









Preview text:
20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
I. Đặc điểm tự nhiên - sinh thái của Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là nơi hội tụ và lan tỏa tinh hoa của đất nước. Mảnh đất này
không chỉ nổi bật bởi vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa mà còn mang những dấu ấn riêng
biệt về con người thanh lịch, nhã nhặn, văn minh. Và, yếu tố nền móng có vai trò không nhỏ trong việc
gây dựng nên Hà Nội với diện mạo và tâm hồn mang “chất riêng” như ngày nay chính là đặc điểm địa lý
địa hình nổi bật của thành phố này.
Về vị trí địa lý: Hà Nội có diện tích 3324km2, phía Bắc giáp Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, phía Tây
Bắc giáp Phú Thọ, phía Tây Nam giáp Hoà Bình, phía Đông Bắc giáp Bắc Giang, Bắc Ninh, phía Đông
Nam giáp Hưng Yên và phía Nam giáp Hà Nam. Hà Nội nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, lãnh thổ trải
dài theo chiều Bắc Nam (91km) và Tây – Đông (77km). Hà Nội thuộc Đông Bắc Bộ, nằm ở hữu ngạn
sông Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông khác. Hà Nội có các kiểu địa hình núi, đồi và đồng bằng,
trong đó đồng bằng chiếm 3⁄4 tổng diện tích, đồng bằng bồi đắp từ phù sa thấp. Hà Nội có 2 khối núi cao
trung bình là núi Sóc ở phía Bắc, núi Ba Vì ở phía Tây. Đồi núi chủ yếu tập trung ở các huyện Sóc Sơn,
Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức với các đỉnh núi như Ba Vì (1281m), Gia Dê (707m)... Ở nội thành có 1 số gò
đồi thấp như gò Đống Đa, núi Nùng, núi Sưa, núi Voi
Về khí hậu - thời tiết : HN mang đậm nét khí hậu vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc miền khí
hậu miền Bắc – khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều. Khí hậu
phân hoá theo độ cao, quanh năm 4 mùa rõ rệt, mùa Đông có gió mùa Đông Bắc, mùa hạ có gió Đông
Nam là hai kiểu gió chủ đạo. Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 10), chế độ mưa phân lập rõ,
mức khô hạn thấp, độ ẩm trung bình (83-85%). Ở đây có 1 số hiện tượng thời tiết đặc biệt như sương mù
trong các tháng mùa Đông, mưa phùn vào cuối Đông đầu Xuân, ngoài ra còn có sương muối xuất hiện
cực hiếm vào các tháng giữa mùa Đông
Về tài nguyên nước: Hà Nội nổi bật về tài nguyên nước, với 3600ha diện tích mặt nước ao hồ,
mạng lưới sông ao hồ dày đặc. Chế độ thuỷ văn của thành phố phụ thuộc vào sông Hồng và các đập thuỷ
điện: Hoà Bình, Sơn La. Đúng như cái tên “Hà Nội”, thành phố này có rất nhiều dòng sông chảy quanh:
sông Hồng, sông Đà, sông Đuống, sông Cà Lồ, sông Cầu, sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Đáy, sông
Tích... trong đó sông Hồng là dòng sông chính chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, vòng từ phía Tây
Bắc sang phía Đông của trung tâm thành phố. Sông Hồng, cùng với sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu, đã
tạo thành “tứ giác nước” có ý nghĩa to lớn về mặt văn hoá - lịch sử trong vai trò làm kinh đô của Thăng
Long – Hà Nội. Ngoài ra, ở Hà Nội còn có nhiều đầm, hồ (154 hồ) – các dấu tích còn lại của các dòng
sông cổ, điển hình như hồ Tây, hồ Gươm, đầm Kim Liên, đầm Linh Đàm... Các dòng sông đều mang
những giá trị vô cùng to lớn, không chỉ về mặt điều hoà không khí, cung cấp nguồn nước mà còn về mặt
văn hoá, tinh thần, lịch sử đối với người dân Hà Nội
Về tài nguyên sinh vật: Hà Nội có hệ sinh thái đa dạng với 9 kiểu hệ sinh thái, điển hình là các
hệ sinh thái núi thấp và núi trung bình Ba Vì với đặc trưng rừng nhiệt đới cây lá rộng, hệ sinh thái núi đá
vôi thuộc huyện Mỹ Đức, hệ sinh thái hồ lưu giữ giá trị lịch sử, văn hoá; hệ sinh thái nông nghiệp, đô thị,
nông thôn... với hệ động vật có nhiều loài quý hiếm (tê tê vàng, sóc bay trâu, cò hương, yểng tắc kè, cá
mòi cờ hoa...) và hệ thực vật phong phú với 6 ngành thực vật bậc cao, chứa nhiều nguồn gen quý (đào
Nhật Tân, đào phai, bưởi Diễn, húng Láng...)
