-
Thông tin
-
Quiz
CHƯƠNG 3: CẦU DU LỊCH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU DU LỊCH
Khi một người nhận thức được sự khác biệt giữa trạng thái hiện tại và trạng thái kỳ vọng của mình, anh ta bị áp lực cần thu hẹp sự chênh lệch này, lúc đó xuất hiện sự khó chịu cần giải quyết và hình thành nhu cầu. “Nhu cầu (needs) là cảm giác thiếu thốn” (Kotler, tr.6). Đó là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà một người có thể cảm nhận được, nó tạo nên sự căng thẳng về sinh lý hoặc tâm lý đòi hỏi phải giải quyết. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Quản trị học (QTH 11) 458 tài liệu
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng 1.1 K tài liệu
CHƯƠNG 3: CẦU DU LỊCH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU DU LỊCH
Khi một người nhận thức được sự khác biệt giữa trạng thái hiện tại và trạng thái kỳ vọng của mình, anh ta bị áp lực cần thu hẹp sự chênh lệch này, lúc đó xuất hiện sự khó chịu cần giải quyết và hình thành nhu cầu. “Nhu cầu (needs) là cảm giác thiếu thốn” (Kotler, tr.6). Đó là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà một người có thể cảm nhận được, nó tạo nên sự căng thẳng về sinh lý hoặc tâm lý đòi hỏi phải giải quyết. Tài liệu giúp bạn tham khảo ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!
Môn: Quản trị học (QTH 11) 458 tài liệu
Trường: Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng 1.1 K tài liệu
Thông tin:
Tác giả:




















Tài liệu khác của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Preview text:
lOMoARcPSD| 49328626
CHƯƠNG 3: CẦU DU LỊCH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU DU LỊCH
3.1. KHÁI NIỆM NHU CẦU, ĐỘNG CƠ DU LỊCH VÀ CẦU DU LỊCH
Trước khi làm rõ khái niệm nhu cầu, động cơ du lịch và cầu du lịch, chúng ta nhắc lại
các khái niệm nhu cầu, động cơ, mong muốn và cầu nói chung.
3.1.1. NHU CẦU, ĐỘNG CƠ, MONG MUỐN VÀ CẦU
Khi một người nhận thức được sự khác biệt giữa trạng thái hiện tại và trạng thái kỳ
vọng của mình, anh ta bị áp lực cần thu hẹp sự chênh lệch này, lúc đó xuất hiện sự khó chịu
cần giải quyết và hình thành nhu cầu. “Nhu cầu (needs) là cảm giác thiếu thốn” (Kotler, tr.6).
Đó là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà một người có thể cảm nhận được, nó tạo nên sự
căng thẳng về sinh lý hoặc tâm lý đòi hỏi phải giải quyết.
Mỗi người cùng một lúc có thể có nhiều nhu cầu khác nhau. Trong đó có những nhu
cầu họ tìm cách giải quyết và có những nhu cầu họ chấp nhận phải bỏ qua. Nhu cầu nối trội
lên bề mặt ý thức, có đủ sức mạnh để thôi thúc người ta hành động gọi là động cơ
(motivation)1. “Một nhu cầu trở thành động cơ khi nó được khơi dậy ở một mức độ đủ mạnh.
Động cơ là một nhu cầu đủ cấp bách để hướng người đó tìm kiếm sự thỏa mãn” (Kotler, tr.147).
Từ nhu cầu, động cơ đã có, thông qua những đặc điểm văn hóa và đặc điểm cá nhân
của mình, anh ta muốn có các sản phẩm, giải pháp khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của mình.
Những sản phẩm, giải pháp ấy là biểu hiện cụ thể của nhu cầu, gọi là mong muốn. “Mong
muốn (wants) là hình thức biểu hiện cụ thể của nhu cầu, nó chịu tác động bởi những đặc điểm
văn hóa và cá nhân của cá thể” (Kotler, tr.6). Khi có nhu cầu phục hồi lại sự mệt mõi về thể
xác và tinh thần, một người, phụ thuộc vào đặc điểm văn hóa và cá nhân của mình, họ có thể
có những mong muốn khác nhau: vài ngày về quê, vài ngày tắm biển hay một cuộc đi bộ băng rừng,…
Nếu một người có mong muốn nhưng nếu mong muốn đó không có khả năng tài chính
để thực hiện thì những mong muốn đó không tác động đến giá cả thị trường. Khi mong muốn
được bảo đảm bởi khả năng thanh toán, nó sẽ ảnh hưởng đến giá cả thị trường dù cho hành
vi mua đã được thực hiện hay chưa thực hiện xong. “Mong muốn được bảo đảm bởi khả năng
thanh toán được gọi là cầu (demands)” (Kotler, tr.6). Lượng cầu được thể hiện bởi số lượng
hàng hóa, dịch vụ mà người ta có khả năng mua và sẵn sàng mua ở một mức giá nhất định
trong khoảng thời gian xem xét. Khi giá thay đổi, lượng cầu thay đổi. Cầu là những số lượng
hàng hóa và dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở những mức giá khác
nhau trong khoảng thời gian xem xét.
3.1.2. NHU CẦU, ĐỘNG CƠ, MONG MUỐN VÀ CẦU DU LỊCH
Nhu cầu du lịch là nhu cầu của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình
một cách tạm thời theo nhiều mục đích khác nhau ngoài mục đích làm việc hay làm một hoạt
động nào đó có hưởng thù lao tại nơi đến.
1 Có những lý thuyết khác nhau giải thích động cơ. Ở đây chúng ta theo lý thuyết Tháp nhu cầu của Maslow lOMoARcPSD| 49328626
Trong các mục đích của chuyến du lịch, mục đích nổi trội nhất tạo nên động cơ du lịch.
Động cơ du lịch và đặc điểm văn hóa, cá nhân, tâm lý sẽ quyết định việc lựa chọn loại
hình du lịch, điểm đến du lịch và các loại hình dịch vụ du lịch. Các loại hình du lịch, điểm
đến du lịch và loại hình dịch vụ du lịch mà du khách cần có để đáp ứng nhu cầu, động cơ du
lịch của mình thể hiện mong muốn du lịch của du khách.
Một khi nhu cầu, mong muốn du lịch được bảo đảm bởi khả năng thanh toán và các
điều kiện khác để vượt qua những cản trở du lịch thì nhu cầu, mong muốn đó sẽ tác động đến
giá cả của thị trường du lịch và trở thành cầu du lịch. Cầu du lịch là nhu cầu, mong muốn du
lịch được bảo đảm bới khả năng thanh toán và thời gian dành cho du lịch. Về mặt lượng, cầu
du lịch được thể hiện bởi lượng cầu du lịch. Lượng cầu du lịch là số lượng hàng hóa và dịch
vụ mà khách du lịch có khả năng mua hoặc sẵn sàng mua ở một mức giá nhất định trong
khoảng thời gian xem xét. Cầu du lịch là những số lượng hàng hóa, dịch vụ du lịch mà khách
du lịch có khả năng mua và sẵn sàng mua ở những mức giá khác nhau trong khoảng thời gian xem xét.
3.2. ĐO LƯỜNG VÀ PHÂN TÍCH CẦU DU LỊCH
3.2.1. CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH LƯỢNG CẦU DU LỊCH
Lượng cầu du lịch là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà khách du lịch mua hoặc có thể
mua ở một khoảng thời gian xem xét. Tuy nhiên, các loại hàng hóa, dịch vụ du lịch này khác
nhau về chất và được đo lường bởi các đơn vị tính khác nhau (đối với dịch vụ lưu trú là số
ngày lưu trú, dịch vụ ăn uống là số bữa ăn, dịch vụ vận chuyển là số km,…) nên các lượng
hàng hóa, dịch vụ khác nhau mà khách du lịch mua trong chuyến đi không thể tổng hợp lại
thành một lượng đo lường duy nhất. Do vậy, khác với lượng cầu các loại hàng hóa khác,
lượng cầu du lịch không thể được đo lường một cách trực tiếp qua số lượng hàng hóa mua.
Một cách gián tiếp, cầu du lịch được phản ánh qua các chỉ tiêu sau. Tuy phản ánh gián
tiếp nhưng chúng vẫn phản ánh luật cầu: giá của các dịch vụ du lịch càng cao, lượng cầu mà
các chỉ tiêu này phản ánh sẽ càng thấp.
