













Preview text:
CHÍNH SÁCH ĐỘC QUYỀN
Nguyễn Trần Bảo Ngọc – TCDN 64E Lời mở đầu
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam được nghiên cứu rất nhiều dựa
vào hành vi, mối quan hệ của các doanh nghiệp, của các nhà
kinh tế, người tiêu dùng, chính phủ.
Kinh tế học là môn nghiên cứu việc lựa chọn cách sử dụng hợp
lí các nguồn lực khan hiếm để sản xuất ra các hàng hòa cần
thiết và phân phối chúng cho các thành viên trong xã hội. Theo
phạm vi nghiên cứu, kinh tế học chia thành 2 loại là kinh tế học
vi mô và kinh tế học vĩ mô. Kinh tế vi mô là môn khoa học quan
tâm đến việc nghiên cứu, phân tích, lựa chọn các vấn đề kinh tế
cụ thể của các tế bào trong nền kinh tế.
Để phát triển kinh tế thì các nhà kinh tế học phải nắm bắt được
cấu trúc của thị trường mới có thể đưa ra các quyết định, dự
đoán trong tương lai cho các ngành nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung.
Nền kinh tế thị trường nước ta mới phát triển, do đó, trong nhận
thức cũng như thực tiễn, một số hiện tượng của nền kinh tế thị
trường còn được hiểu khác nhau và thậm chí chưa phù hợp với
thông lệ quốc tế, trong đó có khái niệm độc quyền. Bài viết sẽ
nêu lên những nét cơ bản xung quanh khái niệm độc quyền,
thực trạng độc quyền và nêu ra một số giải pháp xử lý vấn đề
độc quyền trong tình hình hiện nay ở nước ta. 1 MỤC LỤC I/ Khái niệm độc
quyền…………………………………………………………..3
II/ Nguyên nhân dẫn đến độc quyền………..
…………………………………….4
III/ Chính sách độc quyền của các quốc gia trên thế
giới…………….…………6
IV/ Chính sách độc quyền của Việt Nam………………………. ………………..9 2
I/ Khái niệm độc quyền.
Hiện nay, xét về tính chất cạnh tranh, thị được chia thành 4 loại
thị trường chính: Cạnh tranh hoàn hảo, bán cạch tranh, bán độc
quyền, độc quyền. Trong 4 loại thi trường trên, thị trường độc
quyền là đặc biệt và khác biệt rõ rệt so với các thị trường còn
lại. Vậy thị trường độc quyền là gì?
Thị trường độc quyền là thị trường chỉ có một hãng sản xuất
và cung cấp toàn bộ hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể. Trong thị
trường sản phẩm là độc nhất và không có hàng hóa thay thế gần gũi.
Thông tin trên thị trường độc quyền là bí mật. Sản lượng và giá
cả sản phẩm là do các nhà độc quyền quyết định. Việc gia nhập
và rút lui khỏi thị trường là rất khó khăn vì rào cản của thị
trường như luật pháp, vốn, công nghệ là rất lớn.
Trên thị trường độc quyền do nguồn cung cấp khan hiếm, không
đa dạng như thị trường cạnh tranh hoàn hảo nên dẫn đến việc
thiếu tính cạch tranh. Đường cầu của doanh nghiệp cạnh tranh
hoàn hảo là đường nằm ngang và co dãn hoàn toàn, do đó
doanh nghiệp phải chấp nhận giá thị trường và không phụ
thuộc vào số lượng sản phẩm. Ngược lại đối với thị trường độc
quyền thì không tồn tại đường cầu của doanh nghiệp do chỉ có
một nguồn cung cấp hàng hóa duy nhất, có sự kiểm soát đối
với lượng sản phẩm đưa ra bán và áp đặt giá phù hợp để có thể
thu về lợi nhuận là tối đa. Chính vì không có sự cạnh tranh công
bằng trên thị trường nên người tiêu dùng phải chấp nhận trả
cho các mặt hàng đó với giá cao. 3
Tuy thiếu sự cạnh tranh nhưng không vì thế mà chất lượng sản
phẩm của các hãng độc quyền kém chất lượng vì họ luôn mong
muốn tối đa hóa lợi nhuận đồng thời có sự tham gia quản lí của
nhà nước. Nhưng trong những năm gần đây, người tiêu dùng
đang phải chấp nhận một số mặt hàng, dịch vụ có giá đắt đỏ
nhưng chất lượng thì lại tỷ lệ nghịch với những gì mà họ phải bỏ ra.
Điển hình trong số đó là độc quyền về điện EVN, giá điện mỗi
năm một tăng cao, nhưng cùng với điều đó là chất lượng ngay
càng đi xuống, lợi ích mà người tiêu dùng nhận được từ việc
chấp nhận trả mức giá cao không được đảm bảo. Hay như về
xăng dầu, trước đây chỉ có tổng công ty Xăng dầu Việt Nam
Petrolimex 100% là vốn đầu tư nhà nước. Lúc này, các mặt
hàng xăng dầu bị áp đặt giá cao, đồng thời các mức giá thay
đổi liên tục theo chiều hướng tăng. Đây là nguồn năng lượng
thiết yếu đối với xã hội, Vì vậy người tiêu dùng phải chấp nhận
mức giá cao là lẽ đương nhiên. Hiện nay thì ngành này đã được
mở rộng hơn thành độc quyền tập đoàn nhưng chiếm 60% vẫn
là của Petrolimex, khi được mở rộng thị trường hơn thì ngời tiêu
dùng có nhận được gia ưu đãi hơn, tuy nhiên mức độ giảm giá
của mặt hàng này là không đàng kể. Ngoài ra, ở Việt Nam còn
một ngành độc quyền nữa mà luôn bị người dân đưa ra nhũng
phản ứng trái chiều là độc quyền nước. Trong khi nguồn nước
sạch cung cấp cho người dân còn chưa được đảm bảo về cả
mặt chất lượng lẫn khối lượng mà giá của mặt hàng này thì cứ
tăng liên tục. Lợi ích của người tiêu dùng không được đặt lên
hàng đầu mặc dù đã phải chấp nhận mạnh tay chi tiền cho mặt
hàng đó. Bạn đã bao giờ gặp phải tình huống mua cùng một
mặt hàng, cùng một địa điểm nhưng hai người lại mua với hai giá khác nhau chưa?
Ngoài chính sách áp đặt giá trong thị trường độc quyền thì
chính sách phân biệt giá là một chính sách nhằm tối ưu hóa lợi
nhuận khá an toàn và khôn ngoan mà các nhà độc quyền khác
trên thế giới lựa chọn.
Xét với các nhãn hàng nổi tiếng trên thế giới như: Chanel,
Adidas, Nike, Apple,…Khi ra mắt mặt hàng nào đó, với thương
hiệu của mình, họ nhắm ngay tới các tầng lớp trên của xã hội,
từ đó đưa ra mức giá cao phù hợp cho tầng lớp những người có 4
tu nhập cao có thể chấp nhận mua được. Nhưng sau đó, khi thu
được lợi nhuận tối đa từ tầng lớp này, mặt hàng đã giảm độ
“hot” thì học chấp nhận giảm giá để phù hợp với những tầng
lớp có thu nhập thấp hơn trong xã hội. Môt chiếc túi, một đôi
giày hay một cái mũ trước đây với giá cả trăm triệu nhưng sau
đó thì được ưu đãi giảm giá phân nửa trong một thời gian ngắn
sau đó. Như vậy với chính sách này cùng một mặt hàng nhà sản
xuất có thể thu được lợi nhuận là tối ưu nhất.
II/ Nguyên nhân dẫn đến độc quyền.
Sự đụng độ, cạch tranh khốc liệt của các doanh nghiệp trên thị
trường cùng với đó là sự ủng hộ “hết mình” của nhà nước đối
với với một số doanh nghiệp đã dẫn đến thị trường độc quyền.
