Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta | Tiểu luận Thông tin đối ngoại

Tiếng nói là Quốc hồn, quốc túy của mỗi dân tộc. Tiếng nói Việt Nam là báu vật thiêng liêng, là tố chất hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam ta. Biết bao vinh dự, tự hào vì Đài phát thanh quốc gia được Bác Hồ sáng lập và đặt tên là Đài tiếng nói Việt Nam. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
24 trang 1 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta | Tiểu luận Thông tin đối ngoại

Tiếng nói là Quốc hồn, quốc túy của mỗi dân tộc. Tiếng nói Việt Nam là báu vật thiêng liêng, là tố chất hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam ta. Biết bao vinh dự, tự hào vì Đài phát thanh quốc gia được Bác Hồ sáng lập và đặt tên là Đài tiếng nói Việt Nam. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

28 14 lượt tải Tải xuống
TIỂU LUẬN
Môn: Thông Tin Đối Ngoại
Đề tài:
Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Học viên: Bùi Việt Hà
Mã sinh viên 1955380022
Lớp tín chỉ: QT02607_2_k39 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếng nói là Quốc hồn, quốc túy của mỗi dân tộc. Tiếng nói Việt Nam là báu vật
thiêng liêng, là tố chất hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam ta. Biết bao vinh
dự, tự hào vì Đài phát thanh quốc gia được Bác Hồ sáng lập và đặt tên là Đài tiếng
nói Việt Nam vừa đảm trách một nhiệm vụ hết sức quan trọng và vẻ vang là góp
phần giữ gìn, làm giàu thêm, trong sáng thêm tiếng nói của dân tộc, vừa là một
phương diện thông tin đại chúng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.
Đài tiếng nói Việt Nam găn liền với dòng lịch sử hào hùng trong hai cuộc chiến
thần kỳ của dân tộc và gắn liền với quá trình đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng ta khởi xướng từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986). Cùng với việc đổi mới tư duy, đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế, chúng ta bắt đầu thực hiện việc mở cửa đất nước, công bố
chính sách đầu tư nước ngoài. Chính sách đối ngoại cũng là một nội dung cơ bản
của đường lối đổi mới.
Đến nay, trải qua 20 năm đổi mới, hoạt động đối ngoại của Đảng ta đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể. Từ chỗ chỉ có quan hệ chính trị là chủ yếu với các nước
xã hội chủ nghĩa và một số nước độc lập dân tộc thì nay nước ta đã có quan hệ
ngoại giao với gần 170 nước trên thế giới, với tất cả các nước láng giềng và khu
vực, có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các tổ chức khu vực và quốc
tế. Đảng ta cũng có quan hệ với gần 190 Đảng và phong trào chính trị trên thế giới.
Những thành tựu đối ngoại to lớn ấy đã đem lại rất nhiều thắng lợi quan trọng.
Nước ta đã phá được thế bị bao vây, cô lập và cấm vận kinh tế, mở rộng quan hệ
đối ngoại ra khắp thế giới, tạo môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…Qua đó đã góp phần bảo vệ, củng
cố chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từng bước làm thất bại các âm
mưu và hành động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh,
ổn định chính trị - xã hội, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường thế
giới
Chính sách mở cửa và đường lối đối ngoại mới cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho
việc mở rông thông tin quốc tế, tuyên truyền đối ngoại, làm cho công tác thông tin
đối ngoại qua báo chí nói chung và báo nói nói riêng then phần khởi sắc.
Tuy nhiên, hoạt động thông tin đối ngoại cũng đã gặp không ít khó khăn, trở ngại
và bộc lộ nhiều mặt yếu kém, khuyết điểm. Nhận thức của nhiều cơ quan, đơn vị,
cá nhân về vai trò, vị trí của thông tin đối ngoại chưa được đầy đủ; phương thức
thông tin còn nhiều hạn chế; nội dung thông tin chưa sắc bén, chưa đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng khác nhau; công tác quản lý còn lung
túng, chưa sáng tạo….
Trên cơ sở quan điểm và định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, có thể nói,
nghiên cứu về “công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động của
Đảng và Nhà nước ta” sẽ đem lại kết quả thực tiễn hết sức cần thiết. Kết quả của
việc nghiên cứu sẽ không chỉ hệ thống lại những tri thức khoa học về vấn đề này
mà còn chỉ ra thực trạng của vấn đề trong cuộc sống thường nhật và sâu sắc, đưa ra
các khuyến nghị, các phương pháp góp phần làm tăng hiệu quả, nâng cao vai trò
của công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động của Đảng và
Nhà nước ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu làm rõ vai trò thông tin đối ngoại qua báo mới
- Nâng cao nhận thức về thông tin đối ngoại nói chung công tác thông tin
đối ngoại qua kênh báo nói nói riêng
- Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thông tin đối ngoại qua
báo nói hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thông tin đối ngoại
qua báo chí nói chung và báo nói nói riêng.
- Đề xuất một số phương hướng giải pháp nhằm tăng cường phát huy
hiệu qua của công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động
của Đảng và Nhà nước ta.
3. Kết cấu đề tài
Gồm 3 chương:
- Chương 1: Vai trò của công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam
nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam
nước ngoài trong thời gian qua
- Chương 3: Phương thức và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông
tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới
Kết luận và Tài liệu tham khảo
NỘI DUNG
Chương 1
Tổng quan về thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
1.1. Khái niệm “ Thông tin đối ngoại”
Thông tin đối ngoại là một dạng thông tin: Thông tin đối ngoại được hiểu là tin
tức, là thông báo, là tri thức về một sự vật hay hiện tượng được chứa đựng trong
các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng trong công tác đối
ngoại. Thông tin đối ngoại bao gồm thông tin trong nước và quốc tế được dùng
trong quá trình hoạt động đối ngoại.
Thông tin đối ngoại là một lĩnh vực hoạt động: “Thông tin đối ngoại là một bộ
phận rất quan trọng trong công tác thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
nhằm làm cho các nước, người nước ngoài ( bao gồm cả người nước ngoài đang
công tác và sinh sống tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở
nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương chính
sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân
thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Thông tin đối ngoại là một ngành đào tạo: Có nhiệm vụ “ đào tạo cán bộ có trình
độ chuyên môn ở bậc đại học, có khả năng thực hiện chức trách của các phóng
viên, biên tập viên thông tin đối ngoại tại các cơ quan thông tấn báo chí; công tác
tham mưu, tư vấn, tổ chức đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước, các
đoàn thể chính trị - xã hội; hoặc thể hiện các chức trách đòi hỏi sự hiểu biết cơ bản,
hệ thống kiến thức và kĩ năng nghiệp vụ thông tin đối ngoại. Đồng thời có thể tự
học, tự nâng cao tình độ hoặc tiếp tục học tập ở những mức học cao hơn”
Như vậy “ Thông tin đối ngoại” là một bộ phận quan trọng trong công tác tư
tưởng và đối ngoại của Đảng. Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế
giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, con người, lịch sử,
văn hóa, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh
chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam, làm cho nhân
dân ta hiểu rõ về thế giới; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác,
giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đống góp của đồng bào ta ở
nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.2. Nhận thức về thông tin đối ngoại
- Là một bộ phận của công tác tư tưởng – văn hóa:
Nói đến công tác tư tưởng văn hóa, mội người thường chỉ liên tưởng đến phạm vi
quốc gia. Trên thực tế, thông tin đối ngoại là sự tiếp tục của công tác tư tưởng văn
hóa trên phạm vi quốc tế với đối tượng đa dạng avf phức tạp hơn. Đó là việc tranh
thủ dư luận thế giới, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng được xác
định cho một giai đoạn nhất định. Mục tiêu cách mạng của Việt Nam và đa dạng
của đại đa số quần chúng. Tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng như báo
in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử, sách, điện ảnh,… đều tham gia vào thông
tin tuyên truyền đối ngoại.
- Phương thức thông tin:
Do đối tượng của thông tin đối ngoại hoàn toàn khác với thông tin đối nội nên
phương pháp thông tin, tuyên truyền cũng khác, tùy theo đối tượng, nội dung và
thời điểm.
Cung cấp thông tin: Vấn đề mấu chốt của công tác thông tin đối ngoại là
thông tin. Cần chủ động trong việc cung cấp thông tin vì có chủ động thì
mới xác định được số lượng thông tin cần cung cấp, phân loại thông tin và
thời điểm cung cấp thông tin thích hợp.
