Chủ đề: Bảo hiểm xã hội
Phần nội dung
I, Thực chất của bảo hiểm xã hội:
1. Khái niệm bảo hiểm xã hội:
Theo luật Bảo hiểm hội thì BHXH biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, sự
kiện bảo hiểm làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động,
chết, gắn liền với quá trình tạo lập v sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
2. Chức năng của bảo hiểm xã hội:
Về phương diện nhân: Bảo hiểm hội thực chất một nhu cầu an toàn hội của
con người, nó nhằm giữ ổn định về cuộc sống của con người khi có bất trắc xảy ra.
Về phương diện kinh tế: Bảo hiểm hội một phàm trù kinh tế tổng hợp. Đối với
người được hưởng bảo hiểm hội, đó sự đảm bảo an toàn khi bất trắc xảy ra, còn
đối với toàn bộ nền kinh tế, bảo hiểm hội mang tính chất phân phối phân phối lại
toàn bộ nền thu nhập trong dân cư thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã
hội. Cùng với sự ra đời sự phát triển, quỹ hội tham gia với các ngân hàng thương
mại vào thị trường tài chính trong việc kinh doanh tiền tệ. Việc sử dụng quỹ bảo hiểm xã
hội vào việc đầu tư mang lại các lợi ích to lớn cho xã hội, góp phần phát triển kinh tế.
Về phương diện chính trị: Bảo hiểm hội đã liên kết với những người tham gia bảo
hiểm hội cùng lợi ích chung của cộng đồng. phản bản chất của chế độ hội,
cũng như trách nhiệm của Chính phủ đối với người dân trong xã hội.
Về phương diện hội: Bảo hiểm hội về bản chất sự góp phần đảm bảo đời sống
thu nhập cho mọi người trong hội. Phương thức hoạt động thông qua các biện
pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự an sinh cho mọi thành viên trong xã hội, vì vậy, nó
mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Do đó, khi vận hành một hệ thống bảo hiểm xã hội
cần phải toàn diện.
3. Bản chất của bảo hiểm xã hội:
Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
BHXH là thu nhập khách quan, đa dạngphức tạp của xã hội, nhất là trong hội mà
sản xuất hàng hóa hoạt động theo chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động
phát triển đến mức nào đó. Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng hoàn
thiện, càng chứng tỏ được những mặt ưu điểm hơn. vậythể nói kinh tế nền tảng
của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Đóng vai trò như
một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc
sống.
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra
giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH bên được BHXH. Bên tham gia BHXH
thể chỉ NLĐ hoặc cả NLĐ NSDLĐ. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH
thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là
NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH thể
nói những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau,
bệnh tật, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp… hoặc cũng thể những trường hợp
xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó
có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố rủi
ro sẽ được đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn
quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp chủ yếu. Ngoài ra còn được hỗ trợ của Nhà
nước khisự thâm hụt quỹ (thu không đủ chi), chính vì vậychính sách BHXH nằm
trong hệ thống chung của chính sách về kinh tế xã hội và là một trong những bộ phận hữu
cơ trong hệ thống chính sách quản lý đất nước của Quốc gia.
Mục tiêu của BHXH nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức
lao động Quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau:
+ Đền cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết
yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân nhu cầu đặc biệt của người già,
người tàn tật và trẻ em.
II, Nguyên tắc và tính chất BHXH:
1. Nguyên tắc của BHXH:
- BHXH là sự bảo đảm về mặthội đngười lao động có thể duy trì và ổn định cuộc sống khi
bị mất sức lao động tạm thời (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v... ). Đây nguyên tắc đảm
bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm. Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm
này được thể hiện trước hết sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế độ BHXH). Mức bảo đảm
về vật chất cũng yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH vậy ảnh
hưởng đến sự phát triển của s nghiệp này. Về mặt hội, theo nguyên tắc này, BHXH lấy số
đông số ít, lấy quãng đời lao động thực tế thu nhập số để bảo đảm cho quãng đời
không tham gia vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi).
- BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện. Tính bắt buộc thể hiện nghĩa vụ
tham gia tối thiểu (thời gian mức đóng bảo hiểm v.v...). Tính tự nguyện có ý nghĩa khuyến khích
mức tham gia, các loại hình và chế độ bảo hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự
phát triển của hệ thống BHXH của một số nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này
cho phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn.
- Vấn đề này quan hệ trực tiếp đếnXác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH.
các cạnh liên quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ
BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH mức đóng định kỳ (hàng tháng), mức thời gian
tối thiểu để tham gia được hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết
kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân, quảng đời lao động ,..... Mặt khác,
mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế độ BHXH người tham gia được hưởng.
Nguyên tắc này liên quan trực tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, khuyến khích
người lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
- BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thực hiện, đảm
bảo quyền lợi của người lao động. Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong
chế thị trường, trong đó sự di chuyển biến động lao động thể xảy ra, thậm chí mang tính
thường xuyên. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một cách liên tục
theo thời gian tham gia và thống nhất về các chế độ sẽ tạo ra slinh hoạt cần thiết thuận
tiên cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ tích cực hơn. Do
vậy, mức tham gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất để duy trì quan hệ BHXH
đối với người lao động.
