



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT BÀI THẢO LUẬN
LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Lớp : 231HCMI013105 Nhóm : 3
Giáo viên hướng dẫn : Nguyễn Ngọc Diệp Hà Nội, 2023 Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU...........................................................................................................................3
CHƯƠNG 1: BEI CẢNH LỊCH SỬ......................................................................................4
1, SG ra đKi cLa ĐMng CS VN..............................................................................................4
1.1. Bối cảnh lịch sử cho sự ra đời của Đảng..................................................................4
1.2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập ĐMng.......................................5
1.3. Thành lập ĐMng Cộng sMn Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên...............6
cLa ĐMng............................................................................................................................6
CHƯƠNG II: TH^NG L_I CUÔaC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 LÀ KẾT
QUẢ ĐeU TRANH 15 NĂM CfA NHÂN DÂN TA DƯhI Si LjNH ĐẠO CfA
ĐẢNG CÔaNG SẢN VIÊaT NAM (1930-1945)........................................................................8
1. Giai đoạn 1930-1935.........................................................................................................8
2. Giai đoạn 1935-1939.........................................................................................................9
a) ChL trương, nhiê a
m vụ, quan đipm cLa ĐMng.............................................................9
b, Chuẩn bị lGc lưqng cách mạng (chính trị, vr trang)...............................................11
3, Giai đoạn 1939-1945.......................................................................................................12
a, Bối cMnh lịch ss và chL trương chitn lưqc mới cLa ĐMng.......................................12
b, Xây dGng lGc lưqng chuẩn bị cho khwi nghĩa..........................................................14
c, Các phong trào khwi nghĩa và Txng khwi nghĩa giành chính quyền......................15 d, Lễ đô a c lâ a
p đưqc tx chzc.............................................................................................16
CHƯƠNG 3: KẾT LUÂaN.....................................................................................................17
1. | nghĩa lịch ss................................................................................................................17
a) | nghĩa lịch ss cLa Cách mạng tháng Tám năm 1945............................................17
b) | nghĩa thKi đại Cách mạng tháng Tám năm 1945................................................18
2.Bài học r~t ra...................................................................................................................20
3. Nhiệm vụ, giMi pháp và vận dụng những bài học về phát huy szc mạnh đoàn ktt
dân tộc vào xây dGng và bMo vệ Tx quốc trong giai đoạn mới.......................................22 LỜI MỞ ĐẦU
Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được
thắng lợi, góp phần cùng đồng minh dân chủ quốc tế đánh bại chủ nghĩa phát-
xít, kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, đem lại hòa bình cho toàn thể
nhân loại. Cách mạng Tháng Tám còn góp phần tích cực vào phong trào giải
phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc
bị áp bức trên toàn thế giới.
Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam của chủ tịch
Hồ Chí Minh, dân tộc Việt Nam đã làm nên những chiến công hiển hách và
những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử. Đảng ra đời đảm nhận số mệnh lãnh đạo của
cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến. Trong những thời gian đầu mới
thành lập cơ sở tuy chưa nhiều, song đã trở thành hạt nhân của phong trào cách
mạng. Những tổ chức quần chúng cách mạng được thành lập ở nhiều nơi.
Đường lối của Đảng đã phản ánh đúng nguyện vọng của quần chúng, được
tuyên truyền rộng rãi, làm cho ý thức giác ngộ của quần chúng ngày càng được nâng cao.
Để được cuộc sống độc lập, ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay nhân dân
ta đã trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố, đã hi sinh biết bao xương
máu… Chính vì thế là người dân Việt Nam, tự hào vì những trang sử vàng của
dân tộc và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất
của nhân dân ta. Là những thế hệ mới của đất nước sinh ra không phải chịu
cảnh chiến tranh khốc liệt, được hưởng những thành quả từ mồ hôi xương máu
của ông cha mình tạo ra. Tự nhận thấy mình cần tìm hiểu rõ lịch sử đấu tranh
dựng nước và giữ nước của cha ông mình và cố gắng học tập, rèn luyện góp
phần xây dựng đất nước Xã Hội Chủ Nghĩa phát triển, nhóm chúng em đã quyết
định nghiên cứu đề tài “Chứng minh thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng 8 năm
1945 là kết quả đấu tranh 15 năm của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam”
CHƯƠNG 1: BEI CẢNH LỊCH SỬ
1, SG ra đKi cLa ĐMng CS VN
1.1. Bối cảnh lịch sử cho sự ra đời của Đảng
Tình hình thế giới tác động đến cách mạng Việt Nam
Từ nửa sau thế kỷ XIX, các nước tư bản Âu-Mỹ có những chuyển biến
mạnh mẽ trong đời sống kinh tế-xã hội. Chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển
nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa), đẩy mạnh quá trình xâm chiếm và nô dịch các nước nhỏ, yếu ở
châu Á, châu Phi và khu vực Mỹ-Latinh, biến các quốc gia này thành thuộc địa
của các nước đế quốc. Trước bối cảnh đó, nhân dân các dân tộc bị áp bức đã
đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách thực dân, đế quốc, tạo thành phong
trào giải phóng dân tộc mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là ở châu Á. Cùng với phong
trào đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản ở các nước tư bản
chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trở thành một bộ
phận quan trọng trong cuộc đấu tranh chung chống tư bản, thực dân. Phong trào
giải phóng dân tộc ở các nước châu Á đầu thế kỷ XX phát triển rộng khắp, tác
động mạnh mẽ đến phong trào yêu nước Việt Nam.