Từ đó dẫn đến xu hướng kí kết, thỏa hiệp, thâu tóm lẫn nhau
trong cùng một lĩnh vực để tạo nên độc quyền với sức mạnh vô
cùng lớn ở một số ngành như: Điện, Xăng dầu, nước,....
Một số nguyên nhân chính gây ra độc quyền trên thị trường là
- Chính phủ nhường quyền khai thác tài nguyên nào đó: Chính
quyền địa phương có thể nhượng quyền khai thác cho một
doanh nghiệp nào đó. Hay nhà nước tạo ra cơ chế độc quyền
nhà nước cho một công ty như trường hợp chính phủ Anh trao
đọc quyền buôn bán với Ấn Độ cho Công ty Đông Ấn.
- Nếu kinh phí quá cao, thị trường có thể bị hạn chế trong một
khu vực nhất định nào đó và nếu trong khu vực đó có một
doanh nghiệp cung cấp sản phẩm thì sẽ dẫn đến tình trang gần
như chiếm đoạt quyền trong kinh doanh.
- Chế độ sở hữu đối với phát minh sáng chế và sở hữu trí tuệ:
Một mặt chế độ này làm cho những phát minh, sáng chế tăng
theo một thời gian nhất định nhưng mặt khác nó tạo cho người
nắm giữ bản quyền có thể dữ được vị trí độc tôn trong thời hạn
được giữ bản quyền theo những văn bản do nhà nước ban hành.
- Do sở hữu được một nguồn lựa lớn hay còn gọi là kiểm soát
yếu tố đầu vào sản xuất: Điều này giúp cho người nắm giữ có vị
trí gần như trọn vẹn trên thị trường. Ví dụ điển hình như Nam
Phi được sở hữu những mỏ kim cương chiếm phần lớn sản lượng
của thế giới và do đó quốc gia này có vị trí gần như đứng đầu
trên thị trường kim cương. 5
- Đạt được tính quy mô, yếu tố quan trong quyết định thị
trường là đạt sản lượng ở mức quy mô tối thiểu có hiệu quả so
với cầu của thị trường, tức là sản lượng tại đó đường chi phí
bình quân dài hạn của doanh nghiệp LAC ngừng đi xuống.
Ở Việt Nam hiện nay có hai loại hình độc quyền sau:
- Loại hình thứ nhất là kết quả cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường. Trường hợp công ty Coca Cola được coi là ví dụ về hình
thức độc quyền là kết quả của cạnh tranh trên thị trường nước
uống có ga của Việt Nam. Tuy thế, nền kinh tế thị trường Việt
Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển, vì vậy, cho
đến nay chỉ có một vài trường hợp liên quan đến độc quyền là
kết quả của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Chắc chắn
trong tương lai, loại hình độc quyền này sẽ phổ biến hơn.
- Loại hình thứ hai là loại hình độc quyền được coi là phổ biến
nhất ở Việt Nam hiện nay là độc quyền là kết quả của cơ chế
hành chính trước đây và một số quy định của pháp luật cũng
như các chính sách kinh tế hiện hành. Trong nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung cao độ trước đây, chúng ta chỉ thừa nhận
hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân
không tồn tại trong thời gian đó. Chế độ công hữu này đã tạo ra
sự độc quyền nhà nước trong tất cả các ngành kinh tế. Nhà
nước thành lập các xí nghiệp quốc doanh để sản xuất và cung
ứng sản phẩm cho người tiêu dùng. Cơ chế quản lý kinh tế bằng
các mệnh lệnh hành chính đã hình thành nên các doanh nghiệp
nhà nước độc quyền mà một số vẫn còn tồn tại cho đến ngày
nay. Hơn nữa, hiện nay còn có xu hướng độc quyền nhà nước
biến thành độc quyền doanh nghiệp.
