coi trọng quá trình tích luỹ về lượng để
làm thay đổi chất của sự vật đồng thời phát huy tác động của chất mới để thúc
đẩy sự thay đổi về lượng của sự vật. Sự thay đổi về lượng chỉ làm thay đổi chất
khi lượng được tích luỹ đến giới hạn điểm nút do đó trong thực tiễn cần khắc
phục bệnh nôn nóng tả khuynh, bảo thủ trì trệ. Bước nhảy của s vật, hiện
tượng hết sức đa dạng, phong phú, do vậy cần vận dụng linh hoạt các hình
thức của bước nhảy cho phù hợp với điều kiện cụ thể. Đặc biệt trong đời sống
hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan,
còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người.
Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực chủ động của các chủ thđể thúc đẩy
quá trình chuyển hoá từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất.
b.
Vận dụng: ( tự m ) (2 điểm )
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển a từ những sự thay đổi vlượng thành
những sự thay đổi về chất ngược lại, thể rút ra một vài kết luận ý nghĩa
phương pháp luận với việc học tập n luyện của sinh viên trong môi trường
Đại học Tôn Đức Thắng như sau:
-
Sự khác nhau bản giữa việc học Trung học Phổ Thông
(THPT) và Đại học:
Kiến thức ngàn tận và việc bước qua một quá trình học tập mới cũng
đồng nghĩa với việc tiếp thu kiến thức nhiều hơn khó khăn hơn. Để lên được
bậc Đại học đồng nghĩa với việc thu nạp đủ kiến thức của 12 năm học. nếu
như bậc THPT, việc học được kéo dài xuyên suốt 1 năm với tất cả các n
kiến thức sẽ được xoay quanh liên tục thì lên Đại học mỗi môn học hệ
thống kiến thức kéo dài trong khoảng 1-2 tháng. Khác với phương pháp học thụ
động như THPT, sinh viên Đại học sẽ phải tham gia rất nhiều hoạt động nhóm,
thuyết trình, ngoại khoá,.. Không chỉ vậy, các môn học tại bậc Đại học rất đa
dạng mới mẻ, ngoài việc đọc sách giáo trình, sinh viên còn phải tìm thêm
nhiều nguồn thông tin từ trong sách báo, tài liệu liên quan. Chính sự thay đổi về
khối lượng kiến thức, thời gian phương pháp học sẽ khiến nhiều tân sinh
viên gặp khó khăn trong qtrình thích nghi với i trường học tập, giáo dục
mới. Đây chính sthay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi vchất. Sự khác
nhau lớn nhất giữa bậc THPT và Đại học lẽ nhiệm vụ trong học tập, đối
với bậc THPT thì việc lên lớp hoàn thành các mục tiêu giáo viên đra
chính nhiệm vụ lớn nhất nhưng đối với sinh viên Đại học, điều hđang đối
mặt không ch những nhiệm vđơn thuần trên lớp họ còn phải thực hiện
các kì thực tập, phải bắt đầu đặt ra mục tiêu cho tương lai của chính bản thân
họ. Ngoài ra, khi lên Đại học, ý thức của bản thân yếu tố quan trọng nhất,
không còn sổ liên lạc hay họp phụ huynh, tinh thần tự học sẽ được phát huy
rệt. Do đó, nếu muốn thành công thì ngay khi bước chân vào giảng đường họ
phải luôn nhắc nhở mình phải chuẩn bị kế hoạch thực hiện chúng thật
nghiêm túc để mang lại những kết quả to lớn
-
Từng bước tích luỹ kiến thức một ch chính xác, đầy đủ:
Quy luật mối quan hgiữa chất và lượng chỉ ra cách thức chung nhất của sự
vận động phát triển, một sự thay đổi vchất của svật, hiện tượng kết
quả của việc tích luỹ những thay đổi về lượng đến một mức độ nhất định. sự
vận động phát triển vừa diễn ra một cách tuần tự theo sự thay đổi của
lượng, vừa có bước nhảy đột phá từ sự biến đổi của chất.
Để học tại trường Đại học Tôn Đức Thắng, bạn phải đáp ứng được các chỉ tiêu
tuyển sinh của trường sau thi THPT Quốc Gia hằng năm. Để đạt được điểm
số phù hợp, bạn phải kiến thức để hoàn thành xuất sắc bài thi THPTQG hay
bài thi Đánh gnăng lực; hoặc đạt được sđiểm học btrong 12 năm học so
với mức điểm xét tuyển của trường Đại học Tôn Đức Thắng. thxem học
tập quá trình tích luỹ về lượng thi điểm nút, hoàn thành bài thi
bước nhảy thđạt được mức điểm đdẫn đến sự biến đổi vchất hay
chưa.
Trong quá trình rèn luyện trường học, tích luỹ kiến thức là dạng tích luỹ v
lượng, sự tích luỹ phát triển dần qua từng năm học, từng học kì, từng bài giảng.
Theo từng ngày, kiến thức sẽ được bổ sung vào “bộ nhớ” của bạn, giúp bạn
một lượng thông tin nhất định để dẫn đến sự thay đổi về chất (đậu trở thành
sinh viên trường Đại học Tôn Đức Thắng). Trong lượng được nêu trên (quá
trình tích luỹ kiến thức trong 12 năm học) tồn tại nhiều lượng, chất, điểm t,
bước nhảy nhỏ n. Việc tích lukiến thức qua từng bài học, khi đạt đến một
lượng kiến thức nhất định, bạn sẽ chuyển sang mức đmới cao hơn. Như vậy,
thời gian giữa các mức độ học tập gọi độ; bài kiểm tra, bài thi điểm nút; và
sự chuyển từ cấp độ sang cấp độ mới bước nhảy. Trong 12 năm học, bạn
phải thực hiện lượng lớn bước nhảy, ợt qua số lượng điểm nút nhất định,
nhiều sự thay đổi về chất tương ứng với mức tích luvề ợng. Khi vượt qua
được thi đại học trở thành sinh viên của Đại học Tôn Đức Thắng,
nhiều bước nhảy được thực hiện dẫn đến sự hình thành chất mới. Đầu tiên sự
thay đổi từ học sinh (chất cũ) thành sinh viên (chất mới), chất mới tác động trở
lại lượng. Giờ đây, lượng sự tích luỹ kiến thức mới lẫn kỹ năng mềm, bên
cạnh đó cũng sphát triển về suy nghĩ, nhận thức, hành động, cách duy.
Chất mới sự khác nhau với chất chỗ quá trình tích luỹ kiến thức thông
qua quá trình tự học, tìm tòi nghiên cứu, tự định hướng bậc Đại học thay
được thầy cung cấp như bậc Trung học. Từ đấy, khi tích luỹ đủ về lượng đạt
mức đầy đủ tín ch và hoàn thành việc thực hiện kỹ năng mềm, sinh viên sẽ
được cấp bằng Đại học. giai đoạn này, điểm t lượng tín chỉ kỹ năng
cần đạt, bước nhảy việc chuyển đổi từ sinh viên sang người không còn thuộc
quyền quản của trường học. Cứ như vậy, quy luật lượng- chất phát triển ln
tục, tạo nên sự vận động không ngừng, chất mới liên tục được tạo ra, con người
dần tích luỹ thêm về lượng trong chất mới, tạo tiền đề cho sự phát triển đời
sống xã hội.
-
Sinh viên phải tự học tập rèn luyện tính tích cực, tự chủ,
nghiêm túc, trung thực:
Cuộc sống luôn vận động phát triển không ngừng theo thời gian, cùng với
đó, con người cũng phải vận động chạy theo để không bị bỏ lại phía sau. Là
một sinh viên thời đại mới phát triển tiên tiến hơn rất nhiều, chúng ta không
thể không ngừng phấn đấu trau dồi bản thân mình. Chúng ta sinh ra ai ng
điểm chung phải sống và làm việc, còn thành ng đến như nào do sự nỗ
lực, cố gắng, do srèn luyện nên. Bởi thế, việc phải tự học tập, tìm kiếm,
rèn luyện tích cực, trau dồi bản thân khi n 1 sinh viên trên giảng đường
Đại học điều quan trọng cần thiết. Khi sinh viên biết tự giác học tập, tìm
hiểu, nghiên cứu họ trnên tích cực, chủ động hơn trong công việc của
mình. Cùng một công việc học tập, một người học với thái độ hời hợt, bị ép
buộc một người học với thái độ hăng say, tự học thì cũng sẽ cho ra 2 kết quả
khác nhau. Việc tự học, tự thân vận động sẽ giúp chúng ta nắm tình hình của
bản thân, biết mình phải làm để củng cố cho việc học của mình trở nên tốt
hơn. Đó cũng một kim ch nam giúp chúng ta đi theo con đường đi mình đã
chọn một cách đúng đắn, khi bị lệch khỏi đường ray, ta thể trở lại con đường
của mình một cách chủ động không phải nhờ vào sự giúp đcủa người
khác. Khi bạn nghiêm c ch cực trong ng việc của mình, bạn sẽ m ra
thêm được nhiều điều hay hơn thế, chúng giúp cho chúng ta động lực hơn để
phấn đấu tiến tới mục tiêu của mình. Ncâu chuyện “sự tích dưa hấu”
chúng ta đã được học, đó anh chàng Mai An Tiêm bị Vua cha giận đày ra
hòn đảo xa. Từ đó, anh đã tự mình trồng trọt, khai hoang để kiếm sống. Đến
một ngày được một con chim lạ ăn xong nhả hột lên mảnh đất xuất hiện một
loại cây lạ ra hoa kết trái. Mai An Tiêm đã nghĩ “của trời ban” bèn ăn thử
thấy loại trái cây y ngọt mát, anh đã chđộng gieo hạt. Sau đó, được nhiều
người biết đến hơn Vua cha cũng đã xtội thấy được sự cố gắng vượt
qua khó khăn, tích cực chủ động trong mọi hoàn cảnh của chàng.
Qua câu chuyện, chúng ta lại thêm phần nào thấy được mình trong đó. Khó
khăn ththách sẽ tôi luyện chúng ta đến với thành công vững chắc hơn.
vậy, hãy chủ động học tập, tích cực rèn luyện và nghiêm túc với mục tiêu của
mình. Kết lại, một câu nói Một chú chim đậu trên càng cây không bao giờ
sợ cành cây bgãy, bởi niềm tin được đặt vào đôi cánh của chứ không phải
cành cây”. Vậy nên hội thành công chđến với những ai biết tin vào bản
thân mình, tự học tập và rèn luyện với nó một cách nghiêm túc và trung thực.