1. Số lượt đến của khách du lịch
Số lượt đến của khách du lịch tại một nơi nào đó là một trong những chỉ tiêu thể hiện
lượng cầu du lịch. Dù chỉ phản ánh gián tiếp, nhưng rõ ràng số lượt dến của khách du lịch
càng cao, có khả năng số lượng hàng hóa và dịch vụ du lịch khách du lịch mua tại nơi đó càng lớn.
Dễ dàng thấy rằng, mối quan hệ tương quan giữa số lượt khách du lịch đến và lượng
cầu du lịch (số lượng hàng hóa và dịch vụ bán được) là không thật sự chặt, nó khá xa và rõ
ràng là phản ánh lượng cầu du lịch một cách gián tiếp.
Dù vậy, ưu điểm của chỉ tiêu này là khá đơn giản trong việc đo lường, nhất là đối với
du lịch quốc tế. Khách du lịch quốc tế phải trình báo sự nhập cảnh của mình ở cửa khẩu biên
giới (phi thường, bến cảng…) và chúng ta có thể dễ dàng thu thập số liệu về lượng khách đến
một cách chính xác. Chính vì vậy, trong các thống kê của UNWTO về du lịch quốc tế, chỉ
tiêu này được sử dụng như là một trong những chỉ tiêu chính. lOMoARcPSD| 49328626
Nhưng vấn đề đo lường sẽ khó khăn hơn nếu chúng ta cần xác định số lượt đến của
khách du lịch nội địa. Đối với khách du lịch nội địa sử dụng phương tiện vận chuyển công
cộng thì việc thu thập số liệu còn khá dễ dàng, nhưng nếu họ sử dụng ô tô riêng để đi du lịch
thì trong thực tế chúng ta chỉ có thể áp dụng phương pháp điều tra chọn mẫu.
Một cách thường được sử dụng là tại các điểm nút giao thông, nơi khách du lịch thường
dừng lại (nhà ga, phòng đợi ở sân bay hay đỉnh đèo Hải Vân để điều tra cho số lượt khách du
lịch đến Đà Nẵng bằng đường bộ từ hướng Bắc chẳng hạn), người ta phát những phiếu điều
tra thăm dò để xác định số lượng, nơi đến, mục đích chuyến đi của họ…Dựa vào số liệu thu
thập được, chúng ta có thể phân biệt ai là khách du lịch, ai không phải là khách du lịch. Từ
mẫu này suy rộng ra số lượt đến của khách cho một điểm đến du lịch.
Dù đây là chỉ tiêu phản ánh cầu du lịch một cách gián tiếp nhưng việc đo lường thường
xuyên số lượt đến của khách là một việc rất bổ ích trong việc nắm các biến đổi về cầu du lịch
của một đất nước, một vùng.
2. Số ngày (hoặc đêm) lưu lại của khách du lịch
Cùng số lượt đến như nhau nhưng nếu số ngày lưu lại của khách nhiều hơn, lượng
hàng hóa và dịch vụ du lịch được mua sẽ nhiều hơn. Do mối tương quan giữa số ngày lưu lại
của khách du lịch với số lượng các loại hàng hóa, dịch vụ du lịch cao hơn nên nó phản ánh
lượng cầu du lịch tốt hơn so với chỉ tiêu số lượt đến của khách du lịch. Số ngày (đêm) = Số lượt đến của KDL x Bình quân số
ngày (đêm) lưu lại của KDL lưu lại của KDL
Chỉ tiêu về số ngày (đêm) lưu lại của khách du lịch là rất cần thiết cho những người
làm công tác quy hoạch du lịch. Cụ thể là những người lập dự án xây dựng mới hay mở rộng
các khách sạn, quy hoạch xây dựng các bãi tắm, các khu giải trí hay lên kế hoạch xây dựng
những công trình, phương tiện phục vụ công cộng cho điểm du lịch.
Các chỉ tiêu này được xây dựng từ các số liệu thu thập lấy từ các khách sạn hoặc nhà trọ khác nhau.
3. Số lượng tiền khách du lịch đã chi tiêu (Doanh thu từ khách du lịch)
Tiêu dùng du lịch là cơ sở tạo nên những tác động kinh tế tích cực của du lịch. Ở đây,
chúng ta xét nó như một trong những chỉ tiêu để xác định lượng cầu du lịch. Như đã nói,
lượng cầu du lịch được thể hiện qua nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau với các đơn vị
đo lường hiện vật khác nhau, vì vậy chúng ta không thể cộng lại được. Trong nền sản xuất
hàng hóa, thước đo chung dễ sử dụng nhất, có ý nghĩa nhất để tổng hợp các loại hàng hóa,
dịch vụ là thước đo giá trị. Cho nên, chỉ tiêu số lượng tiền khách du lịch là chi tiêu gần gũi
nhất, có ý nghĩa nhất để phản ánh lượng cầu du lịch. Tuy nhiên, đây cũng là một chỉ tiêu khó
xác định một cách chính xác nhất.
Nếu tính từ doanh thu của các doanh nghiệp, rõ ràng nhiều doanh nghiệp vừa phục vụ
khách du lịch vừa phục vụ dân địa phương, như nhà hàng chẳng hạn, không thể phân biệt đâu
là doanh thu từ khách du lịch, đâu là doanh thu từ cư dân địa phương. Nếu thống kê từ chi
tiêu của khách du lịch, việc thống kê để tính toán chỉ tiêu này thường vấp phải khuynh hướng lOMoARcPSD| 49328626
khách du lịch bị quên, muốn giấu bớt hay khai khống lên. Trên thực tế, ta có thể sử dụng các phương pháp sau.
3a. Phương pháp tính trực tiếp
Phương pháp dễ thấy nhất là ước tính chi tiêu của khách du lịch thông qua số ngày
(hoặc đêm) lưu lại của khách và số tiền chi tiêu bình quân mỗi ngày của khách du lịch, trong
đó, bình quân chi tiêu trong một ngày đêm của khách du lịch có được từ kết quả điều tra khách du lịch.
Số lượng tiền KDL đã chi
=Số ngày (đêm) lưu lại của x Bình quân
chi tiêu trong một ngày (đêm) của
hay: Số lượng tiền KDL đã chi tiêu = Số lượt đến của KDL x Thời gian lưu lại bình quân của KDL x
Bình quân chi tiêu trong một ngày (đêm) của tiêu KDL KDL KDL
Như vậy, lượng cầu du lịch tăng khi:
- Số lượt đến của khách du lịch tăng.
- Thời gian lưu lại bình quân của một khách du lịch dài hơn.
- Khách bị kích thích chi tiêu/ngày nhiều hơn.
Trong phân tích động thái, từ công thức này, sử dụng phương pháp phân tích nhân tố,
chúng ta có thể xác định % đóng góp của từng nhân tố vào sự tăng (giảm) của cầu du lịch. Từ
đó chúng ta xác định chính sách thích hợp:
- Hoặc chúng ta tập trung vào nổ lực quảng cáo, chính sách giá…để tăng cường việc thu hút khách đến.
- Hoặc (và) chúng ta đa dạng hóa các hoạt động giải trí, các loại hình du lịch…để giữ
khách lưu lại dài ngày hơn.
- Hoặc (và) tập trung vào công việc thực hiện các nỗ lực để kích thích chi tiêu trên một ngày của khách du lịch.
3b. Tính gián tiếp thông qua thuế
Trong thực tiễn, một cách đo lường khác dễ thu thập số liệu hơn, đó là xác định “số
lượng tiền khách du lịch đã chi tiêu” thông qua mức thuế của các doanh nghiệp du lịch.
Tổng chi tiêu của khách du lịch bằng tổng doanh thu của các cơ sở kinh doanh du lịch.
Các hoạt động kinh doanh này phải nộp thuế trị giá gia tăng. Từ các khoản thuế trị giá gia
tăng, chúng ta có thể xác định tổng các doanh thu của các hoạt động kinh doanh du lịch tức
tổng số tiền khách du lịch đã chi tiêu. lOMoARcPSD| 49328626
Ví dụ cách tính chi tiêu du lịch (tương ứng là doanh thu của các doanh nghiệp du lịch)
tại một điểm du lịch A năm 2019 như sau:
Bảng 3.1: Xác định chi tiêu du lịch gián tiếếp thông qua thuếế STT Ngành
Thuế suất Mức thuế VAT Doanh thu VAT (%) (tỷ đồng) (tỷ đồng) 1. Dịch vụ lưu trú 10 10 100 2. Dịch vụ ăn uống 10 3 30 3. Dịch vụ vận chuyển 10 5 50 4.