- Đây là nguyên tắc rất quan trọng song cũng rất phức tạp trong chínhCông bằng trong BHXH.
sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiện trong một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình
lao động. Trong quá trình đó thể sự thay đổi diễn ra. Mức thời gian tham gia của từng
người mức hưởng lương của họ cũng thể không giống nhau. Do vậy đảm bảo công bằng
trong BHXH rất cần thiết nhưng rất khó đảm bảo tính tuyệt đối. Sự công bằng, trước hết
phải đặt trong trong quan hệ giữa đóng góp được hưởng. Điều này được thể hiện trong nội
dung điều kiện tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc độ khác, công bằng còn
đặt trong các quan hệ xã hội giữa những người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các
vùng, địa bàn, ngành nghề khác nhau,… dựa trên nguyên tắc tính xã hội của bảo hiểm. Trên đây
là những nguyên tắc phải tính đến khi thiết kế và thực hiện các quan hệ và các chế độ về BHXH.
2. Tính chất của BHXH:
BHXH gắn liền với đời sống của người lao động, vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau:
- Như phần trên đã trình bày, trong quá trìnhTính tất yếu khách quan trong đời sống hội.
lao động sản xuất người lao động có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó người sử dụng lao động
cũng rơi vào tình cảnh khó khăn như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng lao
động hợp đồng lao động luôn phải được đặt ra để thay thế,.... Để giải quyết vấn đề này, Nhà
nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính
khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.
- Tính chấtBHXH tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian không gian.
này thể hiện rất những nội dung bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành triển khai,
đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH. Từ những rủi ro phát sinh
ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao
động ,….
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ.
+ Tính kinh tế thể hiện nhất chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn tăng
trưởng phải sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản chặt chẽ, sử dụng đúng
mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh
thiệt hại của tập hợp người lao động tham gia BHXH. Qu BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho
người lao động theo các điều kiện của BHXH.
+ BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội,vậy tính xã hội củathể hiện rất
rõ nét. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược
lại, BHXH phải trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động gia đình họ, kể cả khi họ
còn đang trong độ tuổi lao động. Tính hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó.
Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ tính chất hội hoá của BHXH
cũng ngày càng cao
III, Đối tượng tham gia:
1. Đối tượng của BHXH
Đối tượng của BHXH một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do giảm, mất
khả năng lao động, mất việc làm các nguyên nhân như ốm đau tai nạn, tuổi già. Chính
vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải
những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra.
Đốiợng của BHXH không chỉ các khoản thu nhập theo lương bao gồm các khoản thu
nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho NLĐ nhu cầu đóng góp thêm để được
hưởng mức trợ cấp BHXH.
2. Đối tượng tham gia BHXH
Đối tượng tham của BHXH . Họ là những người NLĐNSDLĐ trực tiếp tham gia đóng góp
tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền lương của NLĐ theo quy định của luật
BHXH. Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất
cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh nghiệp nhà nước
tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng ra.
Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: NLĐ và NSDLĐ phải tham gia BHXH một cách
bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật BHXH.
Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn lương N
không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp của NLĐ cùng với sự giúp đỡ của
ngân sách Nhà nước.
IV, Hệ thống chế độ BHXH:
Chính sách BHXH một trong những chính sách hội bản nhất của mỗi quốc ] gia. Việc
ban hành chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện kinh tế-hội của đất ]nước trong từng thời
kì và xu hướng vân động khách quan của toàn bô ]nền kinh tế -xã hôi. p
Chế đô BHXHsự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hê pthống các quy định cụ thểchi tiết,
sự bố trí, sắp xếp các phương tiên để thực hiện BHXH đối với người lao p đông. Chế đô p BHXH
thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và pdưới luật, các thông tư, điều lê p ,..Tuy
nhiên, cụ thể đến đâu thì các chế đô p BHXH p cũng khó thể bao hàm được đầy đủ mọi chi
tiết trong quá trình thực hiên chính p sách BHXH. vây, khi thực hiện mỗi chế đô p thường phải
nắm vững những vấn đề p mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để đảm bảo tính đúng đắn
nhất quán trong toàn bô hê pthống các chế đô p BHXH.
* Theo điều 4 về các chế đô BHXH ở Việt Nam (Luật BHXH 2014): p
a. Bảo hiểm xã hôi bắt buộc tham gia có các chế đô p sau đây: p
1.Chế độ ốm đau (ÔĐ)
2.Chế độ thai sản (TS)
3.Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ & BNN)
4.Chế độ hưu trí (HT)
5. Chế độ tử tuất (TT)
b. Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây:
1.Chế độ hưu tri
2.Chế độ tử tuất
c. Bảo hiểm hưu trí bổ sung do chính phủ quy định (Tại khoản 7, điều 3). Ngoài ra, 9 chế độ
BHXH theo ILO trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơ-ne-vơ:
Chăm sóc y tế
Trợ cấp ốm đau
Trợ cấp thất nghiệp.
Trợ cấp hưu trí.
Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.
Trợ cấp gia đình.
Trợ cấp thai sản.
Trợ cấp tàn tật.
Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Hê thống các chế dô p BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Các chế đô được xây dựng theo luật pháp mỗi nước p
Hê thống các chế đọ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính. p
Mỗi chế đô được chi tr đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia
BHXH.
Phần lớn các chế đô là chi trả định kỳ p
Đồng tiền được sử dụng làm phương tiên chi trả và thanh quyết toán. p
Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế đô BHXH. p
Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu qu p và an
toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
Các chế đô BHXH cầm phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi pcủa
điều kiên kinh tế - xã hội.
