Công tác thông tin đối ngoại về nhân quyền tại Việt Nam hiện nay | Tiểu luận Thông tin đối ngoại

Là một bộ phận quan trọng trong đường lối, tư tưởng ngoại giao của Đảng, đất  nước và nhân dân ta, thông tin đối ngoại có nhiệm vụ quan trọng, làm cho nhân  dân, chính phủ các nước, người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam,  đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài hiểu về đất nước. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
37 trang 2 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Công tác thông tin đối ngoại về nhân quyền tại Việt Nam hiện nay | Tiểu luận Thông tin đối ngoại

Là một bộ phận quan trọng trong đường lối, tư tưởng ngoại giao của Đảng, đất  nước và nhân dân ta, thông tin đối ngoại có nhiệm vụ quan trọng, làm cho nhân  dân, chính phủ các nước, người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam,  đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài hiểu về đất nước. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

17 9 lượt tải Tải xuống
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
QUYỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
HỌ VÀ TÊN: HỒ MINH ANH
MÃ SINH VIÊN: 20561420003
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Ths. Đỗ Thị Hùng Thúy
Hà Nội, tháng 12 – năm 2021
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin được cảm ơn Ts Bùi Thị Vân - Giảng viên bộ
môn. Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn, không chỉ em mà còn là cả tập
thể lớp QHQT&TTTC K40 đã luôn được tận tình chỉ bảo, quan tâm, hướng
dẫn. Sự đam mê với ngành nghề và tận tụy với sinh viên mà cô mang đến với lớp
em điều bọn em cùng biết ơn trân trọng. không chỉ người dẫn
dường để chúng em đến với kiến thức; còn người truyền cảm hứng,
truyền niềm say mê với nghề cho chúng em.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Học
viện Báo chí và Tuyên truyền vì đã tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất với hệ
thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm
kiếm, nghiên cứu thông tin.
Bài tiểu luận hết học phần này của em chính những kiến thức em đã
tích lũy được trong suốt kỳ học qua. Em đã đang sẽ cố gắng hết sức mình
trong việc hiểu, vận dụng và truyền đạt lại những gì đã tiếp thu. Tuy vậy, do giới
hạn kiến thức khả năng luận của bản thân còn nhiều thiếu sót hạn chế,
kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy, cô để bài luận văn của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Hồ Minh Anh
2
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................2
MỤC LỤC.............................................................................................................3
MỞ ĐẦU...............................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................5
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................6
2.1 Mục đích nghiên cứu................................................................................6
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................6
3. Kết cấu đề tài................................................................................................6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN.........................7
1.1 Thông tin đối ngoại....................................................................................7
1.1.2 Khái niệm..............................................................................................7
1.1.3 Tầm quan trọng.....................................................................................7
1.1.4 Nội dung cơ bản....................................................................................8
1.2 Vấn đề nhân quyền.....................................................................................9
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng.........................................................................9
1.2.2 Nội dung cơ bản..................................................................................10
1.2.3 Các tổ chức và văn bản bảo vệ nhân quyền quốc tế............................11
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
QUYỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.............................................................12
2.1 Khái quát vấn đề nhân quyền tại Việt Nam...........................................12
2.1.1 Thực trạng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.......................................12
2.1.2 Đánh giá của một số tổ chức quốc tế..................................................13
2.2 Chủ trương về công tác thông tin đối ngoại các vấn đề nhân quyền của
chính phủ Việt Nam.......................................................................................14
2.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước....................................14
2.2.1 Vấn đề nhân quyền trong pháp luật Việt Nam....................................16
3
2.3 Chính sách của Việt Nam về nhân quyền..............................................18
2.3.1 Chính sách đối nội...............................................................................18
2.3.2 Chính sách đối ngoại...........................................................................24
2.4 Thành tựu và tồn tại................................................................................26
2.4.1 Thành tựu............................................................................................26
2.4.2 Tồn tại.................................................................................................28
CHƯƠNG 3: ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ
NHÂN QUYỀN TRONG THỜI KỲ MỚI.......................................................30
3.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục về quyền con người
tại Việt Nam trong thời gian tới.......................................................................30
3.2 Tăng cường chế phối hợp, chia sẻ thông tin trong nước khu vực
trong việc bảo đảm, thực hiện và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền............30
3.3 Chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề nhân quyền tại
các cơ chế và diễn đàn đa phương...................................................................31
3.4 Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan trong nước và quốc tế, thường xuyên
cung cấp thông tin............................................................................................31
3.5 Nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền để chống
phá Việt Nam....................................................................................................32
KẾT LUẬN.........................................................................................................33
4
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
một bộ phận quan trọng trong đường lối, tưởng ngoại giao của
Đảng, đất nước nhân dân ta, thông tin đối ngoạinhiệm vụ quan trọng, làm
cho nhân dân, chính phủ các nước, người nước ngoài sinh sống làm việc tại
Việt Nam, đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người
Việt Nam, chống dư luận hội, chống vu cáo, xuyên tạc về Việt Nam, để đồng
bào hiểu biết về thế giới, trên sở đó sẽ phấn đấu, nhận được sự đồng thuận,
ủng hộ của các nước và các dân tộc trên thế giới, nỗ lực đóng góp của cộng đồng
người Việt Nam nước ngoài vào công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Khi
xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng trên các lĩnh vực, nhu cầu cung cấp
thông tin từ Việt Nam ra thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam ngày càng lớn
và cấp thiết.
Không chỉ nước ta tất cả các nước trên thế giới hiện nay, một
trong những vấn đề luôn cần được quan tâm trong công tác thông tin đối ngoại
có thể nói là vấn đề quyền con người. Quyền con người là quyền của con người,
bao gồm các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do,
quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền con người bao gồm các quyền chính trị, kinh
tế, văn hóa, dân sự, xã hội và pháp lý phải được thừa nhận và bảo vệ.
Việc hiểu thực hiện tốt công tác tuyên truyền về các vấn đề nhân
quyền sẽ tạo một bước tiến vững chắc cho việc xây dựng hình ảnh Việt Nam về
hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển, phấn đấu hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ tiến bộ hội.vậy, để hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần
tích cực đẩy mạnh các hoạt động công khai đối ngoại về vấn đề này. Không chỉ
vậy, đây còn quyền lợi của người dân Việt Nam, họ cần được hiểu quyền
con người càng được tôn trọng và phát huy hơn bao giờ hết, nhân dân mới thực
sự làm chủ đất nước, tự quyết định con đường phát triển của mình. Trước Báo
5
cáo Nhân quyền năm 2020 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Người phát ngôn Bộ
Ngoại giao Việt Nam Thị Thu Hằng đã từng khẳng định: Chính sách nhất
quán của Việt Nam tôn trọng, bảo vệ thúc đẩy các quyền của người dân.
Các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này thời gian qua đã được
cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao” .
(1)
Nhận thức được tầm quan trọng tính cấp thiết của vấn đề, em đã
chọn đề tài “Công tác thông tin đối ngoại về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận hết môn Thông tin đối ngoại.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, em mong muốn nhận thức, tìm hiểu phân
tích công tác thông tin đối ngoại về nhân quyền tại Việt Nam hiện nay, thông
qua nội dung bản, tầm quan trọng chủ trương, phương hướng của Đảng,
Nhà nước Việt Nam. Từ đó chỉ ra một số bài học và đề xuất phương hướng phát
triển của Việt Nam.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm các vấn đề liên quan đến đề tài như Thông tin đối ngoại, Vấn đề
Nhân quyền trên thế giới và Việt Nam,…
Chỉ ra thực trạng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.