Dịch vụ tham quan, giải trí 10 2 20 5 Kinh doanh hàng lưu niệm 10 1 10 TỔNG CỘNG 210
Nhưng trong nhiều ngành kinh doanh du lịch như nhà hàng, vận chuyển, giải trí,…
thật khó mà xác định đâu là doanh thu từ khách du lịch, đâu là doanh thu từ cư dân địa phương.
Trong thực tế, có những nhà hàng thu chủ yếu là từ dân địa phương chứ không phải từ khách
du lịch. Vì vậy, ở một số nước, người ta quy ước tất cả nhà hàng trong một khu vực nhất định,
nơi khách du lịch thường lui tới, tất cả doanh thu đều tính vào doanh thu du lịch, các nhà hàng
khác tính vào ngành dịch vụ ăn uống (không du lịch).
3c. Tính gián tiếp thông qua mức nộp thuế của một ngành kinh doanh đặc thù của du lịch
(thường là ngành khách sạn)
Từ các số liệu điều tra về thuế suất của ngành kinh doanh khách sạn, điều tra cơ cấu
chi tiêu của khách du lịch (trong đó ta có tỉ trọng chi tiêu cho lưu trú trong toàn bộ chi tiêu
của khách du lịch), ước tính chi tiêu của những khách du lịch lưu trú tại nhà người thân, ở
những nơi không trả tiền lưu trú, …chúng ta có thể xác định được tổng số tiền khách du lịch
chi tiêu trong một khoảng thời gian nhất định.
Ví dụ :Chúng ta có số liệu của một địa phương như sau: Mức thuế doanh thu từ ngành kinh
doanh khách sạn là 2 tỷ đồng. Thuế suất doanh thu ngành này là 10 %. Tỷ trọng của chi tiêu
lưu trú trong toàn bộ chi tiêu của khách du lịch khoảng 40%. Ước tính chi tiêu của khách du
lịch không lưu trú tại những nơi phải trả tiền lưu trú là 40 tỷ đồng. Từ số liệu này ta có:
Chi tiêu cho lưu trú của khách:
2 (tỷ đồng) / 10% = 20 (tỷ đồng) Ước
tính chi tiêu của khách có trả tiền lưu trú:
20 (tỷ đồng) / 40% = 50 (tỷ đồng) Ước
tính tổng số tiền chi tiêu của khách du lịch:
50 (tỷ đồng) + 40 (tỷ đồng) = 90 (tỷ đồng) lOMoARcPSD| 49328626
3.2.2. PHÂN TÍCH CẦU DU LỊCH
Phân tích cầu du lịch của một điểm đến một cách toàn diện cần phải được triển khai theo cả 3 hướng:
• Phân tích theo chiều dọc (phân tích chuỗi thời gian, còn được gọi là phân tích xu hướng);
• Phân tích mặt cắt ngang (còn gọi là phân tích so sánh);
Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến cầu du lịch.
3.2.2.1. Phân tích xu hướng
Các kỹ thuật hay sử dụng là phương pháp phân tích chỉ số, tốc độ tăng trưởng liên
hoàn, tốc độ tăng trưởng bình quân và xây dựng hàm xu hướng.
1. Phương pháp phân tích chỉ số
Từ dãy số liệu thống kê lịch về lượng cầu du lịch xem xét, ta xây dựng dãy chỉ số
lượng cầu du lịch. Năm đầu tiên trong dãy số gọi là năm gốc. Chỉ số năm gốc được gán là
100. Chỉ số của năm t trong dãy số được tính bởi: x 100 Trong đó:
It – Chỉ số lượng cầu du lịch năm t
Dt – Lượng cầu du lịch năm t
D0 – Lượng cầu du lịch năm gốc
Dãy chỉ số cho phép ta có những đánh giá ban đầu. So với nhìn vào dãy số tuyệt đối,
sử dụng dãy chỉ số về số lượt khách, số ngày khách hay chi tiêu của khách, cho phép ta dễ
dàng hơn trong phát hiện xu hướng phát triển của lượng cầu du lịch.
Chẳng hạn, ta lấy dãy số trong bảng 3.2 về Tổng thu từ khách du lịch ở nước ta giai
đoạn 2000 – 2019 (đây cũng chính là tổng số lượng tiền chi tiêu của khách (mà ở chương 2
chúng ta gọi là tiêu dùng du lịch trong nước)).
Nhìn vào dãy chỉ số ở bảng 3.2, ta thấy, sau 20 năm, tổng thu từ khách du lịch của
nước ta tăng hơn 43,39 lần. Trong đó, nếu sau 5 năm đầu, tổng thu từ khách du lịch chỉ tăng
1,72 lần thì sau 10 năm, con số ấy đã tăng 5,52 lần, sau 15 năm là hơn 20 lần. Một xu hướng
tăng trưởng nhanh dần khá ấn tượng.
2. Phương pháp phân tích tốc độ tăng trưởng liên hoàn
Nếu tốc độ phát triển là sự so sánh giữa quy mô chỉ tiêu năm phân tích so với năm gốc
thì tốc độ tăng trưởng là sự so sánh giữa chênh lệch quy mô chỉ tiêu năm phân tích và năm
gốc so với quy mô chỉ tiêu năm gốc. Tốc độ tăng trưởng liên hoàn là tốc độ tăng trưởng của
năm phân tích so với năm ngay trước đó.
Tốc độ tăng trưởng liên hoàn năm t được tính bởi: x 100% Trong đó:
Dt – Lượng cầu du lịch năm t
Dt-1 – Lượng cầu du lịch năm ngay trước năm t
Đọc dãy tốc độ tăng trưởng liên hoàn, không chỉ thấy xu hướng mà còn giúp dễ phát
hiện những bất thường trong phát triển. Hãy lưu ý đến những năm có tốc độ tăng trưởng liên
hoàn cao hay thấp đột biến. lOMoARcPSD| 49328626
Từ cột tốc độ tăng trưởng liên hoàn ở bảng 3.2, có thể thấy trong giai đoạn 2000 –
2019, tốc độ tăng trưởng hàng năm của tổng thu từ khách du lịch Việt Nam là khá cao, thường
xuyên ở quanh mức +20%. Trừ năm 2003, tổng thu giảm (-4,35%) do dịch SARS, hai năm
2007, 2008 tăng trưởng ở mức một con số do khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, còn lại
tốc độ tăng trưởng hằng năm đều rất cao, đặc biệt năm 2006 tốc độ tăng trưởng đạt +70%, năm 2013 đạt +81,15%.
3. Phương pháp phân tích tốc độ tăng trưởng bình quân
Tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm m đến năm n được tính bởi: Vbq = ( - 1) x 100% Trong đó:
Dn – Lượng cầu du lịch năm n
Dm – Lượng cầu du lịch năm m
Tốc độ tăng trưởng bình quân một giai đoạn gồm nhiều năm cho phép loại bỏ những
biến động ngẫu nhiên trong từng năm để thấy được xu hướng phát triển mang tính bản chất
hơn của giai đoạn phân tích. Chúng ta có thể tính tốc độ bình quân cho toàn bộ giai đoạn hay
chia thành các giai đoạn nhỏ hơn để tính tốc độ tăng trưởng bình quân.
Từ kết quả tính toán trong bảng 3.2, ta có thể thấy trong 20 năm qua du lịch Việt Nam
phát triển rất nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của tổng thu từ khách du lịch
giai đoạn này đạt mức rất cao (+ 21,95%, so với tốc độ tăng trưởng bình quân GDP nước ta
giai đoạn này chỉ là +6,46%2). Bỏ qua những tác động ít nhiều mang tính ngẫu nhiên đến tốc
độ tăng trưởng hàng năm, ta có thể thấy điểm đến du lịch Việt Nam đã phát triển hợp quy luật
về chu kỳ sống của một điểm đến (hay sản phẩm) thành công. Giai đoạn 2000 – 2005 là giai
đoạn triển khai với tốc độ tăng trưởng bình quân tương đối chậm (+11,51%), hai lần 5 năm
2005 – 2010 và 2010 – 2015 là giai đoạn phát triển với tốc độ phát triển bình quân khá cao
(lần lượt là +26,19% và +29,93%). Chúng ta đã nhìn thấy xu hướng của giai đoạn bảo hòa
trong 5 năm 2015 – 2019 khi tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này chậm lại (chỉ còn +20,72). lOMoARcPSD| 49328626
Bảng 3.2 Tổng thu từ khách du lịch Việt Nam giai đoạn 2000-2019
2 GDP nước ta năm 2000 là 76,475 tỷ USD, năm 2019 là 251,209 tỷ USD (cố định 2015). Nguồn: Website của Ngân
hàng Thế giới: https://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD?locations=VN
Tốc độ tăng trưởng bình quân (2015-2019): 20,72%
Tốc độ tăng trưởng bình quân (2000-2019): 21,95%
Nguồn cột (1): Tổng cục Du lịch (http://vietnamtourism.gov.vn/index.php/items/13462: giai đoạn
2000-2007, https://vietnamtourism.gov.vn/index.php/statistic/receipts: giai đoạn 2008 – 2019))
4. Phương pháp phân tích hàm xu hướng
Phương pháp phân tích hàm xu hướng nhằm xác định hàm số phản ánh sự phát triển
của lượng cầu du lịch theo thời gian. Đây là việc sử dụng mô hình hồi quy đơn biến, trong đó
biến độc lập là biến thời gian.