Về tài nguyên khoáng sản: Nguồn khoáng sản ở HN tuy phong phú về số lượng nhưng lại hạn
chế về số lượng. Loại khoáng sản phong phú nhất là vật liệu xây dựng (cát xây dựng, cuội sỏi, sét gạch 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
ngói, đá vôi, đá ong...). Các tài nguyên khoáng sản khác bao gồm: kim loại (sắt, đồng, vàng... ở Ba Vì),
nhiên liệu (than đá, than bùn), khoáng sản công nghiệp (pyrit, Kaolin, Asbest), nước khoáng (Mỹ Khê, ĐỊnh Công, Sóc Sơn)
Địa hình :
● Đồi núi (ngoại – nội thành):
Địa hình đồi núi tập trung chủ yếu ở khu vực Ba Vì và lân cận.Về giá trị khoa học, Ba Vì là một
khối núi cao nhất và nằm ở phía Tây Bắc Hà Nội. Khối núi này được hình thành từ một sản phẩm phun
trào của núi lửa với thành phần là bazan được phun lên trong 2 pha hình thành vào đầu kì Trias ( khoảng
240 triệu năm trước ). Với độ cao trên 1200m, khối núi Ba Vì đã trở thành một “bộ điều hòa “ thời tiết cho Hà Nội.
Về tính đa dạng địa học: Xét về các thành tạo địa chất lộ ra trên bề mặt, thì vùng Hà Nội mở
rộng có nhiều loại nhất so với các địa phương khác trên cả nước. Tại đây, có tới 17 thành tạo địa chất với
thành phần đất đá ( từ gắn kết rắn chắc đến bờ rời ), nguồn gốc ( biến chất, trầm tích, magma ) và tuổi
khác nhau.; cổ nhất là hệ tầng núi Con Voi lộ ra ở khu vực Vị Tủy, Yên Mỹ (Sơn Tây ) và trẻ nhất là hệ
tầng Thái Bình ( chỉ vài 3000 năm trở lại )
Về giá trị thẩm mĩ: khối núi Ba Vì kéo dài theo phương Bắc- Nam, cs sườn phía Tây khá dốc,
còn sườn phía Đông tương đối thoải. Do đó, khi đứng ở bồ hồ Suối Hai, cách khoảng 10km về phía Bắc
có thể nhìn thấy rõ 3 đỉnh. Khi lên đỉnh núi Ba Vì, có thể nhìn thấy rõ phong cảnh xung quanh. Một trong
những vị trí có giá trị thẩm mĩ đáng kể trên núi Ba Vì nằm ở độ cao 400m. Đây chính là một trong những
mực san bằng có diện tích đáng kể và đứng ở đây cũng có thể nhìn về phía Bắc. Cảnh đẹp Ba Vì cũng là
một trong tiêu chí khắc vào Cửu Đỉnh của Triều Nguyễn. Ngoài ra, trên sườn khối Ba Vì còn nhiều suối,
thác nhỏ: Ao Vua, hồ Tiên Sa, Thác Bạc – Suối Sao.
Về giá trị văn hóa: Truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh về núi Ba Vì đã đi vào văn hóa tâm linh
của người Việt Nam: Sơn Tinh hay Thánh Tản đã làm cho núi này được nâng cao lên để giành chiến
thắng trong cuộc chiến đấu với Thủy Tinh, Để ghi nhớ công ơn đó, trên đỉnh núi Vua Bà, người Việt đã
xây dựng Đền Thượng thờ Đức Thánh Tản – một trong “Tứ Bất Tử “ của tiềm thức tâm linh Việt Nam.
Vùng núi Ba Vì cũng là căn cứ quan trọng trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
Do địa thế hiểm yếu, thuận lợi cả về đường sông và đường bộ và gần Thủ đô Hà Nội nên vùng núi Ba VÌ,
cụ thể là địa điểm Đá Chông đã được lựa chọn là nơi hội họp của Bộ Chính trị trong thời kỳ chiến tranh
phá hoại ác liệt của Mỹ. Sau đó trở thành nơi gìn giữ thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi giải
phóng miền Nam thống nhất đất nước. Gần đây, Đảng và Nhà nước đã cho xây dựng đền thờ Bác Hồ trên
đỉnh Núi Vua – đỉnh cao nhất của núi Ba Vì 1296m.
Về giá trị chức năng: Chức năng tự nhiên, địa hình cũng là trụ cột của hệ sinh thái. Theo đai
cao, núi Ba Vì là trụ cột của các hệ sinh thái đồi và núi thấp ( gồm cả hệ sinh thái dưới nước, trên cạn ).
Cũng chính từ đa dạng địa học như đã đề cập ở trên, các hệ sinh thái ở khu vực núi Ba Vì và lân cận cũng
có tính đa dạng sinh học cao. Đây cũng là một trong những lý do để khu vực núi Ba Vì được công nhân là Vườn Quốc Gia.
