



















Preview text:
Những năm đầu thập niên 2000 là mốc thời gian mà nền kinh tế số bắt đầu
phát triển nhanh chóng và đã thay đổi nhiều khía cạnh trong đời sống, xã hội cũng
như nền kinh tế trên toàn thế giới. Kinh tế số không chỉ đóng góp đáng kể vào GNI
của nhiều nước trên thế giới mà còn tạo ra nhiều hình thức kinh doanh mới góp phần
tạo nhiều cơ hội việc làm hơn. Hơn thế nữa, kinh tế số còn tạo ra những giá trị bổ
sung làm cho đời sống tinh thần của người dân, xã hội thêm phong phú hơn.
Mặc dù kinh tế số mang lại rất nhiều cơ hội, nhưng kinh tế số cũng tạo ra
nhiều thách thức. Đầu tiên chính khái niệm “kinh tế số” đã là 1 thách thức bởi vì có
nhiều khái niệm được đưa ra nhưng chưa có 1 khái niệm nào được nhiều sự đồng
thuận. Thứ hai, việc đo lường kinh tế số còn gặp nhiều khó khăn cộng thêm tính đa
dạng và sự cải tiến không ngừng các hình thức kinh doanh số khiến cho các vấn đề
về thuế của kinh tế số càng phức tạp. Cuối cùng thì kinh tế số còn làm tăng thêm sự
phân hóa giàu nghèo trong xã hội.
2. Tổng quan về kinh tế số 2.1. Định nghĩa
Kinh tế số (Digital Economy) chưa có một định nghĩa nào được đông đảo mọi
người chấp nhận. Nhưng kinh tế số thường được định nghĩa là những hoạt động kinh
tế dựa trên những công nghệ số như Internet, các thiết bị di động, điện toán đám mây.
Nền kinh tế số thường xoay quanh những hoạt động như thương mại điện tử,
quảng cáo online, mạng xã hội, điện toán đám mây. Theo đó, chúng ta có thể chia
những hoạt động của kinh tế số làm 3 loại chính:
- Kinh tế số lõi: Chế tạo phần cứng, phần mềm và tư vấn Công
nghệ thông tin, Dịch vụ thông tin và Truyền thông.
- Kinh tế số phạm vi hẹp bao gồm các vấn đề về dịch vụ số, kinh tế hạ tầng.
- Kinh tế số phạm vi rộng (Kinh tế số hóa) bao gồm kinh doanh điện tử,
thương mại điện tử , nông nghiệp chính xác, kinh tế thuật toán, kinh tế chia
sẻ, kinh tế gắn kết lỏng
Xét về khía cạnh vi mô, chúng ta có thể thấy những hoạt động của kinh tế số
dựa trên những ứng dụng của công nghệ số. Ta có thể thấy rằng nền kinh tế số biểu
hiện ở khắp nơi xung quanh chúng ta như những trang mạng xã hội, quảng cáo
online, các sàn thương mại điện tử, các ứng dụng giao nhận, … và những ứng dụng
phục vụ nhu cầu của khách hàng. Còn về khía cạnh vi mô thì kinh tế số không chỉ
góp phần gia tăng tổng thu nhập quốc nội mà còn giúp cho quá trình hội nhập vào
chuỗi công nghệ toàn cầu của các doanh nghiệp diễn ra nhanh hơn và đẩy nhanh sự
phát triển của đất nước. 2.2. Đặc điểm
Kinh tế số có thể được tập hợp trong 3 quá trình xử lý chính đan xen với nhau bao gồm: + Xử lý vật liệu + Xử lý năng lượng + Xử lý thông tin
Có thể thấy rằng lĩnh vực dễ số hóa nhất và vai trò cốt yếu nhất là xử lý thông
