



















Preview text:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA MARKETING BÀI THẢO LUẬN
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Đề tài:
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI (2006 - NAY)
Nhóm thực hiện: 01
Giảng viên hướng dẫn: Hoàng Thị Thắm
Lớp học phần: 242_HCMI0131_27
Hà Nội, tháng 05 năm 2025
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
I. Lý do chọn đề tài . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
II. Mục tiêu nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
III. Phương pháp nghiên cứu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 2006 – 2015
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1. Bối cảnh tác động đến công tác Đối ngoại. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.1. Bối cảnh quốc tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
1.1.2. Bối cảnh trong nước. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 7
1.2. Chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại (2006 – 2015) . . . . . . . . . . . . . . . . 10
1.3. Chỉ đạo thực hiện thông qua các kỳ Đại hội Đảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.3.1. Đại hội X (2006) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
1.3.2. Đại hội XI (2011) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
CHƯƠNG 2: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 2015 – NAY
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.1. Bối cảnh tác động đến công tác đối ngoại . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.1.1. Bối cảnh quốc tế . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 21
2.1.2. Bối cảnh trong nước. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 22
2.2. Chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại (2015 – nay) . . . . . . . . . . . . . . . . . 24
2.3. Chỉ đạo thực hiện thông qua các kỳ Đại hội Đảng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26
2.3.1 Đại hội XII (2016) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 26
2.3.2. Đại hội XIII (2021) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 31
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
3.1. Nhận xét chung về vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác đối ngoại . . . . . . 38
3.1.1. Thành tựu đạt được và nguyên nhân. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 38
3.1.2. Hạn chế và nguyên nhân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 44
3.1.3. Những bài học kinh nghiệm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 45
3.2. Liên hệ thực tiễn . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 48
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 53 2 LỜI MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, đối ngoại ngày càng trở thành một trong
ba trụ cột quan trọng bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh quốc phòng và an ninh. Từ sau Đại hội
X năm 2006 – dấu mốc quan trọng mở ra thời kỳ hội nhập toàn diện và sâu rộng – đến
nay, công tác đối ngoại của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, linh hoạt và
hiệu quả, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa và sự biến động nhanh chóng của tình hình
khu vực và thế giới. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, nhất quán của Đảng Cộng sản Việt
Nam, đối ngoại không chỉ là công cụ bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc mà còn là phương
tiện quan trọng để nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Thực tiễn
cho thấy, từ việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia lớn,
cho đến việc chủ động tham gia các cơ chế đa phương như ASEAN, APEC, WTO,
CPTPP hay Liên Hợp Quốc, Việt Nam đều đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.
Chính từ ý nghĩa to lớn đó, nhóm 1 chúng em lựa chọn đề tài “Đảng lãnh đạo
công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới (2006 – nay)” với mong muốn phân tích rõ
nét vai trò lãnh đạo của Đảng trong hoạch định đường lối, chủ trương đối ngoại, cũng
như việc tổ chức thực hiện hiệu quả trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều thay đổi
phức tạp. Thông qua đề tài, chúng em cũng hy vọng góp phần nâng cao nhận thức của
sinh viên – thế hệ trẻ hôm nay – về vai trò của đối ngoại và trách nhiệm của mỗi cá nhân
trong việc lan tỏa hình ảnh Việt Nam thân thiện, năng động và bản lĩnh trong thời đại hội nhập.
II. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài "Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới (2006 - nay)" nhằm
mục tiêu phân tích và làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc
hoạch định và triển khai đường lối đối ngoại phù hợp với bối cảnh quốc tế và trong nước
từ năm 2006 đến nay. Đặc biệt, đề tài tập trung vào việc nhận diện những bước chuyển
quan trọng trong tư duy đối ngoại của Đảng qua các kỳ Đại hội X, XI, XII và XIII, từ
đó đánh giá những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong công tác đối ngoại.
Cụ thể, đề tài hướng đến việc:
+ Phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến công tác đối ngoại của
Việt Nam trong hai giai đoạn 2006–2015 và 2015–nay.
+ Làm rõ những chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng trong từng giai đoạn,
đặc biệt là sự chuyển biến từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập quốc tế toàn diện
+ Đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc chỉ đạo thực hiện công tác đối
ngoại thông qua các kỳ Đại hội Đảng, cũng như những thành tựu và hạn chế trong quá trình triển khai. 3
+ Rút ra những bài học kinh nghiệm và liên hệ thực tiễn đối với thế hệ trẻ, đặc biệt
là sinh viên – cán bộ trẻ, trong việc nắm vững quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng
và phát huy vai trò cá nhân trong công tác đối ngoại nhân dân.
III. Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khách quan, khoa học và toàn diện cho đề tài “Đảng lãnh đạo
công tác đối ngoại trong thời kỳ đổi mới (2006 - nay)”, nhóm chúng em đã vận dụng
tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu phù hợp với tính chất lịch sử - chính trị - đối
ngoại của nội dung. Trước hết, phương pháp lịch sử đóng vai trò chủ đạo xuyên suốt
quá trình nghiên cứu. Phương pháp này giúp chúng em tìm hiểu, phân tích và trình bày
lại một cách hệ thống các giai đoạn phát triển của công tác đối ngoại Việt Nam từ năm
2006 đến nay. Thông qua việc khảo cứu các văn kiện, nghị quyết của Đảng, các công
trình khoa học và tài liệu lưu trữ chính thống, phương pháp lịch sử giúp tái hiện bối
cảnh, điều kiện và yêu cầu khách quan đã đặt ra đối với công tác đối ngoại qua từng giai
đoạn phát triển của đất nước.