Về giá trị kinh tế: dễ dàng nhận thấy của vùng đồi núi Ba Vì là phát triển du lịch với nhiều l loại
hình khác: nghiên cứu khoa học, tham quan ngoại khóa cho học sinh phổ thông và sinh viên một số ngành
liên quan, du lịch sinh thái, văn hóa tâm linh. Hiện nay khu vực vùng núi Ba Vì và phụ cận cũng được
quy hoạch để phát triển vùng du lịch sinh thái của Hà Nội.
Địa hình đá vôi: 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
Địa hình trên đá vôi được các nhà khoa học trên thế giới gọi là karst, địa hình đá vôi có những
đặc điểm bên ngoài khác hẳn với địa hình phát triển trên các loại đá khác, rất dễ nhận ra. Địa hình đá vôi
ở vùng Hà Nội mở rộng được
II. Đặc trưng lịch sử Hà Nội thời kỳ Thăng Long
THỜI LÝ TRẦN (1010 - 1802)
1. Bối cảnh lịch sử
Sau khi vua Lê Long Đĩnh mất, Lý Thái Tổ lên ngôi năm
1009 nhờ sự tiến cử của Chi hậu Đào
Cam Mộc và quần thần. Năm ,
1010 vua Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La
và đặt tên là Thăng Long, “có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành là Thăng Long”,
đánh dấu một thời kỳ mới cho lịch sử đất nước. Thăng Long có địa thế thuận lợi, đất đai màu mỡ, giúp
kinh tế nông và thương nghiệp phát triển. Nhà Lý đóng đô ở Thăng Long từ 1010 đến 1225, qua 9 đời vua
trong đó vua cuối cùng là bà Lý Chiêu Hoàng.
Nhà Trần được thành lập nhờ mưu kế của Thái sư Trần Thủ Độ, thông qua cuộc hôn nhân giữa
Lý Chiêu Hoàng với Trần Cảnh. 1225, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, thời kỳ nắm quyền của
nhà Trần bắt đầu từ năm 1225 - 1400.
2. Thành tựu của hai triều đại trên đất Thăng Long 2.1. Kinh tế
Trong giai đoạn này, nông nghiệp vẫn là nền tảng của kinh tế, song thủ công nghiệp và thương
nghiệp cũng phát triển mạnh mẽ. Nhà Lý và nhà Trần đều chú trọng đến việc xây dựng và bảo vệ đê điều,
kênh rạch giúp ngăn lũ và phục vụ sản xuất nông nghiệp, ví dụ con đê Cơ Xá (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
Thăng Long lúc bấy giờ gồm 61 phường. Mỗi phường là nơi tập trung các thợ thủ công làm
chung một nghề và thường có chung 1 quê. Bởi vậy, người ta thường nói về “phường thợ xây” hay
“phường thợ mộc”..., hình thành nên các con phố buôn bán đặc trưng của Thăng Long.
2.2. Chính trị
Thăng Long là nơi thiết lập và củng cố quyền lực chính trị của cả hai triều đại Lý và Trần. Nhà
Lý áp dụng chế độ phong kiến tập quyền, thành lập một hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa
phương, xây dựng chính sách “ngụ binh ư nông,” giúp vừa duy trì lực lượng quân đội mạnh, vừa phát triển nông nghiệp.
Ngoài ra, Thăng Long là nơi diễn ra cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nổi bật là cuộc chiến
chống quân Tống 1075 - 1077, có những người con của Thăng Long, không kể xuất thân quyền quý, khi
đất nước lâm nguy thì lao vào đánh giặc, sẵn sàng làm mọi việc để lo giữ gìn giang sơn, xã tắc. Đó 2
hoàng tử con vua: Hoằng Chân và Chiêu Văn đã anh dũng hy sinh khi đem quân chặn địch tiến vào
Thăng Long. Và Nguyên phi Ỷ Lan, người phụ nữ tài ba, chăm lo hậu phương để vua Lý đi đánh phương Nam. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
Nhà Trần không chỉ củng cố hệ thống chính trị mà còn là triều đại nổi bật với tinh thần yêu nước
và bảo vệ độc lập dân tộc, ví dụ Hội nghị Diên Hồng vào năm 1284, thể hiện tinh thần dân chủ và sự
đồng lòng của nhân dân. Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (1258, 1285, 1287-1288) đã
đưa Thăng Long trở thành biểu tượng cho lòng kiên cường, bất khuất của dân tộc. Cuộc kháng chiến
thành công đã giúp củng cố vị thế của triều đại Trần cũng như sự phát triển của Thăng Long.