tin. Các tiến bộ trong công nghệ thông tin và Internet đã tạo ra sự kết nối giữa các
chu trình kinh tế và các chủ thể. Điều này giúp kết nối hóa các nguồn lực, loại bỏ
nhiều khâu trung gian và tăng khả năng tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu. Những tiến bộ
công nghệ trong nhiều lĩnh vực sẽ cải thiện các tính năng xử lý thông tin. Điều này có
thể dựa trên khả năng kết nối thông qua các thiết bị di động và khả năng truy cập các cơ sở dữ liệu lớn. 2.3. Vai trò
Thực tế cho chúng ta thấy rằng kinh tế số đang trên đà phát triển một cách
nhanh chóng. Vào năm 2020, nền kinh tế số thế giới được ước lượng có giá trị vào
khoảng 11,5 nghìn tỷ đô-la và được dự đoán sẽ tăng lên thành 23,3 nghìn tỷ đô-la vào
năm 2025. Thêm vào đó, kinh tế số có những tác động tích cực đến nền kinh tế
truyền thống. Không chỉ gia tăng năng suất, kích thích sự đổi mới sáng tạo mà còn
tăng trưởng kinh tế. Thêm vào đó kinh tế số còn tạo việc làm, cơ hội cho doanh
nghiệp và người tiêu dùng. Tổng quan lại kinh tế số là một hiện tượng phát triển
nhanh chóng, phức tạp và đã làm thay đổi sâu sắc các khía cạnh của xã hội, đời sống
cũng như nền kinh tế. Sau đây là 1 số vai trò chính của kinh tế số:
- Gia tăng năng suất: Kinh tế số giúp cho doanh nghiệp vận hành một
cách trơn tru và có hiệu quả hơn khiến cho năng suất được gia tăng. Ví
dụ như doanh nghiệp sử dụng những ứng dụng công nghệ để thực hiện
những công việc có tính lặp lại, đơn giản hóa quá trình làm việc cũng
như cải thiện việc giao tiếp;
- Kích thích sự đổi mới sáng tạo: Doanh nghiệp áp dụng công nghệ để
tạo ra những mô hình kinh doanh mới, phát triển những sản phẩm, dịch
vụ mới và cải thiện trải nghiệm người dùng;
- Tăng trưởng kinh tế: Kinh tế số góp phần làm tăng trưởng kinh tế bằng
cách tạo ra nhiều cơ hội việc làm, tạo ra những mảng kinh doanh mới
ví dụ như phát triển phần mềm, thiết kế web, data analytics.
3. Ngành kế toán trước và sau khi thời đại kinh tế số ra đời
3.1. Trước thời đại kinh tế số
Một lượng lớn bằng chứng khảo cổ chỉ ra rằng thời kỳ ghi chép sổ sách sớm
nhất được phát hiện vào khoảng 7.000 năm trước tại nền văn minh Lưỡng Hà. Tại
đây, các loại hình sổ sách sớm nhất được phát hiện là những dòng chữ được khắc
vào vách đá và nút thắt dây thừng được tìm thấy ở Mesopotamia (nay là Iraq).
Sau sự kiện sưpj đổ của đế chế La Mã khoảng hàng nghìn năm và trước khi
Luca Pacioli - nhà toán học người Ý xuất bản cuốn sách “Summa de arithmetica,
geometria. Proportioni et proportionalita” thì đây là khoảng thời gian mà kế toán bị
đình trệ. Nhưng theo Michael Chatfield - nhà sử gia thì kế toán vào thời kỳ Trung cổ
đã củng cố cho những học thuyết của chủ nghĩa bảo thủ và đặt nền tảng cho sự phát
triển thần tốc của kế toán trong thời kỳ Phục hưng.