Phương pháp so sánh cũng được vận dụng để làm nổi bật sự thay đổi giữa công tác
đối ngoại thời kỳ trước và công tác đối ngoại thời kỳ sau, đặc biệt ở các mặt như quan
hệ song phương, đa phương, hợp tác quốc tế, cũng như mức độ hội nhập quốc tế. Qua
đó, người viết có cơ sở để chỉ ra xu hướng chuyển mình của công tác đối ngoại Việt
Nam theo hướng hiện đại hóa, hội nhập hóa và đa phương hóa dưới sự lãnh đạo thống
nhất, toàn diện của Đảng.
Đề tài cũng khai thác yếu tố liên hệ thực tiễn, đặc biệt là liên hệ vai trò và trách
nhiệm của thế hệ trẻ trong việc tiếp tục phát huy những thành quả của công tác đối ngoại.
Thế hệ trẻ, nhất là học sinh – sinh viên, không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà
còn là chủ thể trực tiếp tham gia vào việc đổi mới phương pháp học tập, ứng dụng công
nghệ, phát triển năng lực cá nhân gắn với yêu cầu thời đại. Việc liên hệ này không chỉ
tạo tính thời sự, tính thực tiễn mà còn làm nổi bật ý nghĩa giáo dục - tư tưởng - đạo đức
trong việc giáo dục lý tưởng sống và khát vọng cống hiến cho thanh niên. 4
CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GIAI ĐOẠN 2006 – 2015
1.1. Bối cảnh tác động đến công tác Đối ngoại
1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Trong giai đoạn 2006-2015, công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn
ra trong bối cảnh quốc tế đầy biến động, với những chuyển mình sâu sắc về chính trị,
kinh tế và an ninh. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam đã tận dụng thời cơ,
vượt qua thách thức, khẳng định vị thế trên trường quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích quốc
gia và thúc đẩy sự nghiệp đổi mới. Bối cảnh quốc tế thời kỳ này được định hình bởi ba
yếu tố chính: xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự thay đổi
trong cục diện chính trị và an ninh khu vực cũng như thế giới, và cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu năm 2008 với những tác động sâu sắc đến quan hệ quốc tế.
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
Toàn cầu hóa, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và giao lưu kinh
tế, đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính
thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sự kiện này không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận thị
trường toàn cầu mà còn đặt Việt Nam trước yêu cầu tuân thủ các quy tắc và chuẩn mực
quốc tế. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X (tháng 4-2006), Đảng xác định: “Chủ động
và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh
vực khác”. Chủ trương này đã tạo tiền đề cho Việt Nam ký kết hàng loạt hiệp định
thương mại, như Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA, có hiệu
lực từ tháng 10-2009) và tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương
(TPP) từ năm 2010, hoàn tất vào năm 2015.
Toàn cầu hóa không chỉ dừng ở kinh tế mà còn thúc đẩy liên kết sâu rộng về văn
hóa, chính trị và an ninh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam tích cực tham gia các
tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC và Liên Hợp Quốc. Một dẫn chứng tiêu
biểu là Hội nghị Thượng đỉnh APEC lần thứ 14 tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11-2006,
thu hút 21 nhà lãnh đạo kinh tế toàn cầu. Tuyên bố Hà Nội và Kế hoạch Hành động Hà
Nội được thông qua tại hội nghị đã khẳng định vai trò dẫn dắt của Việt Nam trong hợp
tác kinh tế khu vực. Những thành tựu này không chỉ nâng cao uy tín quốc tế mà còn thể
hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc kết hợp “sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”.
Tuy nhiên, việc này cũng mang đến thách thức lớn. Sự bất bình đẳng trong phân
phối lợi ích đã làm gia tăng phong trào chống toàn cầu hóa và chủ nghĩa bảo hộ ở nhiều
quốc gia. Tại Việt Nam, Đảng nhận thức rõ nguy cơ “tụt hậu kinh tế” và “xâm lăng văn 5
hóa”. Vì vậy, Đảng nhấn mạnh giữ vững bản sắc dân tộc, độc lập, tự chủ trong hội nhập.
Ví dụ, năm 2010, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 72/2010/NĐ-CP về quản lý
nội dung thông tin trên Internet, nhằm bảo vệ văn hóa và an ninh quốc gia trước các tác
động tiêu cực của toàn cầu hóa. Chính sự linh hoạt và sáng tạo trong đường lối đối ngoại
đã giúp Việt Nam biến thách thức thành cơ hội, từng bước khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Sự thay đổi trong cục diện chính trị, an ninh khu vực và thế giới
Giai đoạn 2006-2015 chứng kiến sự chuyển đổi cục diện thế giới từ đơn cực sang
đa cực, với sự trỗi dậy của các cường quốc như Trung Quốc và Ấn Độ, cùng sự điều
chỉnh chiến lược của Mỹ, Nga và Liên minh châu Âu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu 2008-2009 làm lung lay trật tự kinh tế thế giới, thúc đẩy sự dịch chuyển quyền lực
từ phương Tây sang phương Đông. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương nổi lên như
trung tâm kinh tế và chính trị toàn cầu, nhưng cũng là nơi diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc.
Tại Đông Nam Á, tình hình an ninh trở nên phức tạp với các tranh chấp trên Biển
Đông. Một sự kiện tiêu biểu là vụ tàu khảo sát Bình Minh 02 của Việt Nam bị tàu Trung
Quốc cắt cáp trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào ngày 26 tháng 5 năm
2011, gây căng thẳng nghiêm trọng. Tiếp đó, ngày 2 tháng 5 năm 2014, Trung Quốc hạ
đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 (HD-981) trong thềm lục địa và vùng đặc quyền
kinh tế của Việt Nam, kéo theo các hành động khiêu khích trên biển. Những sự kiện này
đe dọa nghiêm trọng hòa bình và ổn định khu vực. Trước tình hình đó, Đảng Cộng sản
Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát
triển”. Ngày 9 tháng 6 năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Diễn đàn
Kinh tế Thế giới về Đông Á, nhấn mạnh lập trường bảo vệ chủ quyền bằng biện pháp
hòa bình, dựa trên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982.