Thuyết phục: Thuyết phục là một quy trình trong đó người nói hoặc người
viết sử dụng lý lẽ và lập luận để đối tượng chấp nhận quan điểm của mình về
một vấn đề nào đó. Để thuyết phục thành công, người làm công tác thông tin
đối ngoại cần tiếp cận đối tượng để tìm các điểm tương đồng giữa mình và
đối tượng nhằm đưa ra các lý lẽ xác đáng tác động vào tâm lý của đối tượng.
Cảm hóa: Cảm hóa khác với thuyết phục ở chỗ nó thiên về góc độ tình cảm
và đạo lý. Thực tế, thuyết phục và cảm hóa thường được kết hợp trong hùng
biện nói chung và trong vận động dư luận nói riêng: Thuyết phục mà không
có cảm hóa sẽ không thành công bởi khi đó chỉ có lý mà không có tình.
1.3. Tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại
Trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam trước đây, thông tin đối ngoại luôn
luôn có vị trí quan trọng trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc đấu tranh
chính nghĩa của chúng ta, tối đa hóa nội lực, tranh thủ sức mạnh của sự hợp tác và
hỗ trợ của quốc tế để giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Lịch sử dựng nước, giữ
nước và xây dựng đất nước của Việt Nam đã chứng tỏ rằng, nhờ làm tốt công tác
thông tin đối ngoại mà thế giới hiểu được về Việt Nam, về vị trí địa lý, lịch sử,
truyền thống tốt đẹp, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam, nhờ đó đã đồng tình, ủng
hộ, giúp đỡ, cổ vũ Việt Nam, góp phần quan trọng vào những thành quả của cách
mạng Việt Nam.
Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế. Chúng ta đã có quan hệ với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới . Trong quan hệ quốc tế hiện nay, quốc gia vẫn là chủ thể đầy đủ,
cơ bản và có vị trí, vai trò quan trọng nhất. Đối ngoại trở thành một trong những
chức năng cơ bản của quốc gia. Lợi ích quốc gia luôn được đặt lên hàng đầu trong
quan hệ đối ngoại giữa quốc gia này với các chủ thể khác trên thế giới. Để bảo vệ,
thỏa mãn và phát triển lợi ích của mình, các quốc gia đều tăng cường thông tin đối
ngoại – một công tác quan trọng để góp phần thực hiện những nhiệm vụ đối ngoại
của mình.
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và
phát triển mà không mở cửa, giao lưu với các nước khác trên thế giới. Sau 25 năm
đổi mới, lực và thế, sức mạnh tổng hợp của Việt Nam đã lớn hơn nhiều so với
nước. Trên con đường hội nhập quốc tế, Việt Nam một mặt phải tìm hiểu ngày
càng sâu, rộng, toàn diện về thế giới, mặt khác cũng rất cần để thế giới hiểu nhiều
hơn, rõ hơn về mình, qua đó tìm kiếm và tăng cường các cơ hội hợp tác để cùng
phát triển. Do vậy, nhu cầu cung cấp thông tin từ Việt Nam ra thế giới và đưa thế
giới đến Việt Nam ngày càng lớn mạnh và bức thiết.
Là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại và tư tưởng của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta, thông tin đối ngoại làm cho thế giới hiểu về đất nước, con
người Việt Nam, về những giá trị vật chất, tinh thần của dân tộc Việt Nam, về
đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đối mới của Việt Nam, về mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của Việt Nam, trên cơ sở đó
quan hệ, hợp tác nhiều hơn với chúng ta. Thông tin đối ngoại giúp xây dựng hình
ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, đồng thời đang góp phần
tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thông tin đối ngoại cũng giúp cho nhân dân Việt
Nam hiểu rõ về thế giới, đón nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh
nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất cùng những tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên
thế giới.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế thời cơ và thách thức đang đan xen nhau, các
quốc gia vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để bảo vệ, thảo mãn và phát triển lợi
ích của mình. Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,
nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Khu
vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á vẫn sẽ là khu
vực phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định. Thông
tin đối ngoại góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, làm rõ quan điểm của
Việt Nam về các vấn đề quốc tế, các vấn đề xung đột và hợp tác, các vấn đề toàn
cầu như môi trường, dân số, bệnh tật và các vẫn đề khác như dân chủ, nhân quyền,
tôn giáo. Thông tin đối ngoại đấu tranh dư luận, phê phán, bác bỏ những thông tin
sai lệch, những luận điệu bôi xấu, xuyên tạc về Việt Nam, giúp dư luận hiểu
đúngđắn tình hình Việt Nam cũng như quốc tế.
Với bản chất của giai cấp công nhân, lãnh đạo đất nước đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đang chú trọng phát triển quan hệ với các
đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Thông tin đối
ngoại góp phần xây dựng tình đoàn kết quốc tế giữa giai cấp công nhân và nhân
dân lao động toàn thế giới. Những mâu thuẫn cơ bản trên thế giới và xu thế thời đại
đặt ra nhiệm vụ cho giai cấp công nhân mỗi nước phải biết kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời địa, kết hợp nội lực với sự đồng tình, ủng hộ quốc tế và
xu thế phát triển của thời đại. Thông tin đối ngoại tạo điều kiện để thực hiện nhiệm
vụ này.
1.4. Thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
Thông tin đối ngoại được tuyên truyền trên các kênh sóng chủ yếu tập trung vào
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách đối
ngoại, quan điểm của Việt Nam về các vấn đề quốc tế và khu vực; thông tin quảng
bá hình ảnh đất nước, thông tin thu hút kinh tế đầu tư nước ngoài, xúc tiến du lịch,
thương mại, hội nhập quốc tế; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về chủ quyền biển,
đảo, biên giới của Việt Nam; tích cực đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái,
xuyên tạc của các thế lực thù địch về tình hình Việt Nam; quảng bá tiềm năng, vẻ
đẹp của đất nước, con người Việt Nam; phản ánh chân thực, kịp thời về đời sống
của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bám sát hơi thở cuộc sống của bà
con Việt Kiều, tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng và cả những đóng góp của
Kiều bào đối với quê hương, đất nước…
Cùng với sự đổi mới của các cơ quan chỉ đạo, quản lý, công tác thông tin đối ngoại
trên hệ thống phát thanh, truyền hình đã chủ động đổi mới nội dung, phương thức
triển khai. Các chương trình được thực hiện bằng các thể loại khác nhau, được
chọn lọc phù hợp với tiêu chí thông tin đối ngoại như chương trình thời sự, chuyên
mục về thông tin đối ngoại, ký sự, phim tài liệu, phim truyện, chương trình nghệ
thuật…Nhiều chương trình nổi bật luôn được khán,thính giả trong và ngoài nước
yêu thích như: “Núi sông bờ cõi”, “Chân dung cuộc sống”, “Góc nhìn”, “Việt Nam
và Thế giới”, “Cội nguồn thương nhớ” của Đài Truyền hình Việt Nam; Chương
trình “Kết nối thương hiệu Việt”, “Văn hóa ẩm thực Việt Nam”, “Top Việt Nam”,
“Một ngày làm người Việt”, “Học tiếng Việt”, “Người Việt bốn phương” của Đài
Truyền hình KTS VTC; Chương trình “Khám phá Việt Nam”, “Sắc màu 54 dân
tộc Việt Nam”, “Văn hóa Việt Nam”, “Kinh tế Việt Nam”, “Đời sống xã hội”,
“Con người Việt Nam”, “Phóng sự thứ bảy”, “Quốc gia khởi nghiệp”, “Hương vị
quê nhà”, “Người Viê t muôn phương”, “Lunch Show 24/7”, “Sunday Show”, “Ẩm
thực Viê t Nam”, “Việt Nam và đối tác”, “Mái nhà ASEAN”, “Quan hê Viê t
Trung”, “Cửa sổ Việt Nam”, “Cộng đồng Pháp ngữ”, “Cửa sổ bạn trẻ”,… của Đài
Tiếng nói Việt Nam.
Phát huy tính chủ động, các kênh phát thanh, truyền hình đối ngoại chuyên biệt
luôn chú trọng đảm bảo phát huy hiệu quả trong công tác tuyên truyền đối ngoại.
Với sự phát triển nhanh và mạnh của công nghệ, Internet và mạng xã hội, xu thế
phát triển của các kênh chương trình đang hướng đến là chú trọng tăng cường các
ứng dụng Internet trong sản xuất, phát sóng và phân phối chương trình. Nếu như
trước đây phát sóng bằng vệ tinh là phương thức chủ yếu, thì từ những năm gần
đây, nhiều Đài PTTH đã phát triển các ứng dụng (app), trang mạng (website) và
tận dụng mạng xã hội như Youtube, Facebook, Twitter, Instagram… giúp khán giả
tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện.