Vào khoảng thế kỷ 14 - 16, trong thời kỳ Phục hưng những người Ý cách tân
được coi là những người đã đặt nền móng cho kế toán hiện đại. Họ đã đưa
những hoạt động mậu dịch, thương mại phát triển một cách vượt bậc nhờ sự đổi mới
và sáng tạo trong những phương thức xác định lợi nhuận một cách chính xác hơn. Họ
sử dụng những chữ số Ả Rập để theo dõi những tài khoản kế toán và giữ lại những
bản ghi hoạt động kinh doanh do thời kỳ này việc sử dụng vốn và tín dụng quy
mô lớn phát triển một cách nhanh chóng. Năm 1494, Luca Pacioli đã nghiên cứu và
cho xuất bản cuốn sách “Summa de arithmetica, geometria. Proportioni et
proportionalita” . Cuốn sách đã đưa ông trở thành cha đẻ của ngành kế toán hiện đại
và là người đặt nền tảng cho nó.
Vào thế kỷ 16, sự phát triển nhanh chóng của các tập đoàn Anh đã gây ra sự
bùng nổ trong ngành kế toán. Trong khoản thời gian này, các nhà đầu tư bắt đầu nhìn
tâhý được tầm quan trọng của các thông tin về tình hình tài chính của các doanh
nghiệp mà họ có ý định đầu tư cũng như việc họ muốn thông tin chính xác về hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp của họ nên họ dần nhận ra được kế toán là hoạt
động bắt buộc phải có mặt ở bất kì hoạt động nào trong doanh nghiệp. Kể từ đó hoạt
động kế toán được phân làm kế toán tài chính và kế toán quản trị
Ở Anh thế kỷ 19, nghề kế toán bắt đầu được chuẩn hóa và cấp phép. Kế toán
đòi hỏi nhiều kỹ năng vì họ không chỉ yêu cầu kiến thức cơ bản và toán học, mà còn
phải hiểu sâu về luật kinh doanh và hợp đồng.
3.2. Sau thời đại kinh tế số cho đến hiện nay
Chiếc máy tính Univac 1 - máy tính dành riêng cho các công việc kế toán
được bán cho công ty General Electric vào năm 1955 là cột mốc đánh dấu sự khởi
đầu của kỷ nguyên phần mềm kế toán.
Khi IBM ra mắt PC (Máy tính cá nhân) vào giữa những năm 1980, đã có sự
đổi mới nhanh chóng, từ bảng cân đối giấy đến bảng tính trên Lotus 123, mang tính
cách mạng như hệ thống sổ kế toán kép.
Ngành kế toán lại trải qua một bước nhảy vọt nữa khi Bill Gates giới thiệu bộ
phần mềm văn phòng Microsoft Office vào năm 1988 và chính thức ra mắt vào năm
1990. Kế toán đã trở nên nhanh hơn và chính xác hơn.
Nhiều phần mềm kế toán chuyên dụng đã được phát triển từ cuối thế kỷ 19
cho đến ngày nay. Lịch sử của phần mềm kế toán bắt đầu từ những năm 1970 đến
1985. Các chương trình phần mềm được sử dụng ở các quốc gia trên thế giới vào thời
điểm đó bao gồm Peachtree Software và Quicken.
Đặc biệt, với phần mềm chuyên dụng cho phép kế toán viên chỉ việc nhập liệu
và thực hiện các bút toán ghi sổ kế toán. Phần mềm tự động tạo các mẫu báo cáo
khi cần thiết. Nhờ có Internet và kho lưu trữ dữ liệu iCloud, nhân viên kế toán có thể
dễ dàng truy cập và làm việc từ bất cứ đâu. Chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng quản lý
thông tin tài chính của mình mọi lúc, mọi nơi.
Cách mạng Công nghiệp 4.0 là nền móng quan trọng để ngành kế toán phát
triển một cách vượt bậc. Nhờ những thành tựu công nghệ trong cuộc cách mạng này
mà quá trình thực hiện các công việc kế toán trở nên đơn giản hơn, tiết kiệm thời gian
và công sức hơn cho các kế toán viên.
4. Ngành kế toán ở Việt Nam trong thời đại kinh tế số 4.1. Thực trạng
Trong thời đại kinh tế số, ngành kế toán Việt Nam nhờ vào sự giúp đỡ của
công nghệ số đã ngày càng tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, vào thị
trường tài chính, đóng góp cho sự tăng trưởng của đất nước. Mặc dù sự xuất hiện của
kinh tế số đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt nhưng các tổ chức tài chính-kế toán cũng
gặp được những cơ hội để phát triển theo hướng chuyên nghiệp hơn, nâng cao chất
lượng dịch vụ và công khai minh bạch các thông tin hơn, đáp ứng được nhu cầu ngày
càng cao của khách hàng. Các công ty dịch vụ kế toán trong thời đại kinh tế số xảy ra
những cuộc trạnh tranh quy mô lớn. Trong thời đại này, các doanh nghiệp kế toán có
quy mô lớn thu hút khách hàng hơn các doanh nghiệp kế toán có quy mô vừa và nhỏ
khiến cho thị phần của các doanh nghiệp này bị giảm mạnh, không chỉ vậy sự cạnh
tranh của các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp kế toán xuyên quốc gia
cũng góp phần không nhỏ vào vấn đề này. Tuy nhiên, sự cạnh tranh này cũng khiến
cho thị trường cung cấp dịch vụ kế toán của Việt Nam ngày càng chuyên nghiệp, lớn mạnh hơn.
Kinh tế số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang ngày càng ảnh hưởng sâu
sắc hơn vào quy trình của ngành kế toán Việt Nam. Việc ngành kế toán ứng dụng
internet kết nối vạn vật, nền tảng tự động hóa, BIG DATA, điện toán đám mây và
trí thông minh nhân tạo vào quy trình hoạt động của mình đã giúp cho những công
việc cơ bản của kế toán viên diễn ra dơn giản và hiệu quả hơn, đồng thời giúp cho kế
toán viên taạp trung vào những công việc có tính phhức tạp hơn, yêu cầu trách nhiệm
cao hơn. Việc ứng dụng này giúp cho quá trình hoạt động kế toán tiết kiệm được thời
gian, chi phí, nhân lực cũng như hạn chế rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động. Ví
dụ như các quản lý, lãnh đạo của doanh nghiệp có thế kiểm tra về các báo cáo của
doanh nghiệp bất cứ lúc nào thông qua dữ liệu đám mây.
Trong thời đại mà kế toán viên có thể công tác ở bất kì đâu ở trên thế giới đã
tạo nên cuộc cạnh tranh khốc liệt trong thị trường lao động của ngành kế toán. Diều
này đã ảnh hưởng đến những cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kế toán, khiến họ
nhận thức được rằng phảo nỗ lực tích lũy kiến thức, kinh nghiệm cũng như bắt kịp
với sự phát triển của công nghệ để không bị bỏ lại phía sau. Ngành kế toán của Việt
Nam hiện nay phải đương đầu với thách thức lớn nhất đó là ngành kế toán hiện nay
có yêu cầu về đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ hiểu biết sâu rộng về công nghệ
thông tin . Thực tế đã cho ta thấy rằng số lượng lẫn chất lượng của nguồn nhân lực kế
toán của Việt Nam vẫn chưa phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp.
Đào tạo đội ngũ nhân viên kế toán chất lượng cao, đủ năng lực cạnh tranh với
nguồn lao động của các quốc gia khác trong khu vực, cũng như dòng dịch chuyển
nguồn nhân lực giữa các quốc gia, là điều cần thiết cho xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu rộng. Sự bùng nổ của các thành tựu liên quan đến cách mạng công
nghiệp 4.0 dự kiến sẽ làm thay đổi hoàn toàn các quy trình kế toán hiện nay do xu
hướng hội nhập quốc tế.
