MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................5
I.Hoàn cảnh lịch sử...........................................................................................................5
1.Về phía địch.................................................................................................................5
2. Về phía ta....................................................................................................................5
II. Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ...........................................................................5
1. Chủ trương của Đảng...................................................................................................5
2. Diễn biến chiến dịch Điện biên phủ.............................................................................6
2.1. Diễn biến quá trình đổi chiến thuật từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh
chắc tiến chắc"............................................................................................................6
2.2. Quá trình chuẩn bị cho chiến thuật mới................................................................7
2.3. Diễn biến 3 đợt tấn công bất ngờ..........................................................................7
3. Kết quả chiến dịch.......................................................................................................8
III. Nguyên nhân, kết quả và ý nghĩa của chiến dịch.....................................................8
1. Nguyên nhân dẫn tới sự thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ................................8
2. Kết quả và ý nghĩa.......................................................................................................9
IV. Bài học lịch sử và liên hệ sinh viên VIệt Nam hiện nay.........................................10
1. Bài học lịch sử...........................................................................................................10
2. Liên hệ trách nhiệm sinh viên Việt Nam hiện nay.....................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................13
2
LỜI MỞ ĐẦU
Chiến dịch Điện Biên Phủ, còn được gọi Chiến dịch Trần Đình trận đánh lớn nhất
trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại Mường Thanh, Lai Châu (nay
thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam
Quân đội Liên hiệp Pháp (gồm Lực lượng Viễn chinh Pháp, Binh đoàn dương Pháp,
Quân phụ lực bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam).
Đây là chiến thắng quân slớn nhất trong cuộc Chiến tranh Đông Dương (1945- 1954).
Với thắng lợi quyết định này, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đại tướng
Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp phải đầu hàng vào ngày 7/5/1954, sau suốt 2
tháng cầm cự. Giữa trận này, quân Pháp đã gia tăng lên đến 16.200 người nhưng vẫn
không thể cầm cự được trước các đợt tấn công như bão của Quân đội Nhân dân Việt
Nam. Thực dân Pháp đã không thể bình định Việt Nam bất chấp nhiều năm chiến đấu
cùng với sự hỗ trợ can dự ngày càng sâu của Hoa Kỳ. Pháp đã không còn bất kỳ khả
năng nào để tiếp tục chiến đấu tại Việt Nam sau thảm bại này.
Trên phương diện quốc tế, chiến dịch có một ý nghĩa rất lớn, đi vào lịch sử nhân loại, bởi
đây lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa châu Á đánh bại đội quân
hiện đại tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đồng minh Hoa Kỳ
trong một chiến dịch quân sự lớn. Được xem một thảm họa bất ngờ đối với thực dân
Pháp cũng một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại ý chí duy trì
thuộc địa Đông Dương của Pháp buộc nước này phải hòa đàm rút quân ra khỏi
Đông Dương. Với niềm tin được cổ mạnh mẽ bởi chiến thắng này, các thuộc địa của
Pháp châu Phi cũng đồng loạt nổi dậy đòi độc lập. Chỉ riêng trong năm 1960, 17 nước
châu Phi đã giành được độc lập đến năm 1967, Pháp đã buộc phải trao trả độc lập cho
hầu hết các nước từng là thuộc địa của họ.
Qua đó, thắng lợi của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn
được xem là một cột mốc đánh dấu thất bại hoàn toàn của Pháp trong nỗ lực tái gây dựng
thuộc địa Đông Dương nói riêng đế quốc thực dân của họ nói chung sau Chiến tranh
thế giới thứ hai, chấm dứt hơn 400 năm tồn tại của chủ nghĩa thực dân trên thế giới
này.
3
PHẦN NỘI DUNG
I.Hoàn cảnh lịch sử
1.Về phía địch
Vì kế hoạch Na-va không thực hiện được theo dự kiến, Pháp quyết định xây dựng
Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với lực lượng lúc
cao nhất lên đến 16.200 quân, được bố trí thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49
căn cứ điểm.
Chúng xây dựng Điện Biên Phủ thành một “pháo đài không thể công phá”. Từ đây,
Điện Biên Phủ trở thành trung tâm trong kế hoạch của Pháp được xây dựng kiên cố với 49
cứ điểm, 2 sân bay và 3 phân khu.
2. Về phía ta
Từ tháng 11/1953 đến tháng 2/1954, bộ đội ta liên tục mở các cuộc tiến công ở Tây
Bắc, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào và các chiến trường phối hợp khác. Chiến
thắng đó đã làm cho kế hoạch Na-va của địch đứng trước nguy cơ bị phá sản.
Giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng giải phóng đã mở
rộng, hậu phương đã lớn mạnh, quân đội ta đã trưởng thành, có đủ tinh thần và lực lượng
đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện Biên Phủ,
nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc
đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh.
Ta đã huy động đại bộ phận lực lượng chủ lực tham gia chiến dịch gồm 4 đại đoàn
bộ binh (308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn công binh, thông
tin, vận tải, quân y,…thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương các cấp để
đảm bảo chi viện cho tiền tuyến. Trong một thời gian ngắn khoảng 55 nghìn quân,
hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, 27 nghìn tấn gạo… được đưa ra mặt trận. Như vậy, Điện
Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược của quân dân Việt Nam.
II. Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ
1. Chủ trương của Đảng
Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra chủ
trương chiến lược cho hoạt động quân sự Đông Xuân 1953-1954: sử dụng một bộ phận
chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch tương đối yếu, nhiều
hở và cùng lúc đó tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào
4
vùng tự do của ta. Đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích khắp các chiến trường sau
lưng địch, tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân bộ đội địa
phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho bộ phận chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.
Phương châm, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến lược là: tích cực, chủ động, cơ động
linh hoạt, đánh ăn chắc, tiến ăn chắc.
Tổng quân số huy động 55.000 quân chủ lực, hơn 10 vạn người, 260.000 lực lượng
dân công, thanh niên xung phong và các lực lượng khác đã tham gia Chiến dịch trên tinh
thần tất cả tập trung cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quân dân các địa phương đã huy
động 22.000 lượt xe đạp thồ, 11.800 thuyền bè, 1.800 mảng nứa, 756 xe thô sơ, 914 con
ngựa thồ, xe trâu, một đội ô 628 chiếc… đã vận chuyển 30.759 tấn lương thực, thực
phẩm, khí, quân dụng… để phục vụ Chiến dịch. Đầu tháng 3/1954 công tác chuẩn bị
của ta đã hoàn tất, đến ngày 13/3/1954 quân ta nổ súng tấn công.