-
Trong học tập nghiên cứu cần tiến hành từ dễ đến khó, tránh
nóng vội đốt cháy giai đoạn:
Từ quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về
chất ngược lại thể rút ra một vài kết luận ý nghĩa phương pháp lun
trong việc học tập rèn luyện của sinh viên như sau: để thể tốt nghiệp,
chúng ta phải tích luỹ đủ số lượng các tín chỉ n học; để môn học kết qu
tốt, sinh viên phải tích luỹ đủ số lượng tiết của các môn học. thcoi thời
gian học độ, các bài kiểm tra các điểm nút điểm số đạt yêu cầu bước
nhảy, bởi kết quả thi (bước nhảy) tốt sự kết thúc môt giai đoạn tích luỹ kiến
thức trong quá trình học tập rèn luyện của sinh viên. vậy, trong việc học tập
c hoạt động học thuật khác, sinh viên phải từng bước tích lukiến thức
(lượng) để làm thay đổi kết quả học tập (chất) theo quy luật. Trong quá trình
học tập rèn luyện, sinh viên cần tranh tưởng nhảy cấp. Sau khi học những
kiến thức bản, tức khi sự biến đổi về chất thì sinh viên mới thể tiếp
tục nghiên cứu những kiến thức khơn. Ví dụ ntrước khi lên Đại học thì
phải hoàn thành việc học 3 cấp bậc trước, nếu không, tình trạng mất gốc sẽ
xảy ra. Việc tiếp thu kiến thức từ bản đến nâng cao phương pháp học tập
khoa học mọi người đều biết nhưng không phải ai cũng thực hiện đúng quy
trình. Một số trường hợp sinh viên không tập trung học, bị xao nhãng bởi
những chuyện ngoài lề, làm ảnh hưởng đến tốc độ học. Nhiều sinh viên khi đến
gần giai đoạn thi mới bắt đầu học lại từ đầu, nhưng thời gian ôn thi để sinh
viên ôn lại kiến thức họ đã học chứ không phải tiếp thu thêm cái mới, vì vậy
cho sinh viên chăm học trong thời gian đó thì cũng không thể đảm bảo được
lượng kiến thức để vượt qua được thi. Ngoài ra, nhiều sinh viên sức
học trung bình nhưng lại muốn đăng nhiều môn học trong cùng một năm hay
một học kỳ để được ra trường sớm hơn những người khác, dẫn đến không
môn học nào được hoàn thiện, mất thêm thời gian tiền bạc để học lại, thi lại.
Tóm lại, muốn tiếp thu được nhiều kiến thức kết quả cao trong các thi,
sinh viên phải học dần mỗi ngày, từ kiến thức bản đến nâng cao. Từ đó, s
biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất theo hướng tích cực.
-
Liên tục phấn đấu học tập rèn luyện, tránh tưởng chủ quan:
Để thể bước ra ngoài hội khắc nghiệt, những sinh viên cần trang bị cho
mình từ những điều đơn giản nhất nnăng giao tiếp, ngôn ngữ,… cho đến
những kiến thức to lớn, thành tựu trong cuộc sống vcác lĩnh vực khoa học
nghệ thuật. Việc trải qua hơn 12 năm học tập khoảng thời gian bước đệm cho
hành trình tích luỹ ấy. Không những thế, chúng ta vẫn phải tiếp thu những kỹ
năng mềm cho cuộc sống mai sau. Trong qtrình liên tục phấn đấu học tập
ấy,quá trình chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
ngược lại được thể hiện việc sinh viên tích luỹ kiến thức. Áp dụng quy luật
lượng chất, sinh viên liên tục phấn đấu học tập, tìm kiếm những thông tin,
mang về những “lượng” tốt, sở đầy đủ. Từ đó, làm biến đổi “chất” tốt
hơn, tạo nên các thành tích, thành tựu ơng ứng cho snỗ lực ấy. Trên quan
niệm triết học, chất thay đổi sẽ thay đổi cả svật. Điều đó được minh chứng
khi sinh viên nỗ lực phấn đấu trở thành các thầy giáo, giảng viên, lượng sẽ
được đổi mới theo nhịp điệu của chất đã được tạo ra bởi thế hệ trước truyền
lại cho thế hệ sau.
trường Đại học Tôn Đức Thắng, ngoài các bài giảng trên lớp, sinh viên còn
tự tìm tòi, nghiên cứu thư viện, tích luỹ học hỏi những năng mềm thiết
yếu cho mai sau. Được tự do sáng tạo và trau dồi những “lượng” mức tối ưu
nhất, sinh viên luôn đạt được những thứ “chất” lượng nhất: tấm bằng cử nhân,
những học bổng,… tự tin bước ra đời. Cứ nvậy, quá trình chuyển đổi
giữa chất-lượng liên tục diễn ra không ngừng nghỉ trong sphát triển, liên tục
phấn đấu không ngừng mỗi sinh viên, giúp họ tự tin vững bước trong hành
trang cuộc đời mình. Khi ấy, nhiệm vụ của sinh viên khai phá hết tiềm năng
tri thức, kho dữ liệu và ứng dụng vào thực tiễn tiếp tục mở rộng con đường
khoa học nghệ thuật, tránh bị tưởng bảo thủ chủ quan nghĩ rằng mình đã
làm hết sức có thể.
-
Rèn luyện ý thức học tập của sinh viên:
Đầu tiên, trong sự vận động phát triển phải biết tích lu về lượng dẫn đến sự
thay đổi về chất; không được nôn nóng cũng như không được bảo thủ. Quá
trình học tập phải được tích luỹ từ từ, đầy đủ kiến thức, hoàn thiện kỹ năng;
không được bỏ qua kiến thức bản. Việc bỏ bước trong tích luỹ sẽ dẫn đến sự
không hoàn thiện về độ, việc thực hiện bước nhảy sẽ không thành công
không thể hình thành chất mới. dụ, nếu bạn hỏng kiến thức bản bậc tiểu
học, bạn skhông thể thực hiện bước nhảy để được học cấp trung học. Nếu
bạn cố thực hiện bước nhảy, tức bạn vượt qua điểm nút một cách ép buộc,
chất mới được hình thành nhưng không vận dụng theo quy luật lượng
chất. Những sự thay đổi về chất do thực hiện bước nhảy gây nên chxảy ra khi
lượng đã thay đổi đến nút, độ được hoàn thiện từ sự tích luỹ đầy đủ về chất.
Bên cạnh, dù rằng sự phát triển vận động của sự vật, hiện tượng việc liên
tục thực hiện các bước nhảy, bạn phải chú ý đến độ trong quá trình thay đổi của
lượng, không vội vàng bỏ bước. tưởng bảo thủ ngăn bạn không dám
vượt qua điểm nút. Như một kỳ thi học sinh giỏi, mặc bạn đủ kiến thức
được tích luđể tham gia kỳ thi, nhưng lại không đủ tự tin đthực hiện bước
nhảy, thì quá trình tích luỹ đó chỉ được xem tích luỹ về lượng không
sự thay đổi về chất. Bạn phải nhận thức được mối liên kết giữa các yếu tố tạo
nên sự vật, hiện tượng để lựa chọn phương pháp tích luỹ phù hợp, đẩy nhanh
tiến độ tích luỹ, kèm theo chất lượng của độ. Vận dụng được mối liên kết đó sẽ
giúp bạn hiểu rõ bản chất, quy luật của chất, nâng cao chất lượng của độ.
-
Sự phát triển bền vững của tập th phụ thuộc vào bản thân mỗi
sinh viên:
Những kiến thức ngày nay, những công bố, phát minh đại đều những sự
tìm tòi, khổ ng của những thế hệ nhà khoa học đi trước. Là slặp đi lặp lại
hàng ngày của sự chuyển hoá trao đổi giữa chất lượng. sinh viên chúng ta,
cần sự lặp lại tuần hoàn phấn đấu tìm tòi. Không nhiều thì ít, mỗi ngày
chúng ta dành một chút thời gian để học, dần sẽ thành một thói quen như tính
cách chúng ta vậy. từ đó sẽ quyết định cuộc sống của mỗi chúng ta. Việc
duy trì không hề dễ dàng nhưng nếu chúng ta kiên cường phát triển thói quen
ấy, ắt hẳn sẽ được thành ng. Quãng đời sinh viên không ch dừng lại
việc học tập, sẽ còn trải dài cho cuộc hành trình khai phá những lượng tri
thức mới để đạt được những vật chất, thành quả mới. Để làm được điều ấy,
phải cho mình ý chí quyết tâm sự không ngừng phát triển bền vững. Sinh
viên phải tự động hoá cho mình một bản kế hoạch hợp lý, một thời gian biểu
phù hợp để tích lutri thức. Đại học Tôn Đức Thắng, ngay từ khi bước vào
trường, các sinh viên đã được hướng dẫn cho sự ch động trong khâu chuẩn bị
quá trình học tập bản thân. Từ đó, xây dựng một kế hoạch phát triển bền vững
trên tinh thần sáng tạo, tự do. Khi ấy, việc trau dồi, tích luỹ được thực hiện trơn
tru với tinh thần phát triển bền vững quá trình học tập, sự không ch quan trong
quá trình trau dồi kiến thức kết hợp với nỗ lực liên tục phấn đấu học tập, không
gì là không thể trên con đường của mỗi sinh viên.
CÂU 4:
Nêu đặc trưng bản của nhà nước theo quan điểm của Ch nghĩa Mác
Lênin. Phân tích đặc trưng của Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt
Nam? Làm thế nào đxây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa Việt
Nam ngày càng vững mạnh hơn khi thực trạng tham nhũng nước ta đang diễn
ra phổ biến như hiện nay?
Bài làm
Định nghĩa:
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nhà nước pháp quyền
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Đặc trưng:
1.
Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, nhân dân;
bảo đảm tất các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
2.
Nhà nước tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực
nhà nước thống nhất, nhưng sự phân công, phối hợp kiểm soát giữa
các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
3.
Nhà nước được tổ chức, hoạt động trên sở Hiến pháp
pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp các luật trong đời sống
hội.
4.
