Chương 1: HIỂU BIẾT VỀ GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH
21 Tháng Mười Một 2019 9:42 SA
MỤC TIÊU HỌC TẬP
1, Nhận dạng được các bộ phận cấu thành của giao tiếp
2, Nhận dạng được những rào cản ngôn ngữ và phi ngôn ngữ thường gặp
trong giao tiếp
3, Mô tả được những tiêu chí khi lựa chọn phương tiện giao tiếp
4, Tránh được những hậu quả pháp lý tiềm tàng trong giao tiếp
5, Giao tiếp một cách có đạo đức
Giao tiếp là một quá trình gửi và nhận các thông điệp. Quá trình đó thông
qua nói, viết và đôi khi thông qua nét mặt, cử chỉ và chất giọng. Nếu một
ai đó gửi thông điệp cho bạn và bạn tiếp nhận nó, quá trình giao tiếp sẽ
bắt đầu diễn ra.
1. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH CỦA GIAO TIẾP
1.1. Mô hình giao tiếp
Mô hình giao tiếp gồm nhu cầu giao tiếp (1), người gửi (2), thông điệp (3), độc giả (4)
và phản hồi (5)
Nhu cầu giao tiếp
lý do bắt đầu quá trình giao tiếp.
Một ý tưởng của người phát hay là từ một tình huống của tổ chức là khởi đầu của một
quá trình giao tiếp trong tổ chức.
Sau khi bạn và các nhà quản trị quyết định thu mua một công ty, bạn đồng ý
rằng sẽ . Tức là một nhu cầu giaothông báo quyết định này đến các nhân viên
tiếp bắt đầu tiến trình giao tiếp.
Thông điệp
Những thông điệp bằng lời có thể được truyền thông qua một cuộc họp nhân viên, các
cuộc gặp cá nhân, mail thoại, cuộc nói chuyện điện thoại, hội nghị truyền hình, hay
thậm chí qua tin đồn.
Thông điệp viết có thể được thực hiện qua email, báo cáo, bài đăng blog, trang web,
một cuốn sách, tweet, hay bản tin của công ty.
Thông điệp phi ngôn ngữ có thể được truyền tải thông qua nét mặt, cử chỉ, các
chuyển động cơ thể.
Việc chọn đúng phương tiện hướng đến độc giả cần giao tiếp, phù hợp với thông điệp
và những mục tiêu sẽ quyết định đến thành công trong việc giao tiếp của bạn.
Mục đích và nội dung của thông điệp của bạn có thể rõ ràng, nhưng thông điệp rõ
ràng của bạn có thể bị che khuất bởi rào cản ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
Ví dụ như nhân viên có thể hiểu sai email của bạn hay là họ không đọc toàn bộ
và không hiểu hết thông điệp của bạn.
Bản chất năng động của giao tiếp
Bằng kinh nghiệm của mình, bạn có thể biết rằng, giao tiếp giữa người phát và người
nhận ít khi được trôi chảy. Hai hay nhiều người thường gửi và nhận những thông điệp
cùng một lúc.
Ví dụ như, nét mặt của bạn khi bạn nhận được thông tin có thể nói với người
phát rằng bạn đã hiểu, đồng ý, hay là bị bối rối bởi thông tin. Và sự phản hồi của
bạn có thể nhắc nhở người phát kiểm tra lại điều họ nói.
Người phát thông điệp
Là người truyền thông điệp (cá nhân có trách nhiệm bắ
có rất nhiều thứ phải làm để chắc chắn rằng thông điệ
Làm rõ ngữ cảnh giao tiếp: Bạn cần cân nhắc văn hóa tổ chức (chẳng hạn, ngôn
ngữ cần trang trọng như thế nào), những ràng buộc pháp lý (ví dụ như những
điều không nên đề cập trong văn bản viết), và những yếu tố liên quan đến đạo
đức (ví dụ như việc những nhân viên sẽ lo lắng về mất việc làm hay không?)
Nhận dạng và phân tích độc giả: Bạn sẽ phải xác định các đối tượng nhân viên
sẽ tiếp nhận thông báo. Điều gì quan trọng đối với họ và họ sẽ phản ứng như
thế nào?
Xác định những mục tiêu: Bạn sẽ phải xác định những điều bạn muốn những
nhân viên của mình nghĩ, làm, hay cảm nhận sau khi nhận thông điệp.
Chọn phương tiện: bạn sẽ chọn cách truyền tải thông điệp, ví dụ như bằng
email.
Tạo thông điệp: Bạn đã sẵn sàng để gửi đi thông điệp của mình, chẳng hạn như
qua email.
Độc giả
Độc giả chính là người nhận thông điệp sàng lọc giao tiếp phản ứng của bạn, theo
cách dưới đây:
Làm sáng tỏ thông điệp: Mỗi một độc giả sẽ sàng lọc thông điệp dựa vào cơ sở
kiến thức, kinh nghiệm, quan điểm, hoàn cảnh và nhiều yếu tố khác. Khi giao tiếp
thành công, thông điệp được sáng tỏ như mong đợi ban đầu.