Nêu chủ trương chính sách về vấn đề nhân quyền của Đảng và Nhà
nước ta.
Nêu lên một số thành tựu nổi bật trong công tác thông tin đối ngoại vấn đề
nhân quyền.
Đề xuất một số phương hướng trong thời gian tới.
3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luậndanh mục tài liệu tham khảo; tiểu luận
gồm 3 chương và 11 tiết
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN
1.1 Thông tin đối ngoại
1.1.2 Khái niệm
Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng
đối ngoại của Đảng, Nhà nước nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công cuộc đổi
mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giá trị vật chất
tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên
tạc, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân ta hiểu về thế giới; đồng thời
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn quốc tế, sự đồng
thuận và đóng góp của đồng bào ta nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng
bảo vệ Tổ quốc.
1.1.3 Tầm quan trọng
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, không một quốc gia nào có thể
tồn tại phát triển nếu không mở cửa giao lưu với các nước trên thế giới.
Trên con đường hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia cần hiểu thế giới ngày càng sâu,
rộng, toàn diện, mặt khác cũng rất cần thế giới để thế giới ngày càng hiểu mình
hơn, để hiểu bản thân nhiều hơn. Và tăng hội hợp tác để phát triển chung.
vậy, nhu cầu cung cấp thông tin từ trong nước ra quốc tế và đưa thế giới đến với
người dân ngày càng cấp thiết.
Đối với Việt Nam, thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong
hoạt động đối ngoại và tư tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông tin đối
ngoại giúp thế giới hiểu về đất nước con người Việt Nam, hiểu được những
giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam, về đường lối, sự nghiệp, chính
sách thành tựu của Việt Nam, về mục tiêu của Việt Nam. Trên sở này,
chúng ta sẽ xác lập thêm quan hệhợp tác với Việt Nam. Thông tin đối ngoại
còn giúp xây dựng hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển,
7
đồng thời đang góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thông tin đối ngoại
cũng giúp cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về thế giới, đón nhận những thành tựu
khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất cùng những tinh hoa
văn hóa
Trong bối cảnh tình hình quốc tế thời thách thức đang đan xen
nhau, các quốc gia vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để bảo vệ, thỏa mãn
phát triển lợi ích của mình. Thông tin đối ngoại góp phần đấu tranh bảo vệ chủ
quyền quốc gia, làmquan điểm của Việt Nam về các vấn đề quốc tế, các vấn
đề xung đột hợp tác, các vấn đề toàn cầu như môi trường, dân số, bệnh tật
các vấn đề khác như dân chủ, nhân quyền, tôn giáo. Thông tin đối ngoại đấu
tranh luận, phê phán, bác bỏ những thông tin sai lệch, những luận điệu bôi
xấu, xuyên tạc về Việt Nam, giúp luận hiểu đúng đắn tình hình Việt Nam
cũng như quốc tế.
Bên cạnh đó, thông tin đối ngoại góp phần xây dựng tình đoàn kết quốc
tế giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Những mâu thuẫn
bản trên thế giới xu thế thời đại đặt ra nhiệm vụ cho giai cấp công nhân
mỗi nước phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, kết hợp
nội lực với sự đồng tình, ủng hộ quốc tế và xu thế phát triển của thời đại. Thông
tin đối ngoại tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ này.
1.1.4 Nội dung cơ bản
Thứ nhất, thông tin, giới thiệu rộng rãi về chủ trương, đường lối của
Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, những thành tựu của công cuộc đổi
mới đất nước. Thứ hai, giới thiệu, quảng hình ảnh đất nước, con người, lịch
sử, văn hóa của Việt Nam. Thứ ba, đấu tranh với những thông tin sai lệch, luận
điệu xuyên tạc về Việt Nam, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia. Thứ tư, tăng cường thông tin quốc tế cho nhân dân trong nước.
8
1.2 Vấn đề nhân quyền
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng
thể khái quát, quyền con người các đặc quyền tự nhiên, bắt
nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc
gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và
quốc tế.
Quyền con người có một số đặc trưng như:
Tính phổ biến
Tính phổ biến tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo
thể hiện chỗ quyền con người thuộc về tất cả mọi người, không phân biệt đối
xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, địa vị xã hội, tôn giáo, hoàn cảnh
kinh tế, khu vực địa lý. Tính phổ biến là bản chất của quyền con người.
(2)
Tính không thể chuyển nhượng
Quyền con người tính không thể chuyển nhượng thuộc sở hữu vốn
của con người; không phải sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt. Mọi giới hạn,
hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và
chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của
nhân khác.
(2)
Tính không thể phân chia
Tính không thể phân chia được thể hiệnchỗ các quyền con người đều tầm
quan trọng như nhau, không quyền nào được coi đặc quyền, giá trị cao
hơn quyền khác. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu
cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.
(2)
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Tính liên hệ phụ thuộc lẫn nhau được thể hiện chỗ các quyền con người,
mặc trong phạm vi rộng, nhiều lĩnh vực song đều nằm trong một chỉnh thể
thống nhất chúng luôn phụ thuộc vào nhau. Việc bảo đảm các quyền con
người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc tác động lẫn
9
nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực
đến việc bảo đảm các quyền khác, ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một
quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền
khác.
(2)
1.2.2 Nội dung cơ bản
Theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, con người ba
nhóm quyền bản bao gồm Quyền dân sự, Quyền chính trị Quyền Kinh tế,
Xã hội và Văn hóa .
(3)
Quyền dân sự
Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận là con người bình đẳng về
phẩm cách và quyền lợi.
Quyền sống, tự do và an toàn thân thể, không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch.
Quyền không bị tra tấn hay chịu hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, nhân
đạo, làm hạ thấp nhân phẩm.
[…]
Quyền chính trị
Quyền tìm nơi tị nạn được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác khi bị
đàn áp.
Quyền có quốc tịch và không bị tước quốc tịch.
Quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình trực tiếp hoặc qua các đại biểu
do mình tự do lựa chọn.
[…]
Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
Quyền được hưởng an sinh hội đòi được hưởng những quyền kinh tế,
hội và văn hoá cần thiết
Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều
kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp
10
Quyền được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử cho những công việc
ngang nhau
[…]
1.2.3 Các tổ chức và văn bản bảo vệ nhân quyền quốc tế
Trước tiên cần nhắc đến Liên Hợp Quốc, đây là cơ quan liên chính phủ
đa phương duy nhất quyền xét xử quốc tế được chấp nhận rộng rãi về pháp
chế nhân quyền chung. Có rất nhiều các ủy ban ở trong Liên Hợp Quốc trách
nhiệm bảo vệ các hiệp ước nhân quyền khác nhau. Nhìn chung, Liên Hợp Quốc
được quốc tế ủy thác về: “..thực hiện hợp tác quốc tế về giải quyết các vấn đề
quốc tế như kinh tế, hội, văn hóa, hay nhân quyền, về xúc tiến khuyến
khích việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho mọi người không
phân biệt sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo”
(4).