Trong bối cảnh đó, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã
làm biến đổi sâu sắc tình hình thế giới. Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản, do
V.I.Lênin đứng đầu, được thành lập, trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức
lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản thế giới. Cách mạng tháng Mười và
những hoạt động cách mạng của Quốc tế Cộng sản đã ảnh hưởng mạnh mẽ và
thức tỉnh phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam và Đông Dương.
Tình hình Việt Nam và các phong trào yêu nước trước khi có Đảng
Là quốc gia Đông Nam Á nằm ở vị trí địa chính trị quan trọng của châu Á,
Việt Nam trở thành đối tượng nằm trong mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp
trong cuộc chạy đua với nhiều đế quốc khác. Sau một quá trình điều tra thám sát
lâu dài, thâm nhập kiên trì của các giáo sĩ và thương nhân Pháp, ngày 1-9-1858,
thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam tại Đà Nẵng và từ đó từng bước
thôn tính Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn với Hiệp ước Patơnốt (Patenotre)
đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp, biến Việt Nam trở thành “một xứ thuộc
địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”.
Từ năm 1897, thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa: Cuộc
khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914) và khai thác thuộc địa lần thứ hai
(1919-1929). Mưu đồ của thực dân Pháp nhằm biến Việt Nam nói riêng và
Đông Dương nói chung thành thị trường tiêu thụ hàng hóa của “chính quốc”,
đồng thời ra sức vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động rẻ mạt của người bản
xứ, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có sự biến đổi rất quan trọng
cả về chính trị, kinh tế, xã hội. Chính sách cai trị và khai thác bóc lột của thực
dân Pháp đã làm phân hóa những giai cấp vốn là của chế độ phong kiến (địa
chủ, nông dân) đồng thời tạo nên những giai cấp, tầng lớp mới (công nhân, tư
sản dân tộc, tiểu tư sản) với thái độ khác nhau. Những mâu thuẫn mới trong xã
hội Việt Nam xuất hiện. Trong đó, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam
với thực dân Pháp và phong kiến phản động trở thành mâu thuẫn chủ yếu nhất và ngày càng gay gắt.
Ngay từ khi xâm lược, các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp với
tinh thần quật cường bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam đã diễn
ra liên tục, rộng khắp. Điển hình như phong trào Cần Vương, phong trào Duy
Tân, phong trào nông dân Yên Thế,... Tuy nhiên các phong trào này đều lần lượt
thất bại do chưa có đường lối chính trị đúng đắn.
Các phong trào yêu nước ở Việt Nam cho đến những năm 20 của thế kỷ
XX đều thất bại, nhưng đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của
nhân dân, bồi đắp thêm cho chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, đặc biệt góp phần
thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí thức tiên tiến chọn lựa
một con đường mới, một giải pháp cứu nước, giải phóng dân tộc theo xu thế của
thời đại. Nhiệm vụ lịch sử cấp thiết đặt ra cho thế hệ yêu nước đương thời là cần
phải có một tổ chức cách mạng tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc.
1.2. Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện thành lập ĐMng
Trước yêu cầu cấp thiết giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, với
nhiệt huyết cứu nước, với nhãn quan chính trị sắc bén, vượt lên trên hạn chế của
các bậc yêu nước đương thời, năm 1911, Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm
đường cứu nước, giải phóng dân tộc qua đó xác định rõ kẻ thù và lực lượng
đồng minh của nhân dân các dân tộc bị áp bức.
Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, một
chính đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp. Tháng 6-1919, tại Hội nghị của các nước
thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp ở Vécxây (Versailles),
Nguyễn Ái Quốc thay mặt Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp gửi tới
Hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam.
Tháng 7-1920, Người đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin
Ngay sau đó, Nguyễn Ái Quốc cùng với những người vừa bỏ phiếu tán
thành Quốc tế Cộng sản đã tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng
sản - tức là Đảng Cộng sản Pháp. Với sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc trở thành
một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và là người cộng sản
đầu tiên của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển biến quyết định trong tư tưởng và
lập trường chính trị của Nguyễn Ái Quốc.
Chuẩn bị về tư tưởng, chính trị cho sự ra đời của Đảng
Về tư tưởng. Từ giữa năm 1921, tại Pháp, cùng một số nhà cách mạng của
các nước thuộc địa khác, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Hội liên hiệp
thuộc địa, sau đó sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ). Người viết nhiều
bài trên các báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, Tạp chí Cộng sản, Tập san Thư tín quốc tế,...
Về chính trị, Nguyễn Ái Quốc đưa ra những luận điểm quan trọng về cách mạng
giải phóng dân tộc. Người khẳng định rằng, con đường cách mạng của các dân
tộc bị áp bức là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc; cả hai cuộc giải phóng
này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản. Đường lối chính trị của
Đảng cách mạng phải hướng tới giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho đồng bào
Chuẩn bị về tổ chức
Sau khi lựa chọn con đường cứu nước - con đường cách mạng vô sản - cho dân
tộc Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc thực hiện “lộ trình” “đi vào quần chúng, thức
tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”. Năm
1924: Tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức. Năm 1921:
Tham gia thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa ở Pháp. Tháng 6/1925: Thành lập
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên - đây là sự chuẩn bị quan trọng về tổ chức
để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Những hoạt
động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong
trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam những năm 1928-1929 theo xu
hướng cách mạng vô sản. Đó là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.3. Thành lập ĐMng Cộng sMn Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên cLa ĐMng
Các tổ chức cộng sản ra đời
Đến năm 1929, trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng
Việt Nam, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên không còn thích hợp
và đủ sức lãnh đạo phong trào. Vì vậy các tổ chức cộng sản lần lượt được thành lập:
- Ngày 17-6-1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ.