VI, Quỹ bảo hiểm xã hội:
1. Khái niệm, cơ cấu quỹ bảo hiểm xã hội
Theo Khoản 4, Điều 3, Luật bảo hiểm hội 2014 quy định Quỹ bảo hiểm hội quỹ tài
chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người
sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Cũng tại quy định Quỹ bảo hiểm hội phảiKhoản 4, Điều 5, Luật bảo hiểm hội 2014
được quản tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch. Quỹ được sử dụng đúng mục đích,
hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần.
Các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội gồm có:
Quỹ ốm đau và thai sản.
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Quỹ hưu trí và tử tuất.
Quỹ bảo hiểm hội được sử dụng để bảo đảm các quyền lợi của người lao động khi gặp các
biến cố hoặc rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động, bao gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
Quỹ bảo hiểm hội được thành lập từ năm 1995, khi Luật bảo hiểm hội đầu tiên năm 1994
hiệu lực. Trước đó, được thực hiện theo các quy định riêng biệtcác chế độ bảo hiểm hội
của Nhà nước và các tổ chức xã hội.
2. Nguồn hình thành:
Căn cứ theo quy định tại Điều 82, 5 nguồn hình thành quỹLuật Bảo hiểm hội 2014
bảo hiểm xã hội chính gồm có:
2.1 Nguồn Quỹ BHXH do người sử dụng lao động đóng
Người sử dụng lao động lực lượng đóng góp vào quỹ bảo hiểm hội chiếm tỷ trọng
tương đối lớn và được thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm hội. Mức đóng góp
được tính dựa trên tỉ lệ % quỹ lương của doanh nghiệp, đơn vị chi cho người lao động.
Người sử dụng lao động tham gia đóng BHXH sẽ bớt đi gánh nặng khi không may người
lao động của mình gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau đồng thời góp phần xây dựng hệ thống an
sinh xã hội.
2.2 Nguồn Quỹ BHXH do người lao động đóng
Thông qua việc đóng góp một phần thu nhập vào quỹ bảo hiểmhội người lao động sẽ
giúp giảm đi gánh nặng khi rủi ro xảy ra và đảm bảo khi về già có một nguồn thu nhập ổn
định giúp trang trải cuộc sống.
Người lao động có đóng mới hưởng, các chính sách lương hưu hoặc trợ cấp mai táng,
trợ cấp thai sản… được hoạt động dựa trên nguồn quỹ BHXH.
2.3 Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ Quỹ
Tiền sinh lời của hoạt động đầu từ quỹ một trong những mục quan trọng giúp gia
tăng quỹ bảo hiểm xã hội.
Đầu tư quỹ BHXH từ vốn nhàn rỗi của Quỹ phải đảm bảo các yêu cầu:
1) Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nguồn quỹ, có khả năng thanh khoản cao.
2) Phải có lãi.
3) Đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên việc chi trả các chế độ BHXH phát sinh.
2. 4 Nguồn quỹ từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước
Nguồn hỗ trợ của Nhà nước một trong những nguồn hình thành quỹ bảo hiểm hội,
theo quy định tại . Nguồn hỗ trợ của NhàKhoản 4 Điều 3 Luật bảo hiểm hội 2014
nước bao gồm các khoản tiền đóng góp sau:
- Hỗ trợ cho các đối tượng được miễn đóng BHXH như người công với cách mạng,
người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em dưới 6 tuổi...
- Hỗ trợ cho các đối tượng được giảm đóng BHXH như người lao động trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, người lao động trong các lĩnh vực khó khăn...
- Hỗ trợ cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH theo quyết định của Nhà nước, như
người lao động trong các dự án có sự tham gia của Nhà nước, người lao động trong các tổ
chức phi chính phủ...
- Hỗ trợ cho việc quản hoạt động của quỹ bảo hiểm hội như chi phí quản lý, chi
phí kiểm tra, chi phí giải quyết khiếu nại...
Nguồn hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện thông qua các quan thẩm quyền, như
Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh vàhội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam.... Mức
hỗ trợ của Nhà nước được xác định dựa trên nhu cầu khả năng của ngân sách nhà
nước.
2.5 Các nguồn thu hợp pháp khác
Các nguồn thu khác của quỹ bảo hiểm xã hội như:
- Đóng góp ủng hộ của các cá nhân, tổ chức từ thiện trong và ngoài nước.
- Khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH.
- Khoản tiền phạt từ các đơn vị, cá nhân làm sai luật BHXH.
3. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội:
Xác định mục đích sử dụng của quỹ BHXH một trong những vấn đề quan trọng nhằm
đảm bảo quỹ được sử dụng đúng với mục đích thành lập quỹ. Đồng thời tránh việc thất
thoát gây ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức cũng như quyền lợi của người tham gia
BHXH.
Căn cứ vào , quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu choĐiều 82, Luật Bảo hiểm xã hội 2014
2 mục đích chính sau:
3.1 Chi trả các chế độ BHXH cho người lao động theo quy định
Đây khoản chi chính chiếm tỉ trọng cao nhất trong quỹ BHXH, quỹ được chi cho
các khoản gồm: chi trả lương hưu, đóng bảo hiểm y tế, chi trả chế độ cho người lao động
bị bệnh nghề nghiệp, chi trả trợ cấp thai sản…
Chi trả các chế độ cho người lao động cũng là mục đích chính để hình thành quỹ BHXH,
đảm bảo cho người dân một cuộc sống tốt hơn, thể an tâm làm việc đỡ đi một
phần gánh nặng khi về già hoặc không may gặp rủi ro.