Chương 2
Đặc điểm của công tác thông tin đối ngoại trong báo nói trong hoạt động đối
ngoại của Đảng và Nhà nước ta
2.1. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thông tin đối ngoại
qua kênh báo chí nói chung và báo nói nói riêng.
2.1.1. Lực lượng, phương thức, phương châm
- Lực lượng và phương thức thông tin đối ngoại
Nhiều chủ trương, chính sách, các sự kiện trọng đại của đất nước; quan điểm của
Việt Nam đối với những vấn đề khu vực và quốc tế; hình ảnh đất nước, con người,
lịch sử, văn hóa của dân tộc; những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc đổi
mới... được cung cấp kịp thời, tạo thế chủ động trên mặt trận thông tin tuyên
truyền. Thông tin bằng tiếng nước ngoài được tăng cường; thông tin về thành tựu
bảo đảm quyền con người của Việt Nam, sự tham gia tích cực và chủ động của
Việt Nam vào những hoạt động của các tổ chức Liên hợp quốc về quyền con
người; thông tin kịp thời về những vấn đề, vụ việc liên quan đến tôn giáo, dân tộc,
dân chủ, nhân quyền, công tác bảo hộ công dân Việt Nam... qua đó chủ động ngăn
chặn, đấu tranh phản bác những thông tin sai sự thật.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại
vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đó là nhận thức về thông tin đối
ngoại vẫn chưa đầy đủ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị trong việc triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại. Công tác theo dõi,
nắm bắt, dự báo tình hình còn chưa kịp thời, lượng thông tin còn mỏng; hình thức
tuyên truyền còn chưa thực sự phù hợp với nhiều đối tượng; việc kết hợp giữa
thông tin đối ngoại với thông tin đối nội, giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà
nước, đối ngoại nhân dân, giữa các cơ quan Trung ương với địa phương, giữa trong
nước với các địa bàn nước ngoài vẫn còn thiếu đồng bộ; chưa tận dụng hiệu quả
công nghệ, phương tiện truyền thông hiện đại...
Cần tiếp tục đổi mới nội dung tuyên truyền thông tin đối ngoại, nâng cao hiệu quả
công tác thông tin đối ngoại theo phương châm "Chính xác, kịp thời, linh hoạt, phù
hợp với từng đối tượng"; chú trọng công tác nghiên cứu, nắm bắt, dự báo tình hình
quốc tế và khu vực làm cơ sở chỉ đạo, định hướng thông tin đối ngoại; đa dạng hóa
các hình thức tuyên truyền, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí đối ngoại chủ
lực, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường các kênh thông tin bằng
tiếng nước ngoài; sử dụng các phương tiện truyền thông mới, nhất là các mạng xã
hội vào mục đích thông tin, tuyên truyền đối ngoại một cách kịp thời và hiệu quả;
nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực
cơ hội, thù địch; làm tốt công tác phát ngôn, chủ động hơn trong việc cung cấp
thông tin, đấu tranh dư luận.
2.1.2. Đối tượng, địa bàn
Thông tin đối ngoại qua báo nói góp phần giới thiệu đất nước, con người, văn hóa
Việt Nam tới bạn bè quốc tế, giới thiệu và cập nhật kịp thời tình hình trong nước
trên nhiều lĩnh vực cho các đối tác bên ngoài, đồng thời đưa tin và góp phần định
hướng dư luận về những vấn đề bức xúc, các điểm nóng trên thế giới, giúp cho
người dân trong nước có được bức tranh chung về tình hình quốc tế trong từng thời
điểm cụ thể.
2.2. Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta
2.2.1. Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói giai đoạn 1945 đến nay
Ban Đối ngoại (VOV5) của Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng chương trình đầu
tiên bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Quảng Đông vào ngày 7/9/1945, năm ngày
sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng Hoà, nay là nước CHXHCN Việt Nam. Sau đó, VOV5 phát
thêm tiếng Bắc Kinh, quốc tế ngữ (Esperanto). Trong suốt thời kỳ kháng chiến
chống Pháp (từ 1945-1954), Đài Tiếng nói Việt Nam tiếp tục pháp phát các
chương trình tiếng Pháp, Anh, Quảng Đông, Bắc Kinh và phát thêm tiếng Lào vào
năm 1954, bỏ phát Quốc tế ngữ. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ (từ 1955-
1975), VOV5 đã phát thêm các chương trình tiếng Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia,
Campuchia, Tây ban Nha, Nga, Triều Tiên. Chương trình phát thanh tiếng Việt
dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc ra đời ngày 16/8/1981 và ngày
1/3/2006, Hệ Phát thanh Đối ngoại quốc gia chính thức phát sóng chương trình
tiếng Đức.
Năm 1998, Chương trình phát thanh FM dành cho người nước ngoài sinh sống và
làm việc tại Việt Nam ra đời. Ban đầu chỉ phát các chương trình tiếng Anh và tiếng
Pháp, sau đó phát tất cả 12 thứ ngữ ở khu vực Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và
Quảng Ninh.
Hiện nay, VOV5 duy trì 12 chương trình phát thanh bằng các thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Lào, Thái Lan, Campuchia,
Indonesia và tiếng Việt dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc. Các chương
trình phát trên sóng FM 105.5 MHz tại Hà Nội và trên sóng 105.7 MHz tại Thành
phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh. VOV5 phát trên sóng ngắn, sóng trung hướng
sang Châu Âu, Đông Bắc Mỹ, Tây Bắc Mỹ, một phần Trung Mỹ, Đông Nam Á,
Đông Bắc Á, một phần Châu Phi và phát trên Internet tại địa chỉ
http://vovworld.vn hoặc http://vov5.vn (trang thông tin điện tử đối ngoại). Trang
thông tin điện tử đối ngoại vovworld.vn văn bản hóa các chương trình phát thanh
hàng ngày bằng 12 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Bắc
Kinh, Đức, Lào, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, phát trực tiếp các chương trình
phát thanh và treo các chương trình phát thanh nói trên trong vòng 7 ngày. Ngoài
ra, trang thông tin này còn có các phóng sự ảnh, tin truyền hình, video clip giới
thiệu đất nước, con người, văn hóa, phong tục tập quán Việt Nam…Trang web còn
mở các chuyên mục riêng để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền các sự kiện đặc biệt
như: 40 năm Điện Biên Phủ trên không, xây dựng nông thôn mới, du lịch Việt
Nam hội nhập và phát triển… Trang web vovworld.vn đã nối dài cánh sóng đối
ngoại của Đài Tiếng nói Việt Nam đến những vùng, khu vực trên thế giới mà sóng
ngắn không đến được. Trang web cũng góp phần đưa thính giả gần hơn với Đài
Tiếng nói Việt Nam, tăng cường kết nối giữa thính giả và những người làm chương
trình.
Ngày 7/9/2018 chương trình Tiếng Hàn quốc chính thức phát sóng.
Từ ngày 1/10/2015, Ban Đối ngoại chính thức phát sóng Kênh Phát thanh tiếng
Anh 24/7 trên tần số 104 MHz, phục vụ thính giả nước ngoài tại các châu lục,
người Việt Nam ở nước ngoài, người Việt Nam biết tiếng Anh và người nước
ngoài đang sinh sống, làm việc và du lịch tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đời sống hiện đại hiện nay, phát thanh vẫn là phương tiện thông tin
đại chúng có khả năng xã hội hóa thông tin cao nhất, nhanh nhất, đạt hiệu quả nhất.
Với lợi thế máy móc gọn nhẹ, có thể xách tay đi lưu động, với khả năng truyền
cảm cao, phát thanh có thể thỏa mãn nhu cầu của công chúng trong một thế giới
hiện đại, năng động, biến đổi hàng ngày hàng giờ. Và ở nước ta hiện nay, phát
thanh vẫn đang là người banh tin cậy và gần gũi với tất acr mọi người.