Người đọc có thể tìm hiểu thêm ở giáo trình Kinh tế lượng. Ở đây, theot cách đơn giản,
ta xây dựng hàm xu hướng qua 6 bước: lOMoARcPSD| 49328626
1. Xây dựng đường hồi quy thực nghiệm: Dãy số liệu thống kê của lượng cầu du
lịchđược thể hiện thành các điểm trên đồ thị. Nối các điểm này lại, chúng ta có đường
gấp khúc. Đó là đường thực nghiệm
2. Nhận dạng dạng hàm của đường thực nghiệm. Trong thực tế nó có thể là đườngthẳng
(dạng hàm tuyến tính Y = aX + b) hay các dạng phi tuyến: ngày càng tăng nhanh
(dạng hàm mũ Y = aX + b, a>1), ngày càng tăng chậm (dạng hàm logarit tự nhiên Y
= alnX + b),… Trong kinh tế, hay gặp nhất là tăng chậm ở giai đoạn triển khai, tăng
nhanh ở giai đoạn phát triển, qua điểm uốn, tăng chậm dần và bảo hòa ở giai đoạn bảo hòa (dạng hàm logistic2)
3. Đổi biến số để đưa các dạng hàm phi tuyến này về dạng tuyến tính
4. Đổi số liệu thống kê theo biến số mới, áp dụng phương pháp tổng bình phương bénhất
để xác định a và b trong hàm tuyến tính4
5. Trả lại biến số cũ, chúng ta có hàm lý thuyết của xu hướng phát triển lượng cầu.
6. Đánh giá mức độ chặt chẽ của mối liên hệ tương quan thông qua hệ số tương
quan(tuyến tính) hoặc tỷ số tương quan (phi tuyến).
Từ dạng hàm hồi quy và các tham số a, b, ta có thể phân tích xu hướng phát triển lượng
cầu. Hơn nữa, nếu các điều kiện môi trường trong thời gian đến không có biến động lớn,
chúng ta có thể sử dụng hàm xu hướng để dự đoán lượng cầu du lịch trong tương lai.
Sử dụng số liệu từ bảng 3.2, ta có đường hồi quy thực nghiệm như trong hình 3.1 800.00 755.00 700.00 637.00 600.00 541.00 500.00 417.27 400.00 355.55 322.86 289.84 300.00 200.00 160.00 130.00 96.00 100.00
17.40 20.50 23.00 22.00 26.00 30.00 51.00 56.00 60.00 68.00 0.00
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Hình 3.1 Doanh thu từ khách du lịch Việt Nam giai đoạn 2000-2019 (nghìn tỷ đồng)
Đường thực nghiệm của Tổng thu từ khách du lịch của Việt Nam giai đoạn 2000 –
2019 có dạng hàm sigmoid với điểm uốn tại t = 2018. Áp dụng các bước trên, hàm lý thuyết của nó là:
2 Dạng hàm logistic: , trường hợp đặc biệt của nó là hàm sigmoid 4 a = ; b = .
Thay vì tính toán theo công thức, một cách thuận lợi hơn, bạn đọc có thể sử dụng SPSS hay đơn giản là sử dụng hàm linest
trong excel để xác định hai tham số a và b. lOMoARcPSD| 49328626 Dt =
Tỷ số tương quan = = 0.9955 phản ánh quan hệ tương quan chặc.ɳ
Nếu trong giai đoạn 2020 – 2025, tình hình môi trường kinh doanh của du lịch Việt Nam
không có biến động lớn, thay t = 2025, ta có thể dự báo tổng thu từ khách du lịch của Việt
Nam năm 2026 sẽ là 1.196,61 (nghìn tỷ đồng).
Trong phân tích quét ban đầu, dãy chỉ số và tốc độ tăng trưởng liên hoàn thể hiện mức độ
tăng, giảm. Tiếp tục phân tích chi tiết hơn thông qua phân tích tốc độ tăng trưởng bình quân
từng giai đoạn, chúng ta thấy được các bước thăng trầm. Để thấy rõ xu hướng hơn, ta thể hiện
trên đồ thị các xu hướng thay đổi, qua đó làm nổi bật những thay đổi tại các thời điểm đặc
biệt. Từ những bất thường, chúng ta cần điều tra thêm, đánh giá tác động của 'bất thường' đối
với hiệu quả phát triển, nhờ đó chúng ta có thể có một số manh mối về vấn đề đang xảy ra.
Tuy nhiên, các xu hướng này cần phải xem xét trong bối cảnh cụ thể của chúng. Một điểm
đến mới phát triển du lịch, quy mô phát triển còn bé, thì tốc độ tăng trưởng 5% có thể là thấp
trong khi nơi khác có thời gian tăng trưởng dài, quy mô tăng trưởng lớn thì doanh thu tăng
5%/năm có thể đánh giá là một thành công lớn.
3.2.2.2. Phân tích so sánh
Trong khi phân tích xu hướng giúp chúng ta đánh giá sự tăng trưởng của cầu du lịch
theo thời gian, nó không cho chúng ta biết gì về sự tăng trưởng này so với các điểm đến khác.
Từ đó, chẳng hạn, nhìn vào phân tích xu hướng, chúng ta thấy tốc độ tăng trưởng doanh thu
du lịch hàng năm lên đến 10%, chúng ta dễ yên tâm nghĩ rằng du lịch địa phương đã hoạt
động tốt. Nhưng nếu so sánh với tốc độ tăng trưởng trung bình của thế giới, quốc gia hay khu lOMoARcPSD| 49328626
vực là 15%, chúng ta sẽ phải thay đổi đánh giá ban đầu của mình về tốc độ tăng trưởng của mình.
Trong so sánh giữa các điểm đến, đưa vào phân tích là những điểm đến du lịch tương
đồng. Đó là nơi phải có những tương đồng về:
Loại hình tài nguyên du lịch;
Thị trường (tức là các điểm đến chia sẻ một cơ sở khách hàng tương tự).
Giai đoạn trong vòng đời phát triển của điểm đến;
Với một điểm đến du lịch tương đồng, chúng ta so sánh tốc độ tăng trưởng lượng cầu theo
từng chỉ tiêu: số lượt khách, số ngày khách, lượng tiền khách du lịch đã chi tiêu để phát hiện
các thành công và chưa thành công trong thu hút khách, lưu giữ khách và kích thích chi tiêu
của khách. Trên cơ sở đó, phân tích so sánh hoạt động marketing điểm đến, cấu trúc sản phẩm,
cấu trúc thị trường, mặt bằng giá,.. để có những gợi ý chính sách. Bên cạnh đó, phân tích so
sánh những kết quả của tác động tích cực và tiêu cực của phát triển du lịch là một nội dung phân tích cần thiết.
Với hai điểm đến du lịch không tương đồng tuyệt đối, việc phân tích so sánh cũng cho
phép rút ra những kết quả thú vị. Chẳng hạn, hai điểm đến du lịch có cùng loại hình tài nguyên
du lịch, cùng cơ sở thị trường nhưng ở vào giai đoạn phát triển khác nhau trong vòng đời
điểm đến thì điểm đến phát triển sau sẽ sử dụng điểm đến trước như là một trong những cơ
sở dự báo lượng cầu. Ngoài ra, việc phân tích các thành công và thất bại của điểm đến trước
để rút ra các bài học kinh nghiệm cũng là cần thiết.