Cung cấp những thông tin phản hồi Những nhân viên có thể hài lòng với thông tin
mua lại công ty và nộp hồ sơ xin việc làm trong công ty đó hay là họ có thể nghĩ
rằng công ty đang mở rộng quá nhanh chóng và sẽ đàm luận về nó trong suốt bữa
ăn trưa.
Những lúc như vậy, độc giả trở thành người phát tin mới – tin phản hồi.
Phản hồi
Như một thông điệp mới, sự phản hồi của độc giả đối với giao tiếp của bạn lại bắt đầu
một chu kỳ nữa và cũng phức tạp như tiến trình ban đầu.
1.2. Các hướng của giao tiếp
Thông qua kênh chính thức (1) và phi chính thức (2)
Mạng lưới chính thức
Một mạng lưới giao tiếp chính thức trong một tổ chức có 3 kiểu phối hợp: Từ trên xuống, từ dưới lên và
giao tiếp ngang.
Giao tiếp từ trên xuống
Giao tiếp từ trên xuống là dòng chảy thông tin từ các nhà quản trị tới nhân viên của họ (người chịu trách
nhiệm báo cáo cho ban quản trị).
giao tiếp theo tầng nấc (khi những thông tin bắt đầu ở cấp cao nhất của tổ chức và chuyển xuống các
cấp dưới theo một trình tự), giao tiếp theo tầng nấc điều khiển thông tin từ một bậc trong tổ chức đi
xuống một bậc khác.
Một vấn đề khác trong giao tiếp từ trên xuống là các nhà quản trị cho rằng các nhân viên nhận được và
mặc nhiên hiểu được những thông điệp của họ. Nhân viên có chú ý đến thông điệp của các nhà quản trị,
nhưng các nhà quản trị cần biết những phản hồi của nhân viên để xác định được thông điệp của họ được
tiếp nhận có như mong đợi hay không
Giao tiếp từ dưới lên
Giao tiếp từ dưới lên là dòng chảy thông tin từ những nhân viên cấp thấp hơn đến những nhân viên cấp
cao hơn hay là đến các nhà quản trị.
Giao tiếp từ dưới lên giúp gửi phản hồi đến các quản lý cấp trên về cách họ giao tiếp, những đề xuất về
cải thiện kinh doanh và những thông tin cần thiết để đưa ra các quyết định.
Động viên người lao động nói ra những ý kiến và những mối bận tâm của họ là một trong những nhiệm
vụ quan trọng của nhà quản trị.
Mạng lưới giao tiếp không chính thống
Các nhân viên nói với nhau về điều đang xảy ra trong công ty trong các
bữa ăn, trong khi uống cà phê hay là trên các trang mạng xã hội.
Nếu không có thông tin chính thức tốt thì sẽ lên ngôi. tin đồn
Mọi người cần thông tin, đặc biệt là khi họ sợ sự thay đổi có thể ảnh
hưởng đến họ: sa thải lao động, cắt giảm phúc lợi, hoặc tái cơ cấu tổ
chức.
Mặc dù tin đồn thường chính xác một cách đáng ngạc nhiên (khoảng 75%
đến 90% theo nhiều nghiên cứu), nhưng các nhà quản trị - những người
cho phép tin đồn có chức năng như một nguồn thông tin chính của nhân
viên, lại bỏ lỡ cơ hội truyền đạt những thông điệp của chính họ.
Họ sử dụng những mạng lưới truyền thông chính thức - như hội họp,
email, mạng nội bộ, bản tin - để đảm bảo rằng tất cả các tin tích cực và
tiêu cực có thể được chuyển đến các nhân viên nhanh chóng và hoàn
hảo.
Các nhà quản trị hiểu biết cũng nhận dạng ra những nhân tố ảnh hưởng
then chốt trong một tổ chức để có những thông điệp chính xác truyền
vào tin đồn.
Dòng chảy tự do của thông tin trong tổ chức cho phép các nhà quản trị
chấm dứt các tin đồn và truyền thông những thông điệp của họ tới các
nhân viên.
Thông qua giao tiếp ngang, những người lao động hợp tác làm việc với nhau, chia sẻ kế hoạch, thương
lượng về những bất đồng và ủng hộ lẫn nhau.
Giao tiếp ngang có thể là điều tạo nên thách thức trong một tổ chức, bởi vì bạn cố gắng ảnh hưởng đến
mọi người nhưng không có quyền uy quản lý đối với họ.
Điều này trở nên đặc biệt khó khăn khi giao tiếp ngang là giao tiếp chéo giữa các phòng ban chức năng –
giao tiếp giữa các phòng, bộ phận, chi nhánh khác nhau.
Trong những tình huống này, bạn cần dựa vào các kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng các mối quan
hệ và có khả năng thuyết phục người khác để giành sự ủng hộ và hoàn thành những mục tiêu của
mình.
2. NHỮNG RÀO CẢN TRONG GIAO TIẾP
2.1. Những rào cản ngôn ngữ
Những rào cản ngôn ngữ liên quan đến những gì bạn nói hay viết.
RC1: Vốn từ vựng hạn chế hay những hiểu biết không đầy đủ
Trước khi chúng ta có thể truyền đạt một ý tưởng, chúng ta cần có ý tưởng và đủ hiểu biết về ý tưởng đó.