2.3. Khó khăn trong công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
Đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin đối ngoại chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm,
chưa được đào tạo chính quy về thông tin đối ngoại, kinh nghiệm quản lý nhà nước
và trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu. Chất lượng đội ngũ báo cáo
viên, tuyên truyền viên về công tác thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển, đảo và
phân giới, cắm mốc còn hạn chế. Công tác thông tin đối ngoại vẫn còn nhiều khó
khăn do một số cấp ủy, cán bộ và nhân dân nhận thức về vai trò của thông tin đối
ngoại còn hạn chế; Kinh phí đầu tư cho công tác thông tin đối ngoại, tuyên truyền
biển, đảo, phân giới, cắm mốc còn hạn chế. Công tác đấu tranh phản bác thông tin
sai sự thật, quan điểm sai trái còn hạn chế, chậm ứng dụng các thành tựu công nghệ
hiện đại (mạng internet, truyền hình cáp…) vào hoạt động thông tin; công tác chỉ
đạo, phối hợp hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong công tác thông tin đối ngoại
đôi lúc chưa chặt chẽ. Đó là những hạn chế trong thực hiê n công tác thông tin đối
ngoại thời gian qua.
Chương 3
Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thông tin đối ngoại qua kênh báo
nói trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thông tin đối ngoại trong báo
nói trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn hiện nay.
Qua quá trình nghiên cứu và đánh giá thực tiễn của hoạt động thông tin đối ngoại
qua kênh báo nói, có thể thấy rằng từ năm 1986 đến nay, vai trò của công tác thông
tin đối ngoại trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã được nhận thức
đầy đủ và rõ nét hơn, góp phần thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại trong cả
nước. Tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao bởi vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong
công tác chỉ đạo cũng như trong việc thực hiện.
Để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác Thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
trong thời gian, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
3.1. Đối với các cấp độ Đảng và lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại.
- Cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng và Chính quyền đối với công tác thông tin đối ngoại noi chung và việc
thực hiện công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói nói riêng. Để tăng
cường hiệu quả lãnh đạo của Đảng, cần đổi mới phương thức lãnh đạo đối
với công tác thông tin đối ngoại bằng việc quy định cụ thể trách nhiệm cho
từng cơ quan; kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác này dưới nhiều hình
thức. Xây dựng và hoàn thiện chiến lược Quốc gia về thông tin đối ngoại
trong từng giai đoạn cụ thể, thể hiện trong việc định hướng, cụ thể hóa và
quy định chặt chẽ hơn nữa trong các văn bản chỉ đạo hoạt động thông tin đối
ngoại cho các cơ quan chuyên trách.
- Cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thông tin đối ngoại trong toàn
bộ công tác đối ngoại của Đảng và nhà nước ta. Không ngừng trau dồi, nâng
cao nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Không ngừng trau dồi,
nâng cao nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Không ngừng
trau dồi ngoại ngữ và các kiến thức khác để tiếp cận, nắm bắt và xử lý thông
tin nhanh nhạy, chính xác. Cần xây dựng. tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng
lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại một cách chính quy, bài bản, có
hệ thống, đảm bảo đội ngũ cán bộ kế thừa có bãn lĩnh chính trị vừng vàng;
trung thành với Đảng, với Chủ nghĩa Mác- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có
trình độ nghiệp vụ cao, nhạy bén chính trị, chủ động nắm bắt kịp thời yêu
cầu của các đối tượng cần được thông tin. Hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở
vật chất, trang thiết bị, giáo trình và đội ngũ giảng viên cho các các cơ sở
đào tạo về thông tin đối ngoại. Có cơ chế đãi ngộ thỏa đáng cho những cán
bộ làm công tác thông tin đối ngoại.
Ngoài ra, cần phải đổi mới, nâng cao nội dung, hình thức, chất lượng của các
phương tiện truyền thông đại chúng.
3.2. Đối với Đài tiếng nói Việt Nam
- Đài tiếng nói Việt Nam phải thể hiện tính tư tưởng, tính chiến đấu cao, sắc
bén. Bởi phát thanh đối ngoại không chỉ nói rõ chủ trương, chính sách pháp
luật của Nhà nước ta với các nước khác trên thế giới; không chỉ phản ánh
trung thực công cuộc đổi mới, những thành tựu, vấn đề đang giải quyết mà
quan trọng là phải khẳng định rõ quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng ta đối với những vấn đề đối nội, đối ngoại và thời cuộc. Đài
phát thanh, phương tiện thông tin nhanh nhất, phải là cơ quan đại chúng đầu
tiên truyền đi rành mạch, công khai quan điểm, đường lối của Đảng về các
vấn đề trong nước và quốc tế. Cũng như ở ngoài mặt trận, phải nhanh chóng
và kịp thời mới tranh thủ được thời cơ, chiếm lĩnh được trận địa. Như vậy,
nhanh nhạy đã mang tính chiến đấu cao.
- Đài phải góp phần đắc lực trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ cơ sở. Bởi ưu việt hơn các loại báo
chí khác, Đài tiếng nói Việt Nam có thể phát suốt ngày đêm, đến được
những vùng sâu xa nhất, đến được với những người không biết chữ, những
người khiếm thị… cho nên mặt sóng của Đài như tờ báo rộng lớn về thời
gian, không gian, thuận tiện thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”. Do đó Đài cần cố gắng phát huy thế mạnh của mình.
- Đài phải mạnh dạn, kiên quyết đổi mới, ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại vào các hoạt động, mà cốt từ là xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có
bản lĩnh, năng động, sáng tạo. Bởi nói tới phát thanh hiện tại là nói tới tính
chất nhanh nhạy, kịp thời, liên tục, sống động, hiệu quả, sáng rõ, chất lượng
âm thanh phải đẹp, hấp dẫn người nghe. Trong phát thanh, giọng nói là quan
trọng, sao cho qua giọng nói thể hiện được hết nét đẹp văn hóa Việt Nam.
- Khi nói đến đổi mới đi lên hiện đại không thể nói suống mà phải bắt tay vào
làm ngay. Công cuộc đổi mới đòi hỏi tác phong làm việc khẩn trương và
hiệu quả, nói đi đôi với làm. Do đó, cần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ
có bản lĩnh chính trị, có chuyên môn nghiệp cụ, có lòng yêu nghề, năng
động và sáng tạo trong công việc. Tóm lại, Đài cần phải cố gắng đổi mới
hơn nữa cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ để nhanh chóng đi vào công
nghệ phát thanh hiện đại.
KẾT LUẬN
Thông tin đối ngoại qua báo nói, đó là hệ thống tải tin tức, sự kiện của tất cả các
lĩnh vực, các ngành cũng như đời sống sinh hoạt của một đất nước ra bên ngoài
thông qua kênh báo nói. Đối tượng thông tin ở đây có thể là từ trong nước qua
kênh báo nói thông tin sang nước khác, hoặc là thông tin báo nói tới người nước
ngoài đến nước mình. Trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước ta, đây là một vấn đề
quan trọng cần được quan tâm đúng mức nhằm giúp cho bạn bè thế giới hiểu đúng
chúng ta, và những thông tin phản hồi từ họ, cũng là cơ sở tham khảo cần thiết để
Việt Nam xây dựng chính sách được tốt nhất quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Thực tế cuộc sống cho thấy báo nói đx thực hiện khá tốt công tác
thông tin đối ngoại trong hoạt động trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta.
Trong điều kiện có rất nhiều phương tiện thông tin như hiện nay, Đài tiếng nói Việt
nam và toàn ngành phát thanh nước ta vẫn và sẽ là một vũ khí sắc bén và quan
trọng của Đảng và Nhà nước trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Đến nay, làn song Đài
Tiếng nói Việt Nam đã vươn tới các nước châu Á, châu Úc, châu Âu, Bắc Mỹ,…
Đài đang tiếp tục mở rộng hệ thống phát thanh, mạng lưới tổ chức, đội ngũ cộng
tác viên, thông tin viên; các cơ quan thường trú trong nước và ngoài nước. Điều
này cho thấy, Đài đã rất chú ý đến tính toàn diện, tính toàn quốc, tính chiến đấu
của một đài quốc gia, đảm bảo đặc trưng tính chất của một tờ báo nói. Rõ ràng,
cùng với sự đổi mới và phát triển của báo chí nói chung, Đài tiếng nói Việt Nam và
toàn ngành phát thanh nước ta ngày càng có những bước phát triển và trưởng
thành, đóng góp quan trọng vào công tác tư tưởng của Đảng, phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị của đất nước.