2.3. Văn hóa và tôn giáo
Thời Lý-Trần chủ trương chính sách “Tam giáo đồng nguyên”, các tôn giáo tồn tại hòa hợp,
chung sống hòa bình với nhau. Các tín ngưỡng dân gian như thờ ông bà tổ tiên, người có công có đất
nước, thờ Mẫu,...được khuyến khích và tự do phát triển. Cùng với sự phát triển của các hình thức nghệ
thuật như múa rối nước, hát chèo, và các lễ hội truyền thống (ví dụ : lễ hội Gióng ở Sóc Sơn)
Tuy nhiên, trên nền tảng đó, đạo Phật là tôn giáo thịnh đạt nhất trong xã hội thời Lý-Trần, được
coi như một Quốc giáo, với sự xuất hiện của nhiều ngôi chùa lớn như chùa Một Cột, chùa Láng, chùa
Phật Tích... Ngoài triều đình, nhân dân trong làng xã cũng nô nức theo đạo Phật như Lê Văn Hưu trong
Đại Việt Sử ký toàn thư đã từng nhận xét: “Nhân dân lúc đó quá nửa làm sư”. Ở thời điểm này, đạo
Phật phát triển, ảnh hưởng sâu đậm đến đường lối cai trị của Nhà nước (chính sách thân dân, khoan dung) 2.4. Giáo dục
Nhà Lý và nhà Trần đều chú trọng đến việc phát triển giáo dục, đặc biệt là Nho học, điển hình
như xây dựng Văn Miếu (1070), tổ chức kỳ thi Nho học đầu tiên (1075) và Quốc Tử Giám (1076) dưới
thời Lý Thánh Tông, là ngôi trường đại học đầu tiên tại Đại Việt, nơi đào tạo các Nho sĩ và quan chức cho triều đình.
Nhà Trần tiếp tục phát triển giáo dục với hệ thống Tam Khôi vào năm 1247 (Trạng Nguyên, Bảng
Nhãn, Thám Hoa), sản sinh nhiều học giả nổi tiếng như Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Đây là những đóng
góp quan trọng cho việc hình thành đội ngũ quan lại và trí thức thời bấy giờ.
Văn học thời Lý-Trần phát triển trên nền tảng Phật giáo và Nho giáo, với các tác phẩm yêu nước
như "Nam Quốc Sơn Hà" (Lý Thường Kiệt) và "Hịch tướng sĩ" (Trần Quốc Tuấn). Chữ Nôm cũng
bắt đầu phổ biến, gọi là “Quốc Ngữ” mang đậm tính dân tộc và dân gian trên cơ sở cải biên và Việt hoá chữ Hán.
2.5. Kiến trúc
Điêu khắc thời Lý - Trần đã đạt đến mức độ tinh vi, thanh thoát với nhiều phong cách độc đáo và
đa dạng, điển hình là công trình: chùa Diên Hựu, tháp Báo Thiên và thành Thăng Long với ba vòng
thành (tam trùng thành quách) (thời Lý); tháp Phổ Minh, thành Tây Đô (thời Trần) 3. Kết luận
Đại Việt thời Lý Trần đã là một thực thể quốc gia thống nhất khá cao với điểm kết tụ là Thăng
Long. Bằng sự tổng hợp “quyền lực” chính trị, kinh tế và văn hoá, Thăng Long thời Lý Trần đã đóng một
vai trò mang tính quyết định đến sự nghiệp phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc,
trở thành biểu tượng và hình ảnh dân tộc của một trong những trang hào hùng nhất của lịch sử Việt Nam. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
THĂNG LONG 1400 - 1802
1. Bối cảnh ra đời và tồn tại của hai vương triều Hồ – Lê – Tây Sơn
Thăng Long thời kỳ (1400 - 1802) xảy ra nhiều biến động với sự thay đổi liên tục của các triều đại.
Nhà Hồ :
Cuối thế kỷ 14, nhà Trần suy yếu. Trong bối cảnh đó, tể tướng Hồ Quý Ly đã phế truất vua Trần
Thiếu Đế, giành ngôi lập ra vương triều nhà Hồ (1400-1407). Ở thời kỳ này, Thăng Long đổi tên là Đông
Đô vì lúc bấy giờ kinh đô nằm ở Tây Đô (Thanh Hóa). Tuy mất vị thế trung tâm chính trị cả nước nhưng
vẫn là trung tâm kinh tế, văn hóa lớn nhất, nơi hội tụ 4 phương, vì Tây Đô “ở nơi chật hẹp, hẻo lánh, cuối
nước, đầu non”, là 1 thành đô thiên về quân sự nên khó có thể thay thế được vị thế của Đông Đô.
Tuy nhiên, nhà Hồ không cầm quyền được lâu dài.
1407, nhà Minh xâm lược nước ta và Đông
Đô lúc đó bị quân Minh đổi thành Đông Quan. Năm ,
1408 Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa từ miền Tây Thanh Hóa. Hào kiệt 4 phương về Lam Sơn tụ
nghĩa với ý chí quyết tâm xả thân cứu nước, cứu dân. Trong đó, có những người con của Thăng Long -
Đông Đô như Nguyễn Trãi và Phạm Văn Xảo.