Đồng thời, Đảng đẩy mạnh hợp tác đa phương thông qua ASEAN. Năm 2010, Việt
Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Quốc
phòng ASEAN Mở rộng (ADMM+) lần đầu tiên tại Hà Nội vào tháng 10-2010, góp
phần thúc đẩy Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) và củng cố đoàn kết khu vực.
Trên bình diện quốc tế, Việt Nam đối mặt với các thách thức an ninh phi truyền thống
như khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia và biến đổi khí hậu. Đảng đã chủ động tham gia
Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN (ARF) và Đối thoại Shangri-La. Một cột mốc đáng
chú ý là năm 2008, Việt Nam được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên Hợp Quốc (2008-2009). Trong nhiệm kỳ này, Việt Nam đề xuất và thúc đẩy
Nghị quyết 1889 về vai trò của phụ nữ trong xây dựng hòa bình, được thông qua vào
tháng 10-2009, khẳng định tiếng nói của Việt Nam trong các vấn đề an ninh toàn cầu. 6
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 và tác động đến quan hệ quốc tế
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009, khởi nguồn từ sự sụp đổ của
ngân hàng Lehman Brothers tại Mỹ vào tháng 9-2008, đã lan rộng và gây suy thoái kinh
tế nghiêm trọng trên toàn thế giới. Theo Tạp chí Cộng sản, 10 năm sau khủng hoảng,
kinh tế toàn cầu vẫn chưa phục hồi hoàn toàn. Tại Việt Nam, khủng hoảng làm kim
ngạch xuất khẩu giảm mạnh, từ 62,7 tỷ USD năm 2008 xuống còn 57,1 tỷ USD năm
2009. Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2009 giảm còn 5,32%, thấp nhất trong thập kỷ,
trong khi vốn FDI đăng ký giảm từ 64 tỷ USD năm 2008 xuống còn 21,5 tỷ USD năm 2009.
Trước thách thức này, Đảng Cộng sản Việt Nam kịp thời điều chỉnh chính sách đối
ngoại, tập trung vào ngoại giao kinh tế. Nghị quyết Đại hội XI (tháng 1-2011) nhấn
mạnh: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, Việt Nam mở rộng quan hệ kinh tế với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ,
ký kết gần 100 hiệp định thương mại song phương. Một dẫn chứng cụ thể là Hiệp định
Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), có hiệu lực từ ngày 1 tháng
1 năm 2010, giúp Việt Nam tăng kim ngạch thương mại với Trung Quốc từ 20,2 tỷ USD
năm 2008 lên 50,4 tỷ USD năm 2014. Năm 2015, Việt Nam hoàn tất đàm phán Hiệp
định TPP vào ngày 5 tháng 10, mở ra cơ hội tiếp cận các thị trường lớn như Mỹ, Nhật Bản và Canada.
Khủng hoảng kinh tế cũng làm gia tăng chủ nghĩa bảo hộ và dân túy ở các nước
phát triển, tạo thách thức cho Việt Nam. Tuy nhiên, với đường lối đối ngoại linh hoạt,
Đảng đã tận dụng sự dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu. Ví dụ, năm 2013, Samsung
khánh thành nhà máy sản xuất điện thoại lớn nhất thế giới tại Thái Nguyên, với vốn đầu
tư 2 tỷ USD, góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất toàn cầu. Năm 2015,
tổng vốn FDI đăng ký đạt 22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014, khẳng định sức
hút của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất ổn.
1.1.2. Bối cảnh trong nước
Trong giai đoạn 2006-2015, công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam được
triển khai trong bối cảnh trong nước đầy năng động và thách thức, phản ánh khát vọng
vươn lên mạnh mẽ của dân tộc. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam tiếp tục
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, mở rộng quan
hệ thương mại và đầu tư, đồng thời kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, đặc
biệt trong vấn đề chủ quyền biển đảo. Những nỗ lực này không chỉ củng cố nền tảng
phát triển đất nước mà còn tạo tiền đề cho Việt Nam khẳng định vị thế trên trường quốc tế.
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới toàn diện 7
Kể từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam
không ngừng hoàn thiện đường lối để đáp ứng yêu cầu thời đại. Giai đoạn 2006-2015
đánh dấu bước chuyển mình quan trọng khi Đảng xác định xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kết hợp tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị và
phát triển văn hóa. Tại Đại hội X (tháng 4-2006), Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, đồng thời chủ động hội nhập
quốc tế”. Nghị quyết này định hướng công tác đối ngoại trở thành công cụ quan trọng,
hỗ trợ sự nghiệp đổi mới.
Sự kiện gia nhập WTO ngày 7 tháng 11 năm 2006 là cột mốc lịch sử, khẳng định
cam kết mở cửa nền kinh tế của Đảng. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sau gia nhập WTO,
Việt Nam thu hút hơn 1.000 dự án FDI mới trong năm 2007, với tổng vốn đăng ký 20,3
tỷ USD. Đến Đại hội XI (tháng 1-2011), Đảng nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế toàn diện,
sâu rộng, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ”. Chủ trương này dẫn dắt Việt Nam đạt
tăng trưởng GDP bình quân 7% giai đoạn 2006-2010, dù chịu tác động của khủng hoảng
kinh tế 2008-2009. Một dẫn chứng cụ thể là năm 2007, Việt Nam khánh thành cầu Cần
Thơ vào ngày 24 tháng 4, biểu tượng của công nghiệp hóa và hiện đại hóa, với sự hỗ trợ
vốn từ Nhật Bản, thể hiện thành quả hợp tác quốc tế.