RC2: Những sự bất đồng trong cách hiểu
Đôi khi, người truyền tải và người nhận thông điệp hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau đối với cùng một từ,
hay hiểu cùng một nghĩa đối với các từ khác nhau.
Khi điều đó xảy ra, thì sự thất bại trong giao tiếp sẽ xuất hiện.
Mỗi từ đều mang nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Nghĩa đen của một từ mang ý nghĩa trực tiếp, được diễn giải trong từ điển về từ đó.
Nghĩa bóng đề cập đến ý nghĩa mang tính chủ quan, chứa đựng xúc cảm mà bạn gán cho từ đó.
Phần lớn các vấn đề liên quan đến diễn giải xuất hiện là bởi vì con người gán những nghĩa bóng khác nhau
cho cùng một từ.
RC3: Bất đồng ngôn ngữ
Những nhà kinh doanh quốc tế nói rằng bạn có thể mua bằng tiếng mẹ đẻ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới,
nhưng bạn chỉ có thể bán bằng ngôn ngữ địa phương.
2.2. Những rào cản phi ngôn ngữ
Những rào cản giao tiếp phi ngôn ngữ bao gồm những tín hiệu không thích hợp
hay tín hiệu mâu thuẫn, những khác nhau về nhận thức, những cảm xúc không
thích hợp và những điều gây xao lãng.
Những tín hiệu không thích hợp hay là những dấu hiệu mâu thuẫn.
Nhiều tín hiệu phi ngôn ngữ khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau và sự
thích hợp trong một ngữ cảnh này có thể không thích hợp trong một ngữ cảnh
khác.
Những sự khác nhau về nhận thức
Ngay cả khi người ta nghe cùng một sự trình bày hay là đọc cùng một bản báo
cáo, người ta sẽ có những nhận thức khác nhau do những sự chọn lọc từ nhận
thức của họ.
Khi những nhân viên nhận một email từ chủ tịch công ty, họ có thể phản ứng
khác nhau do kinh nghiệm, hiểu biết và quan điểm của họ khác nhau.
Một nhân viên bị vị chủ tịch này - người mà anh ta luôn chấp nhận mọi
điều ông ta nói - làm cho sợ hãi.
Trong khi đó, một nhân viên khác lại cảm thấy chẳng có gì đáng lo ngại đối
với những lời nói của ông chủ tịch vì cô ta không tin tưởng vào những lời
nói của ông ta.
3. LỰA CHỌN PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP
3.1. Những kênh giao tiếp truyền thống
Ngày nay, các hình thức giao tiếp truyền thống bao gồm vẫn tồn tại trong tất cả các tổ chức. nói và viết
RC5: Sự trừu tượng và mơ hồ
Một từ ngữ trừu tượng thường diễn tả một ý tưởng hay là cảm xúc thay
diễn tả một dạng vật chất.
Ví dụ, giao tiếp là một từ trừu tượng, nhưng tờ báo là một từ cụ thể
(có thể được nhận biết bằng mắt hay là chạm vào nó).
Những từ trừu tượng là cần thiết để mô tả những thứ bạn không thể thấy
hay là chạm vào.
Ví dụ càng sớm càng tốt, nghĩa là sao? Nó có nghĩa trong vòng một
giờ, vào cuối ngày hay là gì nữa? Một hạn chót cụ thể hơn, ví dụ, 3h
chiều ngày 3/1 sẽ cải thiện cơ hội có được thứ bạn cần hơn.
RC6: Trạng thái cực đoan (phân cực)
Không phải mọi tình huống đều có hai cực đối lập và phân biệt, chúng ta
thường hay nhìn thấy những vùng màu xám ở giữa.
Những người giao tiếp xuất sắc tránh logic không thích hợp và thay vào đó
nỗ lực tìm kiếm những câu từ có điểm chung (ở giữa) để mô tả tình huống
tốt nhất.
Điều gì xảy ra nếu bạn chỉ chúc mừng 1 trong 3 người sau một phần
thuyết trình về công ty? 2 người còn lại sẽ cảm giác như thế nào - dù
rằng bạn không nói điều gì tiêu cực về phần trình bày của họ?
RC4: Sử dụng những cách diễn đạt không thích hợp
Ý nghĩa mong đợi khi diễn đạt không giống với cách hiểu của người nhận.
Những ví dụ của những cách diễn đạt bao gồm tiếng lóng, biệt ngữ và uyển ngữ.
Tiếng lóng: là một cách diễn đạt, thường tồn tại trong một thời gian ngắn, được sử dụng trong giao
tiếp của một nhóm người xác định.
Biệt ngữ: là những thuật ngữ chuyên môn chỉ được sử dụng trong một nhóm nghề nghiệp, mà đôi
khi còn được gọi là “văn từ nghề nghiệp”.
Ví dụ, lĩnh vực công nghệ đã sinh ra một loạt từ vựng mới. Bạn có biết các thuật ngữ trong
ngành máy tính như: Trojan horse4, hacker, thumbnail5…
Uyển ngữ: Là những cách thức diễn đạt thay thế cho những từ ngữ có thể gây khó chịu hay không
thích hợp. Những người truyền thông nhạy cảm sử dụng những uyển ngữ khi thích hợp.
