CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929 - 1933
Cuộc khủng hoảng kinh tế từ 1929 đến 1933 là cuộc kinh tếĐại suy thoái
thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu Mỹ khi giá cổ phiếu thị trường chứng khoán
Phố Wall sụt giảm nghiêm trọng. bắt đầu vào “Ngày Thứ Ba Đen” ngày 29
tháng 10 năm 1929 kéo dài đến cuối những năm 1930. Cuộc khủng hoảng này
không chỉ ảnh hưởng đến Mỹ còn lan rộng sang các nước trên thế giới, gây ra
những hậu quả nghiêm trọng như thất nghiệp, phá sản, ảnh hưởng lớn đời sống
người dân. một trong những nguyên nhân tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các
phong trào phát xít các cuộc xung đột chiến tranh tranh giành thị trường mới.
1. Nguyên nhân
1.1. Nguyên nhân khách quan
Do các chính sách thuế của chính phủ. Mỹ đã áp dụng Luật Thuế Hải
Quan Smoot-Hawley vào năm 1930, Mỹ đã tăng thuế nhập khẩu để bảo vệ
sản phẩm trong nước. Các nước phản đối mạnh mẽ việc Mỹ tăng thuế nhập
khẩu, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu suy giảm
thương mại quốc tế.
Do sự thiếu linh hoạt của hệ thống tiền tệ, các chính phủ không thể
điều chỉnh lãi suất lượng tiền lưu thông để kích thích kinh tế. Dẫn đến
cung tiền giảm, các doanh nghiệp thiếu vốn, giá cả hàng hóa giảm.
1.2. Nguyên nhân chủ quan
Do sự mất cân đối giữa cung cầu, giữa thu nhập chi tiêu của
người dân Mỹ các nước bản khác. Các nước đua nhau sản xuất ạt
trong khi nhu cầu tiêu dùng sức mua của người dân lại không thay đổi,
dẫn đến thừa hàng hóa, tạo nên sự mất cân bằng giữa cung cầu, làm
giá trị hàng hóa bị giảm.
2. Diễn biến
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tàn phá để lại hậu quả nặng nề cho các
nước trên thế giới. Trong khi các nước đang đối mặt với hậu quả do cuộc chiến gây
ra thì Mỹ lại được hưởng lợi giàu lên nhanh chóng nhờ việc bán khí cho các
nước tham chiến. Năm 1928, ngành công nghiệp đứng đầu thế giới khi chiếm
48% tổng sản lượng công nghiệp thế giới nắm 60 % dự trữ vàng của thế giới.
Đến tháng 9/1929, cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu tMỹ sau đó lan rộng
ra các nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng đã làm cho cho kinh tế nước Mỹ
các nước bản khác kiệt quệ: Nước Mỹ sản xuất hàng hóa quá nhiều nhưng
không tiêu thụ kịp, hàng hóa bị đọng. Sản lượng công nghiệp bị giảm sút 50%.
Nhiều nghiệp, sở sản xuất phá sản, nông dân thất thu. Nền công nghiệp tại
Pháp giảm 30%, nông nghiệp 40%. Tại Anh, sản lượng gang, thép giảm 50% -
60%,...
Cuối năm 1932, Tổng thống Ru-dơ-ven thực hiện Chính sách mới bao gồm
các đạo luật đã đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng.
3. Hậu quả
3.1. Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đến Mỹ các
nước bản.
Nạn thất nghiệp: Sau khủng hoảng Mỹ 17 triệu người thất nghiệp.
Năm 1931 nước Anh 3 triệu người thất nghiệp, các nước bản khác cũng
số người thất nghiệp không ít.
Tiền lương giảm đáng kể: tiền lương công nhân Mỹ, Anh, Pháp
các nước giảm rất nhiều: Mỹ chỉ còn 56 %, Anh còn 66% Pháp lương
giảm từ 30 đến 40% . Mức sống của người dân giảm sút, đời sống cực, hàng
triệu người chết đói.
Người dân đứng lên đấu tranh: nhân dân lao động đã đứng dậy đấu
tranh đời sống quá cực. Mỹ từ 1929-1933, 3 triệu rưỡi công nhân tham
gia bãi công. Đức, hàng vạn công nhân bãi công kéo dài t1930 1933.
3.2. Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đến Việt Nam
Cuộc khủng hoảng cũng gây ảnh hưởng đến Việt Nam thực dân tăng
cường bóc lột, chèn ép khiến tài chính của Việt Nam trở nên kiệt quệ:
- Sản xuất Việt Nam bị trì trệ do Pháp rút vốn đầu để khắc phục hậu quả
sau chiến tranh khủng hoảng kinh tế.
- Lúa gạo mất giá dẫn đến ruộng đất bị bỏ hoang.
- Tỷ lệ thất nghiệp tăng, tiền lương giảm đáng kể.