Ví dụ điển hình cho loại hình này là:
+Việc nắm giữ đường trục viễn thông quốc gia sẽ tạo lợi thế
cho VNPT ngăn cản các công ty khác tham gia vào thị trường
viễn thông, bởi lẽ nếu các công ty khác muốn cung cấp dịch vụ
viễn thông họ buộc phải sử dụng đường trục viễn thông quốc
gia do VNPT quản lý. Với lợi thế về thị phần sẵn có từ trước cùng
với các quy định của pháp luật, VNPT đã tính giá dịch vụ viễn
thông cung cấp cho người sử dụng cao hơn 30% so với các nước ASEAN . 6
+ Tình trạng này cũng tương tự như ở Tổng công ty điện lực
Việt Nam (EVN). Ở nước ta đã có một số doanh nghiệp sản xuất
điện nhưng chỉ EVN được nắm giữ hệ thống truyền tải điện.
Trong thị trường điện lực, việc sản xuất điện có liên quan mật
thiết đến việc truyền tải điện. Điều này làm cho các doanh
nghiệp sản xuất điện phải phụ thuộc vào EVN - một đối thủ
cạnh tranh trên cùng thị trường. Chính vì vậy, độc quyền của
EVN đối với việc kinh doanh điện là điều không thể tránh khỏi.
Qua đó cho thấy, việc pháp luật quy định nhà nước nắm độc
quyền đối với các phương tiện thiết yếu như đường trục viễn
thông quốc gia, hệ thống dây tải điện hay các nhà ga sân bay,
hệ thống đường sắt nhưng không có sự tách biệt ràng các yếu
tố thuộc về cạnh tranh tiềm năng và các yếu tố thuộc về độc
quyền tự nhiên đã làm cho độc quyền nhà nước biến thành độc
quyền doanh nghiệp. Vì thế, các doanh nghiệp tư nhân đang
gặp nhiều khó khăn vì khả năng cạnh tranh thấp do bị "che
khuất" bởi những tập đồn, nhóm doanh nghiệp lớn của Nhà
nước, dù có nỗ lực đến mấy cũng chưa có điều kiện để tiếp cận
các nguồn lực kinh tế lớn, nên không thể đầu tư lâu dài để trở
thành những doanh nghiệp có quy mơ đáng kể hơn. Đó là
nguyên nhân vì sao cho tới nay các doanh nghiệp tư nhân quy
mô lớn, dựa trên sản phẩm có sức cạnh tranh cao, hay sản
phẩm riêng biệt tạo ra nhiều giá trị gia tăng cho xã hội gần như
chưa xuất hiện trong nền kinh tế nước ta. Có thể nói rằng: ở
một chừng mực nhất định, chính sách kinh tế đã trở thành rào
cản tạo ra độc quyền trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.
III/ Chính sách độc quyền của các quốc gia trên thế giới.
(Cụ thể là Liên minh Châu Âu EU) 1.
Luật cạnh tranh và chống độc quyền của Liên minh Châu Âu.
Ngay từ khi thành lập Liên minh Châu Âu (EU), chính sách cạnh
tranh được coi như một công cụ quan trọng để thúc đẩy quá
trình liên kết kinh tế giữa các nước trong khối. Theo đó, Luật
Cạnh tranh thúc đẩy việc duy trì cạnh tranh trong Liên minh
châu Âu thông qua các quy định hành vi hạn chế cạnh tranh
của các công ty để bảo đảm rằng họ không tạo ra các tập đoàn
thoả thuận hạn chế cạnh tranh và công ty độc quyền mà sẽ gây 7
thiệt hại đến lợi ích của xã hội. Được ghi nhận lần đầu tiên
trong Hiệp ước Rome, các quy định về cạnh tranh tiếp tục được
quy định và phát triển trong các hiệp ước sau cũng như trong
hệ thống pháp luật châu Âu. Luật Cạnh tranh của EU yêu cầu
chính phủ các quốc gia thành viên không được đặt ra hoặc duy
trì các biện pháp nhằm hạn chế một trong ba nguyên tắc tự do
cơ bản của liên minh: tự do lưu thông hàng hóa, tự do di chuyển
và tự do cung cấp dịch vụ.