Ví dụ như, từ “chết” được thay bằng cụm từ “qua đời”.
Những uyển ngữ, cũng giống như tiếng lóng, biệt ngữ, không nên sử dụng quá nhiều.
Những cảm xúc không thích hợp
Mặc dầu việc thể hiện cảm xúc vừa phải sẽ tăng cường giao tiếp và làm cho nó mang tính cá nhân
hơn, nhưng thể hiện cảm xúc quá nhiều có thể gây trở ngại giao tiếp.
Ví dụ như, quá tức giận, quá nhiều định kiến (tự động từ chối một người hay ý kiến nào đó mà
chưa xem xét), quá rập khuôn và quá buồn tẻ có thể tạo ra những trở ngại cho giao tiếp hiệu
quả.
Những cảm xúc này có khuynh hướng đóng cửa tâm trí của bạn cho những ý tưởng mới và dẫn đến
việc bạn từ chối hay là không để ý những thông tin trái chiều so với niềm tin đang ngự trị trong bạn.
Kiên định mục tiêu, cởi mở là điều quan trọng cho giao tiếp hiệu quả và cho sự phát triển cá nhân
của bạn.
Những sự xao lãng
Yếu tố nhiễu hay còn được hiểu là những yếu tố thuộc môi trường yếu tố cạnh tranh hoặc những
nhau có thể gây trở ngại khả năng tập trung của bạn và ảnh hưởng đến giao tiếp.
Những có thể là tiếng nhạc acoustic nghe dở tệ, nhiệt độví dụ về yếu tố nhiễu từ môi trường
quá khắc nghiệt, chỗ ngồi không thoải mái hay thậm chí là mùi cơ thể của bạn đồng nghiệp.
Những ví dụ về yếu tố đối lập nhau cùng xuất hiện một lúc có thể kể đến như quá nhiều dự án,
quá nhiều cuộc họp hay quá nhiều email. Làm nhiều việc một lúc (quá nhiều nhiệm vụ) có thể
làm giảm hiệu quả giao tiếp.
Chính . việc sử dụng công nghệ trong giao tiếp cũng gây ra xao lãng
Giao tiếp truyền thống bằng lời
Những cuộc họp mặt trực tiếp vẫn là kiểu giao tiếp cá nhân nhất trong giao tiếp kinh doanh và là lựa chọn tốt nhất
trong việc xây dựng các mối quan hệ. Những cuộc họp truyền thống bao gồm: hai người, nhóm nhỏ hay nhóm lớn tập
hợp lại.
3.2. Các phương tiện giao tiếp dựa vào công nghệ
Email, điện thoại và voice mail
Mặc dầu chúng đều dựa trên công nghệ nhưng email, điện thoại và voice mail vẫn được xem là những kênh giao tiếp
có tính thông lệ nhiều hơn.
Email quá phổ biến trong các tổ chức đến nỗi nó trở thành sự lựa chọn mặc định khi giao tiếp.
Điện thoại cố định trong các văn phòng vẫn tồn tại, nhưng dần bị điện thoại thông minh thay thế.
Tin nhắn tức thì và tin nhắn văn bản
Tin nhắn tức thì (Instant messaging - IM) và tin nhắn văn bản thông điệp ngắn và những câu phổ biến đối với những
hỏi nhanh, những kênh này là lý tưởng.
Tin nhắn văn bản không trang trọng khi giao tiếp vẫn được coi là trong công việc. Nhưng oke với việc xác nhận giao
hàng.
Những phương tiện truyền thông xã hội
Lựa chọn phương tiện giao tiếp
4. GIAO TIẾP THEO PHÁP LUẬT VÀ CÓ ĐẠO ĐỨC.
4.1 Giao tiếp theo pháp luật
4.2. Giao tiếp có đạo đức
3 kiểu đạo đức:
Đạo đức nghề nghiệp: được xác định bởi một tổ chức. Các nhân viên và các
thành viên được kỳ vọng tuân thủ các nguyên tắc mà sẽ xác định cái gì là đúng,
cái gì là sai tại nơi làm việc - ngoài các quy định pháp luật đã được thiết lập.
Đạo đức xã hội: được quyết định bởi xã hội.
Ví dụ như, mặc dầu việc nhận quà tặng từ nhà cung cấp bị lên án nghiêm
khắc ở Bắc Mỹ thì hành động này lại diễn ra phổ biến và được chấp nhận
ở những xã hội khác.
Đạo đức cá nhân: được xác định bởi cá nhân và dựa trên cơ sở những giá trị gia
đình, những gì thừa hưởng, kinh nghiệm cá nhân và những nhân tố khác.
Điều ảnh hưởng đến hành vi đạo đức
1. Chúng tôi làm những việc thuận tiện nhất -> tìm ra con đường dễ dàng nhất
2. Chúng tôi làm những việc để chiến thắng -> đi theo nguyên tắc đạo đức sẽ giới
hạn khả năng đến thành công
3. Chúng tôi làm những việc hợp lý hóa sự lựa chọn -> quyết định thực hiện phụ
thuộc vào hoàn cảnh đặc biệt.