Sau 10 năm kháng chiến chống giặc Minh, năm ,
1427 quân Minh đại bại và thành Đông Quan
được giải phóng. Lần đầu tiên trong lịch sử, tướng lĩnh và quan quân nhà Minh phải đầu hàng dưới hình
thức Hội thề Đông Quan. Nhà Lê :
Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi, mở đầu triều đại nhà Lê, hiệu là Lê Thái Tổ. Kinh đô của nhà Lê lại
là Thăng Long xưa, còn gọi là Đông Kinh. Thăng Long dưới thời Lê Sơ đã phát triển rực rỡ, đặc biệt thời
kỳ Lê Thánh Tông nắm quyền (1460-1497): cải cách bộ máy nhà nước; ban hành bộ luật Hồng Đức, định
bản đồ cả nước (bản đồ Hồng Đức) gồm các phủ, châu, huyện, xã của 12 đạo thừa tuyên, tổ chức quân đội
quy củ, đào tạo võ bị tại kinh thành (khu Giảng Võ)
Thời Hậu Lê, Thăng Long bắt đầu xuất hiện 36 phường, có các chợ buôn bán tấp nập. Thời kì
này, kinh thành Thăng Long có 2 huyện: Quảng Đức và Vĩnh Xương thuộc phủ Phụng Thiên, mỗi huyện
có 18 phường. Thời Lê Sơ, Hoàng thành Thăng Long trải qua 2 lần mở rộng vào thời Lê Thánh Tông và Lê Tương Dực.
Dưới thời nhà Lê, giáo dục Nho học rất được coi trọng, khi thi cử trở thành “đường thẳng của
quan trường”. Ngoài hình thức tiến cử, thi cử được sử dụng để tuyển chọn quan lại. Năm 1484, Lê Thánh
Tông cho lập bia đá khắc tên tiến sĩ trước cửa nhà Thái Học, ghi danh các tiến sĩ từ khoa thi Hội đầu tiên vào năm .
1442 Việc này không chỉ cổ vũ sĩ tử mà còn đề cao khoa cử và lưu truyền tấm gương cho các thế hệ sau.
Triều Mạc :
Đầu thế kỷ 16, vương triều Lê bắt đầu suy yếu, bộc lộ nhiều yếu kém trong điều hành đất nước.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên nắm quyền lập triều Mạc (1527-1592), với Thăng Long vẫn giữ vị trí là kinh đô.
Chính sách văn hóa, xã hội của nhà Mạc “dựa theo phép cũ của triều Lê”, do đó ít xáo trộn. Tôn
giáo và tín ngưỡng ở Thăng Long thời Mạc là sự hòa nhập của ba tôn giáo Nho, Phật, Đạo (tam giáo đồng
nguyên). Ngoài ra, các tín ngưỡng dân gian truyền thống cũng phát triển, đặc biệt là đạo Mẫu gắn với thờ
Mẫu Liễu Hạnh. Thế kỷ 16, tục thờ thần linh hình thành và phát triển tại các đền miếu ở các làng ven đô. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
Năm 1592, tôn thất nhà Lê trở về Thăng Long, đánh bại nhà Mạc, mở đầu giai đoạn Lê Trung
Hưng. Thời kỳ này chứng kiến sự hình thành các thôn phường chuyên nghiệp về nghề thủ công.
TK 17, kinh tế thương mại của Thăng Long phát triển mạnh mẽ, hàng hóa phong phú, được mệnh
danh là "Kẻ Chợ," với câu nói nổi tiếng: "Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến." Tuy nhiên, sang TK ,
18 chế độ phong kiến suy yếu, nhà Trịnh lộng hành, dẫn đến đời sống nhân
dân khó khăn, đất nước bị chia cắt Đàng trong, Đàng ngoài. Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ năm 1771, tiêu
diệt chúa Trịnh vào năm 1786 và trao quyền cho vua Lê Hiển Tông.
Khi Lê Chiêu Thống lên nắm quyền, quân Thanh xâm lược. Nguyễn Huệ, với danh hiệu Quang
Trung, đã đánh bại 29 vạn quân Mãn Thanh trong trận Ngọc Hồi – Đống Đa. Sau đó, triều Quang Trung
chuyển đô về Phú Xuân (Huế), Thăng Long không còn là kinh đô mà chỉ là lỵ sở của Bắc Thành.
3. Kết luận:
Từ 1400 đến 1802, Thăng Long trải qua nhiều giai đoạn biến động lịch sử, nhưng vẫn giữ vững
vai trò là trung tâm quyền lực, văn hóa, và kinh tế quan trọng của Đại Việt. Dù phải đối mặt với nhiều
cuộc chiến tranh và thay đổi triều đại, Thăng Long đã chứng tỏ sức mạnh văn hóa và tinh thần kiên cường
của người dân Việt Nam trong việc bảo vệ và phát triển đất nước.
III. Tín ngưỡng thờ Tổ nghề 1. Khái niệm:
Tín ngưỡng thờ Tổ nghề, còn được gọi là Tổ sư, Thánh sư hay Nghệ sư, là hình thức thờ phụng
những người sáng lập, phát minh, hoặc truyền dạy một nghề thủ công nào đó cho cộng đồng. Những
người này có thể là nhân vật có thật trong lịch sử hoặc nhân vật huyền thoại được dân gian tôn vinh vì
những đóng góp của họ trong việc hình thành và phát triển ngành nghề.