Đường lối đổi mới còn thể hiện qua ổn định chính trị và củng cố khối đại đoàn kết
dân tộc. Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua thách thức nội tại như tham nhũng và bất bình
đẳng xã hội. Ví dụ, năm 2006, Chính phủ ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng, tạo
cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Các chính sách cải cách hành
chính và phát huy dân chủ đã tạo nền tảng vững chắc cho công tác đối ngoại, giúp Việt
Nam triển khai ngoại giao tự tin và hiệu quả.
Nhu cầu phát triển kinh tế, mở rộng quan hệ thương mại và đầu tư
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nhu cầu phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ
thương mại, đầu tư trở thành động lực định hình công tác đối ngoại. Giai đoạn 2006-
2015, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại hóa
vào năm 2020, như nêu trong Chiến lược Phát triển Kinh tế - Xã hội 2001-2010 và 2011-
2020. Đảng xác định ngoại giao kinh tế là trọng tâm, tập trung thu hút FDI, mở rộng thị
trường xuất khẩu và tiếp cận công nghệ tiên tiến.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đạt kết quả ấn tượng trong kinh tế đối ngoại.
Năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 111 tỷ USD, tăng 33% so với năm 2006,
đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng thương mại nhanh nhất khu
vực. Các hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết, như JVEPA (2009) và ACFTA
(2010), mở ra thị trường lớn. Một dẫn chứng cụ thể là kim ngạch xuất khẩu sang Nhật
Bản tăng từ 6,6 tỷ USD năm 2008 lên 13,8 tỷ USD năm 2014, nhờ JVEPA. Năm 2015, 8
Việt Nam hoàn tất đàm phán TPP vào ngày 5 tháng 10, tạo tiền đề cho thương mại với
các nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản và Canada.
Vốn FDI là điểm sáng. Theo Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ Việt Nam, năm
2010, tổng vốn FDI đăng ký đạt 18,6 tỷ USD, và đến năm 2015, con số này tăng lên
22,76 tỷ USD, tăng 12,5% so với năm 2014. Một ví dụ nổi bật là dự án Nhà máy Lọc
dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa), khởi công năm 2013 với vốn đầu tư 9 tỷ USD từ Nhật Bản,
Kuwait và Việt Nam, thể hiện sức hút của Việt Nam. Các tập đoàn như Samsung, Intel
và LG cũng chọn Việt Nam làm điểm đến chiến lược, góp phần thúc đẩy công nghiệp
hóa. Tuy nhiên, Đảng nhận thức rõ thách thức về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Việt Nam, từ đó chỉ đạo cải cách thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đầu tư cơ sở hạ tầng.
Vấn đề chủ quyền biển đảo và yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia
Trong giai đoạn 2006-2015, vấn đề chủ quyền biển đảo, đặc biệt tại Biển Đông,
trở thành tâm điểm trong công tác đối ngoại. Với hơn 3.260 km đường bờ biển và hàng
ngàn hòn đảo, Việt Nam có lợi ích chiến lược trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán trên Biển Đông. Tuy nhiên, các tranh chấp phức tạp, đặc biệt
với Trung Quốc, đặt ra thách thức lớn đối với hòa bình và ổn định.
Ngày 25 tháng 5 năm 2009, Việt Nam và Malaysia nộp Báo cáo chung về ranh
giới thềm lục địa lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc, khẳng định
quyền hợp pháp trên Biển Đông theo UNCLOS 1982. Tuy nhiên, các sự kiện nghiêm
trọng đã xảy ra, như vụ tàu Bình Minh 02 bị cắt cáp ngày 26 tháng 5 năm 2011, và đặc
biệt là vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD-981 trái phép từ ngày 2 tháng 5 đến ngày
15 tháng 7 năm 2014 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Vụ HD-981 đã gây
căng thẳng chưa từng có, với hàng chục tàu Trung Quốc hộ tống giàn khoan, va chạm
với tàu kiểm ngư Việt Nam. Trước tình hình này, Đảng kiên định lập trường bảo vệ chủ
quyền bằng biện pháp hòa bình. Ngày 7 tháng 5 năm 2014, Việt Nam tổ chức họp báo
quốc tế tại Hà Nội, công khai lên án hành động của Trung Quốc và kêu gọi cộng đồng
quốc tế ủng hộ lập trường dựa trên luật pháp quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam triển khai đồng bộ các giải pháp ngoại giao.
Tại các diễn đàn như ASEAN, Liên Hợp Quốc và ARF, Việt Nam liên tục kêu gọi tôn
trọng UNCLOS 1982 và thúc đẩy COC. Năm 2010, với vai trò Chủ tịch ASEAN, Việt
Nam đưa vấn đề Biển Đông vào chương trình nghị sự tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN
lần thứ 17 (tháng 10-2010), góp phần nâng cao nhận thức quốc tế. Đảng cũng chỉ đạo
tăng cường hợp tác song phương với các nước lớn. Ví dụ, năm 2013, Việt Nam và Mỹ
thiết lập Quan hệ Đối tác Toàn diện vào ngày 25 tháng 7, tạo thế cân bằng chiến lược. 9
Tương tự, Quan hệ Đối tác Chiến lược với Nhật Bản (2009) và Ấn Độ (2007) được củng
cố, với các thỏa thuận hợp tác quốc phòng và an ninh biển.
