













Preview text:
lOMoAR cPSD| 58478860 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................. 3
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................... 3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................... 4
4. Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu............................................. 4
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn đề tài.......................................................... 4
NỘI DUNG.................................................................................................. 4
Phần 1. Phần lý luận................................................................................... 4
1.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp và vấn đề liên minh giai cấp trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.......................................................................... 4
1.1.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội................................................................................................. 4
1.1.2. Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội............................................................................................ 5
1.2. Cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.................................................................. 6
1.2.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam........................................................................ 6
1.2.2. Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam........................................................................ 7
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân..................................... 8
2.1. Liên minh kinh tế 6 nhà......................................................................... 8
2.2. Vị trí, vai trò của các giai tầng đặc biệt là doanh nhân Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.............................................................................. 10
2.3. Liên hệ bản thân................................................................................... 12
KẾT LUẬN................................................................................................ 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 14 LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, vấn đề liên minh công – nông đã được mở rộng thành liên minh
giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và trở thành
nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng
định, phải “tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh
giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”,
để lực lượng này thực sự trở thành nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc, vì
mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Và để hiểu
hơn về mục tiêu này cùng với việc nhận thức tầm quan trọng của việc góp sức
tăng cường xây dựng khối liên minh giai cấp, em đã chọn đề tài: “Cơ cấu xã hội
– giai cấp và liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam” để làm tiểu luận.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ cấu xã hội – giai cấp có xu
hướng biến động mạnh trên cơ sở biến động của những điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội. Sự biến động này theo hướng vừa liên minh, vừa đấu tranh và từng
bước xóa bỏ sự bất bình đẳng để xích lại gần nhau. Lý luận về liên minh giai
cấp và tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa là một trong những vấn đề cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, gắn liền với xây dựng chế độ chính trị xã hội
chủ nghĩa. Như vậy, vấn đề cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp là vấn
đề vô cùng cấp thiết đối với Đảng và nhà nước ta hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về
cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, việc nghiên cứu làm rõ vị trí và vai trò của các giai tầng đặc biệt là
doanh nhân Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ doanh nhân này.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sẽ giải quyết những nội dung sau:
Cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội và trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Và liên
hệ thực tiễn liên minh kinh tế giữa sáu nhà: nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh
nghiệp, nhà nông, nhà ngân hàng và nhà phân phối.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp.
Phạm vi nghiên cứu đặt trọng tâm cơ sở lý luận của Mác – Lênin về cơ cấu
xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên nghĩa xã hội ở
Việt Nam. Qua đó, nêu lên được vị trí, vai trò của các giai tầng và một số giải
pháp phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cở sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về cơ cấu xã hội –
giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đề tài
sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với các phương pháp như: thống
nhất lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài giải quyết được vấn đề lý luận về cơ cấu xã hội – giai cấp và liên
minh giai cấp, tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Qua đó, đề tài góp
phần làm rõ mối liên hệ kinh tế 6 nhà và đưa ra vị trí, vai trò, một số giải pháp
phát triển cho đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện nay. NỘI DUNG
Phần 1. Phần lý luận
1.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Khái niệm cơ cấu xã hội và cơ cấu xã hội – giai cấp
Cơ cấu xã hội là những cộng đồng người cùng toàn bộ những mối quan hệ
xã hội do sự tác động lẫn nhau của cộng đồng ấy tạo nên.
Cơ cấu xã hội có nhiều loại, như: cơ cấu xã hội – dân cư, cơ cấu xã hội –
nghề nghiệp, cơ cấu xã hội – giai cấp...
Cơ cấu xã hội – giai cấp là hệ thống các giai cấp, tầng lớp xã hội tồn tại
khách quan trong một chế độ xã hội nhất định, thông qua những mối quan hệ về
sở hữu tư liệu sản xuất, về tổ chức quản lý quá trình sản xuất, về địa vị chính trị
– xã hội... giữa các giai cấp và tầng lớp đó.