- Mùa Thu năm 1929, An Nam Cộng sản Đảng được thành lập ở Nam Kỳ.
- Ngày l-l-1930, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn được thành lập ở Trung Kỳ.
Sự ra đời ba tổ chức cộng sản trên cả nước diễn ra trong vòng nửa cuối
năm 1929 đã khẳng định bước phát triển về chất của phong trào yêu nước Việt
Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản, phù hợp với xu thế và nhu cầu bức
thiết của lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba miền
đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế Cộng sản, kêu gọi Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ
chức của mình và đều tự nhận là đảng cách mạng chân chính, không tránh khỏi
phân tán về lực lượng và thiếu thống nhất về tổ chức trên cả nước. Yêu cầu bức
thiết của cách mạng đặt ra là cần có một đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo
phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Từ ngày 6-l đến ngày 7-2-1930, Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản
họp tại bán đảo Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng
chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập một đảng thống nhất, lấy tên là
Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,
Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng.
Ý nghĩa lịch sử của sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã chấm dứt sự khủng hoảng bế tắc về
đường lối cứu nước, đưa cách mạng Việt Nam sang một bước ngoặt lịch sử vĩ
đại: cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản thế giới.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước Việt Nam.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên
đã khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng cho dân tộc Việt Nam - con
đường cách mạng vô sản.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử phát
triển của dân tộc Việt Nam, trở thành nhân tố hàng đầu quyết định đưa cách
mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
CHƯƠNG II: TH^NG L_I CUÔaC CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945
LÀ KẾT QUẢ ĐeU TRANH 15 NĂM CfA NHÂN DÂN TA DƯhI Si
LjNH ĐẠO CfA ĐẢNG CÔaNG SẢN VIÊaT NAM (1930-1945) 1. Giai đoạn 1930-1935
Bối cảnh lịch sử
Kinh tế ở Việt Nam vốn đã bị phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp, nay trong
cuộc khủng hoảng này lại càng phải gánh chịu hậu quả nặng nề hơn. Ở Việt
Nam từ năm 1930 trở đi, con đường Cách mạng vô sản đã dẫn dắt nhân dân ta
đấu tranh bằng những cao trào rộng lớn. Mở đầu cho những bước phát triển mới
là sự bùng nổ cao trào chống đế quốc phong kiến những năm 1930 - 1931, đỉnh
cao là sự xuất hiện và tồn tại của các Xô - Viết ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.
Cao trào đấu tranh cách mạng 1930 - 1931 đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, là
“Bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát
triển về sau của cách mạng.”
a, Mục tiêu chitn lưqc,nhiê a
m vụ, chL trương cLa ĐMng đề ra
* Hội nghị lần thz nhất BCH TW lâm thKi ĐMng Cộng sMn Việt Nam (14 - 30/10/1930)
Tháng 10-1930, giữa lúc phong trào cách mạng đang diễn ra sôi nổi trên cả
nước, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng Cộng sản Việt Nam họp
Hội nghị lần thứ nhất tại Hương Cảng (Trung Quốc). Hội nghị quyết định đổi
tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương, thông qua Luận cương chính trị,
bầu ra Ban chấp hành Trung ương chính thức do Tổng bí thư Trần Phú đứng đầu.
*Luận cương chính trị
Mục tiêu chiến lược:
- Xác định mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt ở Việt Nam, Lào
và Cao Miên là “một bên thì thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một
bên thì địa chủ, phong kiến, tư bản và đế quốc chủ nghĩa”.
- Xác định phương hướng chiến lược của cách mạng Đông Dương: lúc đầu
là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, sau đó tiếp tục phát triển, bỏ qua thời kỳ tư
bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa.
- Nhiệm vụ: Nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải
tranh đấu để đánh đổ các di tích phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối
tiền tiền tư bản và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để” và “đánh đổ đế
quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương Hoàn toàn độc lập”. Hai nhiệm vụ
chiến lược của cách mạng đánh đổ đế quốc và phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau. Chủ trương:
Các đại biểu về nước phải tổ chức một Trung ương lâm thời để lãnh đạo
cách mạng Việt Nam. Hệ thống tổ chức Đảng từ chi bộ, huyên bộ, thị bộ hay
khu bộ, tỉnh bộ, thành bộ hay đặc biệt bộ và Trung ương.
Xây dựng các tổ chức công hội, nông hội, cứu tế, tổ chức phản đế và xuất
bản một tạp chí lý luận và ba tờ báo tuyên truyền của Đảng.
*Đại hội ĐMng lần thz nhất
Tháng 3-1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (Trung Quốc),
Nhiệm vụ trước mắt:
1- Củng cố và phát triển Đảng,
2- Đẩy mạnh cuộc vận động tập hợp quần chúng,
3- Mở rộng tuyên truyền chống đế quốc, chống chiến tranh, ủng hộ Liên Xô và
ủng hộ cách mạng Trung Quốc… Đại hội thông qua Nghị quyết chính trị, Điều
lệ Đảng và các nghị quyết về vận động quần chúng.
Chủ trương: vẫn chưa đề ra một chủ trương chiến lược phù hợp với thực tiễn
cách mạng Việt Nam, chưa đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tập
hợp lực lượng toàn dân tộc.
b, Xây dGng lGc lưqng cách mạng và phương thzc titn hành cách mạng
Xây dựng lực lượng Cách mạng:
Luận cương chính trị kết luận lực lượng Cách mạng tham gia vào phong
trào giải phóng dân tộc chỉ có công nông và quần chúng lao khổ; giai cấp vô sản
là động lực chính, dân cày là động lực mạnh của cách mạng.
Kết hợp vai trò của công dân,nông dân, lực lượng nghèo và đánh giá đúng
vai trò Cách mạng của giai cấp phong kiến, tư sản và tiểu tư sản yêu nước là
việc vô cùng quan trọng trong việc tập hợp lực lượng chuẩn bị cho phong trào giải phóng dân tộc.
Đầu năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong cùng
một số đồng chí công bố Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông
Dương và các chương trình hành động của Công hội, Nông hội, Thanh niên cộng sản đoàn…
Những đảng viên cộng sản trong các nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn
(Sài Gòn), Vinh, Hải Phòng, Côn Đảo… bí mật thành lập nhiều chi bộ để lãnh
đạo đấu tranh chống khủng bố, chống chế độ nhà tù hà khắc, đòi cải thiện sinh hoạt…
Nhiều chi bộ nhà tù tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng cho đảng viên về lý
luận Mác-Lênin, đường lối chính trị của Đảng, kinh nghiệm vận động cách
mạng; tổ chức học văn hóa, ngoại ngữ v.v. Nhiều tài liệu huấn luyện đảng viên
được biên soạn ngay trong tù như: Chủ nghĩa duy vật lịch sử , Gia đình và Tổ
quốc, Lịch sử tóm tắt ba tổ chức quốc tế (chủ yếu là Quốc tế Cộng sản), Những
vấn đề cơ bản của cách mạng Đông Dương. Một số tác phẩm của chủ nghĩa
Mác-Lênin như Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Tư bản, Làm gì?, ..được dịch tóm tắt ra tiếng Việt.
Chương trình hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương (15-6- 1932)
vạch ra nhiệm vụ đấu tranh trước mắt để khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng
và phong trào cách mạng, đặc biệt cần phải “gây dựng một đoàn thể bí mật, có
kỷ luật nghiêm ngặt, cứng như sắt, vững như đồng, tức Đảng Cộng sản để
hướng đạo quần chúng trên con đường giai cấp chiến đấu”
Phương thức tiến hành cách mạng :
Để đạt được mục tiêu cơ bản của cuộc cách mạng là đánh đổ đế quốc và
phong kiến, giành chính quyền về tay công nông thì phải ra sức chuẩn bị cho
quần chúng về con đường “võ trang bạo động”. Võ trang bạo động để giành
chính quyền là một nghệ thuật “phải theo khuôn phép nhà binh”.
Đối với quốc tế Luận cương khẳng định cách mạng Đông Dương là một bộ
phận của cách mạng thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết
gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp vô sản Pháp, và phải
mật thiết liên lạc với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc
địa nhằm mở rộng và tăng cường lực lượng cho cuộc đấu tranh cách mạng ở Đông Dương. 2. Giai đoạn 1935-1939
Bối cảnh lịch sử giai đoạn 1935-1939
- Đầu những năm 30 (thế kỉ XX), chủ nghĩa phát xít xuất hiện và tạm thời thắng
thế ở một số nơi, như Tây Ban Nha, Đức, Italia, Nhật Bản. Nguy cơ chiến tranh thế giới xuất hiện.
- Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (7 – 1935) xác định nhiệm vụ trước mắt
của phong trào cách mạng thế giới là chống phát xít và nguy cơ chiến tranh,
bảo vệ hoà bình, thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi.
- Tháng 6/1936, Mặt trận nhân dân lên cầm quyền ở Pháp, thi hành những cải
cách tiến bộ ở thuộc địa. Chính phủ của mặt trận nhân dân Pháp còn cử phái
viên sang điều tra và nới rộng một số quyền tự do, dân chủ tối thiểu ở các nước thuộc địa.
- Ở Việt Nam, ảnh hưởng của cuộc khủng khoảng kinh tế (1929 – 1933) vẫn
tiếp diễn. Trong khi đó, thực dân Pháp lại tiến hành một chiến dịch khủng bố để
đàn áp phong trào cách mạng 1930 – 1931. Đời sống chính trị và kinh tế rất
căng thẳng. Yêu cầu của của mọi tầng lớp xã hội là các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống.
a) ChL trương, nhiê a
m vụ, quan đipm cLa ĐMng
Chủ trương của Đảng Tháng 7/1936,
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại
Thượng Hải (Trung Quốc) để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh. Hội nghị xác định:
- Nhiệm vụ trực tiếp, trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa,
chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
- Kẻ thù trước mắt là thực dân phản động Pháp và tay sai.
- Phương pháp đấu tranh là kết hợp các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp và bất hợp pháp.
- Thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến tháng
3/1938 đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
- Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp năm 1937 và 1938 đã bổ
sung và phát triển nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7/1936.
Nhiệm vụ của Đảng
- Tổ chức và tập hợp lực lượng: Đảng Cộng sản Việt Nam tập hợp và tổ chức
lực lượng quân sự, vũ trang để chống lại ách đô hộ của Pháp và bảo vệ quyền tự
do và độc lập của dân tộc. - Tuyên
truyền và propaganda: Đảng thực hiện công tác tuyên truyền và
propaganda để nâng cao nhận thức của nhân dân về tình hình chính trị và xuyên
tạc lý thuyết Marx - Lenin vào hoàn cảnh Việt Nam cụ thể.