Song song với ngoại giao, Đảng nhấn mạnh nâng cao nhận thức nhân dân về chủ
quyền biển đảo. Phong trào “Hướng về biển đảo quê hương” được phát động rộng rãi từ
năm 2011, quyên góp hàng chục tỷ đồng hỗ trợ ngư dân và lực lượng chấp pháp trên
biển. Ngày 1 tháng 8 năm 2014, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức lễ phát
động “Ủng hộ lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư Việt Nam”, thu hút hàng triệu người
tham gia. Các chương trình tuyên truyền trên Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ đã khơi
dậy tinh thần yêu nước, đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Có thể thấy, giai đoạn 2006-2015 là thời kỳ đầy thách thức nhưng cũng ghi dấu
những thành tựu vẻ vang trong công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong
bối cảnh toàn cầu hóa, cục diện chính trị-an ninh biến động và khủng hoảng kinh tế
2008, Đảng đã lãnh đạo Việt Nam vượt qua khó khăn, từ gia nhập WTO, tổ chức APEC
2006, đến đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2010 và Ủy viên Hội đồng Bảo an Liên
Hợp Quốc 2008-2009. Trong nước, công cuộc đổi mới toàn diện, nhu cầu phát triển kinh
tế và quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo trước các vụ việc như Bình Minh 02 (2011)
và HD-981 (2014) đã khẳng định bản lĩnh và tầm nhìn của Đảng. Những thành tựu này
không chỉ bảo vệ lợi ích quốc gia mà còn đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển bền
vững của Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.
1.2. Chủ trương của Đảng về công tác đối ngoại (2006 – 2015)
Trong gần 40 năm đổi mới, giai đoạn 2006 - 2015 chứng kiến nhiều kết quả nổi
bật của công tác đối ngoại cả từ góc độ xây dựng chủ trương, đường lối và triển khai
thực tế. Giai đoạn 2006 - 2015 là giai đoạn đối ngoại góp phần đưa đất nước bắt đầu
chuyển mình từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập quốc tế toàn diện; quan hệ với
các đối tác ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất; công tác đối ngoại được triển khai đồng bộ, hiệu quả.
Giai đoạn 2006 - 2015 được đánh dấu bởi những sự kiện đặc biệt, tác động sâu
rộng, làm thay đổi bộ mặt của thế giới trong nhiều năm sau này. Giai đoạn này đánh
dấu bước chuyển của cục diện thế giới từ đơn cực sang đa cực. Trước những thay đổi
to lớn trên thế giới, Đảng đã tiếp tục đổi mới tư duy và điều chỉnh chủ trương và
đường lối đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới và để phục vụ hai nhiệm vụ chiến
lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Chủ trương đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 2006–2015, được
thể hiện rõ nét qua các Văn kiện Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011), đã đánh dấu
bước phát triển quan trọng trong tư duy và hành động đối ngoại của Đảng, nhằm đáp
ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế. 10
Thứ nhất, khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác
và phát triển
Tại Đại hội X, Đảng tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển, coi đây là nguyên tắc nền tảng trong chính sách đối ngoại
của Việt Nam. Đường lối này nhằm bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, đồng
thời góp phần vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Đến Đại hội
XI, tư duy đối ngoại được phát triển sâu sắc hơn khi lần đầu tiên Văn kiện Đại hội nêu
rõ mục tiêu đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Đồng thời, Đảng nhấn mạnh việc
“thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển;
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối
tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” .
Quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN) được củng cố. Đến năm 2015, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác
chiến lược với 15 nước; đối tác toàn diện với 10 nước; đối tác chiến lược lĩnh vực với
Vương quốc Hà Lan. Trong năm 2012 ASEAN và Trung Quốc đã xây dựng được Tuyên
bố chung kỷ niệm 10 năm Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông và ASEAN đã
ra được tuyên bố 6 điểm về vấn đề Biển Đông. Đó là cơ sở pháp lý duy trì môi trường
hòa bình ổn định ở Biến Đông và giải quyết vấn đề Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân đân được triển khai
đồng bộ, hiệu quả, có bước phát triển mới. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày
càng sâu rộng, có hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao.
Thứ hai, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế
Chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế được Đảng xác định rõ
ràng trong các Văn kiện Đại hội X và XI. Đảng chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại
với tất cả các nước và tổ chức quốc tế trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có
lợi, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Đây là bước đi chiến lược nhằm tăng
cường vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
công cuộc phát triển đất nước. Đặc biệt, trong Văn kiện Đại hội XI, Đảng nhấn mạnh
việc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, coi đây là nhiệm vụ quan trọng để nâng
cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 180 quốc gia, tham gia tích cực
vào các tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, APEC, WTO. Việc tham gia và đóng
góp cho ASEAN với vai trò làm chủ tịch năm 2010, tổ chức thành công hội nghị ASEM
5 và APEC 2006 là minh chứng sáng rõ cho chủ trương của Đảng trong giai đoạn này.
Thứ ba, đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng 11
Từ chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” được xác định tại
Đại hội X, đến Đại hội XI, Đảng đã phát triển tư duy hội nhập thành “hội nhập quốc tế
toàn diện”, bao gồm cả các lĩnh vực chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa, xã hội...
Đây là bước chuyển quan trọng, phản ánh sự thích ứng linh hoạt và chủ động của Việt
Nam trước những biến động của tình hình thế giới và khu vực.
Văn kiện Đại hội XI nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ
động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân
tộc; vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”
Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO vào năm 2007, đánh dấu sự
hội nhập toàn diện và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Ngoài ra, Việt Nam đã tham gia
đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) và thể hiện cam kết mở cửa, đổi mới,
hội nhập trong các lĩnh vực phi kinh tế. Việc trúng cử ghế trong Hội đồng Nhân quyền
Liên Hợp Quốc, đảm nhận nhiều vai trò trong các hoạt động gìn giữ hòa bình, và đối
phó với biến đổi khí hậu, là bằng chứng rõ nặng về chủ trương hội nhập sâu rộng và toàn diện của Việt Nam
Về mở rộng thị trường: Đến năm 2010, Việt Nam có quan hệ thương mại, đầu tư
với khoảng 230 nước và vùng lãnh thổ, đưa tỷ lệ giá trị xuất nhập khẩu so với GDP lên
trên 170%. Thực tế cho thấy, nền kinh tế nước ta đã gắn kết chặt chẽ vào nền kinh tế
thế giới. Nếu năm 1986 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 789 triệu USD, đến
nắm 2007 đạt 48 tỷ USD; năm 2008 đạt khoảng 62,9 tỷ USD; năm 2010 ước đạt 71,6 tỷ USD.