Tóm lại, công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã được đẩy mạnh cả về lượng và chất. Trong
| 1/24

Preview text:

TIỂU LUẬN
Môn: Thông Tin Đối Ngoại Đề tài:
Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động
đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Học viên: Bùi Việt Hà Mã sinh viên 1955380022
Lớp tín chỉ: QT02607_2_k39 1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếng nói là Quốc hồn, quốc túy của mỗi dân tộc. Tiếng nói Việt Nam là báu vật
thiêng liêng, là tố chất hình thành và phát triển dân tộc Việt Nam ta. Biết bao vinh
dự, tự hào vì Đài phát thanh quốc gia được Bác Hồ sáng lập và đặt tên là Đài tiếng
nói Việt Nam vừa đảm trách một nhiệm vụ hết sức quan trọng và vẻ vang là góp
phần giữ gìn, làm giàu thêm, trong sáng thêm tiếng nói của dân tộc, vừa là một
phương diện thông tin đại chúng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và của nhân dân.
Đài tiếng nói Việt Nam găn liền với dòng lịch sử hào hùng trong hai cuộc chiến
thần kỳ của dân tộc và gắn liền với quá trình đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo.
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng ta khởi xướng từ Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986). Cùng với việc đổi mới tư duy, đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế, chúng ta bắt đầu thực hiện việc mở cửa đất nước, công bố
chính sách đầu tư nước ngoài. Chính sách đối ngoại cũng là một nội dung cơ bản
của đường lối đổi mới.
Đến nay, trải qua 20 năm đổi mới, hoạt động đối ngoại của Đảng ta đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể. Từ chỗ chỉ có quan hệ chính trị là chủ yếu với các nước
xã hội chủ nghĩa và một số nước độc lập dân tộc thì nay nước ta đã có quan hệ
ngoại giao với gần 170 nước trên thế giới, với tất cả các nước láng giềng và khu
vực, có quan hệ bình thường với tất cả các nước lớn, các tổ chức khu vực và quốc
tế. Đảng ta cũng có quan hệ với gần 190 Đảng và phong trào chính trị trên thế giới.
Những thành tựu đối ngoại to lớn ấy đã đem lại rất nhiều thắng lợi quan trọng.
Nước ta đã phá được thế bị bao vây, cô lập và cấm vận kinh tế, mở rộng quan hệ
đối ngoại ra khắp thế giới, tạo môi trường quốc tế thuận lợi phục vụ đắc lực sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…Qua đó đã góp phần bảo vệ, củng
cố chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, từng bước làm thất bại các âm
mưu và hành động diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh,
ổn định chính trị - xã hội, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường thế giới
Chính sách mở cửa và đường lối đối ngoại mới cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho
việc mở rông thông tin quốc tế, tuyên truyền đối ngoại, làm cho công tác thông tin
đối ngoại qua báo chí nói chung và báo nói nói riêng then phần khởi sắc.
Tuy nhiên, hoạt động thông tin đối ngoại cũng đã gặp không ít khó khăn, trở ngại
và bộc lộ nhiều mặt yếu kém, khuyết điểm. Nhận thức của nhiều cơ quan, đơn vị,
cá nhân về vai trò, vị trí của thông tin đối ngoại chưa được đầy đủ; phương thức
thông tin còn nhiều hạn chế; nội dung thông tin chưa sắc bén, chưa đáp ứng được
nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng khác nhau; công tác quản lý còn lung túng, chưa sáng tạo….
Trên cơ sở quan điểm và định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, có thể nói,
nghiên cứu về “công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động của
Đảng và Nhà nước ta” sẽ đem lại kết quả thực tiễn hết sức cần thiết. Kết quả của
việc nghiên cứu sẽ không chỉ hệ thống lại những tri thức khoa học về vấn đề này
mà còn chỉ ra thực trạng của vấn đề trong cuộc sống thường nhật và sâu sắc, đưa ra
các khuyến nghị, các phương pháp góp phần làm tăng hiệu quả, nâng cao vai trò
của công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động của Đảng và
Nhà nước ta, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
2. Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu  Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu làm rõ vai trò thông tin đối ngoại qua báo mới
- Nâng cao nhận thức về thông tin đối ngoại nói chung và công tác thông tin
đối ngoại qua kênh báo nói nói riêng
- Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thông tin đối ngoại qua báo nói hiện nay.  Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về thông tin đối ngoại
qua báo chí nói chung và báo nói nói riêng.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường và phát huy
hiệu qua của công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động
của Đảng và Nhà nước ta. 3. Kết cấu đề tài Gồm 3 chương:
- Chương 1: Vai trò của công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng công tác thông tin đối ngoại cho người Việt Nam ở
nước ngoài trong thời gian qua
- Chương 3: Phương thức và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác thông
tin đối ngoại cho người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới
Kết luận và Tài liệu tham khảo NỘI DUNG Chương 1
Tổng quan về thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
1.1. Khái niệm “ Thông tin đối ngoại”
Thông tin đối ngoại là một dạng thông tin: Thông tin đối ngoại được hiểu là tin
tức, là thông báo, là tri thức về một sự vật hay hiện tượng được chứa đựng trong
các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng trong công tác đối
ngoại. Thông tin đối ngoại bao gồm thông tin trong nước và quốc tế được dùng
trong quá trình hoạt động đối ngoại.
Thông tin đối ngoại là một lĩnh vực hoạt động: “Thông tin đối ngoại là một bộ
phận rất quan trọng trong công tác thông tin đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
nhằm làm cho các nước, người nước ngoài ( bao gồm cả người nước ngoài đang
công tác và sinh sống tại Việt Nam), người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở
nước ngoài hiểu về đất nước, con người Việt Nam, đường lối, chủ trương chính
sách và thành tựu đổi mới của ta, trên cơ sở đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân
thế giới, sự đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Thông tin đối ngoại là một ngành đào tạo: Có nhiệm vụ “ đào tạo cán bộ có trình
độ chuyên môn ở bậc đại học, có khả năng thực hiện chức trách của các phóng
viên, biên tập viên thông tin đối ngoại tại các cơ quan thông tấn báo chí; công tác
tham mưu, tư vấn, tổ chức đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước, các
đoàn thể chính trị - xã hội; hoặc thể hiện các chức trách đòi hỏi sự hiểu biết cơ bản,
hệ thống kiến thức và kĩ năng nghiệp vụ thông tin đối ngoại. Đồng thời có thể tự
học, tự nâng cao tình độ hoặc tiếp tục học tập ở những mức học cao hơn”
 Như vậy “ Thông tin đối ngoại” là một bộ phận quan trọng trong công tác tư
tưởng và đối ngoại của Đảng. Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế
giới hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, con người, lịch sử,
văn hóa, những giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh
chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá Việt Nam, làm cho nhân
dân ta hiểu rõ về thế giới; đồng thời tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác,
giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng thuận và đống góp của đồng bào ta ở
nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
1.2. Nhận thức về thông tin đối ngoại
- Là một bộ phận của công tác tư tưởng – văn hóa:
Nói đến công tác tư tưởng văn hóa, mội người thường chỉ liên tưởng đến phạm vi
quốc gia. Trên thực tế, thông tin đối ngoại là sự tiếp tục của công tác tư tưởng văn
hóa trên phạm vi quốc tế với đối tượng đa dạng avf phức tạp hơn. Đó là việc tranh
thủ dư luận thế giới, góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ cách mạng được xác
định cho một giai đoạn nhất định. Mục tiêu cách mạng của Việt Nam và đa dạng
của đại đa số quần chúng. Tất cả các phương tiện truyền thông đại chúng như báo
in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử, sách, điện ảnh,… đều tham gia vào thông
tin tuyên truyền đối ngoại. - Phương thức thông tin:
Do đối tượng của thông tin đối ngoại hoàn toàn khác với thông tin đối nội nên
phương pháp thông tin, tuyên truyền cũng khác, tùy theo đối tượng, nội dung và thời điểm.
 Cung cấp thông tin: Vấn đề mấu chốt của công tác thông tin đối ngoại là
thông tin. Cần chủ động trong việc cung cấp thông tin vì có chủ động thì
mới xác định được số lượng thông tin cần cung cấp, phân loại thông tin và
thời điểm cung cấp thông tin thích hợp.
 Thuyết phục: Thuyết phục là một quy trình trong đó người nói hoặc người
viết sử dụng lý lẽ và lập luận để đối tượng chấp nhận quan điểm của mình về
một vấn đề nào đó. Để thuyết phục thành công, người làm công tác thông tin
đối ngoại cần tiếp cận đối tượng để tìm các điểm tương đồng giữa mình và
đối tượng nhằm đưa ra các lý lẽ xác đáng tác động vào tâm lý của đối tượng.
 Cảm hóa: Cảm hóa khác với thuyết phục ở chỗ nó thiên về góc độ tình cảm
và đạo lý. Thực tế, thuyết phục và cảm hóa thường được kết hợp trong hùng
biện nói chung và trong vận động dư luận nói riêng: Thuyết phục mà không
có cảm hóa sẽ không thành công bởi khi đó chỉ có lý mà không có tình.