Vị trí cơ cấu xã hội – giai cấp trong cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội – giai cấp có vị trí quan trọng hàng đầu trong hệ thống cơ
cấu xã hội và chi phối các cơ cấu xã hội khác.
Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa vị trí của cơ cấu xã hội – giai cấp mà
xem nhẹ các loại hình cơ cấu xã hội khác, từ đó có thể dẫn đến tùy tiện, muốn
xóa bỏ nhanh chóng các giai cấp, tầng lớp xã hội một cách đơn giản theo ý muốn chủ quan.
Sự biến đổi có tính quy luật của cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội
Một là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi gắn liền và bị quy định bởi cơ
cấu kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hai là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi phức tạp, đa dạng, làm xuất hiện
các tầng lớp xã hội mới.
Ba là, cơ cấu xã hội – giai cấp biến đổi trong mối quan hệ vừa đấu tranh,
vừa liên minh, từng bước xóa bỏ bất bình đẳng xã hội dẫn đến sự xích lại gần nhau.
1.1.2. Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Xét từ góc độ chính trị
Liên minh công – nông – trí thức là nhu cầu nội tại của các mạng xã hội
chủ nghĩa tạo nên động lực cách mạng, đảm bảo vai trò lãnh đạo của giai cấp
công nhân, là điều kiện quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành chính
quyền và công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa.
Xét từ góc độ kinh tế
Liên minh công – nông – trí thức được hình thành xuất phát từ yêu cầu
khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn đòi hỏi phải có sự gắn bó thống nhất giữa sản
xuất vật chất và khoa học kỹ thuật trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học
công nghệ hiện đại; nó cũng xuất phát từ chính nhu cầu và lợi ích kinh tế chung
của các giai tầng: công nhân, nông dân phải dựa vào đội ngũ trí thức để thực
hiện mục tiêu của mình và dần được trí thức hóa, trí thức phát huy khả năng của
mình khi phục vụ sản xuất, gắn bó với công nhân, nông dân.
1.2. Cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.2.1. Cơ cấu xã hội – giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Sự biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp vừa tuân theo tính quy luật chung, vừa
mang tính đặc thù của xã hộ Việt Nam: sự biến đổi ấy bị chi phối bởi những
biến đổi trong cơ cấu kinh tế, dẫn đến việc hình thành một cơ cấu xã hội – giai
cấp đa dạng; đồng thời, sự biến đổi ấy ở Việt Nam mang đặc tính riêng của thời kỳ quá độ nước ta.
Trong sự biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp, vị trí, vai trò của các giai
tầng ngày càng được khẳng định:
Giai cấp công nhân có vị trí quan trọng hàng đầu, là giai cấp lãnh đạo cách
mạng thông qua Đảng Cộng sản.
Giai cấp nông dân có vị trí chiến lược, gắn liền với công cuộc xây dựng
nông thôn mới, là cơ sở và là lực lượng xây dựng cũng như bảo vệ Tổ quốc. Đội
ngũ trí thức là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt trong tiến trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức, và xây dựng nền văn hóa tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, hội nhập quốc tế.
Đội ngũ doanh nhân trực tiếp đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội của
đất nước, xây dựng nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. 1.2.2.
Liên minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Nguyên tắc cơ bản của liên minh là kết hợp đúng đắn các lợi ích về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Nội dung của liên minh
Nội dung kinh tế: đây là nội dung cơ bản, quyết định nhất, là cơ sở vật chất
– kỹ thuật vững chắc của liên minh trong thời kỳ quá độ. Là sự kết hợp và giải
quyết đúng đắn các lợi ích kinh tế giữa giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ
trí thức. Thể hiện thông qua các hoạt động kinh tế giữa công nghiệp, nông
nghiệp, giữa các ngành sản xuất vật chất với nghiên cứu ứng dụng khoa học vào
sản xuất, giữa các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu với cơ sở sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp.