1.3. Chỉ đạo thực hiện thông qua các kỳ Đại hội Đảng
1.3.1. Đại hội X (2006)
Sau gần 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, tình hình đất nước ta đã có những
đổi thay to lớn. Kiên trì đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra, được bổ sung và phát
triển qua các kỳ đại hội và hội nghị Trung ương, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng, nhân dân ta đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc mở rộng hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình đã tạo thêm nhiều thuận lợi cho
sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội với nhịp độ nhanh hơn, góp phần nâng cao
vị thế đất nước trên trường quốc tế, tăng cường sức mạnh quốc gia, tạo thế và lực cho
đất nước tiếp tục phát triển đi lên.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta cũng đang đứng trước nhiều
thách thức to lớn. Tình hình trong nước và quốc tế tiếp tục có những thay đổi sâu sắc,
ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc đổi mới. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách 12
quan, vừa mở ra cơ hội phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều yếu tố bất bình đẳng, tạo ra những
khó khăn cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Khoa học - công nghệ tiếp tục
phát triển đột phá, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó, tình hình thế giới
và khu vực diễn biến phức tạp với các cuộc chiến tranh, xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn
giáo, chạy đua vũ trang, can thiệp, lật đổ và khủng bố ngày càng nghiêm trọng.
Trong nước, nền kinh tế vẫn trong tình trạng kém phát triển, nguy cơ tụt hậu còn
lớn, tốc độ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Trình độ khoa học - công nghệ
quốc gia còn lạc hậu. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, tư tưởng,
đạo đức, lối sống; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Các lĩnh
vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại vẫn còn một số mặt hạn chế. Đòi hỏi bức thiết của
toàn dân tộc ta lúc này là phải tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, tiếp tục đổi mới
mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, phát triển với tốc độ nhanh và bền vững, sớm đưa nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã được triệu
tập. Sau một ngày họp trù bị, từ ngày 18 đến ngày 25-4-2006, Đại hội họp chính thức,
với sự tham dự của 1.176 đại biểu, đại diện cho hơn 3,1 triệu đảng viên trong cả nước.
Đại hội đã đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, kiểm điểm việc thực hiện
Cương lĩnh 1991, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 - 2010), đề ra
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, thông qua điều
lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi), và bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa X.
Đại hội X mang nhiều dấu ấn đặc biệt, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới, thể
hiện tư duy đổi mới sâu sắc và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng trước những vận hội và thách thức lớn.
a. Nội dung cơ bản
Chủ đề của Đại hội và cũng là tiêu đề của Báo cáo chính trị là: Nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.
Đại hội tập trung thảo luận, tổng kết đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội
IX, 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, kiểm điểm sự lãnh đạo của Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX, rút ra những bài học chủ yếu của sự nghiệp đổi mới, quyết định
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, đề ra phương
hướng, nhiệm vụ xây dựng Đảng, bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa X.
Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức, 21 ủy viên
dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương họp Hội nghị lần thứ nhất đã bầu Bộ Chính trị 13
gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị, Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, Báo cáo về công tác xây dựng Đảng và Điều
lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi).
Tổng kết, đánh giá 20 năm đổi mới, Đại hội khẳng định, với sự nỗ lực phấn đấu
của toàn Đảng, toàn dân, công cuộc đổi mới đất nước đã đạt được những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử. Mặc dù còn nhiều hạn chế, đất nước đã có sự thay đổi cơ bản
và toàn diện. Nền kinh tế nước ta đã ra khỏi khủng hoảng và có sự tăng trưởng khá
nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hệ thống
chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường củng cố. Chính trị - xã hội
ổn định. Quốc phòng - an ninh được giữ vững. Vị thế đất nước không ngừng được nâng
cao trên trường quốc tế. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia được tăng cường, tạo thế và
lực để đất nước tiếp tục phát triển mạnh mẽ và vững chắc. “Nhận thức về chủ nghĩa xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý
luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam đã hình thành trên những nét cơ bản”[66]. Những thành tựu đó chứng
tỏ đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta vạch ra là hoàn toàn đúng đắn và sáng tạo,
phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của thời đại.
Đại hội thông qua nhiều quyết sách quan trọng, mở đường cho sự nghiệp đổi mới
tiếp tục đi lên. Đại hội khẳng định: “Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu
tư, kinh doanh với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo
hộ”. Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp
hành Trung ương. “Xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh
thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không hạn chế quy mô
trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng của
nền kinh tế mà pháp luật không cấm”. Đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với
thực tiễn của đất nước, được thảo luận kỹ qua nhiều đại hội và hội nghị Trung ương, thể
hiện quyết tâm đổi mới của Đảng.
Đại hội xác định rõ hơn bản chất của Đảng. Điều lệ Đảng (sửa đổi, bổ sung) được
Đại hội thông qua nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại
biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”. 14
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, chống tham nhũng, lãng
phí, quan liêu được Đại hội đặc biệt quan tâm, xác định là một nhiệm vụ trọng tâm trước
mắt và lâu dài của Đảng. Đại hội xác định phương hướng và mục tiêu tổng quát của
công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ tới là: “Tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng,
tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị,
tư tưởng, tổ chức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có
tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”. Đại hội
chỉ rõ, trong thời gian tới cần thực hiện một cách kiên quyết và đồng bộ công tác phòng,
chống tham nhũng, lãng phí. Xử lý kiên quyết, kịp thời, công khai người tham nhũng,
bất kể ở chức vụ nào, đương chức hay đã nghỉ hưu, tịch thu sung công tài sản có nguồn gốc từ tham nhũng.