1.3. Tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại
Trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam trước đây, thông tin đối ngoại luôn
luôn có vị trí quan trọng trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cuộc đấu tranh
chính nghĩa của chúng ta, tối đa hóa nội lực, tranh thủ sức mạnh của sự hợp tác và
hỗ trợ của quốc tế để giành thắng lợi ngày càng to lớn hơn. Lịch sử dựng nước, giữ
nước và xây dựng đất nước của Việt Nam đã chứng tỏ rằng, nhờ làm tốt công tác
thông tin đối ngoại mà thế giới hiểu được về Việt Nam, về vị trí địa lý, lịch sử,
truyền thống tốt đẹp, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam, nhờ đó đã đồng tình, ủng
hộ, giúp đỡ, cổ vũ Việt Nam, góp phần quan trọng vào những thành quả của cách mạng Việt Nam.
Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế. Chúng ta đã có quan hệ với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh
thổ trên thế giới . Trong quan hệ quốc tế hiện nay, quốc gia vẫn là chủ thể đầy đủ,
cơ bản và có vị trí, vai trò quan trọng nhất. Đối ngoại trở thành một trong những
chức năng cơ bản của quốc gia. Lợi ích quốc gia luôn được đặt lên hàng đầu trong
quan hệ đối ngoại giữa quốc gia này với các chủ thể khác trên thế giới. Để bảo vệ,
thỏa mãn và phát triển lợi ích của mình, các quốc gia đều tăng cường thông tin đối
ngoại – một công tác quan trọng để góp phần thực hiện những nhiệm vụ đối ngoại của mình.
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại và
phát triển mà không mở cửa, giao lưu với các nước khác trên thế giới. Sau 25 năm
đổi mới, lực và thế, sức mạnh tổng hợp của Việt Nam đã lớn hơn nhiều so với
nước. Trên con đường hội nhập quốc tế, Việt Nam một mặt phải tìm hiểu ngày
càng sâu, rộng, toàn diện về thế giới, mặt khác cũng rất cần để thế giới hiểu nhiều
hơn, rõ hơn về mình, qua đó tìm kiếm và tăng cường các cơ hội hợp tác để cùng
phát triển. Do vậy, nhu cầu cung cấp thông tin từ Việt Nam ra thế giới và đưa thế
giới đến Việt Nam ngày càng lớn mạnh và bức thiết.
Là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại và tư tưởng của Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta, thông tin đối ngoại làm cho thế giới hiểu về đất nước, con
người Việt Nam, về những giá trị vật chất, tinh thần của dân tộc Việt Nam, về
đường lối, chủ trương, chính sách và thành tựu đối mới của Việt Nam, về mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” của Việt Nam, trên cơ sở đó
quan hệ, hợp tác nhiều hơn với chúng ta. Thông tin đối ngoại giúp xây dựng hình
ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, đồng thời đang góp phần
tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thông tin đối ngoại cũng giúp cho nhân dân Việt
Nam hiểu rõ về thế giới, đón nhận những thành tựu khoa học kỹ thuật, kinh
nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất cùng những tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới.
Trong bối cảnh tình hình quốc tế thời cơ và thách thức đang đan xen nhau, các
quốc gia vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để bảo vệ, thảo mãn và phát triển lợi
ích của mình. Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn,
nhưng sẽ có những diễn biến phức tạp mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Khu
vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á vẫn sẽ là khu
vực phát triển năng động nhưng còn tồn tại nhiều nhân tố gây mất ổn định. Thông
tin đối ngoại góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, làm rõ quan điểm của
Việt Nam về các vấn đề quốc tế, các vấn đề xung đột và hợp tác, các vấn đề toàn
cầu như môi trường, dân số, bệnh tật và các vẫn đề khác như dân chủ, nhân quyền,
tôn giáo. Thông tin đối ngoại đấu tranh dư luận, phê phán, bác bỏ những thông tin
sai lệch, những luận điệu bôi xấu, xuyên tạc về Việt Nam, giúp dư luận hiểu
đúngđắn tình hình Việt Nam cũng như quốc tế.
Với bản chất của giai cấp công nhân, lãnh đạo đất nước đi theo con đường xã hội
chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đang chú trọng phát triển quan hệ với các
đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Thông tin đối
ngoại góp phần xây dựng tình đoàn kết quốc tế giữa giai cấp công nhân và nhân
dân lao động toàn thế giới. Những mâu thuẫn cơ bản trên thế giới và xu thế thời đại
đặt ra nhiệm vụ cho giai cấp công nhân mỗi nước phải biết kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh của thời địa, kết hợp nội lực với sự đồng tình, ủng hộ quốc tế và
xu thế phát triển của thời đại. Thông tin đối ngoại tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ này.
1.4. Thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
Thông tin đối ngoại được tuyên truyền trên các kênh sóng chủ yếu tập trung vào
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là các chính sách đối
ngoại, quan điểm của Việt Nam về các vấn đề quốc tế và khu vực; thông tin quảng
bá hình ảnh đất nước, thông tin thu hút kinh tế đầu tư nước ngoài, xúc tiến du lịch,
thương mại, hội nhập quốc tế; đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về chủ quyền biển,
đảo, biên giới của Việt Nam; tích cực đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái,
xuyên tạc của các thế lực thù địch về tình hình Việt Nam; quảng bá tiềm năng, vẻ
đẹp của đất nước, con người Việt Nam; phản ánh chân thực, kịp thời về đời sống
của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bám sát hơi thở cuộc sống của bà
con Việt Kiều, tìm hiểu những tâm tư, nguyện vọng và cả những đóng góp của
Kiều bào đối với quê hương, đất nước…
Cùng với sự đổi mới của các cơ quan chỉ đạo, quản lý, công tác thông tin đối ngoại
trên hệ thống phát thanh, truyền hình đã chủ động đổi mới nội dung, phương thức
triển khai. Các chương trình được thực hiện bằng các thể loại khác nhau, được
chọn lọc phù hợp với tiêu chí thông tin đối ngoại như chương trình thời sự, chuyên
mục về thông tin đối ngoại, ký sự, phim tài liệu, phim truyện, chương trình nghệ
thuật…Nhiều chương trình nổi bật luôn được khán,thính giả trong và ngoài nước
yêu thích như: “Núi sông bờ cõi”, “Chân dung cuộc sống”, “Góc nhìn”, “Việt Nam
và Thế giới”, “Cội nguồn thương nhớ” của Đài Truyền hình Việt Nam; Chương
trình “Kết nối thương hiệu Việt”, “Văn hóa ẩm thực Việt Nam”, “Top Việt Nam”,
“Một ngày làm người Việt”, “Học tiếng Việt”, “Người Việt bốn phương” của Đài
Truyền hình KTS VTC; Chương trình “Khám phá Việt Nam”, “Sắc màu 54 dân
tộc Việt Nam”, “Văn hóa Việt Nam”, “Kinh tế Việt Nam”, “Đời sống xã hội”,
“Con người Việt Nam”, “Phóng sự thứ bảy”, “Quốc gia khởi nghiệp”, “Hương vị
quê nhà”, “Người Viê •t muôn phương”, “Lunch Show 24/7”, “Sunday Show”, “Ẩm
thực Viê •t Nam”, “Việt Nam và đối tác”, “Mái nhà ASEAN”, “Quan hê • Viê •t
Trung”, “Cửa sổ Việt Nam”, “Cộng đồng Pháp ngữ”, “Cửa sổ bạn trẻ”,… của Đài Tiếng nói Việt Nam.
Phát huy tính chủ động, các kênh phát thanh, truyền hình đối ngoại chuyên biệt
luôn chú trọng đảm bảo phát huy hiệu quả trong công tác tuyên truyền đối ngoại.
Với sự phát triển nhanh và mạnh của công nghệ, Internet và mạng xã hội, xu thế
phát triển của các kênh chương trình đang hướng đến là chú trọng tăng cường các
ứng dụng Internet trong sản xuất, phát sóng và phân phối chương trình. Nếu như
trước đây phát sóng bằng vệ tinh là phương thức chủ yếu, thì từ những năm gần
đây, nhiều Đài PTTH đã phát triển các ứng dụng (app), trang mạng (website) và
tận dụng mạng xã hội như Youtube, Facebook, Twitter, Instagram… giúp khán giả
tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện. Chương 2
Đặc điểm của công tác thông tin đối ngoại trong báo nói trong hoạt động đối
ngoại của Đảng và Nhà nước ta
2.1. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về thông tin đối ngoại
qua kênh báo chí nói chung và báo nói nói riêng.