Ngoài ra, chính sách cạnh tranh của EU còn kiểm soát chặt chẽ
các khoản trợ cấp của nhà nước dành cho các xí nghiệp của
mình, để ngăn chặn xu hướng chính phủ các nước thông qua
các khoản trợ cấp hay những đặc quyền nào đó bù đắp cho các
công ty độc quyền. Hội đồng châu Âu với vai trò là cơ quan ban
hành và giám sát việc thực thi Luật Cạnh tranh, chịu trách
nhiệm xử lý những vấn đề liên quan đến luật này cũng như cho
phép việc sáp nhập và hợp nhất các công ty, tập đoàn lớn của
EU để phát triển tự do thương mại và giảm bớt trợ giá từ chính
phủ của các quốc gia thành viên cho các công ty, tập đoàn lớn
của nước mình. Do đó, chính sách cạnh tranh của EU không chỉ
tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp và còn điều
chỉnh một số hoạt động của các nước thành viên, thúc đẩy quá
trình tự do hóa thương mại.
Nội dung chính sách cạnh tranh thể hiện trên nhiều lĩnh vực,
như: chính sách chống độc quyền và các thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh; chính sách kiểm soát sáp nhập doanh nghiệp; chính
sách kiểm soát hỗ trợ nhà nước; chính sách thúc đẩy tự do hóa.
Theo các chính sách này, các quy tắc được áp dụng đối với tất
cả các doanh nghiệp hoạt động ở thị trường thống nhất mà
không quan tâm đến hình thức sở hữu của chúng. Các quốc gia
thành viên có cơ quan thực thi Luật Cạnh tranh của từng nước,
còn Ủy ban châu Âu chịu trách nhiệm điều tra các vi phạm
chính sách. Ủy ban Châu Âu có quyền lực đặc biệt bao gồm ấn
định mức tiền phạt, buộc thay đổi các thỏa thuận sáp nhập và
ngăn chặn hoạt động trợ cấp của nhà nước. Tuy nhiên, các
quyết định này có thể bị kháng cáo ở Tòa án châu Âu.
2. Những điểm nổi bật trong chính sách cạnh tranh của Liên minh Châu Âu. 8
Trong các chính sách của Luật cạnh tranh Liên minh Châu Âu,
chống độc quyền được coi là nội dung quan trọng nhất trong
việc bảo đảm tự do hoạt động và cạnh tranh công bằng của các
doanh nghiệp trong một thị phần thống nhất.
Theo đó, Điều 81 Hiệp định Rome quy định, nghiêm cấm mọi
thỏa thuận giữa các doanh nghiệp, mọi quyết định liên kết
doanh nghiệp và mọi dạng thỏa thuận có khả năng ảnh hưởng
đến thương mại giữa các nước thành viên và có mục đích hoặc
hậu quả ngăn cản, hạn chế và làm sai lệch quy luật cạnh tranh
trên thị trường chung. Quy định này áp dụng đối với các thỏa
thuận theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp trong cùng một
ngành và các thỏa thuận theo chiều dọc giữa các doanh nghiệp
thuộc cùng một chuỗi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Liên quan đến lĩnh vực này, Ủy ban Châu Âu có quyền rất lớn
trong việc tiến hành điều tra, bao gồm vào trụ sở của các
doanh nghiệp mà không cần báo trước để xem xét các tài liệu
nội bộ của doanh nghiệp, có quyền truy cứu bất cứ doanh
nghiệp nào vi phạm pháp luật và áp dụng mức phạt tiền lên
đến 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp
Bên cạnh đó, Điều 82 Luật Cạnh tranh Liên minh châu Âu quy
định việc ngăn cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và đưa
ra một danh sách hành vi có thể được xem xét là lạm dụng vị trí
thống lĩnh thị trường: áp đặt giá mua, giá bán hoặc các điều
kiện buôn bán không công bằng, hạn chế sản xuất, thị trường
hoặc phát triển kỹ thuật gây tổn hại tới người tiêu dùng, phân
biệt mà đẩy đối tác thương mại vào thế bất lợi, áp đặt các điều
kiện hợp đồng không phù hợp, dẫn đến bất lợi đối với các đối
tác khác trên thị trường có thể được xem như là lạm dụng.