4.2. Cơ hội và thách thức 4.2.1. Cơ hội
- Dễ dàng trong việc thu thập dữ liệu:
Bằng cách sử dụng các trang thiết bị, các phần mềm công nghệ số hiện đại, kế
toán viên có thể thu thập các thông tin mà trước đây họ khó thu thập được. Bên cạnh
đó, kế toán viên có thể chiết xuất dữ liệu từ những kho dữ liệu khổng lồ, phục vụ cho
quy trình kế toán. Việc này tạo ra lợi ích khổng lồ cho ngành kế toán bởi vì kế toán
viên có thể thực hiện công việc của mình ở bất kỳ đâu, bất cứ lúc nào khi mà chỉ cần có
thiết bị điện tử có kết nối internet. Thêm vào đó họ có thể cung cấp dịch vụ kế toán cho
nhiều doanh nghiệp cùng một lúc mà không cần phải đến nơi làm việc của doanh
nghiệp đó cũng như doanh nghiệp có thể thuê kế toán viên mà không cần cung cấp nơi làm việc cho họ.
-.Nâng cao chất lượng thông tin:
Cách mạng công nghiệp 4.0 đã cho ra đời Blockchain - công nghệ sử dụng sổ
cái phân tán giúp cho ngành kế toán có được chất lượng dữ liệu cao hơn, nhiều chi
tiết hơn, độ chính xác cao hơn và nâng cao tính hợp lý và độ tin cậy của các báo
cáo dữ liệu. Thêm vào đó các khi các giao dịch được ghi lại trong sổ cái thì sẽ không
thể chỉnh sửa, thay đổi được nữa. Các bản sao của sổ cái chung sẽ được đưa cho mỗi
chủ thể tham gia mạng lưới blockchain lưu giữ và bản sao này sẽ được cập nhật theo
cơ chế đồng thuận, có nghĩa là nếu muốn thay đổi dữ liệu trong bản sao này phải
được sự đồng thuận giữa các chủ thể trong mạng lưới blockchain. Điều này đảm bảo
sự minh bạch và bảo mật đối với các giao dịch giữa các chủ thể trong mạng lưới.
-.Góp phần mở rộng thị trường của ngành kế toán:
Các hoạt động trong quá trình thực hiện công tác kế toán như thu thập, xử lý
thông tin; cung cấp, lưu trữ thông tin; bảo mật thông tin nhờ vào các ứng dụng công
nghệ từ cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã khiến cho quá trình này được tinh giảm,
tiết kiệm chi phí, thời gian và nhân lực cũng như nâng cao độ chính xác. Nhờ vậy,
các doanh nghiệp có nhiều cơ hội hơn để mở rộng thị trường.
-.Nâng cao trình độ của nguồn nhân lực của ngành kế toán:
Do sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt trong thị trường lao động của ngành kế
toán nên những người làm kế toán đang tích cực tích lũy kinh nghiệm, kiến thức;
nâng cao tay nghề; chủ động tìm hiểu hơn về những ứng dụng khoa học công nghệ
vào kế toán, góp phần phát triển chất lượng nguồn nhân lực kế toán
4.2.2. Khó khăn, thách thức
Đầu tiên, ngành kế toán Việt Nam phải đối mặt với thách thức lớn nhất trong
nền kinh tế số là nhu cầu về nhân viên có trình độ công nghệ thông tin cao.. Bởi vì
không chỉ những ngành nghề khác, ngành kế toán cũng đã và đang áp dụng những
ứng dụng công nghệ thông tin vào những hoạt động kế toán như việc ghi sổ cái,
lập báo cáo tài chính. Theo nhiều bài nghiên cứu hiện nay, mức độ hiểu biết, trình độ
áp dụng công nghệ thông tin của các kế toán vẫn còn nhiều hạn chế. Mà theo thực tế
thì việc đào tạo nguồn nhân lực kế toán chỉ dừng lại ở việc giảng dạy kiến thức nền,
chưa tập trung vào giảng dạy chuyên sâu những kiến thức đặc thù về công nghệ,
bảo mật, trí tuệ nhân tạo,... để áp dụng vào kế toán. Đồng thời các thiết bị, cơ sở vật
chất hiện tại của các nơi đào tạo kế toán ở Việt Nam còn thiếu thốn, lạc hậu cũng như
việc những thư viện còn thiếu những tài liệu, đầu sách hiện đại để phục vụ cho
nghiên cứu và giảng dạy. Chung quy lại thì đây là nguyên nhân khiến cho việc giảng
dạy của giảng viên và quá trình học tập của người học gặp không ít khó khăn
Thứ hai là hiện nay các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin của các doanh
nghiệp kế toán ở Việt Nam vẫn chưa thỏa mãn được những yêu cầu đặt ra về chất
lượng trong thời đại kinh tế số ngày nay. Ngành kế toán mặc dù đã đạt được nhiều
tiến bộ trong việc sử dụng công nghệ thông tin để thực hiện các hoạt động kế toán
thường xuyên hơn, nhưng vẫn còn nhiều bất cập và chưa thể thực hiện những hoạt
động kế toán có tính chuyên môn cao một cách có hiệu quả.