Khuôn khổ việc tạo ra quyết định có đạo đức

Preview text:

Chương 1: HIỂU BIẾT VỀ GIAO TIẾP TRONG KINH DOANH
21 Tháng Mười Một 2019 9:42 SA MỤC TIÊU HỌC TẬP
1, Nhận dạng được các bộ phận cấu thành của giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình gửi và nhận các thông điệp. Quá trình đó thông
2, Nhận dạng được những rào cản ngôn ngữ và phi ngôn ngữ thường gặp
qua nói, viết và đôi khi thông qua nét mặt, cử chỉ và chất giọng. Nếu một trong giao tiếp
ai đó gửi thông điệp cho bạn và bạn tiếp nhận nó, quá trình giao tiếp sẽ
3, Mô tả được những tiêu chí khi lựa chọn phương tiện giao tiếp bắt đầu diễn ra.
4, Tránh được những hậu quả pháp lý tiềm tàng trong giao tiếp
5, Giao tiếp một cách có đạo đức
1. CÁC BỘ PHẬN CẤU THÀNH CỦA GIAO TIẾP 1.1. Mô hình giao tiếp Người phát thông điệp
Mô hình giao tiếp gồm nhu cầu giao tiếp (1), người gửi (2), thông điệp (3), độc giả (4) và phản hồi (5)
Là người truyền thông điệp (cá nhân có trách nhiệm bắ
có rất nhiều thứ phải làm để chắc chắn rằng thông điệ Nhu cầu giao tiếp
Làm rõ ngữ cảnh giao tiếp: Bạn cần cân nhắc văn hóa tổ chức (chẳng hạn, ngôn
Là lý do bắt đầu quá trình giao tiếp.
ngữ cần trang trọng như thế nào), những ràng buộc pháp lý (ví dụ như những
điều không nên đề cập trong văn bản viết), và những yếu tố liên quan đến đạo
Một ý tưởng của người phát hay là từ một tình huống của tổ chức là khởi đầu của một
đức (ví dụ như việc những nhân viên sẽ lo lắng về mất việc làm hay không?)
quá trình giao tiếp trong tổ chức.
Nhận dạng và phân tích độc giả: Bạn sẽ phải xác định các đối tượng nhân viên
Sau khi bạn và các nhà quản trị quyết định thu mua một công ty, bạn đồng ý
sẽ tiếp nhận thông báo. Điều gì quan trọng đối với họ và họ sẽ phản ứng như
rằng sẽ thông báo quyết định này đến các nhân viên. Tức là một nhu cầu giao thế nào?
tiếp bắt đầu tiến trình giao tiếp.
Xác định những mục tiêu: Bạn sẽ phải xác định những điều bạn muốn những Thông điệp
nhân viên của mình nghĩ, làm, hay cảm nhận sau khi nhận thông điệp.
Những thông điệp bằng lời có thể được truyền thông qua một cuộc họp nhân viên, các
Chọn phương tiện: bạn sẽ chọn cách truyền tải thông điệp, ví dụ như bằng
cuộc gặp cá nhân, mail thoại, cuộc nói chuyện điện thoại, hội nghị truyền hình, hay email. thậm chí qua tin đồn.
Tạo thông điệp: Bạn đã sẵn sàng để gửi đi thông điệp của mình, chẳng hạn như
Thông điệp viết có thể được thực hiện qua email, báo cáo, bài đăng blog, trang web, qua email.
một cuốn sách, tweet, hay bản tin của công ty.
Thông điệp phi ngôn ngữ có thể được truyền tải thông qua nét mặt, cử chỉ, các chuyển động cơ thể. Độc giả
Việc chọn đúng phương tiện hướng đến độc giả cần giao tiếp, phù hợp với thông điệp
và những mục tiêu sẽ quyết định đến thành công trong việc giao tiếp của bạn.
Độc giả chính là người nhận thông điệp của bạn, sàng lọc giao tiếp và phản ứng theo cách dưới đây:
Mục đích và nội dung của thông điệp của bạn có thể rõ ràng, nhưng thông điệp rõ
Làm sáng tỏ thông điệp: Mỗi một độc giả sẽ sàng lọc thông điệp dựa vào cơ sở
ràng của bạn có thể bị che khuất bởi rào cản ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
kiến thức, kinh nghiệm, quan điểm, hoàn cảnh và nhiều yếu tố khác. Khi giao tiếp
Ví dụ như nhân viên có thể hiểu sai email của bạn hay là họ không đọc toàn bộ
thành công, thông điệp được sáng tỏ như mong đợi ban đầu.
và không hiểu hết thông điệp của bạn.
Cung cấp những thông tin phản hồi Những nhân viên có thể hài lòng với thông tin
Bản chất năng động của giao tiếp
mua lại công ty và nộp hồ sơ xin việc làm trong công ty đó hay là họ có thể nghĩ
rằng công ty đang mở rộng quá nhanh chóng và sẽ đàm luận về nó trong suốt bữa
Bằng kinh nghiệm của mình, bạn có thể biết rằng, giao tiếp giữa người phát và người ăn trưa.
nhận ít khi được trôi chảy. Hai hay nhiều người thường gửi và nhận những thông điệp
Những lúc như vậy, độc giả trở thành người phát tin mới – tin phản hồi. cùng một lúc.