3.2 Chi trả chi phí quản lý bảo hiểm xã hội
Ngoài việc dùng vào việc chi trả chế độ bảo hiểm cho các đối tượng được hưởng theo
quy định, quỹ bảo hiểm xã hội còn được sử dụng để chi trả chi phí quản lý BHXH.
Các chi phí quản lý bao gồm chi phí như:
1 - Chi phí tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; tập huấn, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về BHXH.
2 - Chi phí tổ chức thu, chi trả bảo hiểm xã hội và hoạt động bộ máy củaquan BHXH
các cấp.
3 - Chi phí cải cách thủ tục bảo hiểm hội, hiện đại hóa hệ thống quản lý; phát triển,
quản lý người tham gia, người thụ hưởng BHXH.
Quỹ bảo hiểm xã hội quỹ quan trọng trong hệ thống các nguồn quỹ tại Việt Nam. Quỹ
BHXH được hình thành và sử dụng theo quy định nghiêm ngặt của Luật pháp.
4. Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường việc tạo lập quỹ BHXH có vai trò rất to lớn và thể hiện trên
các mặt sau đây:
– Về chính trị xã hội:
Việc hình thành quỹ BHXH tạo ra hệ thống an toàn hội. Bởi vì, khi người lao động
mất việc làm, hoặc không còn khả năng lao động phải nghỉ việc, nếu không còn nguồn tài
chính đảm bảo cho họ khi mất thu nhập thì thể dẫn họ tới con đường tệ nạn hội…
Tệ nạn đó nguyên nhân làm cho hội đó mất ổn định về kinh tế, rối ren về mặt
chính trị làm suy yếu đất nóc. Nhưng nếu BHXH chi trả cho họ khi gặp rủi ro để
duy trì cuộc, thì những hiện tượng tiêu cực xã hội sẽ được hạn chế. Trên giác đó đó có thể
nói rằng thông qua việc tạo lập, phân phối sử dụng quỹ BHXH góp phần tạo lập hệ
thống an toàn chính trị – xã hội, giữ vững trật tự an ninh xã hỏi.
– Về kinh tế:
Quỹ BHXH một quỹ tài chính độc lập ngoài ngân sách nhà nước do các bên tham gia
bảo hiểm đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho mọi thành viên khi bị ngừng
hay giảm thu nhập gây ra bởi tạm thời hay vĩnh viên mất khả năng lao động… Thông qua
quá trình phân phối lại quỹ BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn hội
về kinh tế cho ngời được bảo hiểm trong xã hội trước những trắc trở rủi ro. Mặt khác với
chức năng phân phối lại theo nguyên tắc “lấy của số đông cho số ít, BHXH góp phần
ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển, khuyến khích động viên ngời lao động an tâm sản
xuất.
– Về thị trường tài chính:
Những khoản đóng góp của các chủ thể tham gia quy phần lớn đọc tích tụ, mà không phải
ngay lập tức chi trả trợ cấp do tính chất đặc thù của rủi ro mà người lao động gặp phải là
sự xuất hiện của rủi ro là trong tong lai”. Cùng với nguyên tắc “có rủi ro mới chi trả”, đặc
thù này đã làm cho các khoản đóng góp BHXH trở nên nhàn rỗi. Trong nền kinh tế thị
trường, nguồn tài chính nhàn rồi đó của BHXH sẽ được chuyển vào thị trường tài chính
như một sự vận động tất yếu.
Trên thị trường tài chính, quỹ BHXH thực hiện mua bán các công cụ tài chính như các
loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán tiền tệ… Như vậy, thông qua hoạt động đầu t tài
chính của quỹ, các khoản đóng góp BHXH đã được chuyển hóa thành vốn cung cấp cho
ngời thiệu vốn trên thị trường. Với vai trò này, quỹ BHXH được xếp vào các tổ
chức . Chu trình tài chính của quỹ BHXH chu trìnhtrung gian tài chính phi ngân hàng
tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thị tròng tài chính. Quá trình tham gia của quỹ
BHXH vào thị trường tài chính được thực hiện trên hai thị trường: Sơ cấp và thứ cấp.
VI, Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam:
1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc:
1.1. Chế độ trợ cấp ốm đau:
1.2. Chế độ trợ cấp thai sản:
1.3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp:
1.4. Chế độ hưu trí:
1.5. Chế độ tử tuất:
2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện:
1.1. Chế độ hưu trí:
1.2. Chế độ tử tuất:
1.3. Bảo hiểm thất nghiệp:

Preview text:

Chủ đề: Bảo hiểm xã hội Phần nội dung
I, Thực chất của bảo hiểm xã hội:
1. Khái niệm bảo hiểm xã hội:
Theo luật Bảo hiểm xã hội thì BHXH là biện pháp Nhà nước sử dụng để đảm bảo thay thế hoặc
bù đắp một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro, sự
kiện bảo hiểm làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động,
chết, gắn liền với quá trình tạo lập v sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội.
2. Chức năng của bảo hiểm xã hội:
Về phương diện cá nhân: Bảo hiểm xã hội thực chất là một nhu cầu an toàn xã hội của
con người, nó nhằm giữ ổn định về cuộc sống của con người khi có bất trắc xảy ra.