Preview text:

CUỘC KHỦNG HOẢNG KINH TẾ 1929 - 1933
Cuộc khủng hoảng kinh tế từ 1929 đến 1933 là cuộc “Đại suy thoái” kinh tế
thế giới. Cuộc khủng hoảng bắt đầu ở Mỹ khi giá cổ phiếu thị trường chứng khoán
Phố Wall sụt giảm nghiêm trọng. Nó bắt đầu vào “Ngày Thứ Ba Đen” ngày 29
tháng 10 năm 1929 và kéo dài đến cuối những năm 1930. Cuộc khủng hoảng này
không chỉ ảnh hưởng đến Mỹ mà còn lan rộng sang các nước trên thế giới, gây ra
những hậu quả nghiêm trọng như thất nghiệp, phá sản, ảnh hưởng lớn đời sống
người dân. Là một trong những nguyên nhân tạo điều kiện cho sự trỗi dậy của các
phong trào phát xít và các cuộc xung đột chiến tranh tranh giành thị trường mới.
Cuộc Đại suy thoái này được xem là đợt suy thoái lan rộng nhất thế kỉ XX. 1. Nguyên nhân
1.1. Nguyên nhân khách quan
Do các chính sách thuế của chính phủ. Mỹ đã áp dụng Luật Thuế Hải
Quan Smoot-Hawley vào năm 1930, Mỹ đã tăng thuế nhập khẩu để bảo vệ
sản phẩm trong nước. Các nước phản đối mạnh mẽ việc Mỹ tăng thuế nhập
khẩu, từ đó dẫn đến cuộc chiến tranh thương mại toàn cầu và suy giảm thương mại quốc tế.
Do sự thiếu linh hoạt của hệ thống tiền tệ, các chính phủ không thể
điều chỉnh lãi suất và lượng tiền lưu thông để kích thích kinh tế. Dẫn đến
cung tiền giảm, các doanh nghiệp thiếu vốn, giá cả hàng hóa giảm.
1.2. Nguyên nhân chủ quan
Do sự mất cân đối giữa cung và cầu, giữa thu nhập và chi tiêu của
người dân ở Mỹ và các nước tư bản khác. Các nước đua nhau sản xuất ồ ạt
trong khi nhu cầu tiêu dùng và sức mua của người dân lại không thay đổi,
dẫn đến dư thừa hàng hóa, tạo nên sự mất cân bằng giữa cung và cầu, làm
giá trị hàng hóa bị giảm. 2. Diễn biến
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tàn phá và để lại hậu quả nặng nề cho các
nước trên thế giới. Trong khi các nước đang đối mặt với hậu quả do cuộc chiến gây
ra thì Mỹ lại được hưởng lợi và giàu lên nhanh chóng nhờ việc bán vũ khí cho các
nước tham chiến. Năm 1928, ngành công nghiệp Mĩ đứng đầu thế giới khi chiếm
48% tổng sản lượng công nghiệp thế giới và nắm 60 % dự trữ vàng của thế giới.
Đến tháng 9/1929, cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ Mỹ sau đó lan rộng
ra các nước trên thế giới. Cuộc khủng hoảng đã làm cho cho kinh tế nước Mỹ và
các nước tư bản khác kiệt quệ: Nước Mỹ sản xuất hàng hóa quá nhiều nhưng
không tiêu thụ kịp, hàng hóa bị ứ đọng. Sản lượng công nghiệp bị giảm sút 50%.
Nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất phá sản, nông dân thất thu. Nền công nghiệp tại
Pháp giảm 30%, nông nghiệp 40%. Tại Anh, sản lượng gang, thép giảm 50% - 60%,...
Cuối năm 1932, Tổng thống Ru-dơ-ven thực hiện Chính sách mới bao gồm
các đạo luật và đã đưa nước Mỹ thoát khỏi khủng hoảng. 3. Hậu quả
3.1. Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đến Mỹ và các nước tư bản.
Nạn thất nghiệp: Sau khủng hoảng Mỹ có 17 triệu người thất nghiệp.
Năm 1931 ở nước Anh có 3 triệu người thất nghiệp, các nước tư bản khác cũng có
số người thất nghiệp không ít. 
Tiền lương giảm đáng kể: tiền lương công nhân ở Mỹ, Anh, Pháp và
các nước giảm rất nhiều: ở Mỹ chỉ còn 56 %, ở Anh còn 66% và ở Pháp lương
giảm từ 30 đến 40% . Mức sống của người dân giảm sút, đời sống cơ cực, hàng triệu người chết đói. 
Người dân đứng lên đấu tranh: nhân dân lao động đã đứng dậy đấu
tranh vì đời sống quá cơ cực. Ở Mỹ từ 1929-1933, có 3 triệu rưỡi công nhân tham
gia bãi công. Ở Đức, hàng vạn công nhân bãi công kéo dài từ 1930 – 1933. 
3.2. Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 đến Việt Nam
Cuộc khủng hoảng cũng gây ảnh hưởng đến Việt Nam vì thực dân tăng
cường bóc lột, chèn ép khiến tài chính của Việt Nam trở nên kiệt quệ:
- Sản xuất ở Việt Nam bị trì trệ do Pháp rút vốn đầu tư để khắc phục hậu quả
sau chiến tranh và khủng hoảng kinh tế.
- Lúa gạo mất giá dẫn đến ruộng đất bị bỏ hoang.
- Tỷ lệ thất nghiệp tăng, tiền lương giảm đáng kể.