3.2.2.3. Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố
Khi chỉ tiêu phân tích là tích số bởi hai hay nhiều nhân tố, chúng ta có thể sử dụng
phương pháp phân tích ảnh hưởng của các nhân tố để xác định mức độ tác động từ sự thay
đổi từng nhân tố đến sự thay đổi của chỉ tiêu phân tích.
Doanh thu từ khách du lịch là một trong những chỉ tiêu phản ánh lượng cầu du lịch gần gũi nhất.
Doanh thu du lịch = Số lượt đến của KDL x Thời gian lưu lại bình
quân của KDL x Bình quân chi tiêu trong một ngày-khách của KDL
Phương pháp này được triển khai từ công thức chung. Điều lưu ý là trong các thừa tố,
chúng ta cần đánh giá đâu là những thừa tố phản ánh mặt lượng hơn, đâu là những thừa tố
phản ánh mặt chất nhiều hơn trong sự phát triển lượng cầu. Trong khi chúng ta thay đổi một
thừa tố nào đó, với các thừa tố còn lại, cần cố định các thừa tố lượng hơn ở kỳ phân tích, các
thừa tố chất hơn ở kỳ gốc. Công thức chung: lOMoARcPSD| 49328626
Với: D - Doanh thu du lịch, a - Số lượt đến
của khách du lịch, b - Thời gian lưu lại bình quân, c
- Chi tiêu bình quân một ngày – khách 0
- Chỉ số chỉ kỳ gốc, 1 - Chỉ số chỉ kỳ phân
tích. Từ công thức chung: D = a . b . c DD10 =aa10.b.b10.c.c10
Ta sử dụng các công thức phân tích: D1 =aa11.b.b11.c.c10 xaa11.b.b10.c.c00 x aa10.b.b00.c.c00 D0
D1 – D0 = (a1.b1.c1 - a1.b1.c0) + (a1.b1.c0 - a1.b0.c0) + (a1.b0.c0 - a0.b0.c0)
3.2.3. TÍNH THỜI VỤ CỦA KINH DOANH DU LỊCH
3.2.3.1. Nguyên nhân và hậu quả của tính thời vụ trong kinh doanh du lịch
1. Các khái niệm
Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch xuất phát từ tính thời vụ của cầu du lịch. Tính
thời vụ của cầu du lịch là sự biến động lặp đi, lặp lại có tính chu kỳ của lượng cầu du lịch.
Trong năm, hàng năm có sự lặp lại, có tháng đông khách, có tháng vắng khách. Trong tuần
cũng vậy, có ngày đông khách, có ngày vắng khách. Trong ngày, tại điểm tham quan, tại nhà
hàng, tại quầy lễ tân, có thời điểm đông khách, thời điểm vắng khách.
Trong khi lượng cầu biến động thì lượng cung khá cứng nhắc, khó thay đổi trong ngắn
hạn. Diều này khiến cho kinh doanh du lịch có tính thời vụ.
Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch là sự biến động lặp đi, lặp lại có tính chu kỳ của
kinh doanh du lịch, có lúc hoạt động kinh doanh diễn ra căng thẳng, cung không đáp ứng đủ
cầu, nhưng có lúc hoạt động kinh doanh diễn ra nhàn hạ, chậm chạp, nguồn cung dư thừa
không được sử dụng hết.
Sự biến động lặp đi, lặp lại có tính chu kỳ này có thể theo giờ trong ngày, theo ngày
trong tuần hay theo tháng trong năm.
Du lịch là một trong những ngành có mức độ biến đổi của cầu cao nhất cho bất kỳ sản
phẩm nào, chỉ ít căng thẳng hơn thiệp giáng sinh, những mặt hàng đặc trưng của lễ, tết, …
hay máy lạnh nhưng cao hơn hầu hết tất cả các việc mua cá nhân những mặt hàng có giá trị
cao khác. Kết quả là trong thực tế, các du khách và các nhà cung ứng cùng đối diện với nhiều
điểm cân bằng thị trường mỗi năm.
2. Nguyên nhân của tính thời vụ của cầu du lịch
Dễ thấy nhất là do tác động của sự lặp lại có tính chu kỳ của thời gian rãnh, đa phần là
khách quan ngoài du lịch do các quy định mang tính thể chế: ngày nghỉ cuối tuần, quy định lOMoARcPSD| 49328626
thời điểm nghỉ lễ, nghỉ tết. Thời gian nghỉ hè sẽ ảnh hưởng đến quyết định đi du lịch của các
gia đình có con trong độ tuổi đi học. Thời gian rãnh ảnh hưởng nhiều đến du lịch giải trí
nhưng ít ảnh hưởng đến du lịch công vụ.
Thứ hai là tập quán đi du lịch. Nhiều gia đình có thói quen đi nghỉ hè. Du khách châu
Âu có thêm tập quán nghỉ đông. Ở nước ta còn có quan niệm “Tháng giêng là tháng ăn chơi”.
Ở những thị trường gửi khách mới nổi, nhiều người muốn đi vào mùa đông khách với suy
nghĩ sẽ hưởng được không khí đông vui. Điều này càng khiến cầu du lịch càng cao đột biến
vào những ngày này. Nhưng gần đây xuất hiện hiện tượng những người có kinh nghiệm du
lịch lại chọn thời điểm đi du lịch vào mùa vắng khách.
Một nguyên nhân quan trọng khiến cho lượng cầu tăng vào một số thời điểm trong
năm xuất phát từ điều kiện khí hậu thời tiết và đặc điểm khai thác của tài nguyên du lịch. Đa
phần hoạt động du lịch diễn ra ngoài trời nên khách du lịch thường chọn đi vào những mùa
thời tiết thuận lợi, ít mưa, nắng ấm. Mùa hè thích hợp cho tắm biển, nghỉ mát vùng cao, mùa
đông sẽ là mùa trượt tuyết. Các lễ hội xuất hiện vào những ngày cố định trong năm.
3. Hậu quả của tính thời vụ trong kinh doanh du lịch
Kết quả dễ thấy của tính thời vụ là trong du lịch thường có những điểm cân bằng thị
trường khác nhau với mức giá và sản lượng bán khác nhau vào những thời điểm khác nhau
trong năm. Loại hình resort ven biển có thể có "mùa cao điểm" và "mùa thấp điểm" với hai
mức giá khác nhau, và đôi khi có sự đóng cửa một số cơ sở làm cho nguồn cung thấp hơn ở
mùa thấp điểm. Trong hàng không cũng vậy. Bảng 3.3 thể hiện 4 điều kiện thị trường theo
mùa khác nhau trong tuyến hàng không giữa London Anh và Sydney Úc:
Bảng 3.3 Giá vé máy bay theo mùa hạng economy London - Sydney 1994/1995 Mùa
Thời kỳ áp dụng Giá vé (UK£) Chỉ số Cơ bản 16/04 - 15/06 860 100
Ngoài mùa chính (Off - Peak) 01/02 - 15/04 1045 122 16/06 - 31/07 Gần mùa chính (Shouder) 01/08 - 09/12 1245 145 25/12 - 31/01 Mùa chính 09/12 - 24/12 1400 163
Nguồn: IATA 1994 Air Tariffs/Galileo CRS
Ở đây, các thị trường có 4 mùa trong năm, với nguyên tắc định giá thay đổi đến 63%.
Nhu cầu về sự thay đổi giá như vậy xuất phát từ sự không co giãn và 'tính giật cục (lumpiness)'
của nguồn cung mà chúng ta sẽ xem xét ở chương năm.
Tính thời vụ làm giảm hiệu quả kinh doanh du lịch. Tính thời vụ khiến cho các doanh
nghiệp du lịch một mặt, phải giữ một khối lượng nguồn lực to lớn để đáp ứng cầu lúc căng
thẳng nhưng mặt khác lại không sử dụng đầy đủ các nguồn lực này vào thời kỳ vắng khách.
Điều này dẫn đến việc sử dụng lảng phí nguồn lực đã mua và vì vậy làm giảm hiệu quả kinh doanh.
Xét những nguyên nhân nói trên, ta thấy đó là những yếu tố khách quan, ngoài ngành
du lịch chi phối vì vậy, tính thời vụ trong kinh doanh du lịch tồn tại một cách khách quan, tất
yếu. Chúng ta không thể thủ tiêu tính thời vụ mà chỉ có thể hạn chế mức độ căng thẳng của lOMoARcPSD| 49328626
nó. Dó đó, vấn đề là phải xác định những diễn biến có tính quy luật của thời vụ để thích ứng,
đánh giá mức độ căng thẳng của nó và thực hiện các giải pháp nhằm hạn chế tính thời vụ.