- Thực hiện các cuộc tấn công và nổi dậy: Đảng thúc đẩy việc thực hiện các
cuộc tấn công và nổi dậy chống lại chế độ thực dân Pháp. Các cuộc nổi dậy
quan trọng trong giai đoạn này bao gồm cuộc nổi dậy Yên Bái và cuộc nổi dậy Hòa Bình.
Quan điểm của Đảng
- Quốc gia và dân tộc: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lợi ích của quốc gia
và dân tộc lên trên hết. Họ coi việc giành độc lập và tự do cho Việt Nam là một mục tiêu quan trọng.
- Mối quan hệ với các lực lượng khác: Đảng tạo ra các liên minh và quan hệ với
các lực lượng và phong trào khác có cùng mục tiêu chiến đấu chống lại thực dân
Pháp, bao gồm việc hợp tác với các phong trào dân tộc và cả các phong trào
cộng sản ở khu vực Đông Nam Á.
Giai đoạn 1935-1939 đánh dấu sự phát triển và hình thành rõ nét của Đảng
Cộng sản Việt Nam như một tổ chức chính trị, quân sự và xã hội có uy tín, và
nó cũng là một bước quan trọng trên con đường đến việc đạt được độc lập và tự do cho Việt Nam.
Những phong trào đấu tranh tiêu biểu
- Phong trào đấu tranh tự do, đòi dân sinh, dân chủ
+ Từ giữa những năm 1936 được tin Quốc hội Pháp cử phái đoàn điều tra
tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương vận động các tầng lớp nhân dân hội
họp, thảo ra bản “dân nguyện” để gửi tới phái đoàn, tiến tới triệu tập Đông
Dương đại hội vào tháng 8/1936.
+ Lợi dụng sự kiện Gô-đa sang điều tra tình hình và Brêviê nhận chức toàn
quyền Đông Dương, Đảng tổ chức quần chúng mít-tinh, đón rước, biểu dương
lực lượng, đưa yêu sách đòi quyền dân sinh, dân chủ.
+ Trong những năm 1937 - 1939, các cuộc mít tinh, biểu tình của nhân
dân diễn ra sôi nổi. Nhiều hình thức tổ chức quần chúng ra đời như Hội cứu tế
bình dân, Hội truyền bá Quốc ngữ. Đặc biệt là ngày 1/5/1938, lần đầu tiên trong
ngày quốc tế lao động nhiều cuộc mít tinh được tổ chức ở Hà Nội, Sài Gòn và
nhiều nơi khác, thu hút đông đảo quần chúng tham gia.
- Phong trào đấu tranh nghị trường:
+ Đảng Cộng sản Đông Dương vận động đưa người của Mặt trận Dân chủ
Đông Dương ra ứng cử vào các cơ quan: Viện Dân biểu Trung Kì (1937), Viện
Dân biểu Bắc Kì, Hội đồng Kinh tế lí tài Đông Dương (1938) và Hội đồng Quản hạt Nam Kì (1939).
+ Mục đích: mở rộng lực lượng của Mặt trận Dân chủ và vạch trần chính
sách phản động của thực dân và tay sai, bênh vực quyền lợi của đa số quần chúng nhân dân.
- Đấu tranh trên lĩnh vực báo chí:
+ Đảng Cộng sản Đông Dương đã xuất bản nhiều tờ báo công khai: Tiền
phong, Dân chúng, Lao động, Tin tức…, tuyên truyền, vận động quần chúng
đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ.
+ Nhiều tác phẩm văn học hiện thực phê phán được xuất bản: Tắt đèn, Bước đường cùng…
+ Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực báo chí giúp cho quần chúng nhân dân được
giác ngộ về đường lối cách mạng.
b, Chuẩn bị lGc lưqng cách mạng (chính trị, vr trang)
Trong giai đoạn 1935-1939, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành chuẩn bị lực
lượng cách mạng cả về mặt chính trị và vũ trang để đối mặt với thực dân Pháp
và đấu tranh cho độc lập và tự do của Việt Nam.
- Đảng đã sử dụng công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của nhân dân về
tình hình chính trị và xuyên tạc lý thuyết Marx - Lenin vào hoàn cảnh Việt Nam cụ thể.
- Trong giai đoạn này, Đảng đã tập hợp và đào tạo lực lượng quân đội, bao gồm
Quân đội Nhân dân Việt Nam (NVA) và Quân giải phóng miền Nam (VC).
Điều này bao gồm việc huấn luyện và trang bị vũ
- Để đối phó với cuộc truy quét của thực dân Pháp, Đảng đã tạo ra các khu vực
an toàn và căn cứ cách mạng để lưu trú và hoạt động. Các khu vực này đã trở
thành nơi tổ chức cuộc họp, đào tạo cán bộ, và triển khai các hoạt động chiến đấu.
- Đảng đã nỗ lực xây dựng các liên minh và quan hệ với các phong trào dân tộc
và cộng sản khác trong khu vực Đông Nam Á và trên toàn thế giới. Điều này đã
giúp họ có sự hỗ trợ quốc tế và ảnh hưởng đối với cuộc chiến tranh cách mạng.