Thách thức thứ ba đối với ngành kế toán đó chính là vấn đề về an toàn dữ liệu
và thông tin khi sử dụng Internet. Hiện nay vẫn còn nhiều bất cập trong việc bảo mật
dữ liệu và thông tin như việc kết quả kế toán có thể bị rò rỉ ra bên ngoài thông qua
gửi thư điện tử giữa các cá nhân, tổ chức trong doanh nghiệp. Việc rò rỉ thông tin có
thể sẽ bị những cá nhân xấu lợi dụng để phá hoại và gây tổn thất cho doanh nghiệp
5. Một số kiến nghị về ngành kế toán Việt Nam trong thời đại kinh tế số
5.1. Về phía cơ quan quản lý Nhà nước
Nhà nước nên nghiên cứu và xây dựng kế hoạch để phát triển lĩnh vực kế toán,
trong cả ngắn hạn và dài hạn: cần lên kế hoạch dựa vào vào thực trạng ngành kế toán
Việt Nam hiện nay và những thách thức do kinh tế số đưa ra; thúc đẩy sự phát triển
của ngành kế toán để có thể hoạt động một cách hiệu quả, tạo ra kết quả có chất
lượng đáp ứng nhu cầu của xu hướng thị trường và bắt kịp với sự phát triển của
những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong thời đại kinh tế số.
Về vấn đề các khuôn khổ pháp lý liên quan đến lĩnh vực kế toán: Nhà nước
cần điều chỉnh để phù hợp hơn, bắt kịp với sự tiến bộ của công nghệ hiện nay.Trong
đó, Luật kế toán cần được rà soát, đánh giá, nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện khung
pháp lý về kế toán. Cũng như cần đổi mới Luật Kế toán viên công chứng theo hướng
thích nghi với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, phù hợp với tình hình ngành kế toán
của Việt Nam hiện nay. Thêm vào đó, những sự thay đổi này phải phù hợp với những
vấn dề xuất hiện trong thời đại kinh tế số ảnh hưởng tới ngành kế toán và những người làm kế toán.
Các tổ chức chỉ đạo các hoạt động kế toán cần được đổi mới cũng như cần
được nâng cao chất lượng làm việc nhằm bảo đảm các hoạt động kế toán tuân thủ,
thực hiện chính xác các quy định pháp luật về kế toán . Các hoạt động kế toán, kiểm
toán cần được tổ chức và duy trì một cách có hệ thống
Vấn đề an ninh mạng cũng cần chú trọng hơn: Thông tin ngày càng được chia
sẻ một cách nhanh chóng và rộng rãi từ lúc bắt đầu thời đại kinh tế số, từ đó đặt
lên việc quản lý an ninh mạng một áp lực rất lớn. Vì vậy, các cơ quan quản lý an
ninh mạng Nhà nước phải chú trọng đến việc phát triển các trung tâm dữ liệu dự
phòng; các hệ thống an ninh và bảo mật cần được nâng cấp một cách thường xuyên
để đảm bảo việc bảo mật thông tin, dữ liệu diễn ra hiệu quả, an toàn và mang tính lâu dài.