2. Diễn biến chiến dịch Điện biên phủ
2.1. Diễn biến quá trình đổi chiến thuật từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh chắc
tiến chắc"
Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị đã họp ra quyết định mở Chiến dịch Điện Biên
Phủ thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt
trận do Đại tướng Nguyên Giáp làm lệnh kiêm thư Đảng ủy chiến dịch. Ngày
25/01/1954, các đơn vị bộ đội của ta đã vị trí tập kết sẵn sàng nổ súng theo phương
châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh”.
Tuy nhiên, Tướng Giáp nhớ đến lời Hồ Chủ tịch căn dặn trước khi lên đường:
Tổng lệnh ra trận, tướng quân tại ngoại. Trao toàn quyền cho chú quyết định. Trận
này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, không chủ quan nóng vội, không mạo hiểm,
chắc thắng mới đánh, không chắc không đánh, thất bại là hết vốn”. Ngoài ra, kết hợp với
nhiều nguồn tin từ chiến trường như Tướng Phạm Kiệt sau khi đích thân đi thị sát trận địa
pháo binh, báo cáo cho tướng Giáp qua điện thoại: Anh Văn à, tôi đơn vị pháo đây.
Pháo triển khai bằng công sự chiến giữa cánh đồng. Ban ngày, bom đạn của địch
đánh thì chắc chắn không trụ được. Đề nghị anh cân nhắc”. Sau này nhìn lại, tướng
Giáp đánh giá rất cao tinh thần trung trực của tướng Kiệt: “ChỉKiệt mới dám nói như
thế thôi!”.
Tướng Giáp nhìn ra 3 khó khăn lớn trong việc thực hiện kế hoạch “đánh nhanh
thắng nhanh”:
- Một là, bộ đội chủ lực của ta chưa đủ lực cũng như kinh nghiệm đánh các công sự nằm
liên hoàn trong một cứ điểm. Trước đó tại một cứ điểm không quá lớn ở Nà Sàn, bộ đội ta
đánh còn chưa được bị thương vong nhiều. Công phá các công sự liên hoàn Điện
Biên Phủ ngay bây giờ là không thực tế.
5
- Hai là, trận này sẽ một trận đánh tổng lực, hiệp đồng giữa pháo binh bộ binh, thế
nhưng pháo binh bộ binh còn chưa qua tập luyện, diễn tập, nhiều chỉ huy đơn vị còn
lúng túng.
- Ba là, quân đội ta từ trước tới giờ chỉ quen chiến tranh du kích, tác chiến ban đêm
những địa hình dễ ẩn náu, kinh nghiệm tấn công đồn ban ngày địa hình bằng phẳng
chưa nhiều. Điều này một bất lợi rất lớn, nhất tại Điện Biên Phủ, nơi quân
Pháp có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng.
Nhận ra 3 khó khăn lớn vừa kể trên, tướng Giáp nhận ra rằng tiếp tục kế hoạch
đánh nhanh thắng nhanh thì khó thể bảo đảm chắc thắng. Toàn bộ lực lượng chủ lực
chính quy của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lúc bây giờ đều dồn hết vào lòng chảo
Điện Biên Phủ để quyết chiến một trận cuối cùng với đế quốc Pháp. Một nước cờ sai lúc
này thể thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc chiến. Trận này nếu thua, sẽ hồi kết đau
đớn cho cuộc kháng chiến vệ quốc kéo dài gần 10 năm chống thực dân Pháp.
Chiều ngày 26/01/1954 sau cuộc họp Đảng Ủy Bộ chỉ huy sáng cùng ngày,
Tướng Giáp đưa ra quyết định khó khăn nhất cuộc đời mình: Hoãn cuộc tấn công. Ông
kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất ‘đánh chắc thắng’, cần chuyển phương
châm tiêu diệt địch từ ‘đánh nhanh thắng nhanh’ sang ‘đánh chắc tiến chắc’”. Nay quyết
định hoãn cuộc tiến công, ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo
pháo ra.
2.2. Quá trình chuẩn bị cho chiến thuật mới
Chuyển sang phương châm chiến lược mới: “đánh chắc, tiến chắc” khiến thời gian
chiến đấu dài hơn, cách đánh cũng khác, chính vậy, tướng Giáp cùng bộ chỉ huy huy
động toàn bộ lực lượng đại quân gấp rút tiến hành các khâu chuẩn bị cần thiết cho kế
hoạch mới. Cụ thể là: bộ binh chuyển sang tập dượt kế hoạch tác chiến mới “đánh
lấn/đánh bóc vỏ”, không tấn công trực diện đào hào áp sát cứ điểm địch để tấn công,
từ đó mà giảm thiểu tối đa thương vong.
Để phục vụ cho chiến thuật “đánh bóc vỏ”, tướng Giáp cho xây dựng một hệ thống
giao thông hào bao vây từng lớp thung lũng Mường Thanh. Trận địa pháo được xếp lại
vào các vị trí mới trong các hầm chắc chắn, kín đáo khó bị công phá hơn. Huy động
sức người, dân công chuẩn bị lương thực, hậu cần, sẵn sàng cho một chiến dịch dài ngày.
2.3. Diễn biến 3 đợt tấn công bất ngờ
Đợt 1 chiến dịch (13/3 - 17/3/1954): Sau 46 ngày chuẩn bị, thời đã chín muồi,
17 giờ 05 phút ngày 13/3/1954, tướng Giáp phát lệnh tấn công: “Chiến dịch lịch sử bắt
đầu. Pháo binh bắn, bắn thật mạnh, bắn cấp tập”. Đại đội pháo binh 806 bắn quả đạn đầu
tiên vào trung tâm đề kháng Him Lam, mở màn cho đợt 1 của chiến dịch. Trong vòng 5
ngày đêm chiến đấu, quân đội ta đã làm chủ được các vùng chiến dịch Him Lam, Độc Lập
Bản Kéo. Trong thời gian này, ở phía quân Pháp, chỉ huy pháo binh- trung Charles
6
Piroth đã tự sát bằng một trái lựu đạn trong hầm vì không thể phá hủy nổi các họng pháo
của quân đội Việt Minh.