Những điểm nổi bật về phương hướng đối ngoại trong Văn kiện Đại hội Đảng X (2006)
Văn kiện Đại hội X đã thể hiện bước phát triển đáng kể trong tư duy đối ngoại của
Đảng ta, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế. Khác với những giai đoạn trước, lần đầu tiên Đại hội khẳng
định rõ ràng việc chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ trương chiến
lược mang tính lâu dài, chứ không chỉ còn là định hướng tạm thời hay “có chọn lọc”
như trước đây. Đây là một bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự chuyển biến từ thế thủ
sang thế chủ động trong quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Trước bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam chuẩn bị gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO), Đại hội X đã nhận thức rõ rằng hội nhập quốc tế
không đơn thuần là việc mở rộng hợp tác kinh tế, mà còn là quá trình xây dựng vị thế
quốc gia trên trường quốc tế. Văn kiện nhấn mạnh mục tiêu tạo dựng môi trường hòa
bình, ổn định, đồng thời tranh thủ các điều kiện thuận lợi từ bên ngoài để phát triển đất
nước. Điều này thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng: coi đối ngoại không chỉ là
công cụ bảo vệ Tổ quốc mà còn là động lực để phát triển kinh tế - xã hội.
Một điểm đặc biệt quan trọng trong phương hướng đối ngoại tại Đại hội X là việc
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam không ngả hẳn về một bên nào,
mà chủ trương xây dựng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc bình đẳng, tôn
trọng lẫn nhau, vì lợi ích chung và không can thiệp vào công việc nội bộ. Chủ trương
này vừa giúp Việt Nam giữ được thế cân bằng trong quan hệ quốc tế, vừa mở rộng được
dư địa hợp tác, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài cho công cuộc phát triển.
Ngoài ra, Đại hội X cũng đề cập đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại
của cả hệ thống chính trị: từ đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước đến đối ngoại nhân 15
dân. Đây là điểm mới đáng chú ý, cho thấy Đảng đã nhìn nhận đối ngoại không chỉ là
nhiệm vụ riêng của ngành ngoại giao, mà là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống, cần có
sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ. Chính điều này đã tạo ra sức mạnh tổng hợp cho công
tác đối ngoại, giúp Việt Nam ứng phó linh hoạt với những biến động quốc tế, đồng thời
khẳng định vai trò, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Có thể nói, Đại hội
X đã đặt nền móng vững chắc cho đường lối đối ngoại toàn diện, hiện đại mà Việt Nam
tiếp tục phát triển trong những năm sau đó.
b. Điểm mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Dựa trên việc so sánh với các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là giai đoạn trước thềm
hội nhập sâu như Đại hội IX, Văn kiện Đại hội X đã thể hiện nhiều bước phát triển và
điểm mới đáng chú ý, mang tính đột phá trong tư duy đối ngoại của Đảng.
Điểm mới mang tính đột phá mạnh mẽ nhất là việc nâng tầm "hội nhập kinh tế
quốc tế" thành "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" mang tính chiến lược,
lâu dài. Trước đây, hội nhập có thể chỉ được xem như một bước đi hoặc định hướng,
nhưng Đại hội X đã khẳng định nó là một chiến lược quốc gia mang tính sống còn cho
sự phát triển. Sự chuyển đổi từ "thăm dò", "có chọn lọc" sang "chủ động và tích cực"
phản ánh sự thay đổi tư thế từ bị động, ứng phó sang chủ động tham gia định hình và
tận dụng các cơ hội từ toàn cầu hóa, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO.
Thứ hai, Văn kiện Đại hội X lần đầu tiên xác định rõ "đối ngoại của cả hệ thống
chính trị" là một nhiệm vụ chính thức. Mặc dù các kênh đối ngoại Đảng, Nhà nước, nhân
dân đã tồn tại và hoạt động, nhưng việc chính thức đưa vào văn kiện ở cấp Đại hội và
nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ cho thấy một cách tiếp cận mới, toàn diện và hiện đại
hơn. Điều này phản ánh nhận thức về sự phức tạp của công tác đối ngoại trong bối cảnh
hội nhập sâu rộng, đòi hỏi sức mạnh tổng hợp và sự phối hợp nhịp nhàng của tất cả các
chủ thể để nâng cao hiệu quả.
Thứ ba, sự gắn kết chặt chẽ và cụ thể hơn đối ngoại với các mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội là một điểm mới quan trọng. Việc đưa ra các chỉ tiêu phát triển định
lượng trong Văn kiện và xem đối ngoại là công cụ để đạt được chúng là một sự tiến bộ
trong tư duy hoạch định. Điều này làm cho công tác đối ngoại trở nên cụ thể, thiết thực
và gắn bó hữu cơ hơn với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, khác với cách tiếp
cận mang tính nguyên tắc chung chung trước đây.
Thứ tư, tư duy đối ngoại đã có sự chuyển đổi rõ nét từ "thế thủ" sang "thế chủ
động" trong quan hệ quốc tế nói chung. Việc chủ động, tích cực hội nhập, đa dạng hóa,
đa phương hóa quan hệ trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi thể hiện sự tự tin và vị
thế mới của Việt Nam. Việt Nam không chỉ đơn thuần là bảo vệ mình mà còn chủ động 16
tham gia định hình cục diện, tìm kiếm lợi ích và đóng góp vào cộng đồng quốc tế, phản
ánh sự trưởng thành sau 20 năm Đổi mới.