2. Nguồn gốc và đặc điểm :
Tín ngưỡng này xuất phát từ lòng biết ơn của những người làm nghề, nhằm tôn vinh những người
sáng lập nghề, đồng thời cầu mong sự phù trợ để công việc suôn sẻ, tránh rủi ro. Nếu công việc thuận lợi,
người ta cho rằng được "tổ đãi", ngược lại khi gặp khó khăn, thất bại, đó là do "tổ trát", tức bị tổ nghề trách phạt.
Nguồn gốc và sự phát triển: Phố cổ Hà Nội, với 36 phố phường nổi tiếng, là nơi tập trung của
nhiều phường nghề từ các làng quê khác nhau. Sự quy hoạch của nhà Lê từ các phường thời Lý - Trần đã
làm tăng sự phát triển của khu vực này. Theo ghi chép của Nguyễn Trãi trong "Dư địa chí" năm 1435,
kinh thành Thăng Long có các phường nghề riêng, mỗi phường tập trung người dân từ các làng nghề, tạo
nên không gian buôn bán và sinh hoạt cộng đồng đặc trưng của Hà Nội.
Sự đa dạng của tổ nghề : Hà Nội thờ phụng rất nhiều tổ nghề, mỗi tổ nghề gắn liền với một
ngành nghề thủ công cụ thể. Ví dụ:
-Tổ nghề làm lọng, Lê Công Hành, thờ ở phố Hàng Mành.
-Tổ sư nghề tráng gương, thờ ở đình Phúc Hậu, phố Hàng Bông.
-Tổ sư nghề dệt lụa, Ả Lã Đê Nương, ở Vạn Phúc
-Tổ nghề gốm sứ bát tràng, Hứa Vĩnh Kiều, ở Gia Lâm
-Tổ nghề nhuộm, thờ ở đình Hoa Lộc, phố Hàng Đào. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
Một số vị tổ nghề còn được tôn làm Thành hoàng làng nếu cả làng cùng theo một nghề, và ngày
giỗ tổ nghề cũng là ngày hội chung của cả làng.
Các dịp cúng thờ Tổ nghề: Tết Đoan Ngọ, Vu Lan, Trung Thu
3. Vai trò :
Mở mang mạng lưới chợ, thúc đẩy phát triển kinh tế. Các thợ thủ công liên kết lại, tạo thành
các khu phố riêng để bán hàng, với mô tả "mỗi căn nhà là một cửa hiệu" như Hàng Đào cho tơ lụa, Hàng
Đồng cho cuốc xẻng hay Hàng Mũ cho mũ. Các phố buôn bán tạo thành một "chợ mênh mông" kéo dài
hơn 2 km, nơi họp chợ diễn ra thường xuyên. Những ngôi chợ phiên như chợ Tú Đình bán đồ thêu của
dân Quất Động, chợ Hoa Lộc bán sản phẩm nhuộm của dân Đan Loan, hay phố chợ Kim Ngân chuyên
bán sản phẩm bằng vàng bạc là minh chứng cho sự phát triển của các khu vực này và khẳng định vai trò
quan trọng trong đời sống kinh tế. Ngoài ra, đình làng trong các phường nghề vừa là nơi thờ cúng tổ nghề,
vừa là nơi họp chợ. Chẳng hạn, đình Đồng Lạc trên phố Hàng Đào được xây dựng từ thời Lê, là nơi thờ 3
vị thành hoàng làng: Bạch Mã, Cao Sơn, Linh Lang và cũng là nơi bán yếm lụa.
Tăng cường mối quan hệ gắn bó và tương trợ lẫn nhau giữa các thành viên cùng phường
nghề. Trong các dịp lễ tết và giỗ tổ, người dân chia sẻ kinh nghiệm sản xuất và cải tiến chất lượng sản
phẩm. Lễ “trình nghề” cũng là dịp để tiếp thị sản phẩm mới và củng cố mối quan hệ làm ăn. Phường nghề
hỗ trợ nhau về vốn, nguyên liệu và việc làm; ví dụ, thợ bạc Đồng Xâm có quy tắc tương trợ thể hiện tinh
thần “bần phú tương san, hoạn nạn tương cứu”, tạo sự đoàn kết giữa những người cùng nghề và xa quê.
Nâng cao ý thức giữ gìn uy tín nghề nghiệp. Để duy trì lòng tin từ khách hàng, các phường
nghề có quy định nghiêm ngặt, buộc thành viên phải bảo vệ chữ “tín” trong kinh doanh. Ví , dụ thợ Châu
Khê tại phố Hàng Bạc xây dựng Điều lệ phố chợ Kim Ngân, quy định rõ việc vi phạm quy tắc sẽ bị phạt,
như Điều 52 nêu phạt 5 quan cho những ai vi phạm. Ngoài ra, để có sự ràng buộc lẫn nhau, mỗi nghề bầu
ra những ông trùm, người đứng đầu đăng cai nhận sản phẩm rồi trao lại cho từng hộ cá thể.