Nội dung chính trị: nhu cầu, lợi ích chính trị cơ bản của công nhân, nông
dân, trí thức và của cả dân tộc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Nguyên
tắc chính trị của liên minh là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, liên minh công – nông – trí thức là nền tảng
chính trị – xã hội và kinh tế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, là nòng cốt của Mặt
trận Tổ quốc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; nhằm củng cố,
tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, giữ vững vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ổn định, chính trị, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Nội dung văn hóa – xã hội: là sự đoàn kết, hợp tác của công nhân, nông
dân, trí thức để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới và xã hội văn minh.
Nội dung này thực chất là đáp ứng nghĩa vụ và quyền lợi, trước hết về đời sống
tinh thần của công nhân, nông dân, trí thức và thông qua những vấn đề cơ bản
sau: tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái; nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực; xóa đói, giảm nghèo; thực hiện tốt chính sách xã hội.
Phương hướng xây dựng cơ cấu xã hội – giai cấp và tăng cường liên
minh giai cấp, tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; giải quyết tốt mối quan hệ
giữa tăng trưởng kinh tế với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội tạo môi trường
và điều kiện thúc đẩy biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp theo hướng tích cực.
Hai là, xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách xã hội tổng thể nhằm tác
động tạo sự biến đổi tích cực cơ cấu xã hội, nhất là các chính sách liên quan đến
cơ cấu xã hội – giai cấp.
Ba là, tạo sự đồng thuận và phát huy tinh thần đoàn kết thống nhất giữa các
lực lượng trong khối liên minh và toàn xã hội.
Bốn là, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, tạo môi trường và điều kiện thuận
lợi để phát huy vai trò của các chủ thể trong khối liên minh.
Năm là, đổi mới hoạt động của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam nhằm tăng cường khối liên minh giai cấp, tầng lớp và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.
Phần 2: Liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
2.1. Liên minh kinh tế sáu nhà
Liên minh kinh tế sáu nhà: nhà nước – nhà khoa học – nhà doanh nghiệp –
nhà nông – nhà ngân hàng – nhà phân phối là hình thức giao lưu, hợp tác, liên
kết kinh tế giữa các ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, các vùng kinh tế.
Mục tiêu là để phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống cho công nhân,
nông dân, trí thức và toàn xã hội. Việc liên kết 6 nhà này nhằm phát huy thúc
đẩy nền sản xuất nông nghiệp của nước ta phát triển, tiến tới xây dựng nông
thôn mới. Năm 2020, dịch bệnh Covid đã ảnh hưởng không hề nhỏ tới nền kinh
tế nước ta. Xuất khẩu nông nghiệp gặp tình trạng khó khăn, xuất
hiện chiến dịch “giải cứu” thanh long, dưa hấu, sầu riêng… Tình trạng này
không chỉ làm ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân mà còn ảnh hưởng
đến nền kinh tế của nhà nước. Điều này cho ta thấy sự thiếu liên kết giữa 6 nhà
kinh tế, nền sản xuất chưa thực sự hiệu quả. Để nền kinh tế nông nghiệp phát
triển, Thủ tướng chính phủ từng nhấn mạnh yêu cầu: “Không phải chỉ sản xuất
cái đã có mà phải sản xuất cái thị trường cần”. Để đạt được điều này đòi hỏi nhà
doanh nghiệp, nhà nông cần để ý đến thị trường cần gì và nên sản xuất cái gì
đáp ứng được nhu cầu thị trường mà vẫn đem lại lợi ích về cho mình. Tránh tình
trạng dư thừa sản phẩm, sản xuất quá nhiều ảnh hưởng đến tài chính của người
sản xuất và nền kinh tế nước nhà.
Trong thời kỳ mở cửa và hội nhập hiện nay, đặt ra một số giải pháp cho 6
nhà kinh tế có mối liên kết chặt chẽ hơn như sau:
Với nhà nông, người nông dân cần gạt bỏ tư tưởng ham lợi trước mắt, tập
trung mở rộng phương thức sản xuất, cố gắng tiếp cận thông tin thị trường
nhanh chóng. Hiện nay, nhà nông đang dần tiếp cận với phương thức sản xuất
mới nhưng mà trình độ và quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ và kém hiệu quả.
Với nhà doanh nghiệp, đóng giữ vai trò quan trọng liên kết “5 nhà” còn lại;
cần hỗ trợ đầu vào và thu mua sản phẩm của nông dân. Các doanh nghiệp cần
tìm ra những phương án tốt nhất để đầu tư giúp nhà nông sản xuất đúng mùa vụ
và giúp họ tiêu thụ sản phẩm vừa có lợi cho mình lại không gây bất lợi cho nhà nông.
Với nhà khoa học, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại
vào sản xuất, tuy nhiên các nhà khoa học cần tạo ra những liên kết với các
“nhà” khác chặt chẽ hơn và đạt hiệu quả cao. Nhờ có công nghệ mà giảm được
giá thành sản phẩm... Hơn thế nữa, nhà khoa học giúp nông dân có được những
giống mới có nguồn gốc, địa chỉ, xuất xứ cụ thể đáp ứng nhu cầu thị trường
giúp nhà nông tạo uy tín.
Với nhà nước, giữ vai trò hành lang pháp lý phù hợp, đảm bảo cho sự liên
kết các nhà còn lại chặt chẽ và hiệu quả. Nhà nước giúp điều tiết lợi ích và giám
sát, điều chỉnh các quan hệ kinh tế. Nhà nước can thiệp nông nghiệp bằng các
chính sách kinh tế tạo điều kiện thuận lợi, môi trường pháp lý cho các hoạt động
kinh doanh, sản xuất phát triển. Cần có những biện pháp phù hợp liên quan đến
pháp luật, giải quyết tranh chấp.
Với nhà nông sản, nếu có sự liên kết tốt thì thay vì bán sản phẩm thô dưới
dạng nguyên liệu chúng ta phải tìm cách chế biến và bảo quản để tạo thế bình
quân giữa cung – cầu, đồng thời điều chỉnh được giá bán, giúp cho thị trường
tiêu thụ ổn định. Ở đây, các nhà nông sản sẽ liên kết chế biến và tiêu thụ để
nhận được hỗ trợ vốn từ nhà ngân hàng, về khoa học và công nghệ.
Ngược lại, khi sức mua giảm, phải có những biện pháp tiếp thị để kích cầu thị trường.
Với nhà ngân hàng, có vai trò hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc gia
tăng giá trị và hiệu quả của chuỗi nông sản. Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi
giá trị sẽ giúp giảm thiểu rủi ro thị trường, rủi ro người vay, rủi ro thời tiết, dịch
bệnh; tiết kiệm chi phí… Nhà ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng giúp
cho mối liên kết ngày càng chặt chẽ hơn.
2.2. Vị trí, vai trò của các giai tầng đặc biệt là doanh nhân Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay
Doanh nhân Việt Nam là đội ngũ những người làm nghề kinh doanh, trước
hết là bộ phận những người chủ sở hữu, lãnh đạo, quản lý, hoạt động nghiệp vụ
kinh doanh (có mục tiêu vị lợi) của các hộ gia đình và doanh nghiệp. Doanh
nhân Việt Nam còn là sản phẩm của quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ yếu được hình thành
trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến nay.
Hiện nay, đội ngũ doanh nhân Việt Nam đang phát triển nhanh về cả số
lượng và quy mô với vai trò không ngừng tăng lên. Độ tuổi trung bình của
doanh nhân từ 30 – 50 tuổi, số doanh nhân trẻ tuổi (dưới 30 tuổi) đang phát triển nhanh.