- Tổ chức cuộc nổi dậy và cuộc tấn công chống lại thực dân Pháp, như cuộc nổi
dậy Yên Bái và cuộc nổi dậy Hòa Bình, để thể hiện sự quyết tâm và khả năng
chiến đấu của lực lượng cách mạng.
Những công việc này đã làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành một tổ
chức cách mạng đáng kể và tạo ra cơ sở cho sự phát triển và mở rộng của cuộc
chiến tranh giành độc lập và tự do ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. 3, Giai đoạn 1939-1945
a, Bối cMnh lịch ss và chL trương chitn lưqc mới cLa ĐMng
Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Đalađiê
(Daladier) thi hành một loạt biện pháp đàn áp lực lượng dân chủ ở trong nước
và phong trào cách mạng ở thuộc địa. Mặt trận Nhân dân Pháp tan vỡ. Ở Đông
Dương, bộ máy đàn áp được tăng cường, lệnh thiết quân luật được ban bố. Ngày
28-9-1939, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cấm tuyên truyền cộng sản,
đặt Đảng Cộng sản Đông Dương ra ngoài vòng pháp luật, giải tán các hội,
đoàn, đóng cửa các tờ báo và nhà xuất bản, cấm hội họp và tụ tập đông người…
Tháng 6-1940, Đức tiến công Pháp. Chính phủ của Thủ tướng Pêtanh
(Pétain) ký văn bản đầu hàng Đức. Tướng Đờ Gôn (Charles De Gaulle) ra nước
ngoài để xây dựng lực lượng kháng chiến chống Đức. Sau khi chiếm một loạt
nước châu Âu, tháng 6-1941 Đức tiến công Liên Xô.
Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sách thời chiến, phát xít hóa
bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng; thực hiện chính sách
“kinh tế chỉ huy” nhằm tăng cường vơ vét sức người, sức của để phục vụ cuộc
chiến tranh đế quốc. Tháng 9-1940, quân phiệt Nhật vào Đông Dương, thực dân
Pháp đầu hàng và câu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông
Dương, làm cho nhân dân Đông Dương phải chịu cảnh “một cổ hai tròng”
Từ giữa năm 1941, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến chuyển.
Tháng 12-1941, chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ. Quân phiệt Nhật lần
lượt đánh chiếm nhiều thuộc địa của Mỹ và Anh ở trên biển và trong đất liền.
Ngay khi Chiến tranh thế giới thứ hai mới bùng nổ, Đảng kịp thời rút vào
hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, đồng thời vẫn chú
trọng các đô thị. Ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng gửi toàn Đảng một thông
báo quan trọng chỉ rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng”
Ngày 17-1-1940, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt. Nhiều đồng chí
Trung ương cũng sa vào tay giặc. Tuy nhiên sau khi hơn 1 tháng sau khi nhật
vào đông dương. Trung ương Đảng vẫn còn nhiều trăn trở, chưa thật dứt khoát
với chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 5/1941 Nguyễn
Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành trung ương Đảng. Đưa ra
nhận định cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, lập Mặt
Trận Việt Minh, hoãn cách mạng ruộng đất. Hội nghị nêu rõ những nội dung:
+ Thứ nhất: hết sức nhấn mạnh mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải
quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc phát xít Pháp -
Nhật, bởi vì dưới hai tầng áp bức Nhật - Pháp, “quyền lợi tất cả các giai cấp bị
cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”
+ Thứ hai: Khẳng định chủ trương “Phải thay đổi chiến lược”, “Chưa chủ
trương làm cách mạng tư sản dân quyền mà chủ trương làm cách mạng giải
phóng dân tộc”. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Hội nghị quyết định tiếp tục tạm gác
khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng các khẩu
hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia
lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức.
+ Thứ ba: Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông
Dương, thi hành chính sách “Dân tộc tự quyết”. Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật,
các dân tộc trên cõi Đông Dương sẽ “tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ
hay đứng riêng thành lập một quốc gia tùy ý”. “Sự tự do độc lập của các dân tộc
sẽ được thừa nhận và coi trọng”59. Từ quan điểm đó, Hội nghị quyết định thành
lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng, thực hiện đoàn kết từng dân
tộc, đồng thời đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung.
+ Thứ tư: tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc, “không phân biệt thợ
thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương
nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành
quyền độc lập, tự do cho dân tộc”. Các tổ chức quần chúng trong mặt trận Việt
Minh đều mang tên “cứu quốc”. Trong việc xây dựng các đoàn thể cứu quốc,
“điều cốt yếu không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà điều
cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc”
+ Thứ năm: chủ trương sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo tinh thần tân dân chủ, một hình thức nhà
nước “của chung cả toàn thể dân tộc”. Hội nghị chỉ rõ, “không nên nói công
nông liên hiệp và lập chính quyền Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên
hiệp và thành lập chính phủ dân chủ cộng hòa”
+ Thứ sáu: Hội nghị xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ
trung tâm của Đảng và nhân dân; “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn
sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”. Trong những
hoàn cảnh nhất định thì “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi
nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở
đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn”. Hội nghị còn xác định những điều
kiện chủ quan, khách quan và dự đoán thời cơ tổng khởi nghĩa.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp Hành trung ương Đảng đã hoàn thành chủ trương
chiến lược đề ra từ Hội Nghị tháng 11-1939. Khẳng định lại đường lối cách
mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
và lý luận cách mạng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc.
b, Xây dGng lGc lưqng chuẩn bị cho khwi nghĩa
* Về xây dựng lực lượng chính trị
- Ngày 19 - 5 - 1941, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh bao gồm
các Hội cứu quốc để tập hợp quần chúng nhân dân.