Về phương diện kinh tế: Bảo hiểm xã hội là một phàm trù kinh tế tổng hợp. Đối với
người được hưởng bảo hiểm xã hội, đó là sự đảm bảo an toàn khi có bất trắc xảy ra, còn
đối với toàn bộ nền kinh tế, bảo hiểm xã hội mang tính chất phân phối và phân phối lại
toàn bộ nền thu nhập trong dân cư thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã
hội. Cùng với sự ra đời và sự phát triển, quỹ xã hội tham gia với các ngân hàng thương
mại vào thị trường tài chính trong việc kinh doanh tiền tệ. Việc sử dụng quỹ bảo hiểm xã
hội vào việc đầu tư mang lại các lợi ích to lớn cho xã hội, góp phần phát triển kinh tế.
Về phương diện chính trị: Bảo hiểm xã hội đã liên kết với những người tham gia bảo
hiểm xã hội cùng vì lợi ích chung của cộng đồng. Nó phản bản chất của chế độ xã hội,
cũng như trách nhiệm của Chính phủ đối với người dân trong xã hội.
Về phương diện xã hội: Bảo hiểm xã hội về bản chất là sự góp phần đảm bảo đời sống
và thu nhập cho mọi người trong xã hội. Phương thức hoạt động là thông qua các biện
pháp công cộng. Mục đích là tạo ra sự an sinh cho mọi thành viên trong xã hội, vì vậy, nó
mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc. Do đó, khi vận hành một hệ thống bảo hiểm xã hội cần phải toàn diện.
3. Bản chất của bảo hiểm xã hội:
Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau:
BHXH là thu nhập khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà
sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động
phát triển đến mức nào đó. Nền kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn
thiện, càng chứng tỏ được những mặt ưu điểm hơn. Vì vậy có thể nói kinh tế là nền tảng
của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước. Đóng vai trò như
một vị cứu tinh cho NLĐ khi họ gặp phải những rủi ro làm giảm thu nhập trong cuộc sống.
Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và diễn ra
giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH. Bên tham gia BHXH
có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ. Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH
thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ. Bên được BHXH là
NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể
nói là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau,
bệnh tật, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp… hoặc cũng có thể là những trường hợp
xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó
có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố rủi
ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại. Nguồn
quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu. Ngoài ra còn được hỗ trợ của Nhà
nước khi có sự thâm hụt quỹ (thu không đủ chi), chính vì vậy mà chính sách BHXH nằm
trong hệ thống chung của chính sách về kinh tế xã hội và là một trong những bộ phận hữu
cơ trong hệ thống chính sách quản lý đất nước của Quốc gia.
Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động
trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục tiêu này đã được tổ chức
lao động Quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ.
+ Chăm sóc sức khỏe và chống bệnh tật.
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và nhu cầu đặc biệt của người già,
người tàn tật và trẻ em.
II, Nguyên tắc và tính chất BHXH: 1. Nguyên tắc của BHXH:
- BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội để người lao động có thể duy trì và ổn định cuộc sống khi
bị mất sức lao động tạm thời (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động v.v... ). Đây là nguyên tắc đảm
bảo ý nghĩa và tính chất của bảo hiểm. Nó vừa mang giá trị vật chất, vừa mang tính xã hội. Điểm
này được thể hiện trước hết là sự bảo đảm bằng vật chất (qua các chế độ BHXH). Mức bảo đảm
về vật chất cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới yếu tố tham gia vào BHXH và vì vậy ảnh
hưởng đến sự phát triển của sự nghiệp này. Về mặt xã hội, theo nguyên tắc này, BHXH lấy số
đông bù số ít, lấy quãng đời lao động thực tế có thu nhập là cơ số để bảo đảm cho quãng đời
không tham gia vào lao động (mất sức lao động hay cao tuổi).
- BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện. Tính bắt buộc thể hiện ở nghĩa vụ
tham gia tối thiểu (thời gian mức đóng bảo hiểm v.v...). Tính tự nguyện có ý nghĩa khuyến khích
mức tham gia, các loại hình và chế độ bảo hiểm, mà người lao động có thể tham gia trên cơ sở sự
phát triển của hệ thống BHXH của một
số nước trong từng giai đoạn nhất định. Nguyên tắc này
cho phép BHXH có điều kiện để phát triển và mở rộng hơn.
- Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH. Vấn đề này có quan hệ trực tiếp đến
các cạnh có liên quan đến việc thiết kế các chính sách và nội dung cụ thể của từng chế độ
BHXH. Mức tối thiểu của các chế độ BHXH là mức đóng định kỳ (hàng tháng), mức thời gian
tối thiểu để tham gia và được hưởng các chế độ BHXH cụ thể. Các mức tối thiểu này, khi thiết
kế thường dựa vào tiền lương tối thiểu, tiền lương bình quân, quảng đời lao động ,..... Mặt khác,
mức tối thiểu còn phải tính đến giá trị của các chế độ BHXH mà người tham gia được hưởng.
Nguyên tắc này liên quan trực tiếp đến việc tạo nguồn, xây dựng quỹ BHXH, và khuyến khích
người lao động và các tầng lớp xã hội tham gia.
- BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thực hiện, đảm
bảo quyền lợi của người lao động. Nguyên tắc này đảm bảo sự thích hợp của BHXH trong cơ
chế thị trường, trong đó sự di chuyển và biến động lao động có thể xảy ra, thậm chí mang tính
thường xuyên. Việc đảm bảo cho người tham gia BHXH có thể duy trì quan hệ một cách liên tục
theo thời gian có tham gia và thống nhất về các chế độ sẽ tạo ra sự linh hoạt cần thiết và thuận
tiên cho người lao động tham gia vào các quan hệ BHXH tốt hơn, đầy đủ và tích cực hơn. Do
vậy, mức tham gia và thời gian thực tế tham gia là căn cứ chủ yếu nhất để duy trì quan hệ BHXH
đối với người lao động. - Công bằng trong BHXH. Đ
ây là nguyên tắc rất quan trọng song cũng rất phức tạp trong chính
sách BHXH. Quan hệ BHXH được thực hiện trong một thời gian dài, cả trong và ngoài quá trình
lao động. Trong quá trình đó có thể có sự thay đổi diễn ra. Mức và thời gian tham gia của từng
người và mức hưởng lương của họ cũng có thể không giống nhau. Do vậy đảm bảo công bằng
trong BHXH là rất cần thiết nhưng rất khó đảm bảo tính tuyệt đối. Sự công bằng, trước hết là
phải đặt trong trong quan hệ giữa đóng góp và được hưởng. Điều này được thể hiện trong nội
dung và điều kiện tham gia trong từng chế độ về BHXH. Xét trên góc độ khác, công bằng còn
đặt trong các quan hệ xã hội giữa những người tham gia BHXH trong từng khu vực hay giữa các
vùng, địa bàn, ngành nghề khác nhau,… dựa trên nguyên tắc tính xã hội của bảo hiểm. Trên đây
là những nguyên tắc phải tính đến khi thiết kế và thực hiện các quan hệ và các chế độ về BHXH. 2. Tính chất của BHXH:
BHXH gắn liền với đời sống của người lao động, vì vậy nó có một số tính chất cơ bản sau:
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội. Như
ở phần trên đã trình bày, trong quá trình
lao động sản xuất người lao động có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó người sử dụng lao động
cũng rơi vào tình cảnh khó khăn như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng lao
động và hợp đồng lao động luôn phải được đặt ra để thay thế,.... Để giải quyết vấn đề này, Nhà
nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH. Và như vậy, BHXH ra đời hoàn toàn mang tính
khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước.
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian. Tính chất
này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH. Từ thời điểm hình thành và triển khai,
đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH. Từ những rủi ro phát sinh
ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao động ,….
- BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ.
+ Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng
trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng
mục đích. Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất cụ thể dựa trên xác suất phát sinh
thiệt hại của tập hợp người lao động tham gia BHXH. Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho
người lao động theo các điều kiện của BHXH.
+ BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất
rõ nét. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH. Và ngược
lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ
còn đang trong độ tuổi lao động. Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó.
Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao III, Đối tượng tham gia: 1. Đối tượng của BHXH
Đối tượng của BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do giảm, mất
khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm đau tai nạn, tuổi già. Chính vì
vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải
những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra.
Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà bao gồm các khoản thu
nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho NLĐ có nhu cầu đóng góp thêm để được
hưởng mức trợ cấp BHXH.
2. Đối tượng tham gia BHXH
Đối tượng tham của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp
tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền lương của NLĐ theo quy định của luật
BHXH. Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất
cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh nghiệp nhà nước
tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng ra.
Vì vậy đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và NSDLĐ phải tham gia BHXH một cách
bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật BHXH.
Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công ăn lương và NLĐ
không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp của NLĐ cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước.
IV, Hệ thống chế độ BHXH:
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi quốc ] gia. Việc
ban hành chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện kinh tế- xã hội của đất ]nước trong từng thời
kì và xu hướng vân động khách quan của toàn bô ]nền kinh tế -xã hôi. p
Chế đô BHXH là sự cụ thể hóa chính sách BHXH, là hê pthống các quy định cụ thể và chi tiết, là
sự bố trí, sắp xếp các phương tiên để thực hiện BHXH đối với người lao p đông. Chế đô p BHXH
thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và pdưới luật, các thông tư, điều lê p ,..Tuy
nhiên, dù cụ thể đến đâu thì các chế đô p BHXH p cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mọi chi
tiết trong quá trình thực hiên chính p sách BHXH. Vì vây, khi thực hiện mỗi chế đô p thường phải
nắm vững những vấn đề p mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để đảm bảo tính đúng đắn và
nhất quán trong toàn bô hê pthống các chế đô p BHXH.
* Theo điều 4 về các chế đô BHXH ở Việt Nam (Luật BHXH 2014): p
a. Bảo hiểm xã hôi bắt buộc tham gia có các chế đô p sau đây: p 1.Chế độ ốm đau (ÔĐ) 2.Chế độ thai sản (TS)
3.Chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ & BNN) 4.Chế độ hưu trí (HT)
5. Chế độ tử tuất (TT)
b. Bảo hiểm xã hội tự nguyện có các chế độ sau đây: 1.Chế độ hưu tri 2.Chế độ tử tuất
c. Bảo hiểm hưu trí bổ sung do chính phủ quy định (Tại khoản 7, điều 3). Ngoài ra, có 9 chế độ
BHXH theo ILO trong Công ước số 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơ-ne-vơ: Chăm sóc y tế Trợ cấp ốm đau Trợ cấp thất nghiệp. Trợ cấp hưu trí.
Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Trợ cấp gia đình. Trợ cấp thai sản. Trợ cấp tàn tật.
Trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Hê thống các chế dô p BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Các chế đô được xây dựng theo luật pháp mỗi nước p
Hê thống các chế đọ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính. p
Mỗi chế đô được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các bên tham gia BHXH.
Phần lớn các chế đô là chi trả định kỳ p
Đồng tiền được sử dụng làm phương tiên chi trả và thanh quyết toán. p
Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế đô BHXH. p
Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư có hiệu quả p và an
toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
Các chế đô BHXH cầm phải được điều chỉnh định kỳ để phản ánh hết sự thay đổi pcủa
điều kiên kinh tế - xã hội.
VI, Quỹ bảo hiểm xã hội:
1. Khái niệm, cơ cấu quỹ bảo hiểm xã hội
Theo Khoản 4, Điều 3, Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài
chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người
sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước.
Cũng tại Khoản 4, Điều 5, Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định Quỹ bảo hiểm xã hội phải
được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch. Quỹ được sử dụng đúng mục đích,
hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần.
Các quỹ thành phần của quỹ bảo hiểm xã hội gồm có:
Quỹ ốm đau và thai sản.
Quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Quỹ hưu trí và tử tuất.
Quỹ bảo hiểm xã hội được sử dụng để bảo đảm các quyền lợi của người lao động khi gặp các
biến cố hoặc rủi ro làm giảm hoặc mất thu nhập từ lao động, bao gồm: ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
Quỹ bảo hiểm xã hội được thành lập từ năm 1995, khi Luật bảo hiểm xã hội đầu tiên năm 1994
có hiệu lực. Trước đó, các chế độ bảo hiểm xã hội được thực hiện theo các quy định riêng biệt
của Nhà nước và các tổ chức xã hội. 2. Nguồn hình thành:
Căn cứ theo quy định tại Điều 82, Luật Bảo hiểm xã hội có 2014 5 nguồn hình thành quỹ
bảo hiểm xã hội chính gồm có:
2.1 Nguồn Quỹ BHXH do người sử dụng lao động đóng
Người sử dụng lao động là lực lượng đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng
tương đối lớn và được thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Mức đóng góp
được tính dựa trên tỉ lệ % quỹ lương của doanh nghiệp, đơn vị chi cho người lao động.
Người sử dụng lao động tham gia đóng BHXH sẽ bớt đi gánh nặng khi không may người
lao động của mình gặp rủi ro, tai nạn, ốm đau đồng thời góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội.
2.2 Nguồn Quỹ BHXH do người lao động đóng
Thông qua việc đóng góp một phần thu nhập vào quỹ bảo hiểm xã hội người lao động sẽ
giúp giảm đi gánh nặng khi rủi ro xảy ra và đảm bảo khi về già có một nguồn thu nhập ổn
định giúp trang trải cuộc sống.
Người lao động có đóng mới có hưởng, các chính sách lương hưu hoặc trợ cấp mai táng,
trợ cấp thai sản… được hoạt động dựa trên nguồn quỹ BHXH.
2.3 Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ Quỹ
Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ là một trong những mục quan trọng giúp gia
tăng quỹ bảo hiểm xã hội. Đầu tư
quỹ BHXH từ vốn nhàn rỗi của Quỹ phải đảm bảo các yêu cầu:
1) Bảo đảm an toàn tuyệt đối cho nguồn quỹ, có khả năng thanh khoản cao. 2) Phải có lãi.
3) Đáp ứng nhu cầu thanh toán thường xuyên việc chi trả các chế độ BHXH phát sinh.
2. 4 Nguồn quỹ từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước
Nguồn hỗ trợ của Nhà nước là một trong những nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội,
theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Luật bảo hiểm xã hội 2014. Nguồn hỗ trợ của Nhà
nước bao gồm các khoản tiền đóng góp sau:
- Hỗ trợ cho các đối tượng được miễn đóng BHXH như người có công với cách mạng,
người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em dưới 6 tuổi...
- Hỗ trợ cho các đối tượng được giảm đóng BHXH như người lao động trong các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, người lao động trong các lĩnh vực khó khăn...
- Hỗ trợ cho các đối tượng được hưởng chế độ BHXH theo quyết định của Nhà nước, như
người lao động trong các dự án có sự tham gia của Nhà nước, người lao động trong các tổ chức phi chính phủ...
- Hỗ trợ cho việc quản lý và hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội như chi phí quản lý, chi
phí kiểm tra, chi phí giải quyết khiếu nại...
Nguồn hỗ trợ của Nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan có thẩm quyền, như
Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam.... Mức
hỗ trợ của Nhà nước được xác định dựa trên nhu cầu và khả năng của ngân sách nhà nước.
2.5 Các nguồn thu hợp pháp khác
Các nguồn thu khác của quỹ bảo hiểm xã hội như:
- Đóng góp ủng hộ của các cá nhân, tổ chức từ thiện trong và ngoài nước.
- Khoản tiền thu nộp phạt từ các đơn vị chậm đóng BHXH.
- Khoản tiền phạt từ các đơn vị, cá nhân làm sai luật BHXH.
3. Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội:
Xác định mục đích sử dụng của quỹ BHXH là một trong những vấn đề quan trọng nhằm
đảm bảo quỹ được sử dụng đúng với mục đích thành lập quỹ. Đồng thời tránh việc thất
thoát gây ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức cũng như quyền lợi của người tham gia BHXH.