Ví dụ như, nét mặt của bạn khi bạn nhận được thông tin có thể nói với người
phát rằng bạn đã hiểu, đồng ý, hay là bị bối rối bởi thông tin. Và sự phản hồi của
bạn có thể nhắc nhở người phát kiểm tra lại điều họ nói. Phản hồi
Như một thông điệp mới, sự phản hồi của độc giả đối với giao tiếp của bạn lại bắt đầu
một chu kỳ nữa và cũng phức tạp như tiến trình ban đầu.
1.2. Các hướng của giao tiếp
Thông qua kênh chính thức (1) và phi chính thức (2) Mạng lưới chính thức
Mạng lưới giao tiếp không chính thống
Một mạng lưới giao tiếp chính thức trong một tổ chức có 3 kiểu phối hợp: Từ trên xuống, từ dưới lên và giao tiếp ngang.
Các nhân viên nói với nhau về điều đang xảy ra trong công ty trong các
bữa ăn, trong khi uống cà phê hay là trên các trang mạng xã hội.
Giao tiếp từ trên xuống
Nếu không có thông tin chính thức tốt thì tin đồn sẽ lên ngôi.
Giao tiếp từ trên xuống là dòng chảy thông tin từ các nhà quản trị tới nhân viên của họ (người chịu trách
nhiệm báo cáo cho ban quản trị).
Mọi người cần thông tin, đặc biệt là khi họ sợ sự thay đổi có thể ảnh
hưởng đến họ: sa thải lao động, cắt giảm phúc lợi, hoặc tái cơ cấu tổ
Là giao tiếp theo tầng nấc (khi những thông tin bắt đầu ở cấp cao nhất của tổ chức và chuyển xuống các chức.
cấp dưới theo một trình tự), giao tiếp theo tầng nấc điều khiển thông tin từ một bậc trong tổ chức đi xuống một bậc khác.
Mặc dù tin đồn thường chính xác một cách đáng ngạc nhiên (khoảng 75%
đến 90% theo nhiều nghiên cứu), nhưng các nhà quản trị - những người
Một vấn đề khác trong giao tiếp từ trên xuống là các nhà quản trị cho rằng các nhân viên nhận được và
cho phép tin đồn có chức năng như một nguồn thông tin chính của nhân
mặc nhiên hiểu được những thông điệp của họ. Nhân viên có chú ý đến thông điệp của các nhà quản trị,
viên, lại bỏ lỡ cơ hội truyền đạt những thông điệp của chính họ.
nhưng các nhà quản trị cần biết những phản hồi của nhân viên để xác định được thông điệp của họ được
tiếp nhận có như mong đợi hay không
Họ sử dụng những mạng lưới truyền thông chính thức - như hội họp,
email, mạng nội bộ, bản tin - để đảm bảo rằng tất cả các tin tích cực và Giao tiếp từ dưới lên
tiêu cực có thể được chuyển đến các nhân viên nhanh chóng và hoàn hảo.
Giao tiếp từ dưới lên là dòng chảy thông tin từ những nhân viên cấp thấp hơn đến những nhân viên cấp
cao hơn hay là đến các nhà quản trị.
Các nhà quản trị hiểu biết cũng nhận dạng ra những nhân tố ảnh hưởng
then chốt trong một tổ chức để có những thông điệp chính xác truyền
Giao tiếp từ dưới lên giúp gửi phản hồi đến các quản lý cấp trên về cách họ giao tiếp, những đề xuất về vào tin đồn.
cải thiện kinh doanh và những thông tin cần thiết để đưa ra các quyết định.
Dòng chảy tự do của thông tin trong tổ chức cho phép các nhà quản trị
Động viên người lao động nói ra những ý kiến và những mối bận tâm của họ là một trong những nhiệm
chấm dứt các tin đồn và truyền thông những thông điệp của họ tới các
vụ quan trọng của nhà quản trị. nhân viên.
Thông qua giao tiếp ngang, những người lao động hợp tác làm việc với nhau, chia sẻ kế hoạch, thương
lượng về những bất đồng và ủng hộ lẫn nhau.
Giao tiếp ngang có thể là điều tạo nên thách thức trong một tổ chức, bởi vì bạn cố gắng ảnh hưởng đến
mọi người nhưng không có quyền uy quản lý đối với họ.
Điều này trở nên đặc biệt khó khăn khi giao tiếp ngang là giao tiếp chéo giữa các phòng ban chức năng –
giao tiếp giữa các phòng, bộ phận, chi nhánh khác nhau.
Trong những tình huống này, bạn cần dựa vào các kỹ năng giao tiếp nhằm xây dựng các mối quan
hệ và có khả năng thuyết phục người khác để giành sự ủng hộ và hoàn thành những mục tiêu của mình.
2. NHỮNG RÀO CẢN TRONG GIAO TIẾP
RC5: Sự trừu tượng và mơ hồ
2.1. Những rào cản ngôn ngữ
Một từ ngữ trừu tượng thường diễn tả một ý tưởng hay là cảm xúc thay vì
diễn tả một dạng vật chất.
Những rào cản ngôn ngữ liên quan đến những gì bạn nói hay viết.