Đợt 2 chiến dịch (30/3 - 30/4/1954): Khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và
liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho các
tập đoàn cứ điểm. Để muốn kéo dài thời gian nên quân địch hết sức ngoan cố. Tướng
Nava hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, quyết liệt
nhất, dài ngày nhất, cam go nhất, ta địch giành giật nhau từng đoạn giao thông hào và
từng tấc đất. Đặc biệt, tại đồi C1 quân ta quân Pháp đã giằng co nhau tới 20 ngày, tại
đồi A1 đã giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã
nằm trong tầm bắn của các hình súng bên quân ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động
tinh thần chiến đấu giảm xuống rõ rệt.
Đợt 3 chiến dịch (01/5 - 07/5/1954): Quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông
mở đợt tổng tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày
06/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa quân ta và quân địch diễn ra rất quyết liệt, quân
ta ào ạt xông lên đã tiêu diệt các cốt dùng thuốc nổ để phá các hầm ngầm. Tên chỉ
huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. Vào lúc 17 giờ 30
phút ngày 07/5/1954, quân ta đã chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ
Bộ Tham mưu binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải xin đầu hàng. cờ
“quyết chiến, quyết thắng” của quân ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của quân địch.
ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh cho địch tháo chạy về
Thượng Lào, đến 24 giờ thì tất cả toàn bộ quân của địch đã bị quân ta bắt.
3. Kết quả chiến dịch
Trải qua 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm…”, thông qua phương châm tác chiến
phù hợp, đầy thông minh, sáng tạo cùng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo, sự tập trung
lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Bộ chỉ huy Chiến dịch bằng quyết tâm cao độ; với 3 đợt
tấn công bất ngờ, sấm sét; thực hiện phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc”, quân
và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ- một pháo đài thực dân
Pháp khẳng định là “pháo đài khổng lồ không thể công phá” và “bất khả xâm phạm”.
Kết quả, bắt sống tướng De Castries, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, gồm 21
tiểu đoàn, trong đó17 tiểu đoàn bộ binh động chiến lược, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1
tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 353 sĩ quan từ thiếu uý đến thiếu tá, 16 trung tá và
đại tá, 1 thiếu tướng. Tổng cộng, số lượng địch bị tiêu diệtbắt sống tại Điện Biên Phủ
bằng 4% quân số địch ở Đông Dương, 20% lính Âu - Phi. Ta hy sinh 4.200 đồng chí, mất
tích 792 đồng chí, bị thương 9.118 đồng chí và thu được 28 khẩu pháo, 5.915 khẩu súng
lớn nhỏ, 3 xe tăng, 64 ô tô, 43 tấn dụng cụ thông tin, 20 tấn thuốc quân y, 40 tấn đồ hộp,
40.000 lít xăng dầu, bắn rơi 62 máy bay các loại, giải phóng được nhiều vùng rộng lớn.
Giáng một đòn mạnh, một đòn quyết định, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp.
7
III. Nguyên nhân, kết quả và ý nghĩa của chiến dịch
1. Nguyên nhân dẫn tới sự thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ
- Sự lãnh đạo sáng suốt tài tình và đường lối sáng tạo đúng đắn của Đảng đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh.
- Tinh thần yêu nước nồng nàn nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam được kế
thừa và phát triển lên tầm cao mới dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Sự đoàn kết của tình anh em và liên minh chiến đấu chống giặc giữa ba dân tộc trên bán
đảo Đông Dương là Việt Nam- Lào- Campuchia.
- Sự giúp đỡ quan trọng của các nước hội chủ nghĩa đại diện Trung Quốc
Liên cùng với sự đồng tình, ủng hộ từ bạn quốc tế, trong đó nhân dân tiến bộ
Pháp.
- Quan trọng nhất chính từ tình yêu quê hương đất nước, khát vọng độc lập, tự do
đến cháy bỏng của mỗi con dân đất Việt.
2. Kết quả và ý nghĩa
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc đã đưa cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953-1954 và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đến
thắng lợi vẻ vang.
- Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ chứng tỏ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của
Đảng và đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn mạnh, quyết định, đập tan hoàn toàn kế
hoạch Nava của Pháp.
- Cuộc kháng chiến đã chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước
ta và các nước trên bán đảo Đông Dương.
- Bảo vệ phát triển thành quả Cách mạng tháng 8/1945; mở ra một giai đoạn cách
mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Làm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương, giáng một đòn quyết định vào ý
chí xâm lược của thực dân Pháp.
- Chiến dịch Điện Biên Phủ một trận đánh “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”,
trực tiếp đưa Pháp ngồi vào bàn đàm phán, kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà bìnhViệt Nam, tạo điều kiện để nhân dân ta giải phóng một nửa đất
nước, đưa miền Bắc tiếp tục đi lên xã hội chủ nghĩa.
- Khẳng định sự giúp đỡ to lớn về cả vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế, các nước xã
hội chủ nghĩa mà đại diện là Liên Xô và Trung Quốc.
8
- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh hòa bình,
tiến bộ của nhân loại.
=> Thắng lợi ở Điện Biên Phủ là “thiên sử vàng của dân tộc Việt Nam”, được ghi nhận
một chiến công vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ XX và đi vào lịch sử thế giới như
một cuộc chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các dân tộc bị áp bức,
sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
IV. Bài học lịch sử và liên hệ sinh viên VIệt Nam hiện nay
1. Bài học lịch sử
Thứ nhất, bài học về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đồng lòng
chung sức khắc phục mọi khó khăn gian khổ, đánh bại kẻ thù. Cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp chiến dịch Điện Biên Phủ cho thấy để xây dựng phát huy hiệu quả
khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta phải đưa ra được mục tiêu chung cho cách mạng Việt
Nam hướng tất cả mọi người vào mục tiêu chung đó. Mục tiêu chung của chiến dịch
Điện Biên Phủ hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tạo tiền đề cho
cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam tất cả “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, trước hết
mọi người Việt Nam phải xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, đặt lợi ích của quốc gia, dân
tộc lên trên tạo ra sự ổn định chính trị và sự đồng thuận trong xã hội. Đảng cần chú trọng
bảo đảm quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giải quyết hài hòa giữa lợi ích của các giai
tầng trong xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, bài học về phát huy nội lực, đề cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự
cường, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành chiến thắng. Trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp với một đội quân “đầu trần, chân đất, súng thô”, quân
đội ta đã đánh bại đội quân nhà nghề với “xe tăng, đại bác, máy bay, tàu chiến hiện đại”.
Sở chúng ta làm được điều này ngay từ đầu của cuộc kháng chiến với đường lối
kháng chiến của quân đội ta “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh dựa
vào sức mình là chính”.
Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay, hơn bao giờ hết, theo tinh thần
chiến dịch Điện Biên Phủ, phải phát huy tinh thần độc lập tự chủ, dám nghĩ dám làm, dám
chịu trách nhiệm, phải hết sức coi trọng xây dựng sức mạnh nội lực, đó chính là sức mạnh
tổng hợp từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự điều hành quản của Nhà nước, vai trò
của Mặt trận Tổ quốccác đoàn thể chính trị - hội, tinh thần sức mạnh của nhân
dân Việt Nam yêu nước ở trong và ngoài nước. Để tạo ra nội lực to lớn bền vững của
đất nước phải đặc biệt chú trọng chăm lo tới công tác xây dựng Đảng, xây dựng nền
dân chủ nhân dân, nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị
đưa đất nước phát triển bền vững.
9
Thứ ba, kế thừa phát triển bài học về tôn trọng thực tế, nắm vững quan điểm
thực tiễn, kịp thời sáng tạo trong hành động để đạt được mục đích cao nhất. Trong chiến
dịch Điện Biên Phủ, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy mặt trận Điện Biên Phủ đã
kiên quyết, mưu lược đưa ra thay đổi cách đánh ngay cả khi đã triển khai thành nghị
quyết. Đây là bài học rất có ý nghĩa đối với Đảng và nhân dân ta hiện nay.
Hiện nay, tình hình thế giới trong nước vừa thuận lợi, thời cơ, vừa khó
khăn, thách thức, Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới cần phải xử lý, nhiều việc
hết sức phức tạp. Trong tình hình ấy, đòi hỏi Đảng phải kịp thời hoạch định chính sách,
điều chỉnh mục tiêu cách thức phát triển đất nước sao cho phù hợp với xu thế chung
của thời đại. Luôn bám sát vào sự vận động của thực tiễn, kịp thời phân tích, phát hiện ra
những vấn đề mới, tổng kết thực tiễn, phát triển sáng tạo lý luận chính là những yếu tố
bản để bảo đảm Đảng ta lãnh đạo đường lối đổi mới đúng đắn và thành công.
Thứ tư, bài học về sự tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ
sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn quốc tế. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bên cạnh liên
minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia thì cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân
Việt Nam còn nhận được sự động viên, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước nhân dân
tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới như Liên Xô, Trung Quốc, kể cả nhân dân Pháp
đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân ta.
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa hội nhập quốc tế đã mở ra những thời
mới đồng thời cũng những thách thức đối với các quốc gia nhất đối với các nước
nhỏ, các nước đang phát triển. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, phương hướng hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam được khẳng định đó là: "Chú trọng phát triển
quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy hợp tác với các
nước lớn, đối tác quan trọng". Đây một hướng ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đối
ngoại nhằm tạo lập môi trường hòa bình, ổn định. Sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế -
hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Việt Nam rất cần thiết phải: "Giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước,
nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao vị thế , uy tín của đất nước góp phần vào sự
nghiệp hòa bình độc lập dân tộc dân chủ tiến bộ xã hội trên thế giới" mà trước tiên
là phải xây dựng được mối quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng
chung biên giới. Trên hướng này, Việt Nam chú trọng việc củng cố phát triển tình
đoàn kết hữu nghị đặc biệt, quan hệ hợp tác toàn diện với Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào, quan hệ láng giềng với Campuchia và Trung Quốc. Việt Nam luôn coi trọng và nâng
cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt,
sáng tạo, hiệu quả", tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức nhân
dân các nước, hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã
hội. Thực tế hơn 30 năm đổi mới đất nước, đường lối đối ngoại giao của Đảng ta đã đem
lại nhiều thành công to lớn, kinh tế đất nước không ngừng phát triển, chính trị ổn định,
ngoại giao mở rộng, quốc phòng, an ninh, chủ quyền đất nước được giữ vững.
10
2. Liên hệ trách nhiệm sinh viên Việt Nam hiện nay
- Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ.
- Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác trước âm mưu chia rẽ,
xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây
tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.
- Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động
đền ơn đáp nghĩa,…
- Phong trào toàn dân từng cụm dân cư, từng phường, mạnh hay không do sự
đóng góp chung của tất cả mọi thành viên trong cộng đồng khu vực, từ trẻ đến già, từ cán
bộ, công nhân, viên chức đến sinh viên.
- Với trách nhiệm của người sinh viên, tầng lớp trí thức, có sự hiểu biết, năng động
sáng tạo, lại đang được tiếp thu những kiến thức khoa học của nhân loại, nguồn lực để
xây dựng phát triển đất nước, nhưng mỗi sinh viên cũng cần được sự hỗ trợ, định
hướng dìu dắt của Đảng, Nhà nước, nhà trường của toàn hội, do đó mỗi người
không những chấp hành đúng đủ các quy định của Nhà nước về đảm bảo an ninh trật
tự còn phải tham gia tích cực vào các phong trào bảo vệ an ninh trật tự của địa
phương.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chiến dịch Điện Biên Phủ, Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi
%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph
%E1%BB%A7#
2. Chiến dịch Điện Biên Phủ: hoàn cảnh, diễn biến, ý nghĩa, Cẩm nang học tập,
https://giasuhanoigioi.edu.vn/chien-dich-dien-bien-phu-hoan-canh-dien-bien-vs-y-
nghia.html
3. Diễn biến, kết quả, ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, 2023, Luật dương gia,
https://luatduonggia.vn/dien-bien-ket-qua-va-y-nghia-chien-dich-dien-bien-phu-1954/
4. Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 – Sự kiện mang giá trị và tầm vóc thời đại, 2020, Báo
điện tử Đảng cộng sản Việt Nam,
https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/chien-thang-dien-bien-phu-1954-su-kien-mang-
gia-tri-va-tam-voc-thoi-dai-554132.html
5. Video Tóm tắt Diễn biến, ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ, 2022, Truyền Thống
Việt,
https://www.youtube.com/watch?v=aWn6BWw9FMY&list=PPSV
12

Preview text:

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................4
PHẦN NỘI DUNG...................................................................................................5
I.Hoàn cảnh lịch sử...........................................................................................................5
1.Về phía địch.................................................................................................................5
2. Về phía ta....................................................................................................................5
II. Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ...........................................................................5
1. Chủ trương của Đảng...................................................................................................5
2. Diễn biến chiến dịch Điện biên phủ.............................................................................6
2.1. Diễn biến quá trình đổi chiến thuật từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh
chắc tiến chắc"............................................................................................................6
2.2. Quá trình chuẩn bị cho chiến thuật mới................................................................7
2.3. Diễn biến 3 đợt tấn công bất ngờ..........................................................................7
3. Kết quả chiến dịch.......................................................................................................8
III. Nguyên nhân, kết quả và ý nghĩa của chiến dịch.....................................................8
1. Nguyên nhân dẫn tới sự thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ................................8
2. Kết quả và ý nghĩa.......................................................................................................9
IV. Bài học lịch sử và liên hệ sinh viên VIệt Nam hiện nay.........................................10
1. Bài học lịch sử...........................................................................................................10
2. Liên hệ trách nhiệm sinh viên Việt Nam hiện nay.....................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................................13 2 LỜI MỞ ĐẦU
Chiến dịch Điện Biên Phủ, còn được gọi là Chiến dịch Trần Đình là trận đánh lớn nhất
trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất diễn ra tại Mường Thanh, Lai Châu (nay
thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam và
Quân đội Liên hiệp Pháp (gồm Lực lượng Viễn chinh Pháp, Binh đoàn Lê dương Pháp,
Quân phụ lực bản xứ và Quân đội Quốc gia Việt Nam).
Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc Chiến tranh Đông Dương (1945- 1954).
Với thắng lợi quyết định này, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đại tướng Võ
Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp phải đầu hàng vào ngày 7/5/1954, sau suốt 2
tháng cầm cự. Giữa trận này, quân Pháp đã gia tăng lên đến 16.200 người nhưng vẫn
không thể cầm cự được trước các đợt tấn công như vũ bão của Quân đội Nhân dân Việt
Nam. Thực dân Pháp đã không thể bình định Việt Nam bất chấp nhiều năm chiến đấu
cùng với sự hỗ trợ và can dự ngày càng sâu của Hoa Kỳ. Pháp đã không còn bất kỳ khả
năng nào để tiếp tục chiến đấu tại Việt Nam sau thảm bại này.
Trên phương diện quốc tế, chiến dịch có một ý nghĩa rất lớn, đi vào lịch sử nhân loại, bởi
đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân
hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đồng minh là Hoa Kỳ
trong một chiến dịch quân sự lớn. Được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân
Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại ý chí duy trì
thuộc địa Đông Dương của Pháp và buộc nước này phải hòa đàm và rút quân ra khỏi
Đông Dương. Với niềm tin được cổ vũ mạnh mẽ bởi chiến thắng này, các thuộc địa của
Pháp ở châu Phi cũng đồng loạt nổi dậy đòi độc lập. Chỉ riêng trong năm 1960, 17 nước
châu Phi đã giành được độc lập và đến năm 1967, Pháp đã buộc phải trao trả độc lập cho
hầu hết các nước từng là thuộc địa của họ.
Qua đó, thắng lợi của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn
được xem là một cột mốc đánh dấu thất bại hoàn toàn của Pháp trong nỗ lực tái gây dựng
thuộc địa Đông Dương nói riêng và đế quốc thực dân của họ nói chung sau Chiến tranh
thế giới thứ hai, chấm dứt hơn 400 năm tồn tại của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới này. 3 PHẦN NỘI DUNG
I.Hoàn cảnh lịch sử 1.Về phía địch
Vì kế hoạch Na-va không thực hiện được theo dự kiến, Pháp quyết định xây dựng
Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với lực lượng lúc
cao nhất lên đến 16.200 quân, được bố trí thành một hệ thống phòng thủ chặt chẽ gồm 49 căn cứ điểm.
Chúng xây dựng Điện Biên Phủ thành một “pháo đài không thể công phá”. Từ đây,
Điện Biên Phủ trở thành trung tâm trong kế hoạch của Pháp được xây dựng kiên cố với 49
cứ điểm, 2 sân bay và 3 phân khu. 2. Về phía ta
Từ tháng 11/1953 đến tháng 2/1954, bộ đội ta liên tục mở các cuộc tiến công ở Tây
Bắc, Trung Lào, Bắc Tây Nguyên, Thượng Lào và các chiến trường phối hợp khác. Chiến
thắng đó đã làm cho kế hoạch Na-va của địch đứng trước nguy cơ bị phá sản.
Giành được thế chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ, vùng giải phóng đã mở
rộng, hậu phương đã lớn mạnh, quân đội ta đã trưởng thành, có đủ tinh thần và lực lượng
đảm bảo cho việc giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ.
Đầu tháng 12/1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở chiến dịch Điện Biên Phủ,
nhằm tiêu diệt lực lượng địch ở đây, giải phóng Tây Bắc tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc
đấu tranh ngoại giao để kết thúc chiến tranh.
Ta đã huy động đại bộ phận lực lượng chủ lực tham gia chiến dịch gồm 4 đại đoàn
bộ binh (308, 312, 316, 304), một đại đoàn pháo binh, nhiều tiểu đoàn công binh, thông
tin, vận tải, quân y,…thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận Trung ương và các cấp để
đảm bảo chi viện cho tiền tuyến. Trong một thời gian ngắn có khoảng 55 nghìn quân,
hàng chục tấn vũ khí, đạn dược, 27 nghìn tấn gạo… được đưa ra mặt trận. Như vậy, Điện
Biên Phủ trở thành điểm quyết chiến chiến lược của quân dân Việt Nam.
II. Diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ
1. Chủ trương của Đảng
Cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra chủ
trương chiến lược cho hoạt động quân sự Đông Xuân 1953-1954: sử dụng một bộ phận
chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng mà địch tương đối yếu, có nhiều sơ
hở và cùng lúc đó tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào 4
vùng tự do của ta. Đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau
lưng địch, tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa
phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho bộ phận chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.
Phương châm, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến lược là: tích cực, chủ động, cơ động và
linh hoạt, đánh ăn chắc, tiến ăn chắc.
Tổng quân số huy động 55.000 quân chủ lực, hơn 10 vạn người, 260.000 lực lượng
dân công, thanh niên xung phong và các lực lượng khác đã tham gia Chiến dịch trên tinh
thần tất cả tập trung cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quân và dân các địa phương đã huy
động 22.000 lượt xe đạp thồ, 11.800 thuyền bè, 1.800 mảng nứa, 756 xe thô sơ, 914 con
ngựa thồ, xe trâu, một đội ô tô 628 chiếc… đã vận chuyển 30.759 tấn lương thực, thực
phẩm, vũ khí, quân dụng… để phục vụ Chiến dịch. Đầu tháng 3/1954 công tác chuẩn bị
của ta đã hoàn tất, đến ngày 13/3/1954 quân ta nổ súng tấn công.