4. Các giải pháp phổ biến để hạn chế tính thời vụ
Tùy điều kiện môi trường và khả năng bên trong mà điểm đến du lịch hay doanh nghiệp
vào những thời điểm khác nhau sử dụng các giải pháp khác nhau, nhưng những giải pháp hay gặp nhất là:
4a. Đa dạng hóa thị trường
Những nguồn khách khác nhau sẽ có các mùa đông khách, vắng khách khác nhau. Việc khai
thác các thị trường có mùa du lịch khác với thị trường mục tiêu sẽ cho phép có nguồn khách đều đặn hơn
4b. Phân biệt giá theo mùa
Do sản phẩm du lịch không dự trữ được nên khi đường cầu biến động theo mùa trong năm,
theo ngày trong tuần, điểm đến du lịch sẽ có các điểm cân bằng thị trường khác nhau với các
mức giá khác nhau mà các doanh nghiệp du lịch không thể cưỡng lại được. Đặc biệt, với các
doanh nghiệp du lịch có tỷ trọng chi phí cố định cao như hàng không, đường sắt, lưu trú,..
vào mùa vắng khách, việc chấp nhận một mức giá thấp, có thể dưới giá thành, nhằm khai thác
công suất thiết kế với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho cả năm là một lựa chọn đúng đắn.
4c. Xây dựng nhịp điệu quảng cáo, khuyến mại theo mùa
Bên cạnh phân biệt giá, quảng cáo, khuyến mại là hai công cụ có thể tác động mạnh đến lượng
cầu. Trong thực tế, do việc thành công trong mùa chính sẽ quyết định sự thành công cho hoạt
động kinh doanh cả năm nên cần phải đẩy mạnh quảng cáo vào trước mùa du lịch chính. Tuy
vậy, việc thực hiện các chương trình khuyến mại và quảng cáo cho các chương trình khuyến
mại là cần thiết để hạn chế tính thời vụ.
4d. Sự hỗ trợ của nhà nước thông qua các chính sách tác động đến việc điều chỉnh thời điểm
nghỉ hè, nghỉ lễ, nghỉ phép
Ở một số nước, đất nước được chia thành một số vùng có thời gian nghỉ hè, nghỉ đông sớm,
muộn khác nhau, khuyến khích các doanh nghiệp cho nhân viên nghỉ phép phân tán hơn trong
năm. Điều này cho phép kéo dài hơn mùa du lịch và hạn chế tính thời vụ cho các điểm đến du lịch trong nước.
4e. Thúc đẩy việc hình thành mùa du lịch thứ hai
Sẽ rất tốt cho điểm đến nếu bên cạnh mùa du lịch chính nó còn có những mùa du lịch phụ.
Một điểm đến du lịch biển chẳng hạn, ngoài mùa hè tắm biển, việc tổ chức các cuộc thi và
đầu tư bổ sung để hình thành hoạt động vào mùa sóng lớn cũng được nhiều điểm đến theo
đuổi. Việc bố trí thời điểm festival, lễ hội, hội thi thể thao.. cũng cần được xem xét trên khía cạnh này.
4f. Đa dạng hóa sản phẩm và đa năng hóa các công trình xây dựng, thiết bị máy móc
Mỗi loại hình du lịch du lịch có mức độ căng thẳng của tính thời vụ khác nhau cũng như có
các mùa du lịch chính vào các thời điểm khác nhau. Một điểm đến có các loại hình du lịch đa
dạng sẽ có tính thời vụ ít căng thẳng hơn nhiều một điểm đến chỉ có một loại hình du lịch,
đặc biệt là những loại hình du lịch khai thác các tài nguyên du lịch thiên nhiên. Hơn nữa, việc lOMoARcPSD| 49328626
đa dạng hóa các loại hình du lịch của điểm đến sẽ hỗ trợ việc đa dạng hóa thị trường và hình
thành mùa du lịch thứ hai.
Tương tự, một doanh nghiệp du lịch cũng cần đa dạng hóa sản phẩm để khai thác các thị
trường khác nhau, không loại trừ việc khai thác sức mua của cư dân địa phương để tạo sự ổn
định trong kinh doanh. Một công trình xây dựng, một thiết bị đầu tư nên tính đến việc sử dụng
vào các mục đích khác nhau. Một sảnh trong khách sạn chẳng hạn, khi xây dựng có thể được
cân nhắc tính toán để trở thành nhà hàng, nơi tổ chức hội nghị, thậm chí có thể tạm thời chia
nhỏ cho các cuộc họp nhỏ, tiệc nhỏ,…
3.2.3.2. Xác định quy luật thời vụ
Để dự đoán lượng khách tại những thời điểm nhất định nhằm lên kế hoạch khách và
doanh thu, từ đó là kế hoạch tài chính, kế hoạch bố trí lao động, kế hoạch vật tư, kế hoạch
bảo dưỡng, bảo trì cũng như kế hoạch đào tạo bồi dưỡng hay bố trí nghỉ phép cho nhân viên),
cũng như xác định nhịp điệu cho kế hoạch marketing,… chúng ta cần phải xác định quy luật
biến động của thời vụ.
Lượng cầu du lịch (có thể tính theo lượt khách, ngày khách hay doanh thu) tại một thời
điểm trong chu kỳ (giờ trong ngày, ngày trong tuần, tháng trong năm,…) của một điểm đến
(hay doanh nghiệp du lịch) sẽ chịu tác động bởi 3 nhân tố: Tính thời vụ s(t),
Quy mô thu hút khách trung bình các thời kỳ trong chu kỳ của điểm đến (hay doanh nghiệp) (Q),
Các tác động ngẫu nhiên (t).Ɛ
Xác định quy luật thời vụ s(t) đòi hỏi chúng ta phải loại bỏ những tác động ngẫu nhiên
(t) và ảnh hưởng bởi quy mô Q của điểm đến (doanh nghiệp). Các bước dưới đây làƐ phương
pháp xác định quy luật thời vụ.
Trường hợp này chúng ta xác định quy luật thời vụ theo các tháng trong năm. Phương
pháp xác định quy luật thời vụ giữa các ngày trong tuần, các giờ trong ngày cũng tương tự.
Từ dữ liệu thống kê số ngày khách qua các tháng trong n năm,
Gọi: aij là số ngày khách của tháng thứ j (j = ) năm thứ i (i = ).
là bình quân số ngày khách tháng j của n năm, = (j = )
Sử dụng với n đủ lớn, chúng ta loại được sự tác động của yếu tố ngẫu nhiên (t).Ɛ
Gọi: là bình quân của (j = ), = Ij =
Bước này cho phép ta loại ảnh hưởng của quy mô nguồn khách của điểm đến hay của doanh nghiệp xem xét.
Ij chính là chỉ số thời vụ tháng j của điểm đến (doanh nghiệp) xem xét.
Chuỗi Ij (j = ) là quy luật thời vụ của điểm đến (doanh nghiệp) xem xét. lOMoARcPSD| 49328626
Những tháng có chỉ số Ij lớn (so với 1) là mùa đông khách, những tháng có chỉ số Ij
nhỏ (so với 1) là mùa vắng khách.
Mức độ căng thẳng của tính thời cụ của điểm đến hay doanh nghiệp được đo lường
bởi độ lệch chuẩn δ(I ) δ(I j j) = = =
Thông thường, khi δ(I )>0,3 thì điểm đến du lịch dó bị coi là tính thời vụ khá căng j thẳng.