Ví dụ, giao tiếp là một từ trừu tượng, nhưng tờ báo là một từ cụ thể
(có thể được nhận biết bằng mắt hay là chạm vào nó).
RC1: Vốn từ vựng hạn chế hay những hiểu biết không đầy đủ
Những từ trừu tượng là cần thiết để mô tả những thứ bạn không thể thấy
Trước khi chúng ta có thể truyền đạt một ý tưởng, chúng ta cần có ý tưởng và đủ hiểu biết về ý tưởng đó. hay là chạm vào.
Ví dụ càng sớm càng tốt, nghĩa là sao? Nó có nghĩa trong vòng một
RC2: Những sự bất đồng trong cách hiểu
giờ, vào cuối ngày hay là gì nữa? Một hạn chót cụ thể hơn, ví dụ, 3h
chiều ngày 3/1 sẽ cải thiện cơ hội có được thứ bạn cần hơn.
Đôi khi, người truyền tải và người nhận thông điệp hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau đối với cùng một từ,
hay hiểu cùng một nghĩa đối với các từ khác nhau.
RC6: Trạng thái cực đoan (phân cực)
Khi điều đó xảy ra, thì sự thất bại trong giao tiếp sẽ xuất hiện.
Không phải mọi tình huống đều có hai cực đối lập và phân biệt, chúng ta
Mỗi từ đều mang nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
thường hay nhìn thấy những vùng màu xám ở giữa.
Nghĩa đen của một từ mang ý nghĩa trực tiếp, được diễn giải trong từ điển về từ đó.
Nghĩa bóng đề cập đến ý nghĩa mang tính chủ quan, chứa đựng xúc cảm mà bạn gán cho từ đó.
Những người giao tiếp xuất sắc tránh logic không thích hợp và thay vào đó
nỗ lực tìm kiếm những câu từ có điểm chung (ở giữa) để mô tả tình huống
Phần lớn các vấn đề liên quan đến diễn giải xuất hiện là bởi vì con người gán những nghĩa bóng khác nhau tốt nhất. cho cùng một từ.
Điều gì xảy ra nếu bạn chỉ chúc mừng 1 trong 3 người sau một phần
thuyết trình về công ty? 2 người còn lại sẽ cảm giác như thế nào - dù
RC3: Bất đồng ngôn ngữ
rằng bạn không nói điều gì tiêu cực về phần trình bày của họ?
Những nhà kinh doanh quốc tế nói rằng bạn có thể mua bằng tiếng mẹ đẻ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới,
nhưng bạn chỉ có thể bán bằng ngôn ngữ địa phương.
RC4: Sử dụng những cách diễn đạt không thích hợp
Ý nghĩa mong đợi khi diễn đạt không giống với cách hiểu của người nhận.
Những ví dụ của những cách diễn đạt bao gồm tiếng lóng, biệt ngữ và uyển ngữ.
Tiếng lóng: là một cách diễn đạt, thường tồn tại trong một thời gian ngắn, được sử dụng trong giao
tiếp của một nhóm người xác định.
Biệt ngữ: là những thuật ngữ chuyên môn chỉ được sử dụng trong một nhóm nghề nghiệp, mà đôi
khi còn được gọi là “văn từ nghề nghiệp”.
Ví dụ, lĩnh vực công nghệ đã sinh ra một loạt từ vựng mới. Bạn có biết các thuật ngữ trong
ngành máy tính như: Trojan horse4, hacker, thumbnail5…
Uyển ngữ: Là những cách thức diễn đạt thay thế cho những từ ngữ có thể gây khó chịu hay không
thích hợp. Những người truyền thông nhạy cảm sử dụng những uyển ngữ khi thích hợp.
Ví dụ như, từ “chết” được thay bằng cụm từ “qua đời”.
Những uyển ngữ, cũng giống như tiếng lóng, biệt ngữ, không nên sử dụng quá nhiều.
2.2. Những rào cản phi ngôn ngữ
Những cảm xúc không thích hợp
Những rào cản giao tiếp phi ngôn ngữ bao gồm những tín hiệu không thích hợp
hay tín hiệu mâu thuẫn, những khác nhau về nhận thức, những cảm xúc không
Mặc dầu việc thể hiện cảm xúc vừa phải sẽ tăng cường giao tiếp và làm cho nó mang tính cá nhân
thích hợp và những điều gây xao lãng.
hơn, nhưng thể hiện cảm xúc quá nhiều có thể gây trở ngại giao tiếp.
Ví dụ như, quá tức giận, quá nhiều định kiến (tự động từ chối một người hay ý kiến nào đó mà
Những tín hiệu không thích hợp hay là những dấu hiệu mâu thuẫn.
chưa xem xét), quá rập khuôn và quá buồn tẻ có thể tạo ra những trở ngại cho giao tiếp hiệu quả.
Nhiều tín hiệu phi ngôn ngữ khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau và sự
thích hợp trong một ngữ cảnh này có thể không thích hợp trong một ngữ cảnh
Những cảm xúc này có khuynh hướng đóng cửa tâm trí của bạn cho những ý tưởng mới và dẫn đến khác.
việc bạn từ chối hay là không để ý những thông tin trái chiều so với niềm tin đang ngự trị trong bạn.