Xây dựng các tổ chức mới cũng như hoàn thiện và nâng cao chất lượng của
những tổ chức kế toán cũ (Câu Lạc bộ kế toán trưởng, Hội Kế toán Việt Nam). Nhằm
tạo môi trường thuận lợi để các kế toán viên giao lưu, trau dồi nghiệp vụ và nâng cao
kỹ năng, đồng thời là cầu nối giao lưu giữa các kế toán viên Việt Nam và quốc tế.
5.2. Về phía doanh nghiệp kế toán
Những doanh nghiệp cần nỗ lực hơn trong công tác đào tạo đội ngũ nhân viên
kế toán có trình độ công nghệ và chuyên ngành cao. Để nắm bắt kịp thời xu thế của
nền kinh tế số hiện nay, các công ty vẫn cần lên kế hoạch đào tạo và xây dựng nguồn
nhân lực đủ mạnh để thích ứng với tốc độ phát triển công nghệ không ngừng trong
tương lai . Ngoài ra, cần phát triển các sản phẩm và dịch vụ tài chính kế toán dựa trên
công nghệ số cũng như hạ tầng công nghệ phục vụ cho hoạt động kế toán. Ngoài ra,
cần nâng cao nhận thức về bảo mật và an toàn thông tin trong toàn hệ thống, quan
tâm hơn nữa đến việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dự phòng và trang bị các công
cụ và biện pháp bảo mật mới.
5.3. Về phía các trường đại học, cơ sở đào tạo
Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo: thời đại kinh tế số đưa ra rất nhiều
thách thức lẫn cơ hội đòi hỏi yêu cầu các trường đại học cũng như những cơ sở đào
tạo ngành kế toán tại Việt Nam phải có sự đổi mới trong phương pháp cững như
chương trình đào tạo. Các nhà tuyển dụng của ngành kế toán ngày càng đưa ra những
yêu cầu cao hơn nên nhà trường và các cơ sở đào tạo kế toán cần áp dụng mô hình
phòng kế toán ảo để nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên. Với sự phát triển
nhanh chóng của các công nghệ, kỹ thuật thì các trường học, nơi đào tạo ngành kế
toán phải ngày càng lược bỏ những phương pháp giảng dạy kế toán thủ công, thay
vào đó là những phương pháp hiện đại hơn giúp sinh viên, người học dễ dàng vận
dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, cũng như áp dụng một cách trơn tru,
nhanh chóng và hiệu quả vào công việc ngay sau khi ra trường mà không cần các
doanh nghiệp phải đào tạo lại một lần nữa.
Cần đào tạo đội ngũ giảng viên có trình độ cao về các ứng dụng công nghệ số
như Big Data, Internet of things, dữ liệu đám mây,... Cùng với đó giảng viên ngành
kế toán cần cập nhật kiến thức chuyên môn đều đặn và liên tục, bằng cách thường
xuyên tham gia các lớp tập huấn, hội thảo, hội nghị.
Củng cố hoàn thiện đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, có trình độ bắt kịp nền
kinh tế số ngày càng biến động. Nghiên cứu, công bố đầy đủ hệ thống văn bản hướng
dẫn thực hiện hệ thống chức danh, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp kế toán. Tổ
chức các đội ngũ, sát hạch trình độ để phân loại, bố trí nhân viên kế toán theo tiêu
chuẩn chức danh công việc. Thực hiện cơ chế tuyển chọn, tuyển dụng và sát hạch
khắt khe nhằm cải thiện và nâng cao năng lực thực hành của kế toán viên, kiểm toán
viên và cấp chứng chỉ. Hoàn thiện giáo trình đào tạo kế toán ở các bậc học, đồng thời
triển khai các chương trình bồi dưỡng thường xuyên, nâng cao trình độ cán bộ.
Nâng cao nhận thức của đội ngũ kiểm toán để hiểu được tầm quan trọng và tác
động của thời đại kinh tế số đối với ngành. Công nghệ sẽ không thay thế hoàn
toàn con người trong tương lai gần, nhưng các công cụ mới như Blockchain, ngân