Căn cứ vào Điều 82, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho 2 mục đích chính sau:
3.1 Chi trả các chế độ BHXH cho người lao động theo quy định
Đây là khoản chi chính và chiếm tỉ trọng cao nhất trong quỹ BHXH, quỹ được chi cho
các khoản gồm: chi trả lương hưu, đóng bảo hiểm y tế, chi trả chế độ cho người lao động
bị bệnh nghề nghiệp, chi trả trợ cấp thai sản…
Chi trả các chế độ cho người lao động cũng là mục đích chính để hình thành quỹ BHXH,
đảm bảo cho người dân có một cuộc sống tốt hơn, có thể an tâm làm việc và đỡ đi một
phần gánh nặng khi về già hoặc không may gặp rủi ro.
3.2 Chi trả chi phí quản lý bảo hiểm xã hội
Ngoài việc dùng vào việc chi trả chế độ bảo hiểm cho các đối tượng được hưởng theo
quy định, quỹ bảo hiểm xã hội còn được sử dụng để chi trả chi phí quản lý BHXH.
Các chi phí quản lý bao gồm chi phí như:
1 - Chi phí tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; tập huấn, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về BHXH.
2 - Chi phí tổ chức thu, chi trả bảo hiểm xã hội và hoạt động bộ máy của cơ quan BHXH các cấp.
3 - Chi phí cải cách thủ tục bảo hiểm xã hội, hiện đại hóa hệ thống quản lý; phát triển,
quản lý người tham gia, người thụ hưởng BHXH.
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ quan trọng trong hệ thống các nguồn quỹ tại Việt Nam. Quỹ
BHXH được hình thành và sử dụng theo quy định nghiêm ngặt của Luật pháp.
4. Vai trò của quỹ bảo hiểm xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường việc tạo lập quỹ BHXH có vai trò rất to lớn và thể hiện trên các mặt sau đây:
– Về chính trị xã hội:
Việc hình thành quỹ BHXH tạo ra hệ thống an toàn xã hội. Bởi vì, khi người lao động
mất việc làm, hoặc không còn khả năng lao động phải nghỉ việc, nếu không còn nguồn tài
chính đảm bảo cho họ khi mất thu nhập thì có thể dẫn họ tới con đường tệ nạn xã hội…
Tệ nạn xã đó là nguyên nhân làm cho xã hội đó mất ổn định về kinh tế, rối ren về mặt
chính trị và làm suy yếu đất nóc. Nhưng nếu có BHXH chi trả cho họ khi gặp rủi ro để
duy trì cuộc, thì những hiện tượng tiêu cực xã hội sẽ được hạn chế. Trên giác đó đó có thể
nói rằng thông qua việc tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ BHXH góp phần tạo lập hệ
thống an toàn chính trị – xã hội, giữ vững trật tự an ninh xã hỏi. – Về kinh tế:
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập ngoài ngân sách nhà nước do các bên tham gia
bảo hiểm đóng góp nhằm phân phối lại theo luật định cho mọi thành viên khi bị ngừng
hay giảm thu nhập gây ra bởi tạm thời hay vĩnh viên mất khả năng lao động… Thông qua
quá trình phân phối lại quỹ BHXH góp phần thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn xã hội
về kinh tế cho ngời được bảo hiểm trong xã hội trước những trắc trở rủi ro. Mặt khác với
chức năng phân phối lại theo nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít, BHXH góp phần
ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển, khuyến khích động viên ngời lao động an tâm sản xuất.
– Về thị trường tài chính:
Những khoản đóng góp của các chủ thể tham gia quy phần lớn đọc tích tụ, mà không phải
ngay lập tức chi trả trợ cấp do tính chất đặc thù của rủi ro mà người lao động gặp phải là
sự xuất hiện của rủi ro là trong tong lai”. Cùng với nguyên tắc “có rủi ro mới chi trả”, đặc
thù này đã làm cho các khoản đóng góp BHXH trở nên nhàn rỗi. Trong nền kinh tế thị
trường, nguồn tài chính nhàn rồi đó của BHXH sẽ được chuyển vào thị trường tài chính
như một sự vận động tất yếu.
Trên thị trường tài chính, quỹ BHXH thực hiện mua bán các công cụ tài chính như các
loại trái phiếu, cổ phiếu, chứng khoán tiền tệ… Như vậy, thông qua hoạt động đầu t tài
chính của quỹ, các khoản đóng góp BHXH đã được chuyển hóa thành vốn cung cấp cho
ngời thiệu vốn trên thị trường. Với vai trò này, quỹ BHXH được xếp vào các tổ
chức trung gian tài chính phi ngân hàng. Chu trình tài chính của quỹ BHXH là chu trình
tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thị tròng tài chính. Quá trình tham gia của quỹ
BHXH vào thị trường tài chính được thực hiện trên hai thị trường: Sơ cấp và thứ cấp.
VI, Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam:
1. Bảo hiểm xã hội bắt buộc:
1.1. Chế độ trợ cấp ốm đau:
1.2. Chế độ trợ cấp thai sản:
1.3. Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp: 1.4. Chế độ hưu trí: 1.5. Chế độ tử tuất:
2. Bảo hiểm xã hội tự nguyện: 1.1. Chế độ hưu trí: 1.2. Chế độ tử tuất:
1.3. Bảo hiểm thất nghiệp: