









Preview text:
Phần I : Cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp , tầng lớp trong thời kỳ quá
độ lên CNXH ở Việt Nam.
1. Khái niệm và phân loại cơ cấu xã hội.
Cơ cấu xã hội là mối liên hệ vững chắc của các thành tố trong hệ thống xã hội.
Các cộng đồng xã hội (dân tộc, giai cấp, nhóm nghề nghiệp) là những thành phần cơ bản
của cơ cấu xã hội. Trong mỗi cộng đồng xã hội lại lại bao gồm những cơ cấu phức tạp
như: các tầng lớp xã hội và mối liên hệ giữa chúng.
Cơ cấu xã hội là mô hình của các mối liên hệ giữa các thành phần cơ bản trong
một hệ thống xã hội. Những thành phần này tạo nên bộ khung cho tất cả các xã hội loài
người, mặc dầu tính chất của các thành phần và các mối liên hệ giữa chúng luôn có sự
biến đổi từ xã hội này sang xã hội khác. Những thành phần quan trọng nhất của cơ cấu
xã hội là vị thế, vai trò, nhóm và các thiết chế. Cơ cấu xã hội cũng bao gồm cả thiết chế
gia đình, dòng họ, tôn giáo, kinh tế, chính trị, văn hoá, hệ thống chuẩn mực, giá trị
Kiểu xã hội hái lượm: săn bắn với công cụ lao động thô sơ, yếu tố thân tộc là nguyên
tắc tổ chức quan trọng nhất của đời sống xã hội, cơ cấu chính trị hầu như không tồn
tại, không có bộ máy quyền lực ngoài vai trò của tộc trưởng.
Kiểu xã hội làm vườn: cấu trúc chính trị của kiểu xã hội này bao gồm sự tồn tại của
từ hai đến bốn tầng lớp xã hội. Dòng họ là trung tâm của xã hội, có nhiều phức tạp về
hình thức của tính họ hàng và luật lệ hôn nhân, gia đình.
Kiểu xã hội nông nghiệp: nhờ có sự tiến bộ của công cụ lao động và sử dụng sức kéo
của súc vật mà sản xuất nông nghiệp đã tạo ra được nguồn lương thực, thực phẩm
nhiều hơn nhu cầu (dư thừa).
2. Khái niệm và vị trí của cơ cấu xã hội – giai cấp trong cơ cấu xã hội.
Cơ cấu xã hôi - giai cấp là hệ thống các giai cấp, tầng lớp xã hộ i tồn tại khách quaṇ
trong môt chế độ xã hộ i nhất định, thông qua những mối quan hệ
về sở hữu tư liệ ụ
sản xuất, về tổ chức quản lý quá trình sản xuất, về địa vị chính trị - xã hôị giữa các giai cấp và tầng lớp đó.
Cơ cấu XH-giai cấp tồn tại nhằm bảo vệ lợi ích của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Cơ cấu XH-giai cấp quy định tính chất và bản chất của các quan hệ khác về xã hội.
Cơ cấu XH-giai cấp còn liên quan trực tiếp đến quyền lực chính trị.
Cơ cấu XH-giai cấp còn là yếu tố đặc trưng cho sự khác nhau về chất giữa XH này với XH khác.
Xuất phát từ cơ cấu XH-giai cấp mà người ta xây dựng các chính sách phát triển kinh tế
- XH - văn hóa phù hợp với mỗi giai tầng.
3. Cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cơ cấu xã hội – giai cấp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thường xuyên
có những biến đổi mang tính quy luật như sau:
Một là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi gắn liền và bị quy định bởi cơ cấu kinh
tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Cơ cấu xã hội – giai cấp thường xuyên biến đổi do tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt
là những thay đổi về phương thức sản xuất, về cơ cấu kinh tế trong mỗi thời đại lịch sử.
VD: Ở những nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH với xuất phát điểm thấp, cơ cấu
kinh tế sẽ có nhiều biến đổi:
Từ nông nghiệp và công nghiệp sơ khai chuyển sang tăng tỉ trọng công nghiệp, giảm tỉ
trọng nông nghiệp. Từ cơ cấu lãnh thổ chưa định hình chuyển sang các vùng và trung
tâm kinh tế. LLSX hiện đại nhưng không cân đối, công nghệ lạc hậu chuyển sang phát
triển LLSX với trình độ công nghệ cao….
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế nhiều thành phần với những hình thức
sở hữu đa dạng đã hình thành cơ cấu xã hội – giai cấp với nhiều giai cấp, tầng lớp khác
nhau. Quá trình biến đổi trong cơ cấu kinh tế đó tất yếu kéo theo những biến đổi trong
cơ cấu xã hội – giai cấp, cả trong cơ cấu tổng thể cũng như những biến đổi trong nội bộ
từng giai cấp, tầng lớp xã hội. Từ đó, vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp cơ bản trong
xã hội cũng thay đổi theo.
Hai là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi phức tạp, đa dạng, làm xuất hiện các tầng lớp xã hội mới.
Bên cạnh những dấu vết xã hội cũ còn xuất hiện yếu tố xã hội mới do công nhân và các
giai cấp bắt tay vào xây dựng nên tất yếu xảy ra sự đan xen.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại các giai cấp, tầng lớp xã hội khác
nhau. Ngoài giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, giai cấp tư sản
(tuy đã bị đánh bại nhưng vẫn còn sức mạnh V.I.Lênin) đã xuất hiện sự tồn tại và phát
triển của các tầng lớp xã hội mới như: tầng lớp doanh nhân, tiểu chủ, tầng lớp những
người giàu có và trung lưu trong xã hội…
Ba là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi trong mối quan hệ vừa đấu tranh, vừa liên
minh dẫn đến sự xích lại gần nhau giữa các giai cấp, tầng lớp cơ bản trong xã hội.
Trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp
biến đổi và phát triển trong mối quan hệ vừa có mâu thuẫn, đấu tranh, vừa có mối quan
hệ liên minh với nhau, dẫn đến sự xích lại gần nhau giữa các giai cấp, tầng lớp cơ bản
trong xã hội, đặc biệt là giữa công nhân, nông dân và trí thức. Mức độ còn tùy thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn của thời kì quá độ. Đây là một
quá trình lâu dài, một xu hướng tất yếu và là biện chứng của sự vận động, phát triển cơ
cấu xã hội- giai cấp trong thời kì quá độ lên CNXH.
Trong cơ cấu xã hội – giai cấp ấy, giai cấp công nhân, lực lượng tiêu biểu cho phương
thức sản xuất mới giữ vai trò chủ đạo, tiên phong trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. 4.
Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu về các phong trào công nhân ở Tây Âu giai
đoạn 1848 - 1852 và đi đến kết luận rằng: Những cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân
thất bại chủ yếu là do giai cấp công nhân “đơn độc” vì đã không liên minh với giai cấp
nông dân. Do vậy những cuộc đấu tranh đó đã trở thành những “bài đơn ca ai điếu”. Các
Mác khẳng định: “Đứng trước giai cấp tư sản phản cách mạng, đã liên minh lại thì dĩ
nhiên là những phần tử đã được cách mạng hóa của giai cấp tiểu tư sản và nông dân,
phải liên minh với người đại biểu chủ yếu cho những lợi ích cách mạng, tức là giai cấp
vô sản cách mạng” Vì “...người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị, giai cấp có
sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình”.
Vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của C.Mác và Ăngghen trong
giai đoạn chủ nghĩa tư bản đã phát triển cao, V.I.Lênin cũng khẳng định liên minh công
- nông là vấn đề mang tính nguyên tắc để đảm bảo thắng lợi cho cuộc cách mạng xã hội
chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917 : “Chuyên chính vô sản là một hình thức đặc
biệt của liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao
động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản hoặc với phần lớn những
tầng lớp đó, liên minh nhằm chống lại tư bản, liên minh nhằm lật đổ hoàn toàn tư bản,
tiêu diệt hoàn toàn sự chống cự của giai cấp tư sản và những vụ toàn khôi phục của
giai cấp ấy nhằm thiết lập và củng cố vĩnh viễn chủ nghĩa xã hội” và “Nếu không liên
minh với nông dân thì không thể có được chính quyền của giai cấp vô sản, không thể
nghĩ được đến việc duy trì chính quyền đó... Nguyên tắc cao nhất của chuyên chính là
duy trì khối liên minh giữa giai cấp vô sản và nông dân để giai cấp vô sản có thể giữ
được vai trò lãnh đạo và chính quyền nhà nước”.
Như vậy liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự liên
kết, hợp tác, hỗ trợ nhau... giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội nhằm thực hiện nhu cầu và
lợi ích của các chủ thể trong khối liên minh, đồng thời tạo động lực thực hiện thắng lợi
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
4.1. Tính tất yếu của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự liên kết, hợp
tác, hỗ trợ nhau… giữa các giai cấp, tầng lớp nhằm thực hiện nhu cầu và lợi ích của các
chủ thể trong khối liên minh, đồng thời tạo động lực xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Xét dưới góc độ chính trị - xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công
nhân phải liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động để tạo sức
mạnh tổng hợp đảm bảo cho thắng lợi của cuộc cách mạng này cả trong giai đoạn giành
chính quyền và giai đoạn xây dựng xã hội mới.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng
lớp lao động khác vừa là lực lượng sản xuất cơ bản, vừa là lực lượng chính trị xã hội to
lớn. Nếu thực hiện tốt khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và
các tầng lớp nhân dân lao động khác, trong đó trước hết là với trí thức thì không những
cơ sở kinh tế vững mạnh mà chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa cũng ngày càng được củng cố vững chắc.
Xét dưới góc độ kinh tế, liên minh giai cấp, tầng lớp được hình thành xuất phát từ yêu
cầu khách quan của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế từ một nền sản xuất nhỏ nông nghiệp là chính sang sản xuất hàng hóa lớn,
phát triển công nghiệp, dịch vụ và khoa học – công nghệ…
Mỗi lĩnh vực của nền kinh tế chỉ phát triển được khi gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau để
cùng hướng tới phục vụ phát triển sản xuất và tạo thành nền cơ cấu kinh tế quốc dân
thống nhất. Chính những biến đổi trong cơ cấu kinh tế này đã và đang từng bước tăng
cường khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân.
Việc hình thành khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức cũng xuất phát từ chính nhu cầu và lợi ích kinh tế của họ nên các chủ thể của các
lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, khoa học và công nghệ tất yếu phải gắn bó,
liên minh chặt chẽ với nhau để cùng thực hiện những nhu cầu và lợi ích kinh tế chung của mình.
4.2. Nội dung của liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, khối liên minh thực hiện ba nội dung cơ bản.
Nội dung kinh tế. Nội dung này cần thực hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích kinh
tế thiết thân của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí và các tầng lớp khác
trong xã hội, nhằm tạo cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội.
Nội dung chính trị. Nội dung này cần thực hiện nhằm tạo cơ sở chính trị - xã hội vững
chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp vượt qua mọi khó
khăn thử thách và đập tan mọi âm mưu chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đồng thời bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Nội dung văn hóa xã hội. Nội dung này cần thực hiện nhằm xây dựng khối liên minh để
các lực lượng dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng nhau xây một nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, đồng thời tiếp thu những tinh hoa, giá trị văn hóa của nhân loại và thời đại.
Phần II. Liên hệ thực tiễn liên minh 6 nhà hiện nay ở Việt Nam.
1, Vai trò của Nhà nước và Nhà ngân hàng trong nội dung liên minh.
Nhà nước, với vai trò nhạc trưởng tạo ra hành lang pháp lý phù hợp, đảm
bảo cho sự liên kết các nhà còn lại chặt chẽ và hiệu quả.
Ngân hàng là một trong những tác nhân tham gia vào chuỗi nông sản. Ngân hàng
có vai trò hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc gia tăng giá trị và hiệu quả của chuỗi.
Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thị trường, rủi ro
người vay, rủi ro thời tiết, dịch bệnh; tiết kiệm chi phí…
2, Vai trò của Nhà nước và Nhà ngân hàng đối với doanh nghiệp giai đoạn hậu Covid 19.
Trong thời gian tới, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành cùng doanh nghiệp
và người dân vượt qua khó khăn; điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối
hợp chặt chẽ với CSTK và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp
phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch. Cụ thể:
Một là bảo đảm thanh khoản trên thị trường tiền tệ, tạo điều kiện để các TCTD
tiếp tục giảm lãi suất cho vay, sẵn sàng nguồn vốn hỗ trợ các TCTD đẩy mạnh tín dụng.
Đại dịch COVID-19 khiến nhiều hoạt động ngưng trệ, di chuyển của người dân bị hạn
chế, sản xuất, lưu thông đứt gãy, dòng tiền gián đoạn. Giải pháp hỗ trợ thanh khoản được
hầu hết các Ngân hàng Trung ương triển khai nhằm hỗ trợ các thị trường vận hành thông
suốt, duy trì dòng tiền, hỗ trợ ngân hàng và doanh nghiệp bảo đảm khả năng thanh toán.
Tương tự, thanh khoản được duy trì dồi dào tại hệ thống các TCTD trên cơ sở NHNN
mua lượng lớn ngoại tệ, đưa tiền đồng ra thị trường, đồng thời hằng ngày chào mua giấy
tờ có giá trên thị trường mở nhằm phát tín hiệu sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, ổn định thị
trường tiền tệ. Điều này thể hiện qua việc lãi suất liên ngân hàng - là mức lãi suất vay
mượn lẫn nhau kỳ hạn ngắn giữa các TCTD đã giảm xuống mức rất thấp trong lịch sử,
khoảng từ 0,5%/năm đến 0,9%/năm, giảm chi phí vốn đầu vào cho TCTD, qua đó tạo
điều kiện thuận lợi để các TCTD giảm lãi suất cho vay.
Thứ hai, bảo đảm cung ứng vốn tín dụng đầy đủ và kịp thời cho nhu cầu sản xuất,
kinh doanh trong nền kinh tế, linh hoạt điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định
hướng đối với các TCTD theo hướng tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng. Với
đặc thù thị trường tài chính phụ thuộc nhiều vào hệ thống ngân hàng, việc điều hành tín
dụng luôn cần có sự hài hòa, hợp lý. Tăng trưởng tín dụng quá cao gây rủi ro lạm phát,
song tăng trưởng tín dụng quá thấp lại có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn cho tăng trưởng
kinh tế. Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6,5% và lạm phát khoảng 4% do Quốc
hội và Chính phủ đề ra, NHNN đã đưa ra chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng 12%
trong năm 2021, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình thực tế.
Để kịp thời tháo gỡ khó khăn của doanh nghiệp và người dân, ngay trong năm 2020 khi
dịch bệnh mới xuất hiện, NHNN đã 3 lần giảm lãi suất điều hành với mức giảm từ
1,5%/năm đến 2%/năm và là một trong những Ngân hàng Trung ương giảm lãi suất
mạnh nhất khu vực; trong năm 2021, NHNN giữ nguyên các mức lãi suất thấp này, kết
hợp với việc duy trì thanh khoản dồi dào trên thị trường tiền tệ. Kết quả là, đến cuối
tháng 9-2021, lãi suất huy động và cho vay bằng VND bình quân của các TCTD giảm
tương ứng khoảng 0,46%/năm và 0,72%/năm so với cuối năm 2020 sau khi đã giảm
khoảng 1%/năm trong năm 2020. Lãi suất cho vay bình quân đối với các lĩnh vực ưu
tiên theo chủ trương của Chính phủ (gồm lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; công nghiệp
hỗ trợ; doanh nghiệp vừa và nhỏ; xuất khẩu; ứng dụng công nghệ cao) là 4,4%/năm.
Thứ ba là, NHNN chỉ đạo các TCTD tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp cơ
cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi suất và tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh
hưởng bởi đại dịch COVID-19; cân đối hài hòa giữa hỗ trợ nền kinh tế với mục tiêu
kiểm soát lạm phát, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, phối hợp chặt chẽ với các bộ,
ngành để xây dựng các giải pháp chính sách giúp phục hồi và phát triển kinh tế sau đại dịch COVID-19.
Những con số trên đây đã nói lên nỗ lực lớn của ngành ngân hàng trong việc đồng lòng,
sẻ chia với nền kinh tế vượt qua đại dịch, nhất là khi bản thân hệ thống ngân hàng cũng
phải đối mặt với các rủi ro do đại dịch gây ra. Khả năng trả nợ của doanh nghiệp, cá
nhân và hộ gia đình suy giảm tiềm ẩn rủi ro gia tăng nợ xấu, làm tăng chi phí trích lập
dự phòng rủi ro. Với vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, việc bảo đảm an toàn hoạt
động ngân hàng trong và sau đại dịch là vô cùng quan trọng để bảo đảm cung ứng và
lưu thông vốn phục vụ nhu cầu phục hồi kinh tế.
Đối với vai trò của nhà nước, đầu tiên miễn, giảm thuế, phí, lệ phí: Trong năm
2022, các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 10%
được giảm 2% thuế suất (còn 8%) đối với cơ sở kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp khấu trừ và giảm 20% mức tỷ lệ phần trăm khi thực hiện xuất hóa đơn đối
với cơ sở kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, trừ một số nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: viễn thông, công
nghệ thông tin, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất
động sản, kim loại, sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai
thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hoá chất, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối
với khoản chi ủng hộ, tài trợ của doanh nghiệp, tổ chức cho các hoạt động phòng, chống
dịch COVID-19 tại Việt Nam cho kỳ tính thuế năm 2022.
Giảm 30% tiền thuê đất, thuê mặt nước của năm 2022 đối với tổ chức, đơn vị, doanh
nghiệp, hộ gia đình, cá nhân đang được Nhà nước cho thuê đất trực tiếp theo Quyết định
hoặc Hợp đồng hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dưới hình thức thuê đất trả
tiền hằng năm phải ngừng sản xuất kinh doanh do ảnh hưởng của dịch COVID-19.
Tiếp tục rà soát, giảm các loại phí, lệ phí nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho đối tượng
chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19.
Hai là, gia hạn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,
thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và tiền thuê đất trong năm 2022.
Ba là, hỗ trợ lãi suất 0%/năm trong 2 năm 2022, 2023 thông qua hệ thống các
ngân hàng thương mại đối với các khoản vay thương mại cho doanh nghiệp, hợp tác xã,
hộ kinh doanh có khả năng trả nợ, có khả năng phục hồi trong các ngành, lĩnh vực: hàng
không, vận tải kho bãi, du lịch, dịch vụ lưu trú, ăn uống, giáo dục và đào tạo, nông
nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản; công nghiệp chế biến, chế tạo (đã bao gồm máy móc,
trang thiết bị, thuốc, hoá dược, dược liệu); xuất bản phần mềm; lập trình máy vi tính và
hoạt động liên quan; hoạt động dịch vụ thông tin; cho vay cải tạo chung cư cũ, xây dựng
nhà ở xã hội, nhà cho công nhân mua, thuê và thuế mua.
Điều kiện hỗ trợ: Thuộc đối tượng thụ hưởng, đã được vay vốn hoặc đáp ứng các điều
kiện vay vốn, được ngân hàng thương mại chấp thuận.
3.Liên hệ bản thân.
Để đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng thật sự là nguồn sức mạnh,
là động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm thắng lợi bền vững của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cần làm cho cả hệ thống chính trị, từng cán bộ,
đảng viên, trước hết là các cấp ủy đảng và người đứng đầu cấp ủy quán triệt sâu sắc tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc đề xướng.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu
và cả hệ thống chính trị trong lãnh đạo, củng cố, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay
Thứ hai, nâng cao chất lượng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; chăm lo và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng
của đoàn viên, hội viên và các giai tầng, các giới trong toàn dân tộc.
Thứ ba, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đa dạng hóa
các hình thức tập hợp nhân dân và tập trung hướng mạnh các hoạt động về cơ sở.
Thứ tư, tăng cường công tác dân vận của chính quyền các cấp. Tích cực phối hợp
giữa chính quyền các cấp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã
hội làm công tác dân vận.
Thứ năm, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, phá hoại, chia
rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Bản thân em là một sinh viên, chủ nhân tương lai của đất nước, phải luôn tích cực
học tập, rèn luyện tốt để trở thành một công dân tốt, luôn có lập trường tư tưởng chính
trị vững vàng. Luôn ra sức học tập đi đôi với thực hành, ứng dụng các thành tựu của các
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nâng cao khả
năng, trình độ bản thân. Phải biết nắm bắt thời cơ, luôn tạo cơ hội cho bản thân mình,
sẵn sàng thử thách bản thân trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Không
ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, tránh mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế
lực thù địch chống phá. Thúc đẩy tự diễn biến hòa bình trong chính bản thân mình. Lập
ra kế hoạch lâu dài cho việc phát triển bản thân, phát triển đất nước. Là một sinh viên
của khoa tài chính ngân hàng, em sẽ luôn cố gắng phát triển, tìm tòi kiến thức để có thể
trở thành một doanh nhân, một nhà kinh tế học để có thể sử dụng những kiến thức, sự
sáng tạo của bản thân với mong muốn giúp cho đất nước ngày càng phát triển hiện đại,
văn minh hơn. Thường xuyên theo dõi, cập nhật các tin tức Kinh tế - Tài chính, nắm bắt
các xu hướng trên thị trường. Tích lũy thêm kinh nghiệm, cải thiện kỹ năng mềm thông
qua các hoạt động xã hội. Đặc biệt, tham gia các cuộc thi về lĩnh vực Kinh tế - Tài chính
giúp bản thân có cơ hội “cọ xát”, mở rộng vốn hiểu biết cho bản thân và tăng thêm ấn
tượng cho hồ sơ cá nhân của mình. Thực hiện tốt nhiệm vụ của mình để góp một phần
nhỏ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam giàu đẹp, văn minh, đưa đất nước sánh vai
với các cường quốc năm châu.
Tài liệu tham khảo :
1. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho bậc đại học hệ không chuyên lý
luận chính trị) của Bộ giáo dục và Đào tạo.
2. Nguyễn Thị Hồng (Theo tạp chí Cộng sản).
3. Công Đoàn Ngân Hàng Việt Nam 4. Báo Công Thương
5. Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum 6. Thư viện pháp luật