Nhà nước tôn trọng, thực hiện bảo vquyền con người,
quyền công dân, tất cả hạnh phúc con người; bảo đảm trách nhiệm pháp
giữa nhà nước và công dân, thực hành, gắn với tăng cường kỷ cương, kỷ luật.
5.
Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng
thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự giám sát phản biện hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.
6.
Nhà nước thực hiện đường lối hoà bình, hữu nghị với nhân
dân các dân tộc các nhà nước trên thế giới. Tôn trọng cam kết thực hiện
các ng ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.
Thực trạng tham nhũng:
Đảng chỉ tham nhũng đã trở thành một quốc nạn một trong bốn nguy
đối với sự sống n của Đảng chế độ ta. Nó nghiêm trọng đến mức cho đến
tận bây giờ vẫn diễn biến tinh vi, phức tạp, vẫn “trên nóng dưới lạnh”, vẫn
vấn đ thời sự nóng bỏng nhất trong các cuộc tiếp xúc cử tri của lãnh đạo
Đảng, Nhà nước ta.
Nguyên nhân tham nhũng:
Các nguyên nhân đến từ bên ngoài cũng nchính suy nghĩ, hành động bên
trong của đối tượng tham nhũng. Theo đó:
Các nguyên nhân tác động từ bên ngoài:
Hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở trong quy
định quyền hạn, nhiệm vụ. Các quy trình ra quyết định hoạch định chính
sách còn thiếu minh bạch, th tục hành chính n rườm rà. Chính các nội dung
này mang đến tính thiếu minh bạch, giúp các cá nhân có cơ hội tham nhũng,…
Do sự hở của tổ chức bộ máy, do sự thiếu đồng bộ đầy đủ.
Công tác kiểm tra, giám sát còn thiếu chặt chẽ, chưa ngang tầm
nhiệm vụ. Do đó mà tội nhận hối lộ, nhũng nhiễu,… được thực hiện nhiều.
Đấu tranh xử những hành vi tham nhũng chưa kịp thời,
còn tình trạng nể nang, né tránh, sợ “đứt dây động rừng”,…
Tiền lương của công chức còn thấp. Chưa đảm bảo để họ
thể tận tụy vì công việc chung, bỏ qua các lợi ích bên ngoài để hoàn thành
trách nhiệm, lý tưởng ban đầu. Quy định kê khai tài sản, thu nhập còn nhiều
tiêu cực.
Còn thiếu những chế độ, chính sách, quy định chặt chẽ để từng
bước ngăn chặn tham nhũng.
Tính tích cực của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng
chưa được phát động thường xuyên.
Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện
kiểm sát, tòa án chưa được phát huy đầy đủ nhất.
Công tác giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ,
đảng viên đã không được quan tâm đúng mức hoặc triển khai thực hiện chưa
nghiêm túc,
chưa hiệu quả, thậm chí nơi này nơi khác công tác đón bị xao nhãng, lãng
quên.
Nguyên nhân từ chính đối tượng tham nhũng:
Tất cả các nguyên nhân trên tác động tưởng, nhận thức dẫn đến sự suy thoái
nhanh chóng của bộ phận lớn cán bộ.
Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên. Đến từ các nhận thức ích kỷ, tham lam tưởng, lập trường
ban đầu không được giữ vững.
Khi họ được trao quyền hạn nhưng chế đlợi dụng, chức vụ, quyền hạn
một cách tinh vi. Nhất những cán bộ, đảng viên chức, quyền. Họ dễ
dàng tiếp cận với nhiều cám dỗ, lợi ích lớn hơn thay nhận được quyền lợi từ
thực hiện công vụ.
Giải pháp:
Vận dụng quan điểm của Lênin trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện
nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục phải:
1)
Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp trong cải cách hành chính
toàn diện về thể chế, bộ máy.
2)
Chú trọng công tác đào tạo chọn lọc cán Œ phẩm chất
đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghề nghiệp.
3)
Phát huy dân chủ, gắn cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng với từng bước hiện thực hóa các giá trị dân chủ.
4)
Tăng cường sự minh bạch, công khai trong quan chính
quyền người chức quyền.
5)
Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, đẩy mạnh công tác
tuyên truyền;
y dựng tinh thn thượng n pháp luâ tŒ của tầng lớp nn n.
6)
Tăng cường cơ chế giám sát, tăng cường sự giám sát của
nhân dân và cơ quan dân cử.
7)
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán,
điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng; kỷ luâ tŒ đi cùng với biểu dương,
khen thưởng.
8)
Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng…
Câu 5:
Ph.Ăngghen viết:
"Những tiền đề điều kiện kinh tế, rốt cuộc giữ một vai t
nhất định, nhưng những điều kiện chính trị, v.v.., ngay cả truyền thống tồn
tại trong đầu óc con người cũng đóng một vai trò nhất định, tuy không phải
quyết định"
. (Nguồn: C.Mác Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997, tập 37, tr. 642).
Từ luận của Triết học Mác Lênin, Hãy:
a.
Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội để làm rõ quan điểm trên.
b.
Liên hệ với vai trò của bản thân trong việc gìn giữ phát
huy bản sắc
văn hoá dân tộc Việt Nam giai đoạn phát triển kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế hiện nay.
Bài làm
a.
Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội để làm rõ quan điểm trên
Khái niệm của ý thức hội, tồn tại hội ( 0,5 điểm)
Tồn tại hội toàn bộ sinh hoạt vật chất những điều
kiện sinh hoạt vật chất của hội. Tồn tại hội của con người thực tại
hội khách quan, là một kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được
ý thức xã hội phản ánh. Trong các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa
con người với giới tự nhiên quan hệ giữa con người với con người những
quan hệ bản nhất.
Ý thức hội phạm trù của ch nghĩa duy vật lịch sử được
xân dụng để
giải quyết vẫn đề bản của triết học trong lĩnh vực hội. Nếu ý thức ...
không bao giờ thể cái khác hơn sự tồn tại được ý thức” thì ý thứuc
hội chính xã hội tnhận thức về mình, vsự tồn tại xã hội của mình và về
hiện thực xung quanh mình. Nói cách khác, ý thức hội mặt tinh thần của
đời sống xã hội, bộ phận hợp thành của văn hóa tinh thần của xã hội. Văn
hóa tinh thần của hội mang nặng dấu ấn đặc trưng của hình thái kinh tế -
hội, của giai cấp đã tạo ra nó.
Tính độc lập tương đối của ý thức hội đối với tồn tại hội ( 2,5 điểm )
Ý thức hội thường lạc hậu so với tồn tại hội: (0,5 điểm )
Lịch sử hội đã cho chúng ta thấy được rằng, trong nhiều trường hợp khi tồn
tại hội đã mất đi, nhưng ý thức hội tương ứng thì lại vẫn còn tồn
tại. Cụ thể thì điều đó biểu hiện rằng ý thức hội muốn thoát ly ra khỏi sự
ràng buộc của tồn tại hội, ý thức hội trong trường hợp này đã biểu hiện
tính độc lập tương đối.
Ta nhận thấy, ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Cho nên
trong sự nghiệp xây dựng hội mới chúng ta sẽ cần phải thường xuyên tăng
cường công tác tưởng, đấu tranh chống lại âm mưu hành động phá hoại
những lực lượng thù địch về mặt tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn ý thức
cũ.
Ý thức hội th vượt trước tồn tại hội:(0,5 điểm )
Triết học Mác Lênin đã thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định
tưởng của con người, đặc biệt những tưởng khoa học tiên tiến sẽ thể vượt
trước sự phát triển của tồn tại hội, các tưởng này xuất hiện sẽ dự báo được
tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.
do ý thức hội thvượt trước tồn tại hội do đặc điểm của
tưởng khoa học quy định. tưởng khoa học thường khái quát tồn tại hội đã
hiện để rút ra những quy luật phát triển chung của hội, quy luật đó
không những phản ánh đúng quá khứ, hiện tại còn dự báo đúng tồn tại xã
hội trong tương lai.
Khi chúng ta nói rằng, tưởng tiên tiến thể vượt trước tồn tại xã hội thì
không nghĩa ý thức hội không còn bị tồn tại hội quyết định. cho

Preview text:

Câu 1: Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý
luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông"
. (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995, tập 8, tr. 496); Từ lý luận của triết học Mác – Lênin, Hãy: a.
Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. b.
Vận dụng để giải quyết vấn đề của bản than sinh viên Bài làm: a.
Định nghĩa:(0,25 điểm) Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật
chất có tính mục đích, tính lịch sử – xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên
và xã hội theo yêu cầu của đời sống con người.
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:(0,25 điểm)
-Hoạt động sản xuất vật chất
-Hoạt động chính trị - xã hội
-Hoạt động thực nghiệm khoa học
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức là:(1,5 điểm)
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận
thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính đúng đắn của quá trình nhận thức chân lý: –
Thực tiễn là nguồn gốc, cơ sở (điểm xuất phát) của nhận thức:
Thông qua hoạt động giải trí thực tiễn, con người nhận ra được cấu trúc ; đặc
thù và những mối quan hệ giữa những đối tượng người tiêu dùng để hình thành
tri thức về đối tượng người tiêu dùng. Hoạt động thực tiễn bổ trợ và kiểm soát
và điều chỉnh những tri thức đã được khái quát. Thực tiễn đề ra nhu yếu, trách
nhiệm, phương pháp và khuynh hướng hoạt động và tăng trưởng của nhận thức.
Chính nhu yếu lý giải, nhận thức và tái tạo quốc tế buộc con người tác động
ảnh hưởng trực tiếp vào đối tượng người dùng bằng hoạt động giải trí thực tiễn
của mình. Chính sự ảnh hưởng tác động đó đã làm cho những đối tượng người
tiêu dùng thể hiện những thuộc tính, những mối liên hệ và những quan hệ khác
nhau giữa chúng đem lại cho con người những tri thức, giúp cho con người
nhận thức được những quy luật hoạt động và tăng trưởng của quốc tế. Trên cơ
sở đó hình thành những triết lý khoa học . –
Thực tiễn là động lực của nhận thức: Hoạt động thực tiễn góp
thêm phần triển khai xong những giác quan, tạo ra năng lực phản ánh nhạy bén,
đúng chuẩn, nhanh hơn ; tạo ra những công cụ, phương tiện đi lại để tăng năng
lượng phản ánh của con người so với tự nhiên. Những tri thức được vận dụng
vào thực tiễn đem lại động lực kích thích quy trình nhận thức tiếp theo .+ Thực
tiễn sản xuất vật chất và cải biến quốc tế đặt ra nhu yếu buộc con người phải
nhận thức về quốc tế .+ Thực tiễn làm cho những giác quan, tư duy của con
người tang trưởng và triển khai xong, từ đó giúp con người nhận thức ngày càng
thâm thúy hơn về quốc tế . –
Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Mục đích sau cuối của
nhận thức là giúp con người hoạt động giải trí thực tiễn nhằm mục đích cải
biến quốc tế. Nhấn mạnh vai trò này của thực tiễn Lênin đã cho rằng : “ Quan
điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý
luận về nhận thức ” .Nhận thức không riêng gì thoả mãn nhu yếu hiểu biết mà
còn phân phối nhu yếu nâng cao năng lượng hoạt động giải trí để đưa lại hiệu
suất cao cao hơn, phân phối nhu yếu ngày càng tăng của con người. Thực tiễn
luôn hoạt động, tăng trưởng nhờ đó, thực tiễn thôi thúc nhận thức hoạt động,
tăng trưởng theo. Thực tiễn đặt ra những yếu tố mà lý luận cần xử lý .Chỉ có
trải qua hoạt động giải trí thực tiễn, thì tri thức con người mới bộc lộ được sức
mạnh của mình, sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa. Bằng thực tiễn mà
kiểm chứng nhận thức đúng hay sai, khi nhận thức đúng thì nó ship hàng thực
tiễn tăng trưởng và ngược lại –
Thực tiễn là tiêu chuẩn tiêu chuẩn của chân lý: Bằng thực tiễn
mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì nó sẽ giúp thực
tiễn tăng trưởng và ngược lại. Như vậy, thực tiễn là thước đo đúng chuẩn nhất
để kiểm tra tính đúng đắn của tri thức, xác nhận tri thức đó có phải là chân lý
hay không. Mác đã từng khẳng định chắc chắn : “ Vấn đề tìm hiểu và khám
phá xem tư duy của con người hoàn toàn có thể đạt tới chân lý khách quan hay
không, trọn vẹn không phải là yếu tố lý luận mà là một yếu tố thực tiễn. Chính
trong thực tiễn mà con người phải chứng tỏ chân lý ” . Ý nghĩa:(1 điểm)
Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt
quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu: –
Phải không cho quan điểm thực tiễn : việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn . –
Nghiên cứu lý luận phải song song với thực tiễn ; học phải
song song với hành. Xa rời thực tiễn dẫn đến bệnh chủ quan, giáo điều, máy móc, quan liêu . –
Nhưng không được tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn, tuyệt
đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng . b.
Vận dụng:( 2 điểm)
Để nâng cao hơn nữa hiệu quả vận dụng quan điểm “Học đi đôi với hành”
của Hồ Chí Minh trong dạy học ở các nhà trường Quân đội hiện nay cần
thực hiện tốt những giải pháp sau:
Một là, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học. Thực tiễn cho thấy,
việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ của người học chỉ
có ý nghĩa khi nó được phối hợp, kết nối và trở thành năng lực giải quyết một
cách có hiệu quả các tình huống đặt ra trong nhiệm vụ học tập, lao động, làm
việc và cuộc sống. Theo đó, đổi mới phương pháp dạy là phải hướng đến tăng
cường các phương pháp sáng tạo, thông qua tổ chức các hoạt động học tập độc
lập của học viên trong quá trình dạy học. Người dạy cần chuyển từ vai trò
người “truyền thụ kiến thức” sang vai trò người “dạy cách học”, người trực tiếp
tổ chức hoạt động giáo dục và đào tạo; chuyển từ phương pháp giảng giải, “độc
thoại” là chủ yếu sang sử dụng chủ yếu phương pháp tổ chức, dẫn dắt, định
hướng quá trình học tập của người học và thúc đẩy động cơ, truyền cảm hứng
cho người học, làm cho người học tự giác cao độ về việc học tập, tự tìm kiếm
kiến thức bằng suy nghĩ, hành động của bản thân. Người dạy trở thành người
“đạo diễn”, “bạn đồng hành” “bình đẳng” cùng người học trong quá trình đi tìm
chân lí. Việc đổi mới cách thức giảng dạy của giảng viên sẽ buộc học viên phải
thay đổi cách thức học tập, tăng cường hoạt động tự học, chuyển từ học thụ
động sang tự học chủ động, phát triển năng lực của mình; biến quá trình dạy
học thành tự học, quá trình đào tạo thành tự đào tạo để phát triển năng lực của
học viên, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn nghề nghiệp quân sự.
Hai là, tăng cường dạy học thực hành và tập luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
vào giải quyết những vấn đề thực tiễn theo mô hình, mục tiêu đào tạo.
Theo đó,
các nhà trường Quân đội cần tăng tỉ trọng thực hành trong chương trình đào tạo
và từng môn học; tăng cường các hình thức và phương pháp dạy học thực hành,
nhất là đưa học viên vào thực hành xử lí các tình huống thực tiễn thông qua bài
tập tình huống. Cả người dạy và người học cần chuyển mạnh từ tư duy học để
biết, để hiểu sang học để làm; từ cách học thụ động “thầy nói sao trò biết vậy”
sang cách học chủ động, tích cực, sáng tạo, tự học viên phải tìm ra tri thức, tìm
ra chân lí dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giảng viên. Để thực hiện được điều
đó, cần rèn luyện cho học viên các kĩ năng và phương pháp học tập từ nghe
giảng, ghi chép và tự học. Học viên cần học cách học, cách phát hiện, cách giải
quyết vấn đề, từ đó hình thành năng lực thực hành và năng lực tự học, từng
bước hình thành và phát triển năng lực của bản thân. Mỗi học viên trong quá
trình học tập phải biết vận dụng ngay những kiến thức đã lĩnh hội được vào để
giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra theo yêu cầu nghề nghiệp.
Ba là, tăng cường sử dụng các phương tiện kĩ thuật, thiết bị dạy học hiện đại
trong quá trình dạy và học.
Phương tiện kĩ thuật, thiết bị dạy học hiện đại có
vai trò rất quan trọng trong hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học, góp phần
nâng cao chất lượng dạy và học; đặc biệt là các phần mềm dạy học, thiết bị mô
phỏng,... giúp học viên hình dung các công việc sẽ phải thực hiện theo chức
trách, nhiệm vụ sau khi ra trường. Vì vậy, từng giảng viên cần đặc biệt coi
trọng sử dụng, ứng dụng các phương tiện kĩ thuật, thiết bị dạy học hiện đại, góp
phần phát triển năng lực thực hành cho người học.
Bốn là, tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
viên.
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập có vai trò quan trọng, chi phối các
khâu khác của quá trình dạy học, nhất là phương pháp dạy và học. Theo đó, các
trường nhà trường Quân đội cần tăng cường đổi mới công tác kiểm tra, đánh
giá kết quả học tập của học viên, nhằm đánh giá khách quan, chính xác kết quả
học tập trong từng môn học và trong toàn khoá học. Cơ quan khảo thí, bảo đảm
chất lượng giáo dục và đào tạo từng nhà trường cần thực hiện tốt chức năng,
nhiệm vụ, các khâu, các bước trong quá trình giáo dục và đào tạo, góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
trong thời gian tới để nhằm góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác
đào đạo, bồi dưỡng tại nhà trường nói chung cũng như nâng cao chất
lượng, hiệu quả của việc giảng dạy lý luận chính trị nói chung theo hướng
lý luận gắn với thực tiễn cần tập trung vào một vấn đề như sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể giảng viên về sự cần thiết của
việc nghiên cứu, vận dụng nguyên tắc “lý luận gắn với thực tiễn" của Hồ Chí
Minh trong hoạt động giảng dạy tại nhà trưởng.
Đối với những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận nói chung,
nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị tại trường chính trị nói riêng việc học
tập tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về học đi đôi với hành, lý luận gắn với
thực tiễn là một vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi thông qua việc
nghiên cứu, học tập quan điểm trên của Hồ Chí Minh sẽ không những giúp cho
người giảng viên xây dựng được cho mình một phương pháp làm việc khoa
học, hiệu quả trong công tác nghiên cứu, giảng dạy mà còn giúp cho giảng viên
tích cực trong việc học tập, nâng cao trình độ lý luận, thu thập, tích luỹ kiến
thức thực tế, từ đó làm cho kiến thức của mình ngày càng thêm phong phú từ
phương diện lý luận lẫn cả thực tiễn, đảm bảo quá trình giảng dạy ngày càng có
hiệu quả, chất lượng.
Hai là, đội ngũ giảng viên cần phải thường xuyên thực hiện công tác nghiên
cứu lý luận thông qua việc tích cực tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về
trình độ chuyên môn; thông qua việc nghiên cứu tài liệu, sách, báo... nhằm nắm
vững kiến thức về lý luận.
Để có thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình đó là giảng dạy lý luận
chính trị, đòi hỏi bản thân người giảng viên cần phải có vốn kiến thức về lý
luận chính trị. Song, ngoài việc nắm vững kiến thức về mặt chuyên môn, giảng
viên cũng cần nghiên cứu, trang bị thêm cho mình kiến thức ở một số lĩnh vực
khác để nhắm mở rộng sự hiểu biết và làm cho kiến thức của mình ngày càng
thêm phong phú. Trên thực tế, khi có vốn kiến thức lý luận sâu rộng người
giảng viên sẽ chủ động, tự tin trong quá trình truyền đạt, chia sẻ tri thức cũng
như bảm bảo việc truyền đạt tri thức đến người học một cách có hiệu quả, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Tuy nhiên,
để từng bước nâng cao trình độ lý luận chính trị của bản thân đòi hỏi người
giảng viên cần có sự chủ động trong công tác nghiên cứu lý luận thông qua việc
tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng từ đào tạo về trình độ chuyên môn, tập
huấn chuyên môn; thường xuyên nghiên cứu tài liệu từ sách, báo, tạp chi...
cũng như tham gia viết các bài báo khoa học. Thực hiện thường xuyên những
công việc như trên sẽ không những giúp cho giảng viên tăng cường, trau dồi
khả năng nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học mà còn tạo điều kiện cho
giảng viên vừa nắm vững kiến thức lý luận, vừa nâng cao trình độ lý luận của mình.
Ba là, tích cực tham gia hoạt động nghiên cứu thực tế tại các địa phương nhằm
tích luỹ kinh nghiệm thực tế, kiến thức thực tiễn để có thể vận dụng vào trong hoạt động giảng dạy.
Hầu hết đối tượng học viên tham gia các lớp đào tạo trung cấp lý luận chính trị
tại Trường đều là những cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong hệ
thống chính trị trên địa bàn tỉnh. Họ không những là người có trình độ chuyên
môn mà còn có kiến thức thực tế về ngành, lĩnh vực nhất định; đặc biệt là kinh
nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác. Do vậy, để có thể làm cho bài giảng,
tiết giảng thực sự thu hút người học cũng như làm cho quá trình giảng dạy thật
sự có hiệu quả, đòi hỏi người giảng viên bên cạnh việc nắm vững kiến thức về
lý luận còn phải có kiến thức về thực tiễn. Có kiến thức về thực tiễn sẽ giúp cho
người giảng viên khi giảng dạy có thể liên hệ, đối chiếu, so sánh giữa lý luận và
thực tiễn; liên hệ, minh họa kiến thức từ thực tiễn nhằm làm rõ hơn những vấn
đề lý luận, từ đó không chỉ giúp cho người học khắc sâu nội dung bài học mà
còn làm cho quá trình giảng dạy được sinh động, thu hút sự chú ý, tham gia
chia sẻ của học viên nhất là về những vấn đề đã và đang đặt ra trong thực tiễn.
Để có được vốn kiến thực thực tiễn, đòi hỏi người giảng viên cần tích cực,
mạnh dạn, chủ động thâm nhập thực tế thông qua hoạt động nghiên cứu thực tế
ở cơ sở, các ban ngành... Bởi các vấn đề nảy sinh từ thực tế cơ sở hàng ngày
qua những câu chuyện, những sự vụ, sự việc, tình huống đất đa dạng, phong
phú, người giảng viên chỉ qua hoạt động nghiên cứu, thâm nhập thực tế mới có thể nắm bắt được.
Bốn là, tích cực, chủ động trong nghiên cửu đổi mới phương pháp giảng dạy
theo hướng lý luận gắn với thực tiễn.
Đổi mới phương pháp giảng dạy là một yêu cầu rất cần thiết đối với hoạt động
dạy học nói chung và giảng dạy lý luận chính trị nói riêng. Song, xuất phát từ
thực tế, đối tượng học viên của nhà trường là những người vừa có trình độ
chuyên môn vừa có kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn; do vậy, trong giảng dạy
người giảng viên cần phải quan tâm và chú trọng đến việc đổi mới phương
pháp sao cho phù hợp với đối tượng theo hướng lý luận gắn với thực tiễn. Hiện
nay, có nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại đã và đang được thực hiện theo
phương châm lý luận gắn với thực tiễn: phương pháp đặt và giải quyết vấn đề,
phương pháp tình huống. Khi áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại,
giảng viên đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập của học
viên nên rút ngắn được thời gian giảng bài, giúp giảng viên có điều kiện chia
sẻ, trao đổi, thảo luận với học viên nhiều hơn về những vấn đề là thực tiễn đặt
ra xuất phát từ lý luận. Đối với học viên, khi áp dụng phương pháp dạy hiện đại
theo hướng lý luận gắn với thực tiễn sẽ giúp học viên chủ động, sáng tạo hơn
trong việc tiếp thu và xử lý các tri thức từ tri thức lý luận đến kiến thức thực
tiễn. Qua đó học viên có thể đối chiếu, vận dụng những kiến thức lý luận vào
trong thực tiễn mà mình đang công tác.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận gắn với thực tiễn" trong giai
đoạn hiện nay vẫn còn mang giá trị, ý nghĩa hết sức to lớn cả về phương diện lý
luận và thực tiễn nhất là trong hoạt động giảng dạy, trong đó phải kể đến giảng
dạy lý luận chính trị. Việc gắn lý luận với thực tiễn trong quá trình giảng dạy
không những giúp cho người giảng viên xây dựng được ý thức tự giác trong
học tập, nâng cao trình độ lý luận; thu thập, tích luỹ kiến thức thực tế mà còn
giúp cho học viên có cái nhìn khách quan vào thực tiễn để qua đó giúp cho họ
thấy rằng việc học lý luận là thiết thực, mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn
là mối quan hệ biện chứng và việc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là
nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Câu 2: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư
tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống
trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị xã hội
" (C.Mác và Ph.
Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.66); Từ lý luận
của triết học Mác – Lênin, Hãy: a.
Phân tích quy luật quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng. b.
Liên hệ với cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam hiện nay. Bài làm
Mỗi một xã hội đều có cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của nó, đây là hai
mặt của đời sống xã hội và được hình thành một cách khách quan, gắn liền với
những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể. Không như các quan niệm duy tâm giải
thích sự vận động của các quan hệ kinh tế bằng những nguyên nhân thuộc về ý
thức, tư tưởng hay thuộc về vai trò của nhà nước và pháp quyền, trong Lời tựa
tác phẩm Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị, C.Mác đã khẳng định:
“không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái
nhà nước, hay lấy cái gọi là sự phát triển chung của tinh thần của con người, để
giải thích những quan hệvà hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan
hệ và hình thái đó bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất”
Thứ nhất vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng thể hiện qua:
Mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với
nó. Tính chất của kiến trúc thượng tầng là do tính chất của cơ sở hạ tầng quyết
định. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì cũng chiếm
địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã hội. Các mâu
thuẫn trong kinh tế, xét đến cùng, quyết định các mâu thuẫn trong lĩnh vực
chính trị tư tưởng; cuộc đấu tranh giai cấp về chính trị tư tưởng là biểu hiện
những đối kháng trong đời sống kinh tế. Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng
tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo,… đều trực tiếp hay gián
tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định.
Khi cơ sở hạ tầng thay đổi kéo theo kiến trúc thượng tầng cũng thay đổi theo.
Quá trình thay đổi diễn ra không chỉ trong giai đoạn thay đổi từ hình thái kinh
tế – xã hội này sang hình thái kinh tế – xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong
bản thân mỗi hình thái kinh tế – xã hội. Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm
thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp. Trong đó, có những yếu tố
của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạ
tầng như chính trị, pháp luật
Thứ hai tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng:
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ sở hạ
tầng. Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai
chiều. Nếu kiến trúc thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế
khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác
động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm phát triển xã hội.
Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế,
nhưng không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội. khác:
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng ( CSHT) đối với kiền trúc thượng tầng ( KTTT).
CSHT nào sinh ra KTTT ấy
KTTT là sự phản ánh CSHT, CSHT nào cũng có sự phát triển KTTT tương ứng
tính chất của KTTT do tính chất của CSHT quy định.
Khi CSHT cũ mất đi, CSHT mới ra đời thì sớm hay muộn KTTT cũ mất đi,
KTTT mới ra đời đảm bảo sự tương ứng của nó.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh tế thì chiếm địa vị thống
trị tinh thần mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất, mâu thuẫn
trong lĩnh vực chính trị tư tưởng là biểu hiện của những đối kháng trong đời sống kinh tế.
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT.
Trong bất kỳ tình huống nào KTTT cũng ra sức bảo vệ và phát triển CSHT đã
sinh ra nó trong đó nhà nước là mạnh nhất gần CSHT nhất và bảo vệ CSHT trực tiếp nhất.
Trong XH có giai cấp, KTTT có vai trò định hướng cho CSHT hoạt động theo
nhu cầu, mục đích của GC thống trị trong đó KTTT chính trị giữ vai trò định
hướng cho sự phát triển kinh tế.
Các bộ phận của KTTT cũng tác động trở qua lại lẫn nhau và đều tác động qua
lại đối với CSHT nhưng các bộ phận đó chỉ thực sự phát huy tác dụng hiệu lực
thông qua nhà nước, pháp luật và các thể chế tương ứng.
Sự tác động trở lại của KTTT với CSHT theo 2 hướng đó là sự tác động phù
hợp với quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, CSHT phát
triển. Nếu không phù hợp thì sẽ cản trở kìm hãm sự phát triển của kinh tế thạm
chí đẩy nền kinh tế rơi vào trạng thái cải tạo khủng hoảng trầm trọng.
Ý nghĩa phương pháp luận:(1,5 điểm) •
Khi vận dụng mối quan hệ giữa KTTT tức là quan hệ chính trị
với kinh tế chúng ta phải xuất phát từ kinh tế coi trọng chính trị nhưng không
tuyệt đối hóa mặt kinh tế co nhẹ yếu tố chính trị sẽ dẫn đến sai lầm của chủ
nghĩa duy vật tầm thường. •
Không tuyệt đối hóa yếu tố chính trị coi nhẹ hoặc hạ thấp yếu tố
kinh tế sẽ dẫn đến sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. b. Liên hệ:(2 điểm) Cơ sở hạ tầng
– Cơ sở hạ tầng trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam hiện nay bao gồm các kiểu
quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau.
Các hình thức sở hữu đó tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm
chí đối lập nhau, nhưng cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế thống nhất theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam hiện nay, các hình thức sở hữu cơ bản gồm sở hữu nhà nước (hay
sở hữu toàn dân, trong đó nhà nước là đại diện của nhân dân), sở hữu tập thể,
sở hữu tư nhân. Các thành phần kinh gồm kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, hợp
tác xã; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài. Ví dụ:
Kinh tế nhà nước: Tiêu biểu là các tập đoàn Viettel, PVN,
EVN, Vietnam Airline, Vinamilk… •
Kinh tế tập thể, hợp tác xã: Tiêu biểu là các hợp tác xã nội
nghiệp, công nghiệp ở các địa phương. •
Kinh tế tư nhân: Tiêu biểu là các tập đoàn Vingroup, FLC, Massan, Vietjet… •
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Tiêu biểu là Toyota Vietnam, Huyndai Vietnam…
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đó là nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư
nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, các thành phần kinh tế khác được
khuyến khích phát triển hết mọi tiềm năng. Kiến trúc thượng tầng
– Trong xây dựng kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định:
Lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng.
Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang tính chất giai cấp công
nhân, do đội tiên phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo, bảo đảm để nhân dân là người làm chủ xã hội.