2.1.1. Lực lượng, phương thức, phương châm
- Lực lượng và phương thức thông tin đối ngoại
Nhiều chủ trương, chính sách, các sự kiện trọng đại của đất nước; quan điểm của
Việt Nam đối với những vấn đề khu vực và quốc tế; hình ảnh đất nước, con người,
lịch sử, văn hóa của dân tộc; những thành tựu của Việt Nam trong công cuộc đổi
mới... được cung cấp kịp thời, tạo thế chủ động trên mặt trận thông tin tuyên
truyền. Thông tin bằng tiếng nước ngoài được tăng cường; thông tin về thành tựu
bảo đảm quyền con người của Việt Nam, sự tham gia tích cực và chủ động của
Việt Nam vào những hoạt động của các tổ chức Liên hợp quốc về quyền con
người; thông tin kịp thời về những vấn đề, vụ việc liên quan đến tôn giáo, dân tộc,
dân chủ, nhân quyền, công tác bảo hộ công dân Việt Nam... qua đó chủ động ngăn
chặn, đấu tranh phản bác những thông tin sai sự thật.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại
vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đó là nhận thức về thông tin đối
ngoại vẫn chưa đầy đủ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị trong việc triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại. Công tác theo dõi,
nắm bắt, dự báo tình hình còn chưa kịp thời, lượng thông tin còn mỏng; hình thức
tuyên truyền còn chưa thực sự phù hợp với nhiều đối tượng; việc kết hợp giữa
thông tin đối ngoại với thông tin đối nội, giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà
nước, đối ngoại nhân dân, giữa các cơ quan Trung ương với địa phương, giữa trong
nước với các địa bàn nước ngoài vẫn còn thiếu đồng bộ; chưa tận dụng hiệu quả
công nghệ, phương tiện truyền thông hiện đại...
Cần tiếp tục đổi mới nội dung tuyên truyền thông tin đối ngoại, nâng cao hiệu quả
công tác thông tin đối ngoại theo phương châm "Chính xác, kịp thời, linh hoạt, phù
hợp với từng đối tượng"; chú trọng công tác nghiên cứu, nắm bắt, dự báo tình hình
quốc tế và khu vực làm cơ sở chỉ đạo, định hướng thông tin đối ngoại; đa dạng hóa
các hình thức tuyên truyền, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí đối ngoại chủ
lực, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường các kênh thông tin bằng
tiếng nước ngoài; sử dụng các phương tiện truyền thông mới, nhất là các mạng xã
hội vào mục đích thông tin, tuyên truyền đối ngoại một cách kịp thời và hiệu quả;
nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực
cơ hội, thù địch; làm tốt công tác phát ngôn, chủ động hơn trong việc cung cấp
thông tin, đấu tranh dư luận.
2.1.2. Đối tượng, địa bàn
Thông tin đối ngoại qua báo nói góp phần giới thiệu đất nước, con người, văn hóa
Việt Nam tới bạn bè quốc tế, giới thiệu và cập nhật kịp thời tình hình trong nước
trên nhiều lĩnh vực cho các đối tác bên ngoài, đồng thời đưa tin và góp phần định
hướng dư luận về những vấn đề bức xúc, các điểm nóng trên thế giới, giúp cho
người dân trong nước có được bức tranh chung về tình hình quốc tế trong từng thời điểm cụ thể.
2.2. Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta
2.2.1. Công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói giai đoạn 1945 đến nay
Ban Đối ngoại (VOV5) của Đài Tiếng nói Việt Nam phát sóng chương trình đầu
tiên bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Quảng Đông vào ngày 7/9/1945, năm ngày
sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng Hoà, nay là nước CHXHCN Việt Nam. Sau đó, VOV5 phát
thêm tiếng Bắc Kinh, quốc tế ngữ (Esperanto). Trong suốt thời kỳ kháng chiến
chống Pháp (từ 1945-1954), Đài Tiếng nói Việt Nam tiếp tục pháp phát các
chương trình tiếng Pháp, Anh, Quảng Đông, Bắc Kinh và phát thêm tiếng Lào vào
năm 1954, bỏ phát Quốc tế ngữ. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ (từ 1955-
1975), VOV5 đã phát thêm các chương trình tiếng Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia,
Campuchia, Tây ban Nha, Nga, Triều Tiên. Chương trình phát thanh tiếng Việt
dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc ra đời ngày 16/8/1981 và ngày
1/3/2006, Hệ Phát thanh Đối ngoại quốc gia chính thức phát sóng chương trình tiếng Đức.
Năm 1998, Chương trình phát thanh FM dành cho người nước ngoài sinh sống và
làm việc tại Việt Nam ra đời. Ban đầu chỉ phát các chương trình tiếng Anh và tiếng
Pháp, sau đó phát tất cả 12 thứ ngữ ở khu vực Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh.
Hiện nay, VOV5 duy trì 12 chương trình phát thanh bằng các thứ tiếng: Anh, Pháp,
Nga, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Lào, Thái Lan, Campuchia,
Indonesia và tiếng Việt dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc. Các chương
trình phát trên sóng FM 105.5 MHz tại Hà Nội và trên sóng 105.7 MHz tại Thành
phố Hồ Chí Minh và Quảng Ninh. VOV5 phát trên sóng ngắn, sóng trung hướng
sang Châu Âu, Đông Bắc Mỹ, Tây Bắc Mỹ, một phần Trung Mỹ, Đông Nam Á,
Đông Bắc Á, một phần Châu Phi và phát trên Internet tại địa chỉ
http://vovworld.vn hoặc http://vov5.vn (trang thông tin điện tử đối ngoại). Trang
thông tin điện tử đối ngoại vovworld.vn văn bản hóa các chương trình phát thanh
hàng ngày bằng 12 thứ tiếng: Việt, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Bắc
Kinh, Đức, Lào, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, phát trực tiếp các chương trình
phát thanh và treo các chương trình phát thanh nói trên trong vòng 7 ngày. Ngoài
ra, trang thông tin này còn có các phóng sự ảnh, tin truyền hình, video clip giới
thiệu đất nước, con người, văn hóa, phong tục tập quán Việt Nam…Trang web còn
mở các chuyên mục riêng để đáp ứng yêu cầu tuyên truyền các sự kiện đặc biệt
như: 40 năm Điện Biên Phủ trên không, xây dựng nông thôn mới, du lịch Việt
Nam hội nhập và phát triển… Trang web vovworld.vn đã nối dài cánh sóng đối
ngoại của Đài Tiếng nói Việt Nam đến những vùng, khu vực trên thế giới mà sóng
ngắn không đến được. Trang web cũng góp phần đưa thính giả gần hơn với Đài
Tiếng nói Việt Nam, tăng cường kết nối giữa thính giả và những người làm chương trình.
Ngày 7/9/2018 chương trình Tiếng Hàn quốc chính thức phát sóng.
Từ ngày 1/10/2015, Ban Đối ngoại chính thức phát sóng Kênh Phát thanh tiếng
Anh 24/7 trên tần số 104 MHz, phục vụ thính giả nước ngoài tại các châu lục,
người Việt Nam ở nước ngoài, người Việt Nam biết tiếng Anh và người nước
ngoài đang sinh sống, làm việc và du lịch tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đời sống hiện đại hiện nay, phát thanh vẫn là phương tiện thông tin
đại chúng có khả năng xã hội hóa thông tin cao nhất, nhanh nhất, đạt hiệu quả nhất.
Với lợi thế máy móc gọn nhẹ, có thể xách tay đi lưu động, với khả năng truyền
cảm cao, phát thanh có thể thỏa mãn nhu cầu của công chúng trong một thế giới
hiện đại, năng động, biến đổi hàng ngày hàng giờ. Và ở nước ta hiện nay, phát
thanh vẫn đang là người banh tin cậy và gần gũi với tất acr mọi người.