2. Diễn biến chiến dịch Điện biên phủ
2.1. Diễn biến quá trình đổi chiến thuật từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh chắc tiến chắc"
Ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị đã họp và ra quyết định mở Chiến dịch Điện Biên
Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt
trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Ngày
25/01/1954, các đơn vị bộ đội của ta đã ở vị trí tập kết và sẵn sàng nổ súng theo phương
châm tác chiến “đánh nhanh, thắng nhanh”.
Tuy nhiên, Tướng Giáp nhớ đến lời Hồ Chủ tịch căn dặn trước khi lên đường:
Tổng tư lệnh ra trận, tướng quân tại ngoại. Trao toàn quyền cho chú quyết định. Trận
này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, không chủ quan nóng vội, không mạo hiểm,
chắc thắng mới đánh, không chắc không đánh, thất bại là hết vốn”
. Ngoài ra, kết hợp với
nhiều nguồn tin từ chiến trường như Tướng Phạm Kiệt sau khi đích thân đi thị sát trận địa
pháo binh, báo cáo cho tướng Giáp qua điện thoại: “Anh Văn à, tôi ở đơn vị pháo đây.
Pháo triển khai bằng công sự dã chiến ở giữa cánh đồng. Ban ngày, bom đạn của địch
mà đánh thì chắc chắn không trụ được. Đề nghị anh cân nhắc”.
Sau này nhìn lại, tướng
Giáp đánh giá rất cao tinh thần trung trực của tướng Kiệt: “Chỉ có Kiệt mới dám nói như thế thôi!”.
Tướng Giáp nhìn ra 3 khó khăn lớn trong việc thực hiện kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh”:
- Một là, bộ đội chủ lực của ta chưa đủ lực cũng như kinh nghiệm đánh các công sự nằm
liên hoàn trong một cứ điểm. Trước đó tại một cứ điểm không quá lớn ở Nà Sàn, bộ đội ta
đánh còn chưa được và bị thương vong nhiều. Công phá các công sự liên hoàn ở Điện
Biên Phủ ngay bây giờ là không thực tế. 5
- Hai là, trận này sẽ là một trận đánh tổng lực, hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh, thế
nhưng pháo binh và bộ binh còn chưa qua tập luyện, diễn tập, nhiều chỉ huy đơn vị còn lúng túng.
- Ba là, quân đội ta từ trước tới giờ chỉ quen chiến tranh du kích, tác chiến ban đêm ở
những địa hình dễ ẩn náu, kinh nghiệm tấn công đồn ban ngày ở địa hình bằng phẳng
chưa có nhiều. Điều này là một bất lợi rất lớn, nhất là tại Điện Biên Phủ, nơi mà quân
Pháp có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng.
Nhận ra 3 khó khăn lớn vừa kể trên, tướng Giáp nhận ra rằng tiếp tục kế hoạch
đánh nhanh thắng nhanh thì khó có thể bảo đảm chắc thắng. Toàn bộ lực lượng chủ lực
chính quy của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lúc bây giờ đều dồn hết vào lòng chảo
Điện Biên Phủ để quyết chiến một trận cuối cùng với đế quốc Pháp. Một nước cờ sai lúc
này có thể thay đổi hoàn toàn cục diện cuộc chiến. Trận này nếu thua, sẽ là hồi kết đau
đớn cho cuộc kháng chiến vệ quốc kéo dài gần 10 năm chống thực dân Pháp.
Chiều ngày 26/01/1954 sau cuộc họp Đảng Ủy và Bộ chỉ huy sáng cùng ngày,
Tướng Giáp đưa ra quyết định khó khăn nhất cuộc đời mình: Hoãn cuộc tấn công. Ông
kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là ‘đánh chắc thắng’, cần chuyển phương
châm tiêu diệt địch từ ‘đánh nhanh thắng nhanh’ sang ‘đánh chắc tiến chắc’”
. Nay quyết
định hoãn cuộc tiến công, ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra.
2.2. Quá trình chuẩn bị cho chiến thuật mới
Chuyển sang phương châm chiến lược mới: “đánh chắc, tiến chắc” khiến thời gian
chiến đấu dài hơn, cách đánh cũng khác, chính vì vậy, tướng Giáp cùng bộ chỉ huy huy
động toàn bộ lực lượng đại quân gấp rút tiến hành các khâu chuẩn bị cần thiết cho kế
hoạch mới. Cụ thể là: bộ binh chuyển sang tập dượt kế hoạch tác chiến mới “đánh
lấn/đánh bóc vỏ”, không tấn công trực diện mà đào hào áp sát cứ điểm địch để tấn công,
từ đó mà giảm thiểu tối đa thương vong.
Để phục vụ cho chiến thuật “đánh bóc vỏ”, tướng Giáp cho xây dựng một hệ thống
giao thông hào bao vây từng lớp thung lũng Mường Thanh. Trận địa pháo được xếp lại
vào các vị trí mới trong các hầm chắc chắn, kín đáo và khó bị công phá hơn. Huy động
sức người, dân công chuẩn bị lương thực, hậu cần, sẵn sàng cho một chiến dịch dài ngày.
2.3. Diễn biến 3 đợt tấn công bất ngờ
Đợt 1 chiến dịch (13/3 - 17/3/1954): Sau 46 ngày chuẩn bị, thời cơ đã chín muồi,
17 giờ 05 phút ngày 13/3/1954, tướng Giáp phát lệnh tấn công: “Chiến dịch lịch sử bắt
đầu. Pháo binh bắn, bắn thật mạnh, bắn cấp tập”
. Đại đội pháo binh 806 bắn quả đạn đầu
tiên vào trung tâm đề kháng Him Lam, mở màn cho đợt 1 của chiến dịch. Trong vòng 5
ngày đêm chiến đấu, quân đội ta đã làm chủ được các vùng chiến dịch Him Lam, Độc Lập
và Bản Kéo. Trong thời gian này, ở phía quân Pháp, chỉ huy pháo binh- trung tá Charles 6
Piroth đã tự sát bằng một trái lựu đạn trong hầm vì không thể phá hủy nổi các họng pháo
của quân đội Việt Minh.