Điều 82 của Hiệp định Rome quy định hành vi lạm dụng vị trí
thống lĩnh là hành vi bị coi là đi ngược với thị trường chung và
bị cấm, trong chừng mực mà thương mại giữa các nước thành
viên có khả năng bị ảnh hưởng, hành vi của một hoặc nhiều
doanh nghiệp khai thác một cách lạm dụng vị trí thống lĩnh trên
thị trường chung hoặc trên một phần của thị trường chung. Mặc
dù, chính sách cạnh tranh của EU không ngăn cản vị trí thống
lĩnh của các doanh nghiệp. Song, nó lại thể hiện rất rõ quan
điểm ngăn cản việc lạm dụng vị trí thống lĩnh như các hành vi 9
bán dưới giá thành làm suy yếu đối thủ, hoặc các thỏa thuận
cung cấp và phân phối độc quyền để loại bỏ đối thủ cạnh tranh…
Một điểm quan trọng nữa, là kiểm soát trợ cấp nhà nước đối với
doanh nghiệp. Theo đó, vấn đề này được quy định tại Điều 87
và 88 của Hiệp định Rome. Cụ thể, tất cả các biện pháp trợ cấp
do các quốc gia thành viên thực hiện hoặc bằng cách sử dụng
các nguồn lực của quốc gia đó dưới bất kỳ hình thức nào, trong
chừng mực mà các biện pháp trợ cấp đó liên quan đến các giao
dịch giữa các quốc gia thành viên, mà làm sai lệch hoặc đe dọa
làm sai lệch cạnh tranh bằng việc hỗ trợ một nhóm doanh
nghiệp hoặc một nhóm ngành nghề sản xuất thì bị coi là đi
ngược với thị trường chung.
Trợ cấp của nhà nước có thể được thực hiện dưới nhiều hình
thức như miễn hoặc giảm thuế đối với doanh nghiệp. Các quốc
gia thành viên có thể trợ cấp cho các doanh nghiệp trong nước
nhằm giúp họ đối mặt với cạnh tranh có thể đến từ các quốc gia
còn lại. Điều này sẽ tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng giữa
các chủ thể kinh doanh trong Liên minh và sẽ làm sai lệch cạnh
tranh. Điều đặc biệt cần quan tâm là các công ty thuộc sở hữu
nhà nước được trợ cấp để cạnh tranh với các đối thủ thuộc khu
vực tư nhân. Trong các trường hợp này, Ủy ban có quyền ngăn
cản hoặc buộc phải thu hồi các khoản trợ cấp. Cơ quan chịu
trách nhiệm chính thi hành chính sách cạnh tranh của EU là Ủy
ban châu Âu. Các quốc gia thành viên trao cho Ủy ban vai trò
quan trọng trong việc xây dựng và phát triển một thị trường
thống nhất và đấu tranh cho tự do hóa thương mại.
Trong việc thực thi chính sách cạnh tranh, Ủy ban đã thể hiện
rất rõ vai trò này thông qua việc ngăn cản hoặc phê chuẩn việc
sáp nhập doanh nghiệp hoặc các hoạt động điều tra trợ cấp nhà
nước ở các quốc gia thành viên.
IV/ Chính sách độc quyền của Việt Nam.