- Đến năm 1942, khắp các châu ở Cao Bằng đều có Hội cứu quốc, trong đó có
ba châu “hoàn toàn”, Ủy Ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy Ban lâm thời Cao
- Bắc - Lạng được thành lập.
- Năm 1943, Đảng đề ra bản Đề cương văn hóa Việt Nam, khẳng định văn hóa
là một trong ba mặt trận cách mạng do Đảng lãnh đạo.
- Cuối năm 1944, lập Hội Văn hóa cứu quốc và Đảng dân chủ Việt Nam nằm
trong lực lượng Việt Minh nhằm tập hợp lực lượng học sinh, sinh viên, tri thức,
tư sản dân tộc; tăng cường công tác địch vận…. Đảng cũng tăng cường công tác
vận động binh lính người Việt trong quân đội Pháp, những ngoại kiều ở Đông
Dương đấu tranh chống phát xít.
* Về xây dựng lực lượng vũ trang
- Ngay từ Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11 – 1940),
Đảng ta chủ trương phát triển Đội du kích Bắc Sơn làm vốn quân sự lâu dài của Đảng.
- Ngày 1 – 5 – 1941, làm lễ ra mắt “Đệ nhất trung đội du kích Bắc Sơn”. Sau
hội nghị lần thứ 8, đổi tên thành “Trung đội cứu quốc quân I”. Đây là đơn vị vũ
trang chính quy đầu tiên của Đảng. Ngày 15 – 9 – 1941, Trung đội Cứu quốc
quân II được thành lập và phân công các đơn vị đến các địa phương đẩy mạnh
cuộc đấu tranh chống địch khủng bố. Ngày 25 – 2 – 1944, lễ thành lập trung
đội cứu quốc quân III được tổ chức.
- Cuối năm 1941, Nguyễn Ái Quốc quyết định thành lập đội tự vệ vũ trang để
chuẩn bị cho việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày 22 - 12 - 1941,
theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp đứng ra thành lập đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân.
c, Các phong trào khwi nghĩa và Txng khwi nghĩa giành chính quyền
Các phong trào khởi nghĩa:
Trong giai đoạn 1939 - 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, nhân dân cả nước đã tiến hành nhiều phong trào khởi nghĩa vũ trang, góp
phần to lớn vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Các phong trào khởi nghĩa tiêu biểu trong giai đoạn này bao gồm:
+ Khởi nghĩa Bắc Sơn (27/9/1940): Khởi nghĩa Bắc Sơn là cuộc khởi
nghĩa vũ trang đầu tiên của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ
Đông Dương. Khởi nghĩa nổ ra ở Bắc Sơn, Lạng Sơn, do Đảng bộ Bắc Sơn lãnh
đạo. Khởi nghĩa đã giành được thắng lợi bước đầu, làm rung chuyển chính
quyền địch ở Bắc Sơn và các vùng lân cận.
+ Khởi nghĩa Nam Kỳ (23/11/1940): Khởi nghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi
nghĩa vũ trang lớn thứ hai của nhân dân Việt Nam trong thời kỳ Mặt trận Dân
chủ Đông Dương. Khởi nghĩa nổ ra ở Nam Kỳ, do Xứ ủy Nam Kỳ lãnh đạo.
Khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở nhiều nơi, làm rung chuyển chính quyền địch ở Nam Kỳ.
+ Phong trào Việt Minh (1941 - 1945): Phong trào Việt Minh là phong
trào vận động quần chúng rộng lớn, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Phong trào đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhân dân, góp phần to lớn
vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
+ Khởi nghĩa từng phần ở nhiều địa phương (1942 - 1945): Trong giai
đoạn này, đã nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang ở nhiều địa phương trên cả
nước, như khởi nghĩa Cao Lạng, khởi nghĩa Ba Tơ, khởi nghĩa Đô Lương, khởi
nghĩa Ba Đình,... Những cuộc khởi nghĩa này đã góp phần tạo nên cao trào cách
mạng dân tộc giải phóng ở Việt Nam.
Các phong trào khởi nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn
1939 - 1945 đã có những tác động to lớn, góp phần chuẩn bị cho thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
+ Tác động về chính trị: Các phong trào khởi nghĩa đã làm cho chính
quyền địch ở Việt Nam ngày càng suy yếu, tạo ra thời cơ thuận lợi cho cách mạng.
+ Tác động về quân sự: Các phong trào khởi nghĩa đã góp phần xây
dựng lực lượng vũ trang cách mạng, tạo tiền đề cho việc thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
+ Tác động về tinh thần: Các phong trào khởi nghĩa đã khơi dậy ý chí
đấu tranh của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp của dân tộc để giành thắng lợi.
Cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền:
Từ ngày 14-8-1945 trở đi, các đơn vị Giải phóng quân lần lượt tiến công
các đồn Nhật ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên
Bái, v.v., hỗ trợ quần chúng tiến lên giành chính quyền ở tỉnh lỵ.
Tại Hà Nội, ngày 17-8 Đảng bộ Hà Nội bí mật huy động quần chúng
trong các tổ chức cứu quốc ở nội và ngoại thành, chủ yếu là công nhân, thanh
niên và tự vệ cứu quốc để biến cuộc míttinh của Tổng hội viên chức thành cuộc
míttinh kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh, hăng hái tham gia khởi nghĩa.