Giáo dục đạo đức truyền thống. Hình tượng tổ nghề, dù là nhân vật có thật hay huyền thoại,
đều được xem là những người tài giỏi, vượt qua khó khăn và thành công, trở thành tấm gương cho hậu thế
noi theo. Nhiều tổ nghề không chỉ giỏi về nghề mà còn là quan chức, tri thức, hoặc anh hùng bảo vệ đất
nước. Việc thờ cúng tổ nghề dạy con cháu lòng tri ân, tinh thần "ăn quả nhớ kẻ trồng cây," "tôn sư trọng
đạo," khuyến khích học hỏi, sáng tạo và vượt khó để thành công.
Góp phần đa dạng văn hoá Thăng Long. Tín ngưỡng thờ tổ nghề ở phố cổ Hà Nội, dù là tín
ngưỡng của nhóm xã hội nghề nghiệp, lại ảnh hưởng đến văn hóa Thăng Long. Sau mỗi khu phố có chữ
"Hàng" là cả mô hình tổ chức xã hội nông thôn được các người thợ thủ công đưa từ các vùng quê với đầy
đủ các thiết chế văn hóa truyền thống, được duy trì và kết tinh qua hàng trăm năm tạo nên "hồn cốt" của
Kẻ Chợ, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa dân gian của Thăng Long - Hà Nội. 5. Kết luận
Tín ngưỡng thờ tổ nghề là một di sản văn hóa độc đáo, vừa đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh,
vừa góp phần củng cố sự đoàn kết và bảo vệ uy tín nghề thủ công. Dù từng có giai đoạn bị xao lãng, nhờ
sự tu bổ và phục hồi từ chính quyền, tín ngưỡng này vẫn được duy trì, góp phần làm phong phú thêm bản
sắc văn hóa Thăng Long - Hà Nội và tạo nền tảng cho sự phát triển trong bối cảnh hiện đại. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
IV. Thăng Long tứ trấn
1. Bối cảnh hình thành Thăng Long Tứ Trấn
Thăng Long Tứ Trấn là hệ thống 4 ngôi đền linh thiêng: Đền Bạch Mã, Đền Voi Phục, Đền Kim
Liên, và Đền Quán Thánh, được xây dựng tại bốn hướng chính quanh kinh thành Thăng Long, nhằm bảo
vệ và che chở cho kinh đô khỏi các thế lực đen tối và hiểm họa từ tự nhiên hay ngoại bang. Việc xây
dựng các ngôi đền này phản ánh sâu sắc tín ngưỡng dân gian của người Việt, sự hòa quyện giữa văn hóa
bản địa với tư tưởng tôn giáo và triết lý phương Đông.
2. Tín ngưỡng tại bốn ngôi đền
2.1. Đền Bạch Mã (Trấn Đông)
Đền Bạch Mã nằm ở phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, là một trong những ngôi đền quan trọng
nhất của hệ thống Tứ Trấn. Đền thờ thần Long Đỗ, vị thần bảo hộ kinh thành, được xem như thần linh
bản địa của vùng đất Thăng Long.
Theo truyền thuyết, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, gặp khó khăn trong
việc xây thành vì thành bị sụp đổ nhiều lần, nhà vua đã đến đền thờ thần Long Đỗ để cầu nguyện. Thần
đã xuất hiện dưới hình dạng một con ngựa trắng và chạy vòng quanh chỉ dẫn cho vua Lý Thái Tổ cách
xây dựng thành. Sau đó, thành được xây dựng thành công. Để tạ ơn thần Long Đỗ, nhà vua đã đặt tên
ngôi đền là Bạch Mã (nghĩa là Ngựa Trắng).
Đền Bạch Mã là biểu tượng của sức mạnh tinh thần và văn hóa, với vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ phương Đông của Thăng Long, nơi được coi là hướng xuất hiện của những năng lượng tích cực
theo quan niệm phương Đông. Đền tổ chức lễ hội vào 12 - 13 tháng 2 âm lịch hàng năm với đoàn rước
kiệu mặc trang phục truyền thống rực rỡ. Lễ hội mang ý nghĩa tiễn mùa đông, đón mùa xuân, cầu mong
mùa màng bội thu, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
2.2. Đền Voi Phục (Trấn Tây)
Đền Voi Phục tọa lạc tại khu vực Thủ Lệ, quận Ba Đình, là nơi trấn giữ phía Tây của kinh thành
Thăng Long. Đền thờ thần Linh Lang Đại Vương, con trai của vua Lý Thái Tông và bà phi thứ 9 Dương Thị Quang.
Sau khi mất, người dân Thủ Lệ lập đền thờ và được nhà vua sắc phong là Linh Lang Đại Vương.
Thần đã nhiều lần âm phù giúp nhà Trần trong cuộc chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, và nhà
Lê trong cuộc phục hưng. Vì trước cửa đền có đắp hai con voi quỳ gối nên quen gọi là đền Voi Phục và vì
đền ở phía Tây kinh thành nên còn gọi là trấn Tây hoặc trấn Đoài (Đoài, theo bát quái thuộc phương Tây).