Các tổ chức, bộ máy thuộc hệ thống chính trị như Đảng Cộng sản, Quốc hội,
Chính phủ, quân đội, công an, tòa án, ngân hàng… không tồn tại vì lợi ích của
riêng nó mà là để phục vụ nhân dân, thực hiện cho được phương châm mọi lợi
ích, quyền lực đều thuộc về nhân dân.
– Mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng hoặc kiến trúc thượng tầng là một bước
giải quyết mâu thuẫn giữa chúng. Câu 3:
V.I.Lênin cho rằng:“Cuộc sống và sự phát triển trong giới tự nhiên bao gRm
cả sự tiến hóa chậm rãi và cả những bước nhảy vọt nhanh chóng, những sự đứt
đoạn trong liên tục”.
(V.I. Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mat cơva, 1978, tập
16, tr.319). Từ lý luận của triết học Mác - Lênin, Hãy: a.
Phân tích quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng
dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại để làm rõ luận điểm trên. b.
Vận dụng vào trong quá trình học tập và hoạt động thực tiễn của bản thân. Bài làm : a. Khái niệm:
Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của
sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là
chính nó chứ không phải là cái khác.
Lượng là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có
của sự vật về các phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự
tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật Nội dung quy luật:
Mọi sự vật đều là sự thống nhất giữa lượng và chất. •
Sự vật thay đổi bắt đầu từ lượng. Sự thay đổi dần dần (tiệm
tiến) về lượng tới điểm nút, thông qua bước nhảy, sẽ dẫn tới sự thay đổi về chất của sự vật. •
Chất mới ra đời tác động trở lại sự thay đổi của lượng mới.
*Lượng mới thay đổi lại tạo ra chất mới cao hơn... •
Quá trình đó diễn ra liên tục, làm sự vật không ngừng biến đổi. Ý nghĩa:
Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong
tính quy định, tác động và làm chuyển hoá lẫn nhau do đó trong thực tiễn và
nhận phải coi trọng cả hai phương diện chất và lượng.
Những sự thay đổi về lượng sẽ dẫn đến những sự thay đổi về chất trong điều
kiện nhất định và ngược lại do đó cần coi trọng quá trình tích luỹ về lượng để
làm thay đổi chất của sự vật đồng thời phát huy tác động của chất mới để thúc
đẩy sự thay đổi về lượng của sự vật. Sự thay đổi về lượng chỉ làm thay đổi chất
khi lượng được tích luỹ đến giới hạn điểm nút do đó trong thực tiễn cần khắc
phục bệnh nôn nóng tả khuynh, bảo thủ trì trệ. Bước nhảy của sự vật, hiện
tượng là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy cần vận dụng linh hoạt các hình
thức của bước nhảy cho phù hợp với điều kiện cụ thể. Đặc biệt trong đời sống
xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà
còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người.
Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực chủ động của các chủ thể để thúc đẩy
quá trình chuyển hoá từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất. b.
Vận dụng: ( tự tóm ) (2 điểm )
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại, có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa
phương pháp luận với việc học tập và rèn luyện của sinh viên trong môi trường
Đại học Tôn Đức Thắng như sau: -
Sự khác nhau cơ bản giữa việc học ở Trung học Phổ Thông (THPT) và Đại học:
Kiến thức là vô ngàn vô tận và việc bước qua một quá trình học tập mới cũng
đồng nghĩa với việc tiếp thu kiến thức nhiều hơn và khó khăn hơn. Để lên được
bậc Đại học đồng nghĩa với việc thu nạp đủ kiến thức của 12 năm học. Và nếu
như ở bậc THPT, việc học được kéo dài xuyên suốt 1 năm với tất cả các môn
và kiến thức sẽ được xoay quanh liên tục thì lên Đại học mỗi môn học là hệ
thống kiến thức kéo dài trong khoảng 1-2 tháng. Khác với phương pháp học thụ
động như THPT, sinh viên Đại học sẽ phải tham gia rất nhiều hoạt động nhóm,
thuyết trình, ngoại khoá,.. Không chỉ vậy, các môn học tại bậc Đại học rất đa
dạng và mới mẻ, ngoài việc đọc sách giáo trình, sinh viên còn phải tìm thêm
nhiều nguồn thông tin từ trong sách báo, tài liệu liên quan. Chính sự thay đổi về
khối lượng kiến thức, thời gian và phương pháp học sẽ khiến nhiều tân sinh
viên gặp khó khăn trong quá trình thích nghi với môi trường học tập, giáo dục
mới. Đây chính là sự thay đổi về lượng dẫn tới sự thay đổi về chất. Sự khác
nhau lớn nhất giữa bậc THPT và Đại học có lẽ là nhiệm vụ trong học tập, đối
với bậc THPT thì việc lên lớp và hoàn thành các mục tiêu mà giáo viên đề ra
chính là nhiệm vụ lớn nhất nhưng đối với sinh viên Đại học, điều họ đang đối
mặt không chỉ là những nhiệm vụ đơn thuần trên lớp mà họ còn phải thực hiện
các kì thực tập, phải bắt đầu đặt ra mục tiêu cho tương lai của chính bản thân
họ. Ngoài ra, khi lên Đại học, ý thức của bản thân là yếu tố quan trọng nhất,
không còn sổ liên lạc hay họp phụ huynh, tinh thần tự học sẽ được phát huy rõ
rệt. Do đó, nếu muốn thành công thì ngay khi bước chân vào giảng đường họ
phải luôn nhắc nhở mình phải chuẩn bị kế hoạch và thực hiện chúng thật
nghiêm túc để mang lại những kết quả to lớn -
Từng bước tích luỹ kiến thức một cách chính xác, đầy đủ:
Quy luật mối quan hệ giữa chất và lượng chỉ ra cách thức chung nhất của sự
vận động và phát triển, một sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng là kết
quả của việc tích luỹ những thay đổi về lượng đến một mức độ nhất định. Và sự
vận động và phát triển vừa diễn ra một cách có tuần tự theo sự thay đổi của
lượng, vừa có bước nhảy đột phá từ sự biến đổi của chất.
Để học tại trường Đại học Tôn Đức Thắng, bạn phải đáp ứng được các chỉ tiêu
tuyển sinh của trường sau kì thi THPT Quốc Gia hằng năm. Để đạt được điểm
số phù hợp, bạn phải có kiến thức để hoàn thành xuất sắc bài thi THPTQG hay
bài thi Đánh giá năng lực; hoặc đạt được số điểm học bạ trong 12 năm học so
với mức điểm xét tuyển của trường Đại học Tôn Đức Thắng. Có thể xem học
tập là quá trình tích luỹ về lượng mà kì thi là điểm nút, hoàn thành bài thi là
bước nhảy và có thể đạt được mức điểm để dẫn đến sự biến đổi về chất hay chưa.
Trong quá trình rèn luyện ở trường học, tích luỹ kiến thức là dạng tích luỹ về
lượng, sự tích luỹ phát triển dần qua từng năm học, từng học kì, từng bài giảng.
Theo từng ngày, kiến thức sẽ được bổ sung vào “bộ nhớ” của bạn, giúp bạn có
một lượng thông tin nhất định để dẫn đến sự thay đổi về chất (đậu và trở thành
sinh viên trường Đại học Tôn Đức Thắng). Trong lượng được nêu ở trên (quá
trình tích luỹ kiến thức trong 12 năm học) tồn tại nhiều lượng, chất, điểm nút,
bước nhảy nhỏ hơn. Việc tích luỹ kiến thức qua từng bài học, khi đạt đến một
lượng kiến thức nhất định, bạn sẽ chuyển sang mức độ mới cao hơn. Như vậy,
thời gian giữa các mức độ học tập gọi là độ; bài kiểm tra, bài thi là điểm nút; và
sự chuyển từ cấp độ cũ sang cấp độ mới là bước nhảy. Trong 12 năm học, bạn
phải thực hiện lượng lớn bước nhảy, vượt qua số lượng điểm nút nhất định, có
nhiều sự thay đổi về chất tương ứng với mức tích luỹ về lượng. Khi vượt qua
được kì thi đại học và trở thành sinh viên của Đại học Tôn Đức Thắng, có
nhiều bước nhảy được thực hiện dẫn đến sự hình thành chất mới. Đầu tiên là sự
thay đổi từ học sinh (chất cũ) thành sinh viên (chất mới), chất mới tác động trở
lại lượng. Giờ đây, lượng là sự tích luỹ kiến thức mới lẫn kỹ năng mềm, bên
cạnh đó cũng là sự phát triển về suy nghĩ, nhận thức, hành động, cách tư duy.
Chất mới có sự khác nhau với chất cũ ở chỗ quá trình tích luỹ kiến thức thông
qua quá trình tự học, tìm tòi nghiên cứu, tự định hướng ở bậc Đại học thay vì là
được thầy cô cung cấp như bậc Trung học. Từ đấy, khi tích luỹ đủ về lượng đạt
mức đầy đủ tín chỉ và hoàn thành việc thực hiện kỹ năng mềm, sinh viên sẽ
được cấp bằng Đại học. Ở giai đoạn này, điểm nút là lượng tín chỉ và kỹ năng
cần đạt, bước nhảy là việc chuyển đổi từ sinh viên sang người không còn thuộc
quyền quản lý của trường học. Cứ như vậy, quy luật lượng- chất phát triển liên
tục, tạo nên sự vận động không ngừng, chất mới liên tục được tạo ra, con người
dần tích luỹ thêm về lượng trong chất mới, tạo tiền đề cho sự phát triển đời sống xã hội. -
Sinh viên phải tự học tập và rèn luyện tính tích cực, tự chủ, nghiêm túc, trung thực:
Cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng theo thời gian, cùng với
đó, con người cũng phải vận động chạy theo nó để không bị bỏ lại phía sau. Là
một sinh viên thời đại mới phát triển và tiên tiến hơn rất nhiều, chúng ta không
thể không ngừng phấn đấu trau dồi bản thân mình. Chúng ta sinh ra ai cũng có
điểm chung là phải sống và làm việc, còn thành công đến như nào là do sự nỗ
lực, cố gắng, do sự rèn luyện mà nên. Bởi thế, việc phải tự học tập, tìm kiếm,
rèn luyện tích cực, trau dồi bản thân khi còn là 1 sinh viên trên giảng đường
Đại học là điều quan trọng và cần thiết. Khi sinh viên biết tự giác học tập, tìm
hiểu, nghiên cứu và họ trở nên tích cực, chủ động hơn trong công việc của
mình. Cùng là một công việc học tập, một người học với thái độ hời hợt, bị ép
buộc và một người học với thái độ hăng say, tự học thì cũng sẽ cho ra 2 kết quả
khác nhau. Việc tự học, tự thân vận động sẽ giúp chúng ta nắm rõ tình hình của
bản thân, biết mình phải làm gì để củng cố cho việc học của mình trở nên tốt
hơn. Đó cũng là một kim chỉ nam giúp chúng ta đi theo con đường đi mình đã
chọn một cách đúng đắn, khi bị lệch khỏi đường ray, ta có thể trở lại con đường
của mình một cách chủ động mà không phải nhờ vào sự giúp đỡ của người
khác. Khi bạn nghiêm túc và tích cực trong công việc của mình, bạn sẽ tìm ra
thêm được nhiều điều hay hơn thế, chúng giúp cho chúng ta có động lực hơn để
phấn đấu tiến tới mục tiêu của mình. Như câu chuyện “sự tích dưa hấu” mà
chúng ta đã được học, đó là anh chàng Mai An Tiêm bị Vua cha giận và đày ra
hòn đảo xa. Từ đó, anh đã tự mình trồng trọt, khai hoang để kiếm sống. Đến
một ngày được một con chim lạ ăn xong nhả hột lên mảnh đất và xuất hiện một
loại cây lạ ra hoa kết trái. Mai An Tiêm đã nghĩ là “của trời ban” bèn ăn thử và
thấy loại trái cây này ngọt mát, anh đã chủ động gieo hạt. Sau đó, được nhiều
người biết đến hơn và Vua cha cũng đã xoá tội vì thấy được sự cố gắng vượt
qua khó khăn, tích cực chủ động trong mọi hoàn cảnh của chàng.