Luật Cạnh tranh lần đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày
03/12/2004, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/ 2005. Đây
được coi là văn bản pháp luật quan trọng, điều chỉnh mối quan
hệ cạnh tranh giữa các chủ thể hoạt động kinh doanh trên thị
trường. Theo đó, Luật cạnh tranh 2004 là hành lang pháp lý 10
quan trọng giúp tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình
đẳng, lành mạnh, từ đó tạo điều kiện phát triển kinh tế đất
nước, phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội và đảm bảo lợi ích
của người tiêu dùng. Tiếp đó, ngày 12/06/2018, Quốc hội thông
qua Luật Cạnh tranh (sửa đổi, bổ sung) năm 2018 (Luật Cạnh
tranh 2018), có hiệu lực thi hành từ 01/07/2019 với nhiều nội
dung được sửa đổi, bổ sung so với Luật Cạnh tranh 2004.
Điểm đặc biệt nhất Luật cạnh tranh 2018 là đã mở rộng phạm
vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng đối với bất cứ một hành vi
hành vi hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế gây tác động
hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh đến thị
trường Việt Nam. Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh
hay thỏa thuận, giao dịch mua bán sáp nhập (M&A) nào xảy ra
ở bất cứ nơi đâu, kể cả trong lãnh thổ Việt Nam hay ngoài lãnh
thổ Việt Nam nhưng có khả năng tác động gây hạn chế cạnh
tranh một cách đáng kể tới thị trường Việt Nam đều có thể bị xử
lý theo Luật cạnh tranh...
Tại Việt Nam, với dân số hơn 99 triệu người, là một thị trường
"béo bở" cho các hãng công nghệ lớn như Google, Facebook,
Grab... Theo báo cáo Vietnam Digital Marketing Trends 2021
mức doanh thu quảng cáo trực tuyến của Việt Nam đạt khoảng
955 triệu USD, trong đó đến 80% doanh thu khổng lồ này rơi vào túi Google, Facebook...
Qua đó, có thể thấy tại Việt Nam từ hàng chục năm qua, những
hãng công nghệ khổng lồ như Facebook, Google, Microsoft,
Grab.… đang nắm giữ vị thế thống lĩnh thị trường; đồng thời,
gần như có vị trí độc quyền trong hàng loạt dịch vụ về công
nghệ thông tin... Tuy nhiên, số lượng vụ việc được điều tra và xử
lý chưa nhiều, đặc biệt đối với các hãng công nghệ là rất ít và
chưa phản ánh đúng thực tế cạnh tranh trên thị trường công
nghệ Việt Nam. Trong đó vụ việc điều tra đáng kể mà cơ quan
quản lý cạnh tranh Việt Nam điều tra là thương vụ Grab thâu
tóm Uber diễn ra hồi năm 2018.
Có thể thấy, pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền của
Việt Nam theo thời gian đã dần được hoàn thiện. Song, so với
nhiều nước trên thế giới đặc biệt là Mỹ, Châu Âu hay Trung 11
Quốc… pháp luật cạnh tranh và chống độc quyền của Việt Nam
còn nhiều hạn chế trong đó đặc biệt vấn đề chống độc quyền
công nghệ. Trong khi tại các nước trên thế giới, việc gia tăng
các vụ kiện cùng với các nỗ lực lập pháp nhằm chống lại các gã
khổng lồ công nghệ thời gian gần cho thấy các nước đang
quyết tâm chống độc quyền trong lĩnh vực công nghệ, đặc biệt
đối với các công ty công nghệ lớn nhằm cố gắng hạn chế sự
thống lĩnh và tầm ảnh hưởng của chúng đối với thị trường và
môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Trong
thời đại công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay, cạnh
tranh trên môi trường công nghệ, môi trường internet cũng sẽ
có những đặc điểm rất khác với cạnh tranh truyền thống, đòi
hỏi ứng xử pháp lý cũng cần rất khác với truyền thống. Do đó
trong thời gian tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện quy định
pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh với xu hướng toàn
cầu hóa, hội nhập quốc tế và đặc biệt là sự phát triển của công
nghệ số. Tham vấn những kinh nghiệm lập pháp của các nước
để ban hành những quy định riêng, cụ thể về chống độc quyền
công nghệ để điều chỉnh môi trường số. 12