Đền Voi Phục được xây dựng để tưởng nhớ công lao của ông trong việc chống giặc ngoại xâm và cũng là
điểm đến tâm linh quan trọng. Vào 9 - 10 tháng 2 âm lịch hàng năm đền thường tổ chức lễ hội mang ý
nghĩa cầu bình an, tiền tài, danh vọng, hình ảnh lễ rước kiệu còn mang ý nghĩa kiệu thánh đi vi hành ban
lộc, ban phước cho nhân dân.
2.3. Đền Kim Liên (Trấn Nam)
Đền Kim Liên nằm ở phường Phương Liên, quận Đống Đa, là ngôi đền trấn giữ phía Nam của
Thăng Long, nơi thờ thần Cao Sơn Đại Vương. Theo tín ngưỡng dân gian, thần Cao Sơn là một trong ba
vị sơn thần của vùng núi Ba Vì, người có công giúp vua Lê Tương Dực cầm quân dẹp loạn. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu
Kết cấu đình và đền Kim Liên gồm có Nghi môn, Đại Bái và Cung cấm. Trong đền có tấm bia đá
rất lớn được chạm khắc tinh xảo, Bia có khắc: “Cao Sơn Đại Vương thần từ bi minh” do sử thần Lê
Trung soạn năm 1510 nói về công lao của thần Cao Sơn Đại Vương trong việc ngầm giúp vua Lê giành
lại ngai vàng từ tay ngoại thích. Đây chính là di vật quan trọng nhất tại đền mà đến nay còn nguyên giá
trị. Đền Kim Liên còn lưu giữ 39 đạo sắc phong cho thần Cao Sơn Đại Vương, 26 sắc phong thời Lê
Trung Hưng, 13 sắc phong thời nhà Nguyễn. Hội đền Kim Liên được tổ chức vào 16/03 âm lịch hàng
năm, đây cũng là ngày sinh của thần Cao Sơn.
2.4. Đền Quán Thánh (Trấn Bắc)
Đền Quán Thánh nằm ở ngã tư đường Thanh Niên và Quán Thánh, gần Hồ Tây. Đền thờ Trấn
Vũ, còn gọi là Huyền Thiên Trấn Vũ, là vị thần có quyền lực lớn, bảo hộ phía Bắc của Thăng Long và
bảo vệ người dân trước những thế lực ma quỷ và giúp trừ tà.
Đền Quán Thánh xây dựng năm 1010 dưới thời vua Lý Thái Tổ.Trong đền có thờ một pho tượng
đồng Huyền Thiên Trấn Vũ đúc vào năm 1677 do Vũ Công Chấn. Bức tượng đồng đen toát lên vẻ uy
nghi, đầy sức mạnh với các đường nét rất tinh tế, có hồn và mang dáng vẻ riêng biệt. Ngoài pho tượng,
đền còn có những đồ vật bằng đồng rất lớn khác như: khánh đồng từ thời Tây Sơn, vạc đồng, lư hương
đồng… và 52 bộ hành phi câu đối từ các thời. Vào 03/03 âm lịch hằng năm, đền đều tổ chức lễ hội để
người dân tưởng nhớ công lao diệt trừ tà ma, yêu quái để người dân luôn được bình an của ông. Bên cạnh
đó, vào những ngày mùng 1, rằm hoặc lễ tết ngôi đền này cũng đón tiếp rất nhiều du khách và người dân
đến dâng hương, cầu bình an, tài lộc. 3. Vai trò
Thăng Long Tứ Trấn đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và duy trì phong thủy cho kinh đô
Thăng Long, thể hiện triết lý "âm dương ngũ hành" và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Đây không
chỉ là nơi thờ phụng các vị thần bảo hộ mà còn là trung tâm tín ngưỡng dân gian, nơi người dân thường
đến cầu nguyện cho quốc thái dân an, mùa màng bội thu và tránh khỏi tai ương. Ngoài ý nghĩa tâm linh,
Tứ Trấn còn là biểu tượng văn hóa và lịch sử của Thăng Long, lưu giữ những giá trị tinh thần, nghệ thuật
đặc sắc qua các triều đại. Với kiến trúc và nghệ thuật độc đáo, Tứ Trấn trở thành di sản văn hóa quý giá,
đóng góp vào sự phát triển của văn hóa và kiến trúc truyền thống Việt Nam. 4. Kết luận
Tín ngưỡng Thăng Long Tứ Trấn là một phần không thể thiếu trong văn hóa tâm linh của người
dân Hà Nội. Hệ thống đền thờ này không chỉ đóng vai trò bảo vệ kinh đô về mặt phong thủy và tâm linh
mà còn thể hiện sự tôn vinh những anh hùng, thần thánh có công với dân tộc. Từ đó, Thăng Long Tứ Trấn
trở thành biểu tượng của sự đoàn kết và lòng yêu nước của người dân Việt qua các thời kỳ lịch sử. 20:34, 07/01/2026
HNH - Đặc Điểm Tự Nhiên và Văn Hóa Hà Nội - Studocu