3.3. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LƯỢNG CẦU CỦA MỘT
THỊ TRƯỜNG GỬI KHÁCH ĐẾN MỘT ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Như đã lưu ý, sản phẩm du lịch là một sản phẩm rất đặc biệt mà người tiêu dùng phải
đến nơi cung ứng - 'nhà máy du lịch' - để hưởng thụ sản phẩm và đi lại là một bộ phận của
chính sản phẩm. Thông thường, những điều kiện kinh tế chủ yếu ở điểm đến khá khác biệt
với nơi gửi khách, đặc biệt là trong du lịch quốc tế và trong các chuyến đi dài ngày. Như vậy,
không chỉ các biến số kinh tế ở quê hương có ảnh hưởng đến cầu. Bảng 3.4. cung cấp một
hình thức phân loại các biến số kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cầu du lịch:
Bảng 3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH CÁC NHÂN TỐ
ĐẾN CẦU DU LỊCH
HƯỞNG ĐẾN CẦU DU LIÊN KẾT
TẠI NƠI GỬI KHÁCH
LỊCH TẠI ĐIỂM ĐẾN (nhóm C) (Nhóm A) (Nhóm B)
Mức thu nhập khả dụng Mặt bằng giá
Chênh lệch giá của nơi gửi Phân phối thu nhập
Khả năng cạnh tranh của khách và nơi nhận khách
Quyền được nghỉ có lương nguồn cung
Nỗ lực xúc tiến của điểm
đến tại nơi gửi khách
Giá trị đồng nội tệ
Chất lượng sản phẩm DL Tỷ giá hối đoái
Chính sách thuế và kiểm
Những quy định đối với du soát chi tiêu du lịch khách
Chi phí tiền của và thời gian của chuyến đi
Các biến số nhóm A là những biến số ảnh hưởng đến cầu du lịch của du khách tiềm
năng ở nơi gửi khách, bất kể là du khách muốn đi đâu. Chúng chủ yếu là các biến số liên quan
đến khả năng của người mua trong việc bước vào bất kỳ thị trường du lịch nào - đó là những
ràng buộc như thu nhập và thời gian sẵn sàng để sử dụng, sự khuyến khích hay hạn chế của
chính quyền đối với việc đi du lịch của người dân.
Các biến số nhóm B xác định các khả năng thu hút của điểm đến, như nhau với mọi
du khách, bất kể họ đến từ đâu. Các biến số này có thể liên quan đến sản phẩm và nhà cung
ứng. Do sự cạnh tranh bên trong cũng như giữa các điểm đến và các điều kiện trong nhiều
điểm đến đang cạnh tranh, sẽ tác động lẫn nhau, thông qua hiệu quả thay thế, sẽ ảnh hưởng
đến lượng cầu và cầu du lịch (chạy dọc đường cầu hay dịch chuyển đường cầu).
Các biến số nhóm C theo nhiều giác độ là đáng xem xét nhất, xuất phát từ những mối
nối kết đặc biệt giữa nơi gửi khách và điểm đến. Chúng chỉ tác động đến cầu của một điểm
đến nhất định từ một thị trường gửi khách nhất định. Nối kết này không nên được xem xét lOMoARcPSD| 49328626
một cách riêng rẻ bởi du khách cùng lúc sẽ xem xét các biến số nhóm C của cả một vài điểm
đến cạnh tranh trong việc ra quyết định chọn lựa mua của mình. Cũng cần đưa vào nhóm C
các biến số liên quan đến các thủ tục xuất nhập cảnh (có lẽ được đo lường bằng cách sử dụng
biến giả) như là một ràng buộc đối với cầu du lịch.
Chúng ta sẽ phân tích một số nhân tố chính.
3.3.1. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU DU LỊCH TẠI NƠI GỬI KHÁCH
3.3.1.1. Khả năng tài chính
Để có được một sản phẩm nào đó, người tiêu dùng phải đưa ra một cái gì khác trong
nguồn lực khan hiếm của mình. Trong nền kinh tế thị trường, nguồn lực đó là tiền tệ. Sở hữu
một lượng tiền đủ để mua trong số các hàng hóa và dịch vụ cho phép tối đa hóa lợi ích của
người tiêu dùng là ràng buộc chính trên cầu tổng thể của người mua. Lượng tiền này phải đến
từ thu nhập có sẵn (disposable income), tiền mặt, dự trữ bằng tiền như là tiền để dành.
Rõ ràng tất cả các cầu du lịch đều bị ràng buộc như nhau bởi khả năng tài chính. Có lẽ
trường hợp duy nhất không như vậy là các chuyến du lịch 'mạo hiểm' không tiền: balô đeo
vai, đi bộ hay quá giang các phương tiện vận chuyển, nghỉ tại nhà người thân hay ngủ bụi
(sleeping rough) và chỉ tham quan các thắng cảnh, di tích, các điểm vui chơi công cộng, miễn
phí. Các du khách này tối thiểu hóa chi tiêu của họ. Lúc đó, du lịch xảy ra mà không có bất
kỳ hoạt động thị trường nào. Dầu vậy, trong hầu hết các trường hợp, du lịch không chỉ là việc
mua mà là việc mua chủ yếu từ ngân quỹ của mình hoặc người tài trợ.
Các loại hình du lịch khác nhau có nguồn tài trợ và sự bức thiết phải thực hiện chuyến đi khác nhau.
1. Du lịch giải trí và mức thu nhập toàn quyền sử dụng (real discretionary income)
Từ thu nhập nhận được, thu nhập còn lại sau khi khấu trừ thuế, các khoản bảo hiểm
bắt buộc gọi là thu nhập khả dụng. Từ thu nhập khả dụng, người đó sẽ phải đáp ứng các chi
phí sinh hoạt cơ bản như chi phí nhà ở, điện, nước, thực phẩm, quần áo và các chi phí tương
tự. Sau khi các chi phí cần thiết đã được đáp ứng, thu nhập còn lại được gọi là thu nhập toàn
quyền sử dụng. Đây là phần thu nhập mà người ta có thể tùy ý chi tiêu (hoặc tiết kiệm) như
mong muốn. Nói chung, chính thu nhập toàn quyền sử dụng quyết định lượng cầu du lịch. Dù
vậy, ở đây chúng ta cũng cần lưu ý hai vấn đề. Thu nhập của một người phải tính trên thu
nhập thực tế. Đó là sức mua của thu nhập nhận được sau khi được điều chỉnh bởi lạm phát.
Ví dụ, sự gia tăng thu nhập hàng năm của một người khoảng 10% là một sự gia tăng đáng kể;
nếu chỉ số giá sinh hoạt trong năm tăng 5%, sự gia tăng thu nhập thực tế chỉ còn 5%. Một yếu
tố quan trọng khác quyết định đến việc đi du lịch là mức thu nhập của hộ gia đình. Thu nhập
bình quân của người lao động không tăng nhưng việc người vợ (hoặc chồng) tham gia vào thị
trường lao động làm tăng tổng thu nhập của hộ cũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến xu
hướng tăng cầu giải trí du lịch hiện nay.
2. Du lịch MICE và tình hình phát triển kinh tế
MICE là loại hình du lịch mà chi phí của chuyến đi sẽ được thanh toán bởi các công
ty chứ không phải từ nguồn lực cá nhân. Do đó du khách sẽ có xu hướng chi tiêu cao nhiều lOMoARcPSD| 49328626
lần hơn so với khách du lịch giải trí; giá trị ròng của họ mang tới các điểm đến thường cao
hơn so với khách đi du lịch giải trí.
MICE là thị trường du lịch rất lớn kể cả du lịch quốc tế và du lịch trong nước. MICE
bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, nhưng đối với hầu hết các công ty, việc thực hiện chuyến
đi của các đại diện công ty là điều cần thiết chứ không phải là một chi tiêu xa xỉ. Tuy nhiên,
khi diễn ra suy thoái kinh tế hay bản thân kinh doanh của công ty gặp khó khăn, công ty có
thể thay đổi mức chi tiêu du lịch, sử dụng các loại vé máy bay, khách sạn, nhà hàng tiết kiệm
hơn, hoặc giới hạn thời gian và số chuyến đi. Dù vậy, so với du lịch giải trí, ngay cả trong
thời kỳ nền kinh tế khó khăn, du lịch công vụ lúc đó dù sẽ ở mức chi tiêu thấp hơn nhưng vẫn
tiếp tục trong khi du lịch giải trí có thể bị suy giảm nghiêm trọng.
3.3.1.2. Phân phối thu nhập
Gắn liền với mức thu nhập toàn quyền sử dụng không chỉ là sự tăng trưởng của GNP
mà còn là vấn đề phân phối thu nhập trong xã hội.
Giai đoạn trước Chiến tranh thế giới lần thứ II, du lịch chỉ phổ biến ở tầng lớp trên là
những người có thu nhập cao. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, một trong nguyên nhân cơ
bản thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của du lịch quần chúng là có sự thay đổi trong phân phối
thu nhập của xã hội mà theo đó là sự phát triển của tầng lớp trung lưu. Đây là tầng lớp năng
động nhất xã hội, khi có điều kiện, nhất là điều kiện tài chính, họ sẽ là những du khách tiềm
năng đông đảo. Sự bùng nổ các làn sóng du lịch quốc tế vào những năm 1950 rồi những năm
1970 gắn liền với sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại Bắc Mỹ, Châu Âu rồi Nhật Bản.