Bên cạnh đó còn những cái tên tiêu biểu như: Phong trào Chữ thập
đỏ là tổ chức theo nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất trên thế giới, thường được gọi
Hội Chữ thập đỏ hay Hội Hồng thập tự; Tổ chức Ân Quốc tế một tổ chức
phi chính phủ quốc tế, đặt ra mục đích bảo vệ tất cả quyền con người đã được
trịnh trọng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền các chuẩn mực
quốc tế khác; hay Tổ chức Theo dõi Nhân quyền với mối quan tâm tập trung vào
việc điều tra và tường thuật về những hành động họ cho là vi phạm nhân quyền.
Về các văn bản nhân quyền quốc tế, hiến chương Liên Hợp Quốc đã
dành nhiều đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy định nghĩa vụ trách nhiệm
của Liên Hợp Quốc trong việc bảo vệ thúc đẩy tôn trọng các quyền quyền
tự do bản của con người. Cùng đó Tuyên ngôn nhân quyền (1948), được
đánh giá một trong những thành tựu lớn đạt được của Liên Hợp Quốc ý
nghĩa lịch sử đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước
dân tộc về các quyền con người. Điều đó đã đặt nền móng cho Bộ luật quốc tế về
nhân quyền ra đời đến nay phát triển thành 24 Công ước quốc tế về nhân
11
quyền trong đó quan trọng nhất 2 Công ước 1966 về các quyền dân sự, chính
trị và về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội.
12
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
QUYỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái quát vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới tiếp cận Nhân quyền
hay Quyền con người rất sớm. Nhìn lại lịch sử, trước năm 1945, người dân Việt
Nam từng không hề được hưởng các quyền công dân, quyền con người. Sau
Cách mạng tháng Tám (1945); đặc biệt, sự kiện ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ ta trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới rằng:Tất
cả mọi người sinh ra đều quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, quyền được sống,
quyền tự do quyền mưu cầu hạnh phúc
(5)
. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn
mạnh nhân quyền chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự
do của dân tộc. Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập nước đến nay nhất quán
một khẩu hiệu: ”. Nghĩa mục tiêu trước sau củaĐộc lập -Tự do-Hạnh phúc
dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do,
dân sinh hạnh phúc.
Những năm khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng
chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó bản chất, mục tiêu nhất
quán của một Nhà nước của dân, do dân, dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Chính sách của ĐảngChính phủ phải hết sức chăm nom đến
đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng Chính phủ lỗi; nếu dân rét
Đảng Chính phủ lỗi; nếu dân dốt Đảng Chính phủ lỗi; nếu dân
ốm là Đảng Chính phủ lỗi
(6)
. Trong mọi giai đoạn lịch sử, Việt Nam luôn
nhất quán mục tiêu, chính sách tất cả con người, một nước Việt Nam dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
không ngừng nỗ lực để người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền và tự do cơ
13
bản của con người, đồng thời coi trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết giữa các quốc gia.
Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách
mạng nước ta đã giành những thắng lợi ý nghĩa lịch sử đại. Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta, dân tộc ta thoát khỏi vòng lệ, kìm kẹp của chế độ phong
kiến, thực dân, trở thành một dân tộc độc lập, tự do. Đó chính là giá trị dân chủ,
nhân quyền vĩ đại nhất mà Đảng ta đã giành lại được cho nhân dân, cho dân tộc.
Chưa bao giờ, quyền được sống, quyền ăn, mặc, nhà
quyền tham gia về chính trị, văn hóa, quyền về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức
khỏe, quyền tự do kinh doanh hay những quyền tự do ứng cử, thể hiện quan
điểm trong xã hội, được cởi mở như bây giờ. Hiện nay, Đảng đang lãnh đạo toàn
diện công cuộc đổi mới đất nước và đạt được những thành tựu quan trọng; trong
đó thành tựu về lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác
định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ
thống chính trị. Trên thực tế, nhân dân ta đã có quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống hội, đó những bước tiến lớn trên con đường xây dựng
những giá trị dân chủ và nhân quyền đích thực và đã được cộng đồng quốc tế ghi
nhận, đánh giá cao.
Tuy thế, với giá trị pháp - nhân văn quan trọng, nhân quyền luôn
mục tiêu các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân
quyền” để can thiệp vào nội bộ ta, làm suy yếu niềm tin vào sự lãnh đạo của
Đảng, tiến tới lật đổ chế độ hội chủ nghĩa. Trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, luận điệu “Việt Nam vi phạm quyền con người” luôn được lợi dụng,
suy diễn, xuyên tạc bởi bất cứ một hiện tượng, vấn đề bức xúc nào xảy ra trong
xã hội.
14
2.1.2 Đánh giá của một số tổ chức quốc tế
Trong báo cáo năm 2009, Tổ chức UNPO nói rằng nhìn chung, mặc dù
vẫn còn nhiều bất cập trong thực hiện nhưng chính quyền Việt Nam nên được
khen ngợi vì đã đưa một số quyền cơ bản như tự do tôn giáo vào trong hiến pháp
quốc gia và đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền con người .
(7)
Trong báo cáo của mình giải trình tại Hội thảo của Hội đồng liên hợp
quốc về nhân quyền, Chính phủ Việt Nam liệt những thành quả đã đạt được
cũng như các mặt chưa đạt được trong vấn đề nhân quyền của Việt Nam .
(8)
Tuy nhiên báo cáo cũng thừa nhận ở Việt Nam vẫn còn những bất cập,
khó khăn tồn tại cần giải quyết, trong đó hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ,
chỗ còn chồng chéo mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó khăn,
thậm chí hiểu sai làm ảnh hưởng đến việc đảm bảo tính hợp hiến, tính khả thi
minh bạch trong qua trình đảm bảo quyền con người. Hội đồng Nhân quyền Liên
Hợp Quốc đã thông qua báo cáo này của Việt Nam dù có một số ý kiến phản đối
việc thông qua này do nội dung các phản đối chứa đựng những thông tin sai lệch
về tình hình nhân quyền Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng
Cộng sản và luật pháp, chính sách của Nhà nước Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
2.2 Chủ trương về công tác thông tin đối ngoại các vấn đề nhân quyền của
chính phủ Việt Nam
2.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng tiếp cận nhân quyền từ quyền của
những con người cụ thể gắn với quyền dân tộc và khẳng định chủ nghĩa xã hội là
chế độ tốt nhất bảo đảm đầy đủ quyền con người. Chính phủ Việt Nam cho rằng
quyền con người luôn được bảo vệ phát triển, quyền con người vừa mục
tiêu, vừa động lực của sự phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Do đó, mọi đường lối, chủ trương, chính sách hệ thống pháp luật của Việt
Nam luôn hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn
15
minh". Việc lấy người dân trung tâm của mọi chính sách đã giúp cho các nhu
cầu chính đánh của người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chỉ rõ:Làm tư sản dân quyền
thổ địa cách mạng, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con
người, xây dựng hội mới tự do, hạnh phúc, nam - nữ bình quyền, phổ cập
giáo dục. Tuy không phải quốc gia đầu tiên đề ra các quyền bản của con
người nhưng Việt Nam một trong những nước sớm tiếp cận vấn đề này .
(9)
Nghị quyết của Quốc dân Đại hội Tân Trào (tháng 8-1945) xác định: Ban bố
những quyền của dân cho dân: Nhân quyền; Tài quyền (quyền sở hữu); Dân
quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do
tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền .
(10)
Nếu Bản Tuyên ngôn nhân quyền thế giới mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 10-12-1948 đề cao tự do, công lý, hòa bình thì trong Bản Tuyên ngôn
độc lập của Việt Nam trước đó 3 năm, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng; dân tộc nào cũng quyền sống, quyền sung sướng quyền tự
do”
(11)
. Trong những năm kháng chiến, Đảng ta đã gắn sự nghiệp giành độc lập
dân tộc với việc mang lại quyền làm người cho nhân dân. Trong Chỉ thị số
12/CT-TW của Ban thư Trung ương Đảng năm 1992 về vấn đề quyền con
người, Đảng này xác định: “Đối với chúng ta (Việt Nam), vấn đề quyền con
người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa hội, từ bản chất của
chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến
kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng...” .
(12)
Khi đất nước hòa bình, thống nhất, Việt Nam luôn tích cực, chủ động
tham gia hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người; kết các công ước
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ…Tại Đại hội VI, Đảng khẳng định
quan điểm xuyên suốt “bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động,
16
đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân
dân”
(13)
. Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh thực hiện quyền con người, quyền và
nghĩa vụ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... tôn
trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân .
(14)
Đến Đại hội XIII, Đảng khẳng định “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con
người, quyền nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền
công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”
(15)
.
Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người Việt Nam theo
chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II tiếp tục khẳng định: Nhà nước Việt
Nam luôn xác định việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản
của con người nguyên tắc bản của mọi chiến lược phát triển kinh tế -
hội của đất nước, đồng thời sự hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn
khổ pháp thể chế quốc tế Việt Nam thành viên, trong đó các
khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận” .
(16)
Trong phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Khóa 22 Hội đồng Nhân
quyền Liên Hợp Quốc, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã nhấn mạnh: Chính
sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam tôn trọng đảm bảo tất cả các
quyền con người theo đúng các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền. Hiến pháp
Việt Nam đã ghi“các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa
hội được tôn trọng được quy định trong Hiến pháp pháp luật”.
Chính sách đó dựa trên nhận thức của Nhà nước Việt Nam coi quyền con người
là giá trị chung của nhân loại, được tạo lập do sự phấn đấu của các dân tộc qua
các thời đại, đồng thời gốc rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng
nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Chính sách tôn trọng quyền con người của
Việt Nam còn xuất phát từ nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam đã từng
bị tước bỏ những quyền tự do bản nhất khi phải làm người dân một nước
thuộc địa”
(17)
.
17
2.2.1 Vấn đề nhân quyền trong pháp luật Việt Nam
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, năm 1980, năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013, quyền con người và quyền
công dân của nước CHXHCN Việt Nam luôn được hiến định. Đặc biệt, Hiến
pháp năm 2013 đã thiết kế một chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân (Chương II với 36 Điều, từ Điều 14 đến Điều 49). Đây
chương quan trọng nói đến lập hiến nói đến mối quan hệ giữa công dân
các quan Nhà nước. Quyền con người được quy định trong chương II của
Hiến pháp 2013, được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại chương
V của Hiến pháp năm 1992 (Quyền Nghĩa vụ bản của công dân). So với
Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 bổ sung nhiều quy định về
quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Đồng thời đây chính là một trong những bước phát triển lớn nhất trong
duy, quan điểm của Đảng Nhà nước Việt Nam về QCN. Điều 2 Hiến pháp
năm 2013 khẳng định: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam nhà nước pháp quyền
XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, Nhân dân
(18)
. Cũng từ Hiến pháp năm
2013, chữ “Nhân” trong “Nhân dân” được viết hoa để nhấn mạnh vị trí, vai trò
quyết định của Nhân dân trong tiến trình lịch sử sự nghiệp xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 cũng quy định: nước CHXHCN
Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp
luật” .
(19)
Nhiều năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành mới, sửa đổi, bổ sung
một số Luật, Bộ luật đảm bảo các quyền con người như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật
Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Đất đai,
Luật Trẻ em, Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Tín ngưỡng, tôn
giáo...Đến nay, các quyền con người của Việt Nam thể coi khá hoàn thiện
18
với các nhóm quyền cơ bản như: Các quyền dân sự chính trị, các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương
2.3 Chính sách của Việt Nam về nhân quyền
2.3.1 Chính sách đối nội
Đảng Nhà nước Việt Nam đã đang xây dựng thực hiện những chính
sách nhằm trực tiếp gián tiếp bảo vệ thúc đẩy các quyền con người, về
phương diện đối nội, thể khái quát những chính sách bản của Đảng, Nhà
nước trong lĩnh vực này như sau:
Tăng cường và mở rộng dân chủ
Dân chủ nhân quyền mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vậy, để
bảo vệ thúc đẩy hiệu quả các quyền con người đòi hỏi phải tăng cường và
mở rộng hơn nữa nền dân chủ hội chủ nghĩa. đây, mọi tiến bộ đạt được
trong việc mở rộng dân chủ hội chủ nghĩa đều những tiêu chí để đánh giá
việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong thực tế và ngược lại.
Mở rộng và phát huy dân chủhội chủ nghĩa là một mục tiêu và hoạt
động xuyên suốt của Đảng Cộng sản Nhà nước Việt Nam kể từ khi bắt đầu
công cuộc Đổi mới. Trong mối quan hệ này, Đảng giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo,
Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân đồng thời là chủ thể tổ chức
thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách của của Đảng về dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Cốt lõi tưởng của Đảng về mở rộng phát huy dân chủ hội chủ
nghĩa thể hiện ở việc hoàn thiện và hiện thực hóa cơ chế bảo đảm sự tham gia có
hiệu quả của mọi tầng lớp nhân dân vào tất cả các quá trình xây dựng, tổ chức
thực hiện giám sát thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách quy
định pháp luật của Đảng và Nhà nước trên mọi lĩnh vực.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống
mọi mặt của cộng đồng quốc tế, yêu cầu mở rộng và phát huy dân chủ ngày càng
trở lên quan trọng cấp thiết. Mở rộng phát huy dân chủ hội chủ nghĩa
19
xem là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dần và hội
nhập quốc tế có hiệu quả. Chính sách của Đảng, Nhà nước trong vấn đề này hiện
nay tiếp tục hoàn thiện chế thực hiện quyền làm chủ hội của nhân dân
lao động theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với
mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước. Để thực hiện cơ chế này, việc bảo đảm
sự công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình của các quan
viên chức nhà nước, xây dựng chế phản biện hội giám sát hội, từng
bước thực hiện dân chủ trực tiếp sở... có ý nghĩa quan trọng. Tất cả những
điều này đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần bảo đảm sự tôn trọng, bảo vệ
thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân.
Phát huy nhân tố con người, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết tốt các
vấn đề xã hội
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo kể từ ngày thành lập đến nay đã chúng minh rằng nhân tố ý nghĩa
quyết định tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng con người. Chính vậy,
Cương lĩnh xây dụng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã viết: “Phương hướng lớn của chính sách xã hội là:
Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa
đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với
chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội” .
(20)
Trong công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định đặt con
người vào vị trí trung tâm của các chính sách phát triển; coi con người vốn
quý nhất, chăm lo cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ. Mọi
chủ trương, chính sách phát triển đều xuất phát từ con người, lấy con người
trung tâm. Tăng trưởng phát triển kinh tế con người, đi đôi với phát triển
các mặt về văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ cải thiện môi trường.