Kiên định mục tiêu, cởi mở là điều quan trọng cho giao tiếp hiệu quả và cho sự phát triển cá nhân
Những sự khác nhau về nhận thức của bạn.
Ngay cả khi người ta nghe cùng một sự trình bày hay là đọc cùng một bản báo Những sự xao lãng
cáo, người ta sẽ có những nhận thức khác nhau do những sự chọn lọc từ nhận thức của họ.
Yếu tố nhiễu hay còn được hiểu là những yếu tố thuộc môi trường hoặc những yếu tố cạnh tranh
nhau có thể gây trở ngại khả năng tập trung của bạn và ảnh hưởng đến giao tiếp.
Khi những nhân viên nhận một email từ chủ tịch công ty, họ có thể phản ứng
khác nhau do kinh nghiệm, hiểu biết và quan điểm của họ khác nhau.
Những ví dụ về yếu tố nhiễu từ môi trường có thể là tiếng nhạc acoustic nghe dở tệ, nhiệt độ
Một nhân viên bị vị chủ tịch này - người mà anh ta luôn chấp nhận mọi
quá khắc nghiệt, chỗ ngồi không thoải mái hay thậm chí là mùi cơ thể của bạn đồng nghiệp.
điều ông ta nói - làm cho sợ hãi.
Trong khi đó, một nhân viên khác lại cảm thấy chẳng có gì đáng lo ngại đối
Những ví dụ về yếu tố đối lập nhau cùng xuất hiện một lúc có thể kể đến như quá nhiều dự án,
với những lời nói của ông chủ tịch vì cô ta không tin tưởng vào những lời
quá nhiều cuộc họp hay quá nhiều email. Làm nhiều việc một lúc (quá nhiều nhiệm vụ) có thể nói của ông ta.
làm giảm hiệu quả giao tiếp.
Chính việc sử dụng công nghệ trong giao tiếp cũng gây ra xao lãng.
3. LỰA CHỌN PHƯƠNG TIỆN GIAO TIẾP
3.1. Những kênh giao tiếp truyền thống
Ngày nay, các hình thức giao tiếp truyền thống bao gồm nói và viết vẫn tồn tại trong tất cả các tổ chức.
Giao tiếp truyền thống bằng lời
Những cuộc họp mặt trực tiếp vẫn là kiểu giao tiếp cá nhân nhất trong giao tiếp kinh doanh và là lựa chọn tốt nhất
trong việc xây dựng các mối quan hệ. Những cuộc họp truyền thống bao gồm: hai người, nhóm nhỏ hay nhóm lớn tập hợp lại.
3.2. Các phương tiện giao tiếp dựa vào công nghệ
Email, điện thoại và voice mail
Mặc dầu chúng đều dựa trên công nghệ nhưng email, điện thoại và voice mail vẫn được xem là những kênh giao tiếp
có tính thông lệ nhiều hơn.
Email quá phổ biến trong các tổ chức đến nỗi nó trở thành sự lựa chọn mặc định khi giao tiếp.
Điện thoại cố định trong các văn phòng vẫn tồn tại, nhưng dần bị điện thoại thông minh thay thế.
Tin nhắn tức thì và tin nhắn văn bản
Tin nhắn tức thì (Instant messaging - IM) và tin nhắn văn bản phổ biến đối với những thông điệp ngắn và những câu
hỏi nhanh, những kênh này là lý tưởng.
Tin nhắn văn bản vẫn được coi là không trang trọng khi giao tiếp trong công việc. Nhưng oke với việc xác nhận giao hàng.
Những phương tiện truyền thông xã hội
Lựa chọn phương tiện giao tiếp
4. GIAO TIẾP THEO PHÁP LUẬT VÀ CÓ ĐẠO ĐỨC.
Khuôn khổ việc tạo ra quyết định có đạo đức
4.1 Giao tiếp theo pháp luật
4.2. Giao tiếp có đạo đức 3 kiểu đạo đức:
Đạo đức nghề nghiệp: được xác định bởi một tổ chức. Các nhân viên và các
thành viên được kỳ vọng tuân thủ các nguyên tắc mà sẽ xác định cái gì là đúng,
cái gì là sai tại nơi làm việc - ngoài các quy định pháp luật đã được thiết lập.
Đạo đức xã hội: được quyết định bởi xã hội.
Ví dụ như, mặc dầu việc nhận quà tặng từ nhà cung cấp bị lên án nghiêm
khắc ở Bắc Mỹ thì hành động này lại diễn ra phổ biến và được chấp nhận ở những xã hội khác.
Đạo đức cá nhân: được xác định bởi cá nhân và dựa trên cơ sở những giá trị gia
đình, những gì thừa hưởng, kinh nghiệm cá nhân và những nhân tố khác.
Điều ảnh hưởng đến hành vi đạo đức
1. Chúng tôi làm những việc thuận tiện nhất -> tìm ra con đường dễ dàng nhất
2. Chúng tôi làm những việc để chiến thắng -> đi theo nguyên tắc đạo đức sẽ giới
hạn khả năng đến thành công
3. Chúng tôi làm những việc hợp lý hóa sự lựa chọn -> quyết định thực hiện phụ
thuộc vào hoàn cảnh đặc biệt.