Hiện nay, với sự phát triển của tầng lớp này ở Trung Quốc, chúng ta đang chứng kiến sự gia
tăng mạnh mẽ của thị trường gửi khách Trung Quốc.
3.3.1.3. Thời gian rảnh
Khi đi du lịch, người ta không chỉ tốn tiền bạc mà còn phải tốn thời gian. Do nhu cầu
du lịch là nhu cầu thứ yếu nên người ta chỉ đi du lịch khi có thời gian rảnh. Vì vậy, khác với
các hàng hóa khác, phân tích lượng cầu, chúng ta không chỉ phân tích sự ràng buộc của ngân
sách mà còn phải phân tích sự ràng buộc của quỹ thời gian rảnh (Xin xem phần Phụ lục “Mô
hình cầu của Lancaster trong du lịch” ở cuối chương).
Rõ ràng một chuyến đi du lịch đòi hỏi một khoản thời gian đủ dài, thường là một ngày
trở lên. Tuy nhiên, thời gian rảnh dành cho du lịch phụ thuộc vào các khoản thời gian khác.
Cần xem xét cơ cấu quỹ thời gian của con người, phát hiện các xu hướng thay đổi từng bộ
phận trong đó để xác định sự ảnh hưởng của chúng đến cầu du lịch.
Hình 3.2 cho chúng ta thấy cơ cấu quỹ thời gian của một người. Quỹ thời gian được chia
thành thời gian dành cho làm việc và thời gian ngoài thời gian làm việc.
Trong thời gian dành cho làm việc còn có thời gian đi lại từ nhà đến chỗ làm và thời
gian chuẩn bị cho công việc tại chỗ làm. Trong thời gian ngoài thời gian làm việc, chúng ta
còn tốn thời gian cho nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, nấu nướng, giặt giũ, chăm sóc con cái, nhà
cửa... Đó là khoản thời gian bị gò bó mà chúng ta không thể làm việc gì khác được. lOMoARcPSD| 49328626
Hình 3.2 Cơ cấu thời gian và thời gian rảnh
Ngoài thời gian làm việc và thời gian bị gò bó nói trên, còn lại là thời gian tự do mà
chúng ta có thể làm những công việc khác nhau tùy theo ý thích của mình. Là con người,
chúng ta có nhu cầu phục hồi sức khỏe, giao tiếp xã hội, phát triển bản thân và chúng được
thực hiện trong thời gian tự do này. Để phục hồi sức khỏe, giao tiếp xã hội và phát triển bản
thân, chúng ta có thể thư giãn, học tập, mở rộng giao tiếp xã hội qua hoạt động xã hội, hoạt
động tín ngưỡng hay thăm viếng lẫn nhau tại địa phương nơi mình sinh sống. Nhưng chúng
ta cũng có thể thực hiện điều đó ngoài nơi cư trú thường xuyên và điều này hình thành cầu du lịch.
Rõ ràng, khi thời gian làm việc có xu hướng ngày càng giảm. Số ngày nghỉ phép hàng
năm, số ngày nghỉ lễ và số ngày nghỉ cuối tuần tăng lên, điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng cầu du lịch.
Không những thế, việc giảm các khoản thời gian bị gò bó khác cũng ảnh hưởng đến
thời gian dành cho du lịch. Khi các thời gian gò bó trong ngày cao, họ không có điều kiện
nghỉ ngơi trong những ngày làm việc vì vậy cuối tuần, ngày lễ, họ có xu hướng nằm nhà thư
giãn. Nhưng nếu thời gian bị gò bó trong ngày giảm đi, chẳng hạn, việc phát triển mạng lưới
giao thông nội thị, giảm tắc nghẽn giao thông, sự phát triển của hệ thống siêu thị, các phương
tiện làm bếp, làm vệ sinh, sự phát triển của hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo, lớp học bán trú… sẽ
làm giảm thời gian đi làm, thời gian bị gò bó khác và tăng thời gian rảnh trong ngày. Khi thời
gian rảnh trong ngày làm việc tăng lên, người ta có điều kiện nghỉ ngơi, giải trí tại nhà (đọc
sách, xem TV,…). Vì vậy đến cuối tuần, ngày lễ, nhu cầu nghỉ ngơi tại nhà giảm và tạo áp
lực gia tăng nhu cầu rời khỏi nhà đi du lịch vào những lúc này. Việc gia tăng phương tiện
thông tin liên lạc, tăng thời gian thỏa mãn nhu cầu xã hội trong ngày làm việc cũng góp phần
vào xu thế này. Đến lượt nó, nếu cuối tuần, nghỉ lễ người ta đã đi đến những điểm du lịch lân
cận thì vào kỳ nghỉ phép năm hay kỳ nghỉ lễ lớn người ta có xu hướng đi đến những điểm du
lịch xa hơn. Xu hướng người dân các tỉnh phía Bắc và phía Nam đi du lịch Miền Trung và ra
nước ngoài vào kỳ nghỉ hè, nghỉ phép thể hiện xu hướng này.
3.3.1.4. Chính sách thuế và kiểm soát chi tiêu du lịch lOMoARcPSD| 49328626
1. Sự kiểm soát chi tiêu du lịch
Nói chung, hầu hết các nước đều có chính sách khuyến khích người dân đi du lịch
trong nước. Tuy nhiên, với du lịch quốc tế, gắn liền với đó là chi tiêu ngoại tệ, vấn đề có khác.
Ở một số nước, nhất là những nước đang phát triển, để ngăn cản hiện tượng nhập siêu du lịch,
chính quyền thường có chính sách giới hạn số lượng ngoại tệ được quyền mang ra khi đi du
lịch nước ngoài và/hoặc yêu cầu xác nhận nguồn gốc hợp pháp của ngoại tệ mang ra. Dù vậy,
với một số nước, trong đáp ứng yêu cầu nâng cao mức sống của người dân, với áp lực từ quốc
gia đối tác trong giảm xuất siêu, đã có chính sách khuyến khích cư dân mình đi du lịch ở nước ngoài.
2. Chính sách thuế đối với chi tiêu của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp coi những khoản chi phí du lịch công vụ, khuyến thưởng, phúc lợi
như là một loại chi tiêu làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp. Ở một số nước, Chính phủ cho
phép tính công tác phí như là một khoản chi, nhờ vậy giảm thuế thu nhập doanh nghiệp. Ở
một số nước khác, cho phép các Công ty du lịch được hưởng khấu trừ thuế thu nhập doanh
nghiệp cho các khoản chi du lịch phúc lợi hay khuyến thưởng. Điều này có thể làm thay đổi
giá cả thực sự của sản phẩm du lịch và từ đó làm thay đổi cầu du lịch. Chẳng hạn, giả định
rằng thuế suất biên (marginal corporate tax) của Công ty du lịch (là số thuế trên một đô la thu
nhập bổ sung - Quý) là 50%, và Chính phủ đưa ra quyết định cho phép cơ quan thuế khấu trừ
toàn bộ thuế (full tax-deductibility) cho các thu nhập từ các chương trình du lịch khuyến
thưởng, phúc lợi của các tổ chức. Hình 3.3 thể hiện những tác động đến cung du lịch. Giá D1 S 1 P1 S 2 P2 P'1 S 1 S D 2 1 Q1 Q2 Cầu
Hình 3.3. Thay đổi trong khấu trừ thuế đối với doanh thu từ chi tiêu du lịch của doanh n ghiệp
Với một cân bằng thị trường ban đầu, giá là OP , các tổ chức đang mua lượng sản 1
phẩm du lịch kinh doanh là OQ . Việc đưa vào chính sách khấu trừ toàn bộ thuế làm giảm giá 1
thực tế nhờ thuế suất biên 50%. Điều này làm dịch chuyển đường cung từ S1S1 đến S2S2 từ đó
giá giảm xuống còn P'1 và sự chuyển dịch thị trường có thể tạo ra mức cân bằng mới ở mức giá OP
. Cũng nên lưu ý rằng lượng cầu có thể tăng ít hơn Q 2 và cầu du lịch OQ2 1Q2 bởi bản
chất ít co giãn của cầu du lịch công vụ.
Trong thực tế, các Chính phủ sử dụng khấu trừ thuế một cách chọn lọc hơn nhiều.
Chính phủ Mỹ chẳng hạn thay đổi giới hạn lượng tiền chi tiêu du lịch trên một người trong
một ngày được tính giảm trừ và có thể cho phép giảm trừ lớn hơn cho chi tiêu du lịch trong