20
| 1/37

Preview text:

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI
ĐỀ TÀI: CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
QUYỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY HỌ VÀ TÊN: HỒ MINH ANH MÃ SINH VIÊN: 20561420003 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths. Đỗ Thị Hùng Thúy
Hà Nội, tháng 12 – năm 2021 LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin được cảm ơn Ts Bùi Thị Vân - Giảng viên bộ
môn. Trong quá trình học tập và tìm hiểu bộ môn, không chỉ em mà còn là cả tập
thể lớp QHQT&TTTC K40 đã luôn được cô tận tình chỉ bảo, quan tâm, hướng
dẫn. Sự đam mê với ngành nghề và tận tụy với sinh viên mà cô mang đến với lớp
em là điều bọn em vô cùng biết ơn và trân trọng. Cô không chỉ là người dẫn
dường để chúng em đến với kiến thức; mà cô còn là người truyền cảm hứng,
truyền niềm say mê với nghề cho chúng em.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám đốc Học
viện Báo chí và Tuyên truyền vì đã tạo điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất với hệ
thống thư viện hiện đại, đa dạng các loại sách, tài liệu thuận lợi cho việc tìm
kiếm, nghiên cứu thông tin.
Bài tiểu luận hết học phần này của em chính là những kiến thức em đã
tích lũy được trong suốt kỳ học qua. Em đã đang và sẽ cố gắng hết sức mình
trong việc hiểu, vận dụng và truyền đạt lại những gì đã tiếp thu. Tuy vậy, do giới
hạn kiến thức và khả năng lý luận của bản thân còn nhiều thiếu sót và hạn chế,
kính mong sự chỉ dẫn và đóng góp của các thầy, cô để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện Hồ Minh Anh 2 MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................2
MỤC LỤC.............................................................................................................3
MỞ ĐẦU...............................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................5
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................6
2.1 Mục đích nghiên cứu................................................................................6
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu...............................................................................6
3. Kết cấu đề tài................................................................................................6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN.........................7
1.1 Thông tin đối ngoại....................................................................................7
1.1.2 Khái niệm..............................................................................................7
1.1.3 Tầm quan trọng.....................................................................................7
1.1.4 Nội dung cơ bản....................................................................................8
1.2 Vấn đề nhân quyền.....................................................................................9
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng.........................................................................9
1.2.2 Nội dung cơ bản..................................................................................10
1.2.3 Các tổ chức và văn bản bảo vệ nhân quyền quốc tế............................11
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
QUYỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.................... ........................................12
2.1 Khái quát vấn đề nhân quyền tại Việt Nam...........................................12
2.1.1 Thực trạng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.......................................12
2.1.2 Đánh giá của một số tổ chức quốc tế............... ..................................13
2.2 Chủ trương về công tác thông tin đối ngoại các vấn đề nhân quyền của
chính phủ Việt Nam.......................................................................................14
2.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước....................................14
2.2.1 Vấn đề nhân quyền trong pháp luật Việt Nam...... .............................16 3
2.3 Chính sách của Việt Nam về nhân quyền..............................................18
2.3.1 Chính sách đối nội...............................................................................18
2.3.2 Chính sách đối ngoại...........................................................................24
2.4 Thành tựu và tồn tại................................................................................26
2.4.1 Thành tựu............................................................................................26
2.4.2 Tồn tại.................................................................................................28
CHƯƠNG 3: ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ
NHÂN QUYỀN TRONG THỜI KỲ MỚI.......................................................30
3.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, giáo dục về quyền con người
tại Việt Nam trong thời gian tới.......................................................................30
3.2 Tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin trong nước và khu vực
trong việc bảo đảm, thực hiện và đấu tranh trên lĩnh vực nhân quyền............30
3.3 Chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề nhân quyền tại
các cơ chế và diễn đàn đa phương...................................................................31
3.4 Tăng cường hợp tác giữa các cơ quan trong nước và quốc tế, thường xuyên
cung cấp thông tin............................................................................................31
3.5 Nhận diện âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng nhân quyền để chống
phá Việt Nam....................................................................................................32
KẾT LUẬN.........................................................................................................33 4 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Là một bộ phận quan trọng trong đường lối, tư tưởng ngoại giao của
Đảng, đất nước và nhân dân ta, thông tin đối ngoại có nhiệm vụ quan trọng, làm
cho nhân dân, chính phủ các nước, người nước ngoài sinh sống và làm việc tại
Việt Nam, đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài hiểu về đất nước, con người
Việt Nam, chống dư luận xã hội, chống vu cáo, xuyên tạc về Việt Nam, để đồng
bào hiểu biết về thế giới, trên cơ sở đó sẽ phấn đấu, nhận được sự đồng thuận,
ủng hộ của các nước và các dân tộc trên thế giới, nỗ lực đóng góp của cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khi
xu thế hội nhập quốc tế ngày càng mở rộng trên các lĩnh vực, nhu cầu cung cấp
thông tin từ Việt Nam ra thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam ngày càng lớn và cấp thiết.
Không chỉ ở nước ta mà ở tất cả các nước trên thế giới hiện nay, một
trong những vấn đề luôn cần được quan tâm trong công tác thông tin đối ngoại
có thể nói là vấn đề quyền con người. Quyền con người là quyền của con người,
bao gồm các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do,
quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền con người bao gồm các quyền chính trị, kinh
tế, văn hóa, dân sự, xã hội và pháp lý phải được thừa nhận và bảo vệ.
Việc hiểu rõ và thực hiện tốt công tác tuyên truyền về các vấn đề nhân
quyền sẽ tạo một bước tiến vững chắc cho việc xây dựng hình ảnh Việt Nam về
hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì vậy, để hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cần
tích cực đẩy mạnh các hoạt động công khai đối ngoại về vấn đề này. Không chỉ
vậy, đây còn là quyền lợi của người dân Việt Nam, họ cần được hiểu là quyền
con người càng được tôn trọng và phát huy hơn bao giờ hết, nhân dân mới thực
sự làm chủ đất nước, tự quyết định con đường phát triển của mình. Trước Báo 5
cáo Nhân quyền năm 2020 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Người phát ngôn Bộ
Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã từng khẳng định: “Chính sách nhất
quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền của người dân.
Các nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này thời gian qua đã được
cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao”(1).
Nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề, em đã
chọn đề tài “Công tác thông tin đối ngoại về vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận hết môn Thông tin đối ngoại.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu này, em mong muốn nhận thức, tìm hiểu và phân
tích rõ công tác thông tin đối ngoại về nhân quyền tại Việt Nam hiện nay, thông
qua nội dung cơ bản, tầm quan trọng và chủ trương, phương hướng của Đảng,
Nhà nước Việt Nam. Từ đó chỉ ra một số bài học và đề xuất phương hướng phát triển của Việt Nam. 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ các vấn đề liên quan đến đề tài như Thông tin đối ngoại, Vấn đề
Nhân quyền trên thế giới và Việt Nam,…
Chỉ ra thực trạng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam.
Nêu rõ chủ trương và chính sách về vấn đề nhân quyền của Đảng và Nhà nước ta.
Nêu lên một số thành tựu nổi bật trong công tác thông tin đối ngoại vấn đề nhân quyền.