Ví trí: Đội ngũ doanh nhân là tầng lớp xã hội đặc biệt được Đảng ta chủ
trương xây dựng thành một đội ngũ vững mạnh.
Đội ngũ doanh nhân Việt Nam là lực lượng có vai trò quan trọng trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Trong đội ngũ doanh nhân
có các doanh nhân với tiềm lực kinh tế lớn, có những doanh nhân vừa và nhỏ
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, đội ngũ này đang đóng vai trò quan
trọng trong giải phóng lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế và hội nhập quốc
tế; đóng góp tích cực vào việc giải quyết việc làm cho người lao động và tham
gia giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo. Trong thời kỳ đổi
mới, doanh nhân Việt Nam đã góp phần quan trọng vào hình thành cơ cấu xã
hội và quan hệ xã hội mới, hệ giá trị và lối sống phù hợp với điều kiện xã hội.
Tức là đội ngũ doanh nhân góp phần hình thành lối sống sáng tạo, tự lập, tự
chủ, dám nghĩ, dám làm, dám đương đầu với khó khăn, sống có trách nhiệm với
bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Từ đó, đề tài nêu lên một số giải pháp phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam hiện nay:
Một là, tạo cơ chế, môi trường thuận lợi cho doanh nhân phát triển cả về số
lượng và chất lượng, có trình độ quản lý, kinh doanh giỏi, có đạo đức nghề
nghiệp và trách nhiệm xã hội cao. Có cơ chế, chính sách đảm bảo quyền lợi của đội ngũ doanh nhân.
Hai là, tôn vinh những doanh nhân có nhiều đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước.
Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với sự nghiệp phát triển đội
ngũ doanh nhân. Xây dựng và triển khai thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ doanh nhân.
Bốn là, doanh nhân cần chủ động trang bị đầy đủ các kiến thức về tài chính
kế toán, quản trị doanh nghiệp, quản lý nhân sự, hiểu biết về nhiều mặt như
kinh tế pháp luật, văn hóa doanh nghiệp; thường xuyên cập nhật những kiến
thức mới, trau dồi những kỹ năng cần thiết để có đủ sức “đứng vững” và nâng
cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
Vì vậy, xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có năng lực, trình độ và
phẩm chất, uy tín cao sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm độc lập, tự chủ của nền kinh tế.
2.3. Liên hệ bản thân
Là một người công dân Việt Nam, cũng như là sinh viên của ngôi trường
Học viện Ngân Hàng, cũng đứng trong hàng ngũ thế hệ trẻ của đất nước, em
hiểu rõ nhiệm vụ và trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ khối liên minh giai cấp ở nước ta hiện nay. Trước hết, chúng ta cần có niềm
tin vào đường lối cách mạng của Đảng ta, thực hiện nghiêm túc và chấp hành
chính sách của Đảng. Thứ hai, chúng ta cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm
của bản thân đối với việc tăng cường khối liên minh giai cấp, tầng lớp và xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Bằng cách tìm hiểu, tự học thêm kiến thức về
giáo dục chính trị, tư tưởng, lý luận, truyền thống, bồi dưỡng lý tưởng cách
mạng, lòng yêu nước … Bên cạnh đó, để đạt được những điều này thì những thế
hệ trẻ cần xây dựng lối sống lành mạnh, đạo đức sống ngay từ bây giờ. Điều mà
trong số chúng ta đều biết đó là hãy đọc thật nhiều qua sách, báo, tin tức hàng
ngày để có được những tri thức giúp hoàn thiện những thiếu sót của bản thân,
hoàn thiện chính mình. Mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội, khi một cá nhân
phát triển sẽ giúp cho xã hội đó ngày càng tốt đẹp. Thứ ba, tuyên truyền vận
động mọi người nghiêm túc chấp hành đúng Hiến pháp và pháp luật mà nhà
nước ban hành. Không chỉ vậy, chúng ta cần khuyến khích, động viên các bạn
cùng trang lứa xây dựng những mục tiêu, ước mơ, tích cực tham gia các chương
trình nghiên cứu khoa học để hiểu hơn về những kiến thức học thuật, kích thích