2.3. Khó khăn trong công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
Đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin đối ngoại chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm,
chưa được đào tạo chính quy về thông tin đối ngoại, kinh nghiệm quản lý nhà nước
và trình độ ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu. Chất lượng đội ngũ báo cáo
viên, tuyên truyền viên về công tác thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển, đảo và
phân giới, cắm mốc còn hạn chế. Công tác thông tin đối ngoại vẫn còn nhiều khó
khăn do một số cấp ủy, cán bộ và nhân dân nhận thức về vai trò của thông tin đối
ngoại còn hạn chế; Kinh phí đầu tư cho công tác thông tin đối ngoại, tuyên truyền
biển, đảo, phân giới, cắm mốc còn hạn chế. Công tác đấu tranh phản bác thông tin
sai sự thật, quan điểm sai trái còn hạn chế, chậm ứng dụng các thành tựu công nghệ
hiện đại (mạng internet, truyền hình cáp…) vào hoạt động thông tin; công tác chỉ
đạo, phối hợp hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong công tác thông tin đối ngoại
đôi lúc chưa chặt chẽ. Đó là những hạn chế trong thực hiê •n công tác thông tin đối ngoại thời gian qua. Chương 3
Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thông tin đối ngoại qua kênh báo
nói trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
3. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của thông tin đối ngoại trong báo
nói trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta giai đoạn hiện nay.
Qua quá trình nghiên cứu và đánh giá thực tiễn của hoạt động thông tin đối ngoại
qua kênh báo nói, có thể thấy rằng từ năm 1986 đến nay, vai trò của công tác thông
tin đối ngoại trong hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước đã được nhận thức
đầy đủ và rõ nét hơn, góp phần thực hiện tốt công tác thông tin đối ngoại trong cả
nước. Tuy nhiên hiệu quả mang lại không cao bởi vẫn tồn tại nhiều hạn chế trong
công tác chỉ đạo cũng như trong việc thực hiện.
Để nâng cao hơn nữa vai trò của công tác Thông tin đối ngoại qua kênh báo nói
trong thời gian, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
3.1. Đối với các cấp độ Đảng và lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại.
- Cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của
Đảng và Chính quyền đối với công tác thông tin đối ngoại noi chung và việc
thực hiện công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói nói riêng. Để tăng
cường hiệu quả lãnh đạo của Đảng, cần đổi mới phương thức lãnh đạo đối
với công tác thông tin đối ngoại bằng việc quy định cụ thể trách nhiệm cho
từng cơ quan; kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác này dưới nhiều hình
thức. Xây dựng và hoàn thiện chiến lược Quốc gia về thông tin đối ngoại
trong từng giai đoạn cụ thể, thể hiện trong việc định hướng, cụ thể hóa và
quy định chặt chẽ hơn nữa trong các văn bản chỉ đạo hoạt động thông tin đối
ngoại cho các cơ quan chuyên trách.
- Cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thông tin đối ngoại trong toàn
bộ công tác đối ngoại của Đảng và nhà nước ta. Không ngừng trau dồi, nâng
cao nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Không ngừng trau dồi,
nâng cao nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra. Không ngừng
trau dồi ngoại ngữ và các kiến thức khác để tiếp cận, nắm bắt và xử lý thông
tin nhanh nhạy, chính xác. Cần xây dựng. tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng
lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại một cách chính quy, bài bản, có
hệ thống, đảm bảo đội ngũ cán bộ kế thừa có bãn lĩnh chính trị vừng vàng;
trung thành với Đảng, với Chủ nghĩa Mác- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; có
trình độ nghiệp vụ cao, nhạy bén chính trị, chủ động nắm bắt kịp thời yêu
cầu của các đối tượng cần được thông tin. Hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở
vật chất, trang thiết bị, giáo trình và đội ngũ giảng viên cho các các cơ sở
đào tạo về thông tin đối ngoại. Có cơ chế đãi ngộ thỏa đáng cho những cán
bộ làm công tác thông tin đối ngoại.
Ngoài ra, cần phải đổi mới, nâng cao nội dung, hình thức, chất lượng của các
phương tiện truyền thông đại chúng.
3.2. Đối với Đài tiếng nói Việt Nam
- Đài tiếng nói Việt Nam phải thể hiện tính tư tưởng, tính chiến đấu cao, sắc
bén. Bởi phát thanh đối ngoại không chỉ nói rõ chủ trương, chính sách pháp
luật của Nhà nước ta với các nước khác trên thế giới; không chỉ phản ánh
trung thực công cuộc đổi mới, những thành tựu, vấn đề đang giải quyết mà
quan trọng là phải khẳng định rõ quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng ta đối với những vấn đề đối nội, đối ngoại và thời cuộc. Đài
phát thanh, phương tiện thông tin nhanh nhất, phải là cơ quan đại chúng đầu
tiên truyền đi rành mạch, công khai quan điểm, đường lối của Đảng về các
vấn đề trong nước và quốc tế. Cũng như ở ngoài mặt trận, phải nhanh chóng
và kịp thời mới tranh thủ được thời cơ, chiếm lĩnh được trận địa. Như vậy,
nhanh nhạy đã mang tính chiến đấu cao.
- Đài phải góp phần đắc lực trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ cơ sở. Bởi ưu việt hơn các loại báo
chí khác, Đài tiếng nói Việt Nam có thể phát suốt ngày đêm, đến được
những vùng sâu xa nhất, đến được với những người không biết chữ, những
người khiếm thị… cho nên mặt sóng của Đài như tờ báo rộng lớn về thời
gian, không gian, thuận tiện thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra”. Do đó Đài cần cố gắng phát huy thế mạnh của mình.
- Đài phải mạnh dạn, kiên quyết đổi mới, ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại vào các hoạt động, mà cốt từ là xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên có
bản lĩnh, năng động, sáng tạo. Bởi nói tới phát thanh hiện tại là nói tới tính
chất nhanh nhạy, kịp thời, liên tục, sống động, hiệu quả, sáng rõ, chất lượng
âm thanh phải đẹp, hấp dẫn người nghe. Trong phát thanh, giọng nói là quan
trọng, sao cho qua giọng nói thể hiện được hết nét đẹp văn hóa Việt Nam.
- Khi nói đến đổi mới đi lên hiện đại không thể nói suống mà phải bắt tay vào
làm ngay. Công cuộc đổi mới đòi hỏi tác phong làm việc khẩn trương và
hiệu quả, nói đi đôi với làm. Do đó, cần xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ
có bản lĩnh chính trị, có chuyên môn nghiệp cụ, có lòng yêu nghề, năng
động và sáng tạo trong công việc. Tóm lại, Đài cần phải cố gắng đổi mới
hơn nữa cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ để nhanh chóng đi vào công
nghệ phát thanh hiện đại. KẾT LUẬN
Thông tin đối ngoại qua báo nói, đó là hệ thống tải tin tức, sự kiện của tất cả các
lĩnh vực, các ngành cũng như đời sống sinh hoạt của một đất nước ra bên ngoài
thông qua kênh báo nói. Đối tượng thông tin ở đây có thể là từ trong nước qua
kênh báo nói thông tin sang nước khác, hoặc là thông tin báo nói tới người nước
ngoài đến nước mình. Trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước ta, đây là một vấn đề
quan trọng cần được quan tâm đúng mức nhằm giúp cho bạn bè thế giới hiểu đúng
chúng ta, và những thông tin phản hồi từ họ, cũng là cơ sở tham khảo cần thiết để
Việt Nam xây dựng chính sách được tốt nhất quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Thực tế cuộc sống cho thấy báo nói đx thực hiện khá tốt công tác
thông tin đối ngoại trong hoạt động trong hoạt động của Đảng và Nhà nước ta.
Trong điều kiện có rất nhiều phương tiện thông tin như hiện nay, Đài tiếng nói Việt
nam và toàn ngành phát thanh nước ta vẫn và sẽ là một vũ khí sắc bén và quan
trọng của Đảng và Nhà nước trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Đến nay, làn song Đài
Tiếng nói Việt Nam đã vươn tới các nước châu Á, châu Úc, châu Âu, Bắc Mỹ,…
Đài đang tiếp tục mở rộng hệ thống phát thanh, mạng lưới tổ chức, đội ngũ cộng
tác viên, thông tin viên; các cơ quan thường trú trong nước và ngoài nước. Điều
này cho thấy, Đài đã rất chú ý đến tính toàn diện, tính toàn quốc, tính chiến đấu
của một đài quốc gia, đảm bảo đặc trưng tính chất của một tờ báo nói. Rõ ràng,
cùng với sự đổi mới và phát triển của báo chí nói chung, Đài tiếng nói Việt Nam và
toàn ngành phát thanh nước ta ngày càng có những bước phát triển và trưởng
thành, đóng góp quan trọng vào công tác tư tưởng của Đảng, phục vụ tốt nhiệm vụ
chính trị của đất nước.
Tóm lại, công tác thông tin đối ngoại qua kênh báo nói trong hoạt động đối ngoại
của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã được đẩy mạnh cả về lượng và chất. Trong