Đề xuất một số phương hướng trong thời gian tới. 3. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; tiểu luận gồm 3 chương và 11 tiết 6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN 1.1 Thông tin đối ngoại 1.1.2 Khái niệm
Thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng
và đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta nhằm làm cho thế giới hiểu rõ
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, những thành tựu trong công cuộc đổi
mới của Việt Nam, đất nước, con người, lịch sử, văn hóa, những giá trị vật chất
và tinh thần của dân tộc Việt Nam; đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên
tạc, chống phá Việt Nam; làm cho nhân dân ta hiểu rõ về thế giới; đồng thời
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, hợp tác, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, sự đồng
thuận và đóng góp của đồng bào ta ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 1.1.3 Tầm quan trọng
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, không một quốc gia nào có thể
tồn tại và phát triển nếu không mở cửa và giao lưu với các nước trên thế giới.
Trên con đường hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia cần hiểu thế giới ngày càng sâu,
rộng, toàn diện, mặt khác cũng rất cần thế giới để thế giới ngày càng hiểu mình
hơn, để hiểu bản thân nhiều hơn. Và tăng cơ hội hợp tác để phát triển chung. Vì
vậy, nhu cầu cung cấp thông tin từ trong nước ra quốc tế và đưa thế giới đến với
người dân ngày càng cấp thiết.
Đối với Việt Nam, thông tin đối ngoại là một bộ phận quan trọng trong
hoạt động đối ngoại và tư tưởng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông tin đối
ngoại giúp thế giới hiểu về đất nước và con người Việt Nam, hiểu được những
giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc Việt Nam, về đường lối, sự nghiệp, chính
sách và thành tựu của Việt Nam, về mục tiêu của Việt Nam. Trên cơ sở này,
chúng ta sẽ xác lập thêm quan hệ và hợp tác với Việt Nam. Thông tin đối ngoại
còn giúp xây dựng hình ảnh Việt Nam hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển, 7
đồng thời đang góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế
giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Thông tin đối ngoại
cũng giúp cho nhân dân Việt Nam hiểu rõ về thế giới, đón nhận những thành tựu
khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất cùng những tinh hoa văn hóa
Trong bối cảnh tình hình quốc tế thời cơ và thách thức đang đan xen
nhau, các quốc gia vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau để bảo vệ, thỏa mãn và
phát triển lợi ích của mình. Thông tin đối ngoại góp phần đấu tranh bảo vệ chủ
quyền quốc gia, làm rõ quan điểm của Việt Nam về các vấn đề quốc tế, các vấn
đề xung đột và hợp tác, các vấn đề toàn cầu như môi trường, dân số, bệnh tật và
các vấn đề khác như dân chủ, nhân quyền, tôn giáo. Thông tin đối ngoại đấu
tranh dư luận, phê phán, bác bỏ những thông tin sai lệch, những luận điệu bôi
xấu, xuyên tạc về Việt Nam, giúp dư luận hiểu đúng đắn tình hình Việt Nam cũng như quốc tế.
Bên cạnh đó, thông tin đối ngoại góp phần xây dựng tình đoàn kết quốc
tế giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới. Những mâu thuẫn
cơ bản trên thế giới và xu thế thời đại đặt ra nhiệm vụ cho giai cấp công nhân
mỗi nước phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, kết hợp
nội lực với sự đồng tình, ủng hộ quốc tế và xu thế phát triển của thời đại. Thông
tin đối ngoại tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ này. 1.1.4 Nội dung cơ bản
Thứ nhất, thông tin, giới thiệu rộng rãi về chủ trương, đường lối của
Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước, những thành tựu của công cuộc đổi
mới đất nước. Thứ hai, giới thiệu, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, lịch
sử, văn hóa của Việt Nam. Thứ ba, đấu tranh với những thông tin sai lệch, luận
điệu xuyên tạc về Việt Nam, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh
thổ quốc gia. Thứ tư, tăng cường thông tin quốc tế cho nhân dân trong nước. 8 1.2 Vấn đề nhân quyền
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng
Có thể khái quát, quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt
nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, được cộng đồng quốc tế và quốc
gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.
Quyền con người có một số đặc trưng như: Tính phổ biến
Tính phổ biến và tính phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, dân tộc, tôn giáo
thể hiện ở chỗ quyền con người thuộc về tất cả mọi người, không phân biệt đối
xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, địa vị xã hội, tôn giáo, hoàn cảnh
kinh tế, khu vực địa lý. Tính phổ biến là bản chất của quyền con người.(2)
Tính không thể chuyển nhượng
Quyền con người có tính không thể chuyển nhượng vì nó thuộc sở hữu vốn có
của con người; không phải là sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt. Mọi giới hạn,
hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và
chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác.(2) Tính không thể phân chia
Tính không thể phân chia được thể hiện ở chỗ các quyền con người đều có tầm
quan trọng như nhau, không có quyền nào được coi là đặc quyền, có giá trị cao
hơn quyền khác. Việc tước bỏ hay hạn chế bất kỳ quyền nào đều tác động tiêu
cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của con người.(2)
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau được thể hiện ở chỗ các quyền con người,
mặc dù trong phạm vi rộng, nhiều lĩnh vực song đều nằm trong một chỉnh thể
thống nhất và chúng luôn phụ thuộc vào nhau. Việc bảo đảm các quyền con
người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn 9
nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực
đến việc bảo đảm các quyền khác, và ngược lại, tiến bộ trong việc bảo đảm một
quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các quyền khác.(2) 1.2.2 Nội dung cơ bản
Theo Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, con người có ba
nhóm quyền cơ bản bao gồm Quyền dân sự, Quyền chính trị và Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa(3). Quyền dân sự
Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận là con người và bình đẳng về
phẩm cách và quyền lợi.
Quyền sống, tự do và an toàn thân thể, không bị bắt làm nô lệ hay nô dịch.
Quyền không bị tra tấn hay chịu hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân
đạo, làm hạ thấp nhân phẩm. […] Quyền chính trị
Quyền tìm nơi tị nạn và được hưởng quyền tị nạn tại các quốc gia khác khi bị đàn áp.
Quyền có quốc tịch và không bị tước quốc tịch.
Quyền tham gia chính quyền của quốc gia mình trực tiếp hoặc qua các đại biểu do mình tự do lựa chọn. […]
Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa
Quyền được hưởng an sinh xã hội và đòi được hưởng những quyền kinh tế, xã
hội và văn hoá cần thiết
Quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều
kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp 10
Quyền được trả lương ngang nhau, không phân biệt đối xử cho những công việc ngang nhau […]
1.2.3 Các tổ chức và văn bản bảo vệ nhân quyền quốc tế
Trước tiên cần nhắc đến Liên Hợp Quốc, đây là cơ quan liên chính phủ
đa phương duy nhất có quyền xét xử quốc tế được chấp nhận rộng rãi về pháp
chế nhân quyền chung. Có rất nhiều các ủy ban ở trong Liên Hợp Quốc có trách
nhiệm bảo vệ các hiệp ước nhân quyền khác nhau. Nhìn chung, Liên Hợp Quốc
được quốc tế ủy thác về: “..thực hiện hợp tác quốc tế về giải quyết các vấn đề
quốc tế như kinh tế, xã hội, văn hóa, hay nhân quyền, và về xúc tiến và khuyến
khích việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản cho mọi người không
phân biệt sắc tộc, giới tính, ngôn ngữ, hay tôn giáo”(4).
Bên cạnh đó còn là những cái tên tiêu biểu như: Phong trào Chữ thập
đỏ là tổ chức theo nhân đạo chủ nghĩa lớn nhất trên thế giới, thường được gọi là
Hội Chữ thập đỏ hay Hội Hồng thập tự; Tổ chức Ân xá Quốc tế là một tổ chức
phi chính phủ quốc tế, đặt ra mục đích bảo vệ tất cả quyền con người đã được
trịnh trọng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và các chuẩn mực
quốc tế khác; hay Tổ chức Theo dõi Nhân quyền với mối quan tâm tập trung vào
việc điều tra và tường thuật về những hành động họ cho là vi phạm nhân quyền.
Về các văn bản nhân quyền quốc tế, hiến chương Liên Hợp Quốc đã
dành nhiều đoạn, mục khẳng định mục tiêu, quy định nghĩa vụ và trách nhiệm
của Liên Hợp Quốc trong việc bảo vệ và thúc đẩy tôn trọng các quyền và quyền
tự do cơ bản của con người. Cùng đó là Tuyên ngôn nhân quyền (1948), được
đánh giá là một trong những thành tựu lớn đạt được của Liên Hợp Quốc và có ý
nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và
dân tộc về các quyền con người. Điều đó đã đặt nền móng cho Bộ luật quốc tế về
nhân quyền ra đời và đến nay phát triển thành 24 Công ước quốc tế về nhân 11
quyền trong đó quan trọng nhất là 2 Công ước 1966 về các quyền dân sự, chính
trị và về các quyền kinh tế, văn hoá, xã hội. 12
CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ VẤN ĐỀ NHÂN
QUYỀN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Khái quát vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
2.1.1 Thực trạng vấn đề nhân quyền tại Việt Nam
Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới tiếp cận Nhân quyền
hay Quyền con người rất sớm. Nhìn lại lịch sử, trước năm 1945, người dân Việt
Nam từng không hề được hưởng các quyền công dân, quyền con người. Sau
Cách mạng tháng Tám (1945); đặc biệt, sự kiện ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ ta trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới rằng: “Tất
cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền
không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn
mạnh nhân quyền chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự
do của dân tộc. Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập nước đến nay nhất quán
một khẩu hiệu: “Độc lập -Tự do-Hạnh phúc”. Nghĩa là mục tiêu trước sau của
dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.
Những năm khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng
chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất
quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến
đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là
Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân
ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(6). Trong mọi giai đoạn lịch sử, Việt Nam luôn
nhất quán mục tiêu, chính sách tất cả vì con người, vì một nước Việt Nam dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã
không ngừng nỗ lực để người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền và tự do cơ 13
bản của con người, đồng thời coi trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
nhân quyền trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng và hiểu biết giữa các quốc gia.
Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách
mạng nước ta đã giành những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử vĩ đại. Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta, dân tộc ta thoát khỏi vòng nô lệ, kìm kẹp của chế độ phong
kiến, thực dân, trở thành một dân tộc độc lập, tự do. Đó chính là giá trị dân chủ,
nhân quyền vĩ đại nhất mà Đảng ta đã giành lại được cho nhân dân, cho dân tộc.
Chưa bao giờ, quyền được sống, quyền có ăn, có mặc, có nhà ở và
quyền tham gia về chính trị, văn hóa, quyền về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức
khỏe, quyền tự do kinh doanh hay những quyền tự do ứng cử, thể hiện quan
điểm trong xã hội, được cởi mở như bây giờ. Hiện nay, Đảng đang lãnh đạo toàn
diện công cuộc đổi mới đất nước và đạt được những thành tựu quan trọng; trong
đó có thành tựu về lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác
định việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ
thống chính trị. Trên thực tế, nhân dân ta đã có quyền làm chủ trên tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội, đó là những bước tiến lớn trên con đường xây dựng
những giá trị dân chủ và nhân quyền đích thực và đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Tuy thế, với giá trị pháp lý - nhân văn quan trọng, nhân quyền luôn là
mục tiêu các thế lực thù địch lợi dụng vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân
quyền” để can thiệp vào nội bộ ta, làm suy yếu niềm tin vào sự lãnh đạo của
Đảng, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Trên tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, luận điệu “Việt Nam vi phạm quyền con người” luôn được lợi dụng,
suy diễn, xuyên tạc bởi bất cứ một hiện tượng, vấn đề bức xúc nào xảy ra trong xã hội. 14
2.1.2 Đánh giá của một số tổ chức quốc tế
Trong báo cáo năm 2009, Tổ chức UNPO nói rằng nhìn chung, mặc dù
vẫn còn nhiều bất cập trong thực hiện nhưng chính quyền Việt Nam nên được
khen ngợi vì đã đưa một số quyền cơ bản như tự do tôn giáo vào trong hiến pháp
quốc gia và đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền con người(7).
Trong báo cáo của mình giải trình tại Hội thảo của Hội đồng liên hợp
quốc về nhân quyền, Chính phủ Việt Nam liệt kê những thành quả đã đạt được
cũng như các mặt chưa đạt được trong vấn đề nhân quyền của Việt Nam(8).
Tuy nhiên báo cáo cũng thừa nhận ở Việt Nam vẫn còn những bất cập,
khó khăn tồn tại cần giải quyết, trong đó hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ,
có chỗ còn chồng chéo mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó khăn,
thậm chí hiểu sai làm ảnh hưởng đến việc đảm bảo tính hợp hiến, tính khả thi và
minh bạch trong qua trình đảm bảo quyền con người. Hội đồng Nhân quyền Liên
Hợp Quốc đã thông qua báo cáo này của Việt Nam dù có một số ý kiến phản đối
việc thông qua này do nội dung các phản đối chứa đựng những thông tin sai lệch
về tình hình nhân quyền Việt Nam, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng
Cộng sản và luật pháp, chính sách của Nhà nước Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
2.2 Chủ trương về công tác thông tin đối ngoại các vấn đề nhân quyền của chính phủ Việt Nam
2.2.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và tiếp cận nhân quyền từ quyền của
những con người cụ thể gắn với quyền dân tộc và khẳng định chủ nghĩa xã hội là
chế độ tốt nhất bảo đảm đầy đủ quyền con người. Chính phủ Việt Nam cho rằng
quyền con người luôn được bảo vệ và phát triển, quyền con người vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Do đó, mọi đường lối, chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật của Việt
Nam luôn hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn 15
minh". Việc lấy người dân là trung tâm của mọi chính sách đã giúp cho các nhu
cầu chính đánh của người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chỉ rõ: “Làm tư sản dân quyền
và thổ địa cách mạng, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con
người, xây dựng xã hội mới tự do, hạnh phúc, nam - nữ bình quyền, phổ cập
giáo dục. Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các quyền cơ bản của con
người nhưng Việt Nam là một trong những nước sớm tiếp cận vấn đề này”(9).
Nghị quyết của Quốc dân Đại hội Tân Trào (tháng 8-1945) xác định: “Ban bố
những quyền của dân cho dân: Nhân quyền; Tài quyền (quyền sở hữu); Dân
quyền: quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do
tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền”(10).