sự sáng tạo, nâng cao hiểu biết về đời sống đặc biệt về công nghệ hiện đại. Thứ
tư, lên án phê phán những hành động phá vỡ khối liên minh giai cấp, làm chia
rẽ ảnh hưởng xấu đến đất nước Việt Nam ta. KẾT LUẬN
Trên cơ sở hệ thống hóa những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về
cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, ta thấy rõ được phần nào về các giai cấp, tầng lớp xã hội và các nhóm xã
hội cơ bản trong cơ cấu xã hội – giai cấp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam. Mỗi giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội này có những vị trí
và vai trò xác định song dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến tới xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản với tư cách là một hình thái
kinh tế – xã hội mới thay thế hình thái kinh tế – xã hội cũ đã lỗi thời. Nắm được
những nội dung về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội về liên minh giai cấp,
tầng lớp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao nhận
thức về tầm quan trọng của khối liên minh, của việc phát huy vai trò của mọi
thành phần trong cơ cấu xã hội – giai cấp, từ đó Đảng và nhà nước ta xây dựng
chủ trương, chính sách đúng đắn phù hợp để tạo động lực và tạo sự đồng thuận
xã hội. Và khối liên minh 6 nhà là một điểm đáng chú ý trong đề tài này, nhờ có
khối liên minh này mà nền kinh tế nông nghiệp nước ta đang đi lên. Bên cạnh
đó, khối liên minh này cần liên kết, hợp tác với nhau chặt chẽ hơn, tạo điều kiện
thuận lợi cho các nhà phát huy tiềm năng của mình.
Cuối cùng, bài tiểu luận này không chỉ giúp em có cái nhìn sâu hơn về cơ
cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam mà em còn bổ sung thêm được kiến thức vô cùng có ích về
doanh nhân Việt Nam. Việc nghiên cứu này cho em biết được rằng doanh nhân
Việt Nam là một giai tầng đặc biệt trong xã hội và góp phần nâng cao chất
lượng, hiệu quả sức cạnh tranh, giúp cho nền kinh tế phát triển bền vững cũng
như trong công cuộc xây dựng xã hội mới. Và để kết thúc bài tiểu luận này, em
xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Thu Hiền đã mang lại cho chúng em những
bài giảng tuyệt vời về cơ cấu xã hội – giai cấp và liên minh giai cấp trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Em rất mong được nhận những ý kiến và đóng
góp của cô để hoàn thành thật tốt các bài tiểu luận sau này.
Em xin chân thành cảm ơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho bậc đại học, không chuyên
lý luận chínnh trị), GS. TS Hoàng Chí Bảo (Chủ biên) (2019).
2. Tạ Ngọc Tuấn (Chủ biên) (2010), Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội
Việt Nam hiện nay, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XII, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 156 – 166.
4. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), toàn tập, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Hoàng Văn Hoa: Phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong giai đoạn
2011–2020, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, trang 246–255.
6. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương: Vai trò của doanh nhân trong
phát triển kinh tế, 2011, trang 33.
7. Nghị quyết số 09–NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về xây dựng và phát
huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Tài liệu tiếng nước ngoài
1. Klaus Schwab, World Economic Forum (2018), The Global Competitiveness Report.
Tài liệu trực tuyến
1. Hữu Thắng (2020), https://kinhtenongthon.vn/lien–ket–6–nha–huong– phat–
trien–ben–vung–post36425.html, truy cập lúc 9:06, 05–06–2021.
2. Đỗ Minh Cương: “Bàn về khái niệm doanh nhân Việt Nam”, Tạp chí Khoa
học Đại học quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế và Kinh doanh 25, 2009,
https://js.vnu.edu.vn, truy cập lúc 11:24, 05–06–2021.