Sáng ngày 19-8, quần chúng rầm rộ kéo đến quảng trường Nhà hát thành
phố để dự cuộc míttinh lớn do Mặt trận Việt Minh tổ chức. ủy ban quân sự cách
mạng đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của Việt Minh. Quần chúng cách mạng chia
thành nhiều đoàn đi chiếm phủ khâm sai, tòa thị chính, trại bảo an binh, sở cảnh
sát và các công sở của chính quyền bù nhìn.
Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội ngày 19-8 tạo điều kiện thuận
lợi lớn cho quá trình tổng khởi nghĩa đang tiếp diễn trong cả nước. Ngày 23-8,
ủy ban khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế huy động quần chúng nông dân từ các
huyện đã giành được chính quyền ở ngoại thành, kết hợp với công nhân, nhân
dân lao động, thanh niên và các tầng lớp khác trong nội thành xuống đường biểu
dương lực lượng. Quần chúng lần lượt chiếm các công sở không vấp phải sức kháng cự nào.
Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ nên Cách
mạng Tháng Tám đã giành được thắng lợi nhanh, gọn, ít đổ máu. Chỉ trong
vòng 15 ngày (từ 14 đến 28-8) cuộc tổng khởi nghĩa đã thành công. Lần đầu
tiên trong lịch sử, chính quyền cả nước về tay nhân dân. d, Lễ đô a c lâ a p đưqc tx chzc
Ngày 2-9-1945, Lễ độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba
Đình. Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Trước cuộc míttinh của hàng chục
vạn đồng bào thủ đô, thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa ra đời. Bản tuyên ngôn nêu rõ:
"Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do" .
"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành
một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy" .
Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử có giá trị tư tưởng lớn và ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đó là thiên anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng, chứa
chan sức mạnh và niềm tin, tràn đầy lòng tự hào và ý chí đấu tranh của nhân dân
ta trong sự nghiệp giành và giữ nền độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.
CHƯƠNG 3: KẾT LUÂaN 1. | nghĩa lịch ss
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt lớn
của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã
trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Khái quát đầy đủ ý nghĩa thắng lịch sử của Cách mạng tháng Tám năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chẳng những giai cấp lao động và
nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị
áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng lần này là lần đầu tiên trong lịch sử
cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã
lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”
a) | nghĩa lịch ss cLa Cách mạng tháng Tám năm 1945
Đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại của
cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc
lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở
thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đánh giá về ý
nghĩa lớn lao này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng
Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân
gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay
đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”. Tiếp tục nhấn mạnh giá trị đó,
trong Bài phát biểu tại khóa họp Xô viết Tối cao Liên Xô nhân kỷ niệm 40 năm
Cách mạng tháng Mười, ngày 6-11-1957 đăng trên báo Nhân dân, số 1341, ngày
10-11-1957, Người lại khẳng định: “Năm 1945, nhân dân Việt Nam đã làm
Cách mạng Tháng Tám, đánh đuổi bọn thực dân ra khỏi đất nước và xây dựng
chính quyền nhân dân. Đó là một bước ngoặt trong lịch sử của dân tộc chúng
tôi”. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân
Pháp đối với nước ta, mở kỷ nguyên độc lập, lần đầu tiên tên nước Việt Nam có
tên bản đồ thế giới; đồng thời đã mở ra mối quan hệ ngoại giao với các nước
trên thế giới với tư cách và vị thế của một quốc gia - dân tộc có độc lập, có chủ
quyền: “Lịch sử dân tộc ta đã có nhiều thời kỳ rất vẻ vang. Nhưng trước ngày
Cách mạng Tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi
nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông
Dương thuộc Pháp”. Thực dân Pháp gọi đồng bào ta là lũ Annamít dơ bẩn.
Thiên hạ gọi chúng ta là vong quốc nô.
Cách mạng Tháng Tám thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi. Nhân dân ta tự làm chủ vận mạng
của mình. Tên tuổi của nước ta lại lẫy lừng khắp năm châu, bốn biển”
Đối với tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thắng lợi của
Cách mạng tháng Tám năm 1945, một mặt, đã góp phần đánh bại tàn dư của chế
độ phong kiến và chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phát xít ở Việt Nam. Về vấn đề
này, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc nhân dịp Kỷ niệm Cách mạng tháng
Tám, ngày 19 tháng 8 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng
Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta ra khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và
xiềng xích thực dân”. Mặt khác, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội
mới, khác hẳn về chất so với chế độ cũ (phong kiến, thực dân và đế quốc):
“Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ
Cộng hoà và thống nhất độc lập”.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của ý chí độc lập tự chủ,
tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam và là thắng lợi vĩ đại của tư tưởng Hồ
Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ
thắng lợi to lớn đó, đã cổ vũ nhân dân ta kiên cường đấu tranh giành độc lập dân
tộc, thống nhất đất nước, bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 lịch sử. Đất
nước hoàn toàn độc lập, người dân được hoàn toàn tự do, hạnh phúc.
b) Ý nghĩa thời đại Cách mạng tháng Tám năm 1945
Đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cách mạng tháng Tám
năm 1945 thắng lợi là tấm gương, là nguồn cổ vũ cho các quốc gia - dân tộc
đang mất độc lập tự do ở châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh, nhất là các nước láng
giềng noi theo. Khẳng định vị thế, giá trị thời đại của thắng lợi này, Chủ tich
Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở
nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. Cách mạng Tháng Tám có
ảnh hưởng trực tiếp và rất to đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng
Tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế
quốc và đòi độc lập”