Đợt 2 chiến dịch (30/3 - 30/4/1954): Khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và
liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho các
tập đoàn cứ điểm. Để muốn kéo dài thời gian nên quân địch hết sức ngoan cố. Tướng
Nava hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, quyết liệt
nhất, dài ngày nhất, cam go nhất, ta và địch giành giật nhau từng đoạn giao thông hào và
từng tấc đất. Đặc biệt, tại đồi C1 quân ta và quân Pháp đã giằng co nhau tới 20 ngày, tại
đồi A1 đã giằng co tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã
nằm trong tầm bắn của các hình súng bên quân ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động và
tinh thần chiến đấu giảm xuống rõ rệt.
Đợt 3 chiến dịch (01/5 - 07/5/1954): Quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông
và mở đợt tổng tiến công tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày
06/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa quân ta và quân địch diễn ra rất quyết liệt, quân
ta ào ạt xông lên đã tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ để phá các hầm ngầm. Tên chỉ
huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. Vào lúc 17 giờ 30
phút ngày 07/5/1954, quân ta đã chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ
Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải xin đầu hàng. Lá cờ
“quyết chiến, quyết thắng” của quân ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của quân địch. Và
ngay trong đêm đó, quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh cho địch tháo chạy về
Thượng Lào, đến 24 giờ thì tất cả toàn bộ quân của địch đã bị quân ta bắt.
3. Kết quả chiến dịch
Trải qua 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm…”, thông qua phương châm tác chiến
phù hợp, đầy thông minh, sáng tạo cùng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo, sự tập trung
lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Bộ chỉ huy Chiến dịch bằng quyết tâm cao độ; với 3 đợt
tấn công bất ngờ, sấm sét; thực hiện phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc”, quân
và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ- một pháo đài mà thực dân
Pháp khẳng định là “pháo đài khổng lồ không thể công phá” và “bất khả xâm phạm”.
Kết quả, bắt sống tướng De Castries, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, gồm 21
tiểu đoàn, trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh cơ động chiến lược, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1
tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 353 sĩ quan từ thiếu uý đến thiếu tá, 16 trung tá và
đại tá, 1 thiếu tướng. Tổng cộng, số lượng địch bị tiêu diệt và bắt sống tại Điện Biên Phủ
bằng 4% quân số địch ở Đông Dương, 20% lính Âu - Phi. Ta hy sinh 4.200 đồng chí, mất
tích 792 đồng chí, bị thương 9.118 đồng chí và thu được 28 khẩu pháo, 5.915 khẩu súng
lớn nhỏ, 3 xe tăng, 64 ô tô, 43 tấn dụng cụ thông tin, 20 tấn thuốc quân y, 40 tấn đồ hộp,
40.000 lít xăng dầu, bắn rơi 62 máy bay các loại, giải phóng được nhiều vùng rộng lớn.
Giáng một đòn mạnh, một đòn quyết định, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp. 7
III. Nguyên nhân, kết quả và ý nghĩa của chiến dịch
1. Nguyên nhân dẫn tới sự thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ
- Sự lãnh đạo sáng suốt tài tình và đường lối sáng tạo đúng đắn của Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Tinh thần yêu nước nồng nàn và nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam được kế
thừa và phát triển lên tầm cao mới dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Sự đoàn kết của tình anh em và liên minh chiến đấu chống giặc giữa ba dân tộc trên bán
đảo Đông Dương là Việt Nam- Lào- Campuchia.
- Sự giúp đỡ quan trọng của các nước xã hội chủ nghĩa mà đại diện là Trung Quốc và
Liên Xô cùng với sự đồng tình, ủng hộ từ bè bạn quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp.
- Quan trọng nhất chính là từ tình yêu quê hương đất nước, là khát vọng độc lập, tự do
đến cháy bỏng của mỗi con dân đất Việt.
2. Kết quả và ý nghĩa
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc đã đưa cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953-1954 và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đến thắng lợi vẻ vang.
- Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ chứng tỏ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của
Đảng và đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn mạnh, quyết định, đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava của Pháp.
- Cuộc kháng chiến đã chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước
ta và các nước trên bán đảo Đông Dương.
- Bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng 8/1945; mở ra một giai đoạn cách
mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Làm xoay chuyển cục diện chiến tranh Đông Dương, giáng một đòn quyết định vào ý
chí xâm lược của thực dân Pháp.
- Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận đánh “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”,
trực tiếp đưa Pháp ngồi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến
tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, tạo điều kiện để nhân dân ta giải phóng một nửa đất
nước, đưa miền Bắc tiếp tục đi lên xã hội chủ nghĩa.
- Khẳng định sự giúp đỡ to lớn về cả vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế, các nước xã
hội chủ nghĩa mà đại diện là Liên Xô và Trung Quốc. 8
- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình,
tiến bộ của nhân loại.
=> Thắng lợi ở Điện Biên Phủ là “thiên sử vàng của dân tộc Việt Nam”, được ghi nhận là
một chiến công vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỉ XX và đi vào lịch sử thế giới như
một cuộc chiến công hiển hách, báo hiệu sự thắng lợi của nhân dân các dân tộc bị áp bức,
sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân.
IV. Bài học lịch sử và liên hệ sinh viên VIệt Nam hiện nay
1. Bài học lịch sử
Thứ nhất, bài học về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, đồng lòng
chung sức khắc phục mọi khó khăn gian khổ, đánh bại kẻ thù. Cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và chiến dịch Điện Biên Phủ cho thấy để xây dựng và phát huy hiệu quả
khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta phải đưa ra được mục tiêu chung cho cách mạng Việt
Nam và hướng tất cả mọi người vào mục tiêu chung đó. Mục tiêu chung của chiến dịch
Điện Biên Phủ là hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tạo tiền đề cho
cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Ngày nay mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là tất cả vì “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và để thực hiện thắng lợi mục tiêu trên, trước hết
mọi người Việt Nam phải xóa bỏ mọi mặc cảm, định kiến, đặt lợi ích của quốc gia, dân
tộc lên trên tạo ra sự ổn định chính trị và sự đồng thuận trong xã hội. Đảng cần chú trọng
bảo đảm quyền lợi chính đáng của cộng đồng, giải quyết hài hòa giữa lợi ích của các giai
tầng trong xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, bài học về phát huy nội lực, đề cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự
cường, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để giành chiến thắng. Trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp với một đội quân “đầu trần, chân đất, súng thô”, quân
đội ta đã đánh bại đội quân nhà nghề với “xe tăng, đại bác, máy bay, tàu chiến hiện đại”.
Sở dĩ chúng ta làm được điều này là vì ngay từ đầu của cuộc kháng chiến với đường lối
kháng chiến của quân đội ta là “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh và dựa
vào sức mình là chính”.