Qua câu chuyện, chúng ta lại thêm phần nào thấy được mình trong đó. Khó
khăn và thử thách sẽ tôi luyện chúng ta đến với thành công vững chắc hơn. Vì
vậy, hãy chủ động học tập, tích cực rèn luyện và nghiêm túc với mục tiêu của
mình. Kết lại, có một câu nói “ Một chú chim đậu trên càng cây không bao giờ
sợ cành cây bị gãy, bởi niềm tin được đặt vào đôi cánh của nó chứ không phải
cành cây”. Vậy nên cơ hội và thành công chỉ đến với những ai biết tin vào bản
thân mình, tự học tập và rèn luyện với nó một cách nghiêm túc và trung thực. -
Trong học tập và nghiên cứu cần tiến hành từ dễ đến khó, tránh
nóng vội đốt cháy giai đoạn:
Từ quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về
chất và ngược lại có thể rút ra một vài kết luận có ý nghĩa phương pháp luận
trong việc học tập và rèn luyện của sinh viên như sau: để có thể tốt nghiệp,
chúng ta phải tích luỹ đủ số lượng các tín chỉ môn học; để môn học có kết quả
tốt, sinh viên phải tích luỹ đủ số lượng tiết của các môn học. Có thể coi thời
gian học là độ, các bài kiểm tra là các điểm nút và điểm số đạt yêu cầu là bước
nhảy, bởi kết quả thi (bước nhảy) tốt là sự kết thúc môt giai đoạn tích luỹ kiến
thức trong quá trình học tập rèn luyện của sinh viên. Vì vậy, trong việc học tập
và các hoạt động học thuật khác, sinh viên phải từng bước tích luỹ kiến thức
(lượng) để làm thay đổi kết quả học tập (chất) theo quy luật. Trong quá trình
học tập và rèn luyện, sinh viên cần tranh tư tưởng nhảy cấp. Sau khi học những
kiến thức cơ bản, tức là khi có sự biến đổi về chất thì sinh viên mới có thể tiếp
tục nghiên cứu những kiến thức khó hơn. Ví dụ như trước khi lên Đại học thì
phải hoàn thành việc học ở 3 cấp bậc trước, nếu không, tình trạng mất gốc sẽ
xảy ra. Việc tiếp thu kiến thức từ cơ bản đến nâng cao là phương pháp học tập
khoa học mọi người đều biết nhưng không phải ai cũng thực hiện đúng quy
trình. Một số trường hợp sinh viên không tập trung học, bị xao nhãng bởi
những chuyện ngoài lề, làm ảnh hưởng đến tốc độ học. Nhiều sinh viên khi đến
gần giai đoạn thi mới bắt đầu học lại từ đầu, nhưng thời gian ôn thi là để sinh
viên ôn lại kiến thức họ đã học chứ không phải tiếp thu thêm cái mới, vì vậy
cho dù sinh viên chăm học trong thời gian đó thì cũng không thể đảm bảo được
lượng kiến thức để vượt qua được kì thi. Ngoài ra, có nhiều sinh viên có sức
học trung bình nhưng lại muốn đăng kí nhiều môn học trong cùng một năm hay
một học kỳ để được ra trường sớm hơn những người khác, dẫn đến không có
môn học nào được hoàn thiện, mất thêm thời gian và tiền bạc để học lại, thi lại.
Tóm lại, muốn tiếp thu được nhiều kiến thức và có kết quả cao trong các kì thi,
sinh viên phải học dần mỗi ngày, từ kiến thức cơ bản đến nâng cao. Từ đó, sự
biến đổi về lượng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất theo hướng tích cực. -
Liên tục phấn đấu học tập và rèn luyện, tránh tư tưởng chủ quan:
Để có thể bước ra ngoài xã hội khắc nghiệt, những sinh viên cần trang bị cho
mình từ những điều đơn giản nhất như kĩ năng giao tiếp, ngôn ngữ,… cho đến
những kiến thức to lớn, thành tựu trong cuộc sống về các lĩnh vực khoa học –
nghệ thuật. Việc trải qua hơn 12 năm học tập là khoảng thời gian bước đệm cho
hành trình tích luỹ ấy. Không những thế, chúng ta vẫn phải tiếp thu những kỹ
năng mềm cho cuộc sống mai sau. Trong quá trình liên tục phấn đấu học tập
ấy,quá trình chuyển hoá từ sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và
ngược lại được thể hiện ở việc sinh viên tích luỹ kiến thức. Áp dụng quy luật
lượng chất, sinh viên liên tục phấn đấu học tập, tìm kiếm những thông tin,
mang về những “lượng” tốt, có cơ sở và đầy đủ. Từ đó, làm biến đổi “chất” tốt
hơn, tạo nên các thành tích, thành tựu tương ứng cho sự nỗ lực ấy. Trên quan
niệm triết học, chất thay đổi sẽ thay đổi cả sự vật. Điều đó được minh chứng
khi sinh viên nỗ lực phấn đấu và trở thành các thầy giáo, giảng viên, lượng sẽ
được đổi mới theo nhịp điệu của chất đã được tạo ra bởi thế hệ trước và truyền lại cho thế hệ sau.
Ở trường Đại học Tôn Đức Thắng, ngoài các bài giảng trên lớp, sinh viên còn
tự tìm tòi, nghiên cứu ở thư viện, tích luỹ và học hỏi những kĩ năng mềm thiết
yếu cho mai sau. Được tự do sáng tạo và trau dồi những “lượng” ở mức tối ưu
nhất, sinh viên luôn đạt được những thứ “chất” lượng nhất: tấm bằng cử nhân,
những học bổng,… và tự tin bước ra đời. Cứ như vậy, quá trình chuyển đổi
giữa chất-lượng liên tục diễn ra không ngừng nghỉ trong sự phát triển, liên tục
phấn đấu không ngừng ở mỗi sinh viên, giúp họ tự tin vững bước trong hành
trang cuộc đời mình. Khi ấy, nhiệm vụ của sinh viên là khai phá hết tiềm năng
tri thức, kho dữ liệu và ứng dụng vào thực tiễn và tiếp tục mở rộng con đường
khoa học – nghệ thuật, tránh bị tư tưởng bảo thủ và chủ quan nghĩ rằng mình đã làm hết sức có thể. -
Rèn luyện ý thức học tập của sinh viên:
Đầu tiên, trong sự vận động và phát triển phải biết tích luỹ về lượng dẫn đến sự
thay đổi về chất; không được nôn nóng cũng như không được bảo thủ. Quá
trình học tập phải được tích luỹ từ từ, đầy đủ kiến thức, hoàn thiện kỹ năng;
không được bỏ qua kiến thức cơ bản. Việc bỏ bước trong tích luỹ sẽ dẫn đến sự
không hoàn thiện về độ, việc thực hiện bước nhảy sẽ không thành công và
không thể hình thành chất mới. Ví dụ, nếu bạn hỏng kiến thức cơ bản ở bậc tiểu
học, bạn sẽ không thể thực hiện bước nhảy để được học ở cấp trung học. Nếu
bạn cố thực hiện bước nhảy, tức là bạn vượt qua điểm nút một cách ép buộc,
chất mới được hình thành nhưng nó không là vận dụng theo quy luật lượng –
chất. Những sự thay đổi về chất do thực hiện bước nhảy gây nên chỉ xảy ra khi
lượng đã thay đổi đến nút, độ được hoàn thiện từ sự tích luỹ đầy đủ về chất.