Nếu Bản Tuyên ngôn nhân quyền thế giới mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông
qua ngày 10-12-1948 đề cao tự do, công lý, hòa bình thì trong Bản Tuyên ngôn
độc lập của Việt Nam trước đó 3 năm, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
do”(11). Trong những năm kháng chiến, Đảng ta đã gắn sự nghiệp giành độc lập
dân tộc với việc mang lại quyền làm người cho nhân dân. Trong Chỉ thị số
12/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng năm 1992 về vấn đề quyền con
người, Đảng này xác định: “Đối với chúng ta (Việt Nam), vấn đề quyền con
người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, từ bản chất của
chế độ ta và bao quát rộng rãi nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến
kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng...”(12).
Khi đất nước hòa bình, thống nhất, Việt Nam luôn tích cực, chủ động
tham gia hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người; ký kết các công ước
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ…Tại Đại hội VI, Đảng khẳng định
quan điểm xuyên suốt “bảo đảm quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, 16
đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân
dân”(13). Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh “thực hiện quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... tôn
trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”(14).
Đến Đại hội XIII, Đảng khẳng định “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con
người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền
công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”(15).
Báo cáo Quốc gia về thực hiện quyền con người ở Việt Nam theo cơ
chế kiểm định kỳ phổ cập (UPR) chu kỳ II tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Việt
Nam luôn xác định việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền và tự do cơ bản
của con người là nguyên tắc cơ bản của mọi chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước, đồng thời là sự hiện thực hóa các cam kết đối với các khuôn
khổ pháp lý và thể chế quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó có các
khuyến nghị UPR mà Việt Nam đã chấp thuận”(16).
Trong phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Khóa 22 Hội đồng Nhân
quyền Liên Hợp Quốc, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã nhấn mạnh: “Chính
sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và đảm bảo tất cả các
quyền con người theo đúng các chuẩn mực quốc tế về nhân quyền. Hiến pháp
Việt Nam đã ghi rõ “các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa
và xã hội được tôn trọng… và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật”.
Chính sách đó dựa trên nhận thức của Nhà nước Việt Nam coi quyền con người
là giá trị chung của nhân loại, được tạo lập do sự phấn đấu của các dân tộc qua
các thời đại, đồng thời có gốc rễ sâu xa từ truyền thống lịch sử, văn hóa hàng
nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Chính sách tôn trọng quyền con người của
Việt Nam còn xuất phát từ nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam đã từng
bị tước bỏ những quyền và tự do cơ bản nhất khi phải làm người dân một nước thuộc địa”(17). 17
2.2.1 Vấn đề nhân quyền trong pháp luật Việt Nam
Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm
1959, năm 1980, năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013, quyền con người và quyền
công dân của nước CHXHCN Việt Nam luôn được hiến định. Đặc biệt, Hiến
pháp năm 2013 đã thiết kế một chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân (Chương II với 36 Điều, từ Điều 14 đến Điều 49). Đây là
chương quan trọng vì nói đến lập hiến là nói đến mối quan hệ giữa công dân và
các cơ quan Nhà nước. Quyền con người được quy định trong chương II của
Hiến pháp 2013, được xây dựng trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và bố cục lại chương
V của Hiến pháp năm 1992 (Quyền và Nghĩa vụ cơ bản của công dân). So với
Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 bổ sung nhiều quy định về
quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Đồng thời đây chính là một trong những bước phát triển lớn nhất trong
tư duy, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về QCN. Điều 2 Hiến pháp
năm 2013 khẳng định: “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền
XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”(18). Cũng từ Hiến pháp năm
2013, chữ “Nhân” trong “Nhân dân” được viết hoa để nhấn mạnh vị trí, vai trò
quyết định của Nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013 cũng quy định: “Ở nước CHXHCN
Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”(19).
Nhiều năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành mới, sửa đổi, bổ sung
một số Luật, Bộ luật đảm bảo các quyền con người như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật
Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Đầu tư, Luật Đất đai,
Luật Trẻ em, Luật Báo chí, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Tín ngưỡng, tôn
giáo...Đến nay, các quyền con người của Việt Nam có thể coi là khá hoàn thiện 18
với các nhóm quyền cơ bản như: Các quyền dân sự và chính trị, các quyền kinh
tế, xã hội và văn hóa, quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương
2.3 Chính sách của Việt Nam về nhân quyền
2.3.1 Chính sách đối nội
Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và thực hiện những chính
sách nhằm trực tiếp và gián tiếp bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, về
phương diện đối nội, có thể khái quát những chính sách cơ bản của Đảng, Nhà
nước trong lĩnh vực này như sau:
Tăng cường và mở rộng dân chủ
Dân chủ và nhân quyền có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vì vậy, để
bảo vệ và thúc đẩy có hiệu quả các quyền con người đòi hỏi phải tăng cường và
mở rộng hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Ở đây, mọi tiến bộ đạt được
trong việc mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa đều là những tiêu chí để đánh giá
việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người trong thực tế và ngược lại.
Mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là một mục tiêu và hoạt
động xuyên suốt của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam kể từ khi bắt đầu
công cuộc Đổi mới. Trong mối quan hệ này, Đảng giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo,
Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân đồng thời là chủ thể tổ chức
thực hiện cương lĩnh, đường lối, chính sách của của Đảng về dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Cốt lõi tư tưởng của Đảng về mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa thể hiện ở việc hoàn thiện và hiện thực hóa cơ chế bảo đảm sự tham gia có
hiệu quả của mọi tầng lớp nhân dân vào tất cả các quá trình xây dựng, tổ chức
thực hiện và giám sát thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách và quy
định pháp luật của Đảng và Nhà nước trên mọi lĩnh vực.
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu hơn vào đời sống
mọi mặt của cộng đồng quốc tế, yêu cầu mở rộng và phát huy dân chủ ngày càng
trở lên quan trọng và cấp thiết. Mở rộng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa 19
xem là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dần và hội
nhập quốc tế có hiệu quả. Chính sách của Đảng, Nhà nước trong vấn đề này hiện
nay là tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền làm chủ xã hội của nhân dân
lao động theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" đối với
mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước. Để thực hiện cơ chế này, việc bảo đảm
sự công khai, minh bạch, tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan và
viên chức nhà nước, xây dựng cơ chế phản biện xã hội và giám sát xã hội, từng
bước thực hiện dân chủ trực tiếp ở cơ sở... có ý nghĩa quan trọng. Tất cả những
điều này đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần bảo đảm sự tôn trọng, bảo vệ và
thúc đẩy các quyền con người, quyền công dân.
Phát huy nhân tố con người, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội
Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo kể từ ngày thành lập đến nay đã chúng minh rằng nhân tố có ý nghĩa
quyết định tạo nên mọi thắng lợi của cách mạng là con người. Chính vì vậy,
Cương lĩnh xây dụng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của
Đảng Cộng sản Việt Nam đã viết: “Phương hướng lớn của chính sách xã hội là:
Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa
đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với
chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”(20).
Trong công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định đặt con
người vào vị trí trung tâm của các chính sách phát triển; coi con người là vốn
quý nhất, chăm lo cho con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ. Mọi
chủ trương, chính sách phát triển đều xuất phát từ con người, lấy con người là
trung tâm. Tăng trưởng và phát triển kinh tế vì con người, đi đôi với phát triển
các mặt về văn hoá, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường. 20