Trong sự nghiệp đổi mới của đất nước ta hiện nay, hơn bao giờ hết, theo tinh thần
chiến dịch Điện Biên Phủ, phải phát huy tinh thần độc lập tự chủ, dám nghĩ dám làm, dám
chịu trách nhiệm, phải hết sức coi trọng xây dựng sức mạnh nội lực, đó chính là sức mạnh
tổng hợp từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự điều hành quản lý của Nhà nước, vai trò
của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, tinh thần và sức mạnh của nhân
dân Việt Nam yêu nước ở trong và ngoài nước. Để tạo ra nội lực to lớn và bền vững của
đất nước phải đặc biệt chú trọng và chăm lo tới công tác xây dựng Đảng, xây dựng nền
dân chủ nhân dân, nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị
đưa đất nước phát triển bền vững. 9
Thứ ba, kế thừa và phát triển bài học về tôn trọng thực tế, nắm vững quan điểm
thực tiễn, kịp thời sáng tạo trong hành động để đạt được mục đích cao nhất. Trong chiến
dịch Điện Biên Phủ, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy mặt trận Điện Biên Phủ đã
kiên quyết, mưu lược đưa ra thay đổi cách đánh ngay cả khi đã triển khai thành nghị
quyết. Đây là bài học rất có ý nghĩa đối với Đảng và nhân dân ta hiện nay.
Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó
khăn, thách thức, Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới cần phải xử lý, nhiều việc
hết sức phức tạp. Trong tình hình ấy, đòi hỏi Đảng phải kịp thời hoạch định chính sách,
điều chỉnh mục tiêu và cách thức phát triển đất nước sao cho phù hợp với xu thế chung
của thời đại. Luôn bám sát vào sự vận động của thực tiễn, kịp thời phân tích, phát hiện ra
những vấn đề mới, tổng kết thực tiễn, phát triển sáng tạo lý luận chính là những yếu tố cơ
bản để bảo đảm Đảng ta lãnh đạo đường lối đổi mới đúng đắn và thành công.
Thứ tư, bài học về sự tăng cường đoàn kết, mở rộng quan hệ đối ngoại, tranh thủ
sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bên cạnh liên
minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia thì cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân
Việt Nam còn nhận được sự động viên, ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước và nhân dân
tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới như Liên Xô, Trung Quốc, kể cả nhân dân Pháp
đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân ta.
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã mở ra những thời cơ
mới đồng thời cũng là những thách thức đối với các quốc gia nhất là đối với các nước
nhỏ, các nước đang phát triển. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, phương hướng hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam được khẳng định đó là: "Chú trọng phát triển
quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng, thúc đẩy hợp tác với các
nước lớn, đối tác quan trọng". Đây là một hướng ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đối
ngoại nhằm tạo lập môi trường hòa bình, ổn định. Sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế -
xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam rất cần thiết phải: "Giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước,
nâng cao đời sống nhân dân, nâng cao vị thế , uy tín của đất nước và góp phần vào sự
nghiệp hòa bình độc lập dân tộc và dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới" mà trước tiên
là phải xây dựng được mối quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng
có chung biên giới. Trên hướng này, Việt Nam chú trọng việc củng cố và phát triển tình
đoàn kết hữu nghị đặc biệt, quan hệ hợp tác toàn diện với Cộng hòa dân chủ nhân dân
Lào, quan hệ láng giềng với Campuchia và Trung Quốc. Việt Nam luôn coi trọng và nâng
cao hiệu quả của công tác ngoại giao nhân dân theo phương châm "chủ động, linh hoạt,
sáng tạo, hiệu quả", tăng cường quan hệ song phương và đa phương với các tổ chức nhân
dân các nước, hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã
hội. Thực tế hơn 30 năm đổi mới đất nước, đường lối đối ngoại giao của Đảng ta đã đem
lại nhiều thành công to lớn, kinh tế đất nước không ngừng phát triển, chính trị ổn định,
ngoại giao mở rộng, quốc phòng, an ninh, chủ quyền đất nước được giữ vững. 10
2. Liên hệ trách nhiệm sinh viên Việt Nam hiện nay
- Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khoẻ.
- Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác trước âm mưu chia rẽ,
xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây
tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.
- Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa,…
- Phong trào toàn dân ở từng cụm dân cư, từng phường, xã có mạnh hay không là do sự
đóng góp chung của tất cả mọi thành viên trong cộng đồng khu vực, từ trẻ đến già, từ cán
bộ, công nhân, viên chức đến sinh viên.
- Với trách nhiệm của người sinh viên, là tầng lớp trí thức, có sự hiểu biết, năng động và
sáng tạo, lại đang được tiếp thu những kiến thức khoa học của nhân loại, là nguồn lực để
xây dựng và phát triển đất nước, nhưng mỗi sinh viên cũng cần được sự hỗ trợ, định
hướng và dìu dắt của Đảng, Nhà nước, nhà trường và của toàn xã hội, do đó mỗi người
không những chấp hành đúng và đủ các quy định của Nhà nước về đảm bảo an ninh trật
tự mà còn phải tham gia tích cực vào các phong trào bảo vệ an ninh – trật tự của địa phương. 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chiến dịch Điện Biên Phủ, Wikipedia, https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi
%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_%C4%90i%E1%BB%87n_Bi%C3%AAn_Ph %E1%BB%A7#
2. Chiến dịch Điện Biên Phủ: hoàn cảnh, diễn biến, ý nghĩa, Cẩm nang học tập,
https://giasuhanoigioi.edu.vn/chien-dich-dien-bien-phu-hoan-canh-dien-bien-vs-y- nghia.html
3. Diễn biến, kết quả, ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, 2023, Luật dương gia,
https://luatduonggia.vn/dien-bien-ket-qua-va-y-nghia-chien-dich-dien-bien-phu-1954/
4. Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954 – Sự kiện mang giá trị và tầm vóc thời đại, 2020, Báo
điện tử Đảng cộng sản Việt Nam,
https://dangcongsan.vn/tu-tuong-van-hoa/chien-thang-dien-bien-phu-1954-su-kien-mang-
gia-tri-va-tam-voc-thoi-dai-554132.html
5. Video Tóm tắt Diễn biến, ý nghĩa Chiến dịch Điện Biên Phủ, 2022, Truyền Thống Việt,
https://www.youtube.com/watch?v=aWn6BWw9FMY&list=PPSV 12