Bên cạnh, dù rằng sự phát triển và vận động của sự vật, hiện tượng là việc liên
tục thực hiện các bước nhảy, bạn phải chú ý đến độ trong quá trình thay đổi của
lượng, không vội vàng mà bỏ bước. Tư tưởng bảo thủ ngăn bạn không dám
vượt qua điểm nút. Như là một kỳ thi học sinh giỏi, mặc dù bạn có đủ kiến thức
được tích luỹ để tham gia kỳ thi, nhưng lại không đủ tự tin để thực hiện bước
nhảy, thì quá trình tích luỹ đó chỉ được xem là tích luỹ về lượng mà không có
sự thay đổi về chất. Bạn phải nhận thức được mối liên kết giữa các yếu tố tạo
nên sự vật, hiện tượng để lựa chọn phương pháp tích luỹ phù hợp, đẩy nhanh
tiến độ tích luỹ, kèm theo chất lượng của độ. Vận dụng được mối liên kết đó sẽ
giúp bạn hiểu rõ bản chất, quy luật của chất, nâng cao chất lượng của độ. -
Sự phát triển bền vững của tập thể phụ thuộc vào bản thân mỗi sinh viên:
Những kiến thức ngày nay, những công bố, phát minh vĩ đại đều là những sự
tìm tòi, khổ công của những thế hệ nhà khoa học đi trước. Là sự lặp đi lặp lại
hàng ngày của sự chuyển hoá trao đổi giữa chất – lượng. Ở sinh viên chúng ta,
cần có sự lặp lại tuần hoàn phấn đấu tìm tòi. Không nhiều thì ít, mỗi ngày
chúng ta dành một chút thời gian để học, dần sẽ thành một thói quen – như tính
cách chúng ta vậy. Và từ đó nó sẽ quyết định cuộc sống của mỗi chúng ta. Việc
duy trì là không hề dễ dàng nhưng nếu chúng ta kiên cường phát triển thói quen
ấy, ắt hẳn sẽ có được thành công. Quãng đời sinh viên không chỉ dừng lại ở
việc học tập, nó sẽ còn trải dài cho cuộc hành trình khai phá những lượng tri
thức mới để đạt được những vật chất, thành quả mới. Để làm được điều ấy,
phải có cho mình ý chí quyết tâm và sự không ngừng phát triển bền vững. Sinh
viên phải tự động hoá cho mình một bản kế hoạch hợp lý, một thời gian biểu
phù hợp để tích luỹ tri thức. Ở Đại học Tôn Đức Thắng, ngay từ khi bước vào
trường, các sinh viên đã được hướng dẫn cho sự chủ động trong khâu chuẩn bị
quá trình học tập bản thân. Từ đó, xây dựng một kế hoạch phát triển bền vững
trên tinh thần sáng tạo, tự do. Khi ấy, việc trau dồi, tích luỹ được thực hiện trơn
tru với tinh thần phát triển bền vững quá trình học tập, sự không chủ quan trong
quá trình trau dồi kiến thức kết hợp với nỗ lực liên tục phấn đấu học tập, không
gì là không thể trên con đường của mỗi sinh viên. CÂU 4:
Nêu đặc trưng cơ bản của nhà nước theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin. Phân tích đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam? Làm thế nào để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ngày càng vững mạnh hơn khi thực trạng tham nhũng ở nước ta đang diễn
ra phổ biến như hiện nay? Bài làm Định nghĩa:
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Đặc trưng: 1.
Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân;
bảo đảm tất các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. 2.
Nhà nước tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực
nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. 3.
Nhà nước được tổ chức, hoạt động trên cơ sở Hiến pháp
và pháp luật, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và các luật trong đời sống xã hội. 4.
Nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, tất cả vì hạnh phúc con người; bảo đảm trách nhiệm pháp lý
giữa nhà nước và công dân, thực hành, gắn với tăng cường kỷ cương, kỷ luật. 5.
Nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng
thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận. 6.
Nhà nước thực hiện đường lối hoà bình, hữu nghị với nhân
dân các dân tộc và các nhà nước trên thế giới. Tôn trọng và cam kết thực hiện
các công ước, điều ước, hiệp ước quốc tế đã tham gia, ký kết, phê chuẩn.
Thực trạng tham nhũng:
Đảng chỉ rõ tham nhũng đã trở thành một quốc nạn và là một trong bốn nguy cơ
đối với sự sống còn của Đảng và chế độ ta. Nó nghiêm trọng đến mức cho đến
tận bây giờ vẫn diễn biến tinh vi, phức tạp, vẫn “trên nóng dưới lạnh”, vẫn là
vấn đề thời sự nóng bỏng nhất trong các cuộc tiếp xúc cử tri của lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta. Nguyên nhân tham nhũng:
Các nguyên nhân đến từ bên ngoài cũng như chính suy nghĩ, hành động bên
trong của đối tượng tham nhũng. Theo đó:
Các nguyên nhân tác động từ bên ngoài:
Hệ thống pháp luật còn lỏng lẻo, còn nhiều kẽ hở trong quy
định quyền hạn, nhiệm vụ. Các quy trình ra quyết định và hoạch định chính
sách còn thiếu minh bạch, thủ tục hành chính còn rườm rà. Chính các nội dung
này mang đến tính thiếu minh bạch, giúp các cá nhân có cơ hội tham nhũng,… ✓
Do sự sơ hở của tổ chức bộ máy, do sự thiếu đồng bộ và đầy đủ. ✓
Công tác kiểm tra, giám sát còn thiếu chặt chẽ, chưa ngang tầm
nhiệm vụ. Do đó mà tội nhận hối lộ, nhũng nhiễu,… được thực hiện nhiều. ✓
Đấu tranh và xử lý những hành vi tham nhũng chưa kịp thời,
còn tình trạng nể nang, né tránh, sợ “đứt dây động rừng”,… ✓
Tiền lương của công chức còn thấp. Chưa đảm bảo để họ có
thể tận tụy vì công việc chung, bỏ qua các lợi ích bên ngoài để hoàn thành
trách nhiệm, lý tưởng ban đầu. Quy định kê khai tài sản, thu nhập còn nhiều tiêu cực. ✓
Còn thiếu những chế độ, chính sách, quy định chặt chẽ để từng
bước ngăn chặn tham nhũng. ✓
Tính tích cực của người dân trong đấu tranh chống tham nhũng
chưa được phát động thường xuyên. ✓
Vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật, như công an, viện
kiểm sát, tòa án chưa được phát huy đầy đủ nhất. ✓
Công tác giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng trong cán bộ,
đảng viên đã không được quan tâm đúng mức hoặc triển khai thực hiện chưa nghiêm túc,
chưa hiệu quả, thậm chí ở nơi này nơi khác công tác đó còn bị xao nhãng, lãng quên.
Nguyên nhân từ chính đối tượng tham nhũng:
Tất cả các nguyên nhân trên tác động tư tưởng, nhận thức dẫn đến sự suy thoái
nhanh chóng của bộ phận lớn cán bộ.
Sự suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên. Đến từ các nhận thức ích kỷ, tham lam và tư tưởng, lập trường
ban đầu không được giữ vững.
Khi họ được trao quyền hạn nhưng có cơ chế để lợi dụng, chức vụ, quyền hạn
một cách tinh vi. Nhất là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Họ dễ
dàng tiếp cận với nhiều cám dỗ, lợi ích lớn hơn thay vì nhận được quyền lợi từ thực hiện công vụ. Giải pháp:
Vận dụng quan điểm của Lênin trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện
nay, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục phải: 1)
Đẩy mạnh thực hiện các biện pháp trong cải cách hành chính
toàn diện về thể chế, bộ máy. 2)
Chú trọng công tác đào tạo và chọn lọc cán bô Œ có phẩm chất
đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghề nghiệp. 3)
Phát huy dân chủ, gắn cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng với từng bước hiện thực hóa các giá trị dân chủ. 4)
Tăng cường sự minh bạch, công khai trong cơ quan chính
quyền và người có chức quyền. 5)
Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông, đẩy mạnh công tác tuyên truyền;
xây dựng tinh thần thượng tôn pháp l u â tŒ
của tầng lớp nhân dân. 6)
Tăng cường cơ chế giám sát, tăng cường sự giám sát của
nhân dân và cơ quan dân cử. 7)
Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán,
điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng; kỷ l u â tŒ
đi cùng với biểu dương, khen thưởng. 8)
Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng… Câu 5:
Ph.Ăngghen viết: "Những tiền đề và điều kiện kinh tế, rốt cuộc giữ một vai trò
nhất định, nhưng những điều kiện chính trị, v.v.., ngay cả truyền thống tồn
tại trong đầu óc con người cũng đóng một vai trò nhất định, tuy không phải
là quyết định"
. (Nguồn: C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997, tập 37, tr. 642).
Từ lý luận của Triết học Mác – Lênin, Hãy: a.
Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội để làm rõ quan điểm trên. b.
Liên hệ với vai trò của bản thân trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc Việt Nam giai đoạn phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay. Bài làm a.
Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với
tồn tại xã hội để làm rõ quan điểm trên
Khái niệm của ý thức xã hội, tồn tại xã hội ( 0,5 điểm)
Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều
kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã
hội khách quan, là một kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được
ý thức xã hội phản ánh. Trong các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa
con người với giới tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người là những quan hệ cơ bản nhất. ✓
Ý thức xã hội là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử được xân dụng để
giải quyết vẫn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vực xã hội. Nếu “ ý thức ...
không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức” thì ý thứuc xã
hội chính là xã hội tự nhận thức về mình, về sự tồn tại xã hội của mình và về
hiện thực xung quanh mình. Nói cách khác, ý thức xã hội là mặt tinh thần của
đời sống xã hội, là bộ phận hợp thành của văn hóa tinh thần của xã hội. Văn
hóa tinh thần của xã hội mang nặng dấu ấn đặc trưng của hình thái kinh tế - xã
hội, của giai cấp đã tạo ra nó.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội ( 2,5 điểm )
Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội: (0,5 điểm )
Lịch sử xã hội đã cho chúng ta thấy được rằng, trong nhiều trường hợp khi tồn
tại xã hội cũ đã mất đi, nhưng ý thức xã hội cũ tương ứng thì nó lại vẫn còn tồn
tại. Cụ thể thì điều đó biểu hiện rằng ý thức xã hội muốn thoát ly ra khỏi sự
ràng buộc của tồn tại xã hội, ý thức xã hội trong trường hợp này đã biểu hiện
tính độc lập tương đối.
Ta nhận thấy, ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Cho nên
trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới chúng ta sẽ cần phải thường xuyên tăng
cường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lại âm mưu và hành động phá hoại
những lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ. –
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:(0,5 điểm )
Triết học Mác – Lênin đã thừa nhận rằng, trong những điều kiện nhất định tư
tưởng của con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến sẽ có thể vượt
trước sự phát triển của tồn tại xã hội, các tư tưởng này xuất hiện sẽ dự báo được
tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.
Lý do mà ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội là do đặc điểm của tư
tưởng khoa học quy định. Tư tưởng khoa học thường khái quát tồn tại xã hội đã
có và hiện có để rút ra những quy luật phát triển chung của xã hội, quy luật đó
không những phản ánh đúng quá khứ, hiện tại mà còn dự báo đúng tồn tại xã hội trong tương lai.
Khi chúng ta nói rằng, tư tưởng tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội thì
không có nghĩa ý thức xã hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định. Mà là cho