Cuối cùng, việc làm rõ hơn vai trò "đối tác tin cậy" cùng với "là bạn" cũng là một
điểm mới đáng chú ý. Khái niệm "đối tác tin cậy" thể hiện mong muốn xây dựng quan
hệ thực chất, bền vững dựa trên sự tin cậy lẫn nhau, đặc biệt quan trọng trong các lĩnh
vực kinh tế, thương mại, đầu tư khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn
cầu. Điều này phản ánh sự thay đổi trong chất lượng quan hệ mà Việt Nam hướng tới
1.3.2. Đại hội XI (2011)
a. Nội dung cơ bản
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra khi đất nước ta bước vào thập niên thứ
hai của thế kỷ XXI. Đại hội Đảng đã thông qua 3 văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011);
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng.
Ba văn kiện quan trọng này nêu quan điểm, phương hướng cơ bản chỉ đạo cả lâu
dài, trung hạn và ngắn hạn về đường lối đối ngoại, tạo thành một thể thống nhất. Cương
lĩnh nêu những định hướng, nguyên tắc lớn, mang tầm chiến lược cho cả thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội. Chiến lược cụ thể hóa đường lối đối ngoại nhằm phục vụ các mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020. Phần đối ngoại trong Báo cáo chính
trị đề cập nhiều định hướng cụ thể cho các hoạt động đối ngoại 5 năm tới. Từ Báo cáo
chính trị đến Chiến lược và Cương lĩnh, đường lối đối ngoại của Đảng được đề cập phù
hợp với nhiệm vụ đối ngoại trong từng giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nhưng
thống nhất về mục tiêu, nguyên tắc, phương châm và những định hướng lớn, lâu dài.
Những điểm nổi bật về phương hướng đối ngoại trong Văn kiện Đại hội Đảng XI (2011)
Tái khẳng định những nguyên tắc cơ bản và nhất quán đã định hình nên chính sách
đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ Đổi Mới: độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát
triển; đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế. Việt Nam tiếp tục là bạn, là
đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trên
nền tảng vững chắc đó, Đại hội XI đã đưa ra những điểm mới, phản ánh sự trưởng thành
trong nhận thức và khả năng hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng trước những
chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực đầu thế kỷ 21.
Đặt Lợi ích Quốc gia - Dân tộc lên Vị trí Tối thượng
Một trong những đóng góp lý luận nổi bật và có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc
nhất của Đại hội XI là việc nhấn mạnh và làm rõ hơn vai trò trung tâm, mục tiêu tối
thượng của công tác đối ngoại là phải phục vụ "lợi ích quốc gia - dân tộc". Trong bối 17
cảnh toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, việc xác định rõ ràng đâu là lợi ích cốt lõi (bao
gồm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao
sức mạnh tổng hợp quốc gia) trở thành kim chỉ nam, là thước đo hiệu quả cho mọi hoạt
động đối ngoại. Mọi quyết sách, mọi hành động trên trường quốc tế đều phải xuất phát
và quy về việc đảm bảo và tối đa hóa các lợi ích chính đáng này của Việt Nam. Điều
này đòi hỏi một sự nhạy bén, tỉnh táo và bản lĩnh trong việc xử lý các mối quan hệ đan xen phức tạp.
Tư duy Biện chứng về "Đối tác" và "Đối tượng" trong Quan hệ Quốc tế
Đại hội XI đã có bước phát triển quan trọng trong việc nhận diện các chủ thể trong
quan hệ quốc tế, vượt qua cách nhìn nhận có phần cứng nhắc trước đây về "đối tác" (chỉ
có hợp tác) và "đối tượng đấu tranh" (chỉ có mâu thuẫn). Tư duy mới mang tính biện
chứng sâu sắc hơn, chỉ rõ rằng trong một đối tác cụ thể vẫn có thể tồn tại những khía
cạnh khác biệt, thậm chí mâu thuẫn về lợi ích mà Việt Nam cần phải đấu tranh bảo vệ
lập trường của mình. Ngược lại, ngay cả trong những chủ thể được xác định là đối tượng
đấu tranh ở một khía cạnh nào đó, vẫn cần chủ động tìm kiếm, phát hiện và khai thác
những điểm đồng, những khả năng hợp tác vì lợi ích chung hoặc lợi ích song trùng. Cách
tiếp cận này đòi hỏi sự linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược: "vừa hợp tác, vừa đấu tranh".
Tùy thuộc vào vấn đề, thời điểm và đối tượng cụ thể mà mặt hợp tác hay đấu tranh sẽ
nổi lên, nhưng mục tiêu cuối cùng là gia tăng hợp tác cùng có lợi, hạn chế bất đồng và
xung đột, kiên quyết bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Chuyển Hướng Mạnh Mẽ sang "Chủ động và Tích cực Hội nhập Quốc tế
So với chủ trương "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực" trước đó, Đại
hội XI đã nâng tầm thành "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế". Sự thay đổi này
không chỉ đơn thuần về mặt thuật ngữ mà thể hiện một quyết tâm chính trị mạnh mẽ hơn
và một tầm nhìn chiến lược sâu rộng hơn.
Thể hiện tâm thế tự tin, không chờ đợi, không bị động mà tự mình tìm kiếm cơ
hội, đề ra lộ trình và tham gia vào các cơ chế hợp tác quốc tế. Nhấn mạnh sự tham gia
có trách nhiệm, đóng góp thực chất vào việc xây dựng và định hình các quy tắc, luật lệ
chung của khu vực và thế giới, chứ không chỉ đơn thuần là "tham gia" hay "hưởng lợi".
Hội nhập quốc tế (thay vì chỉ là kinh tế): Mở rộng phạm vi hội nhập ra tất cả các
lĩnh vực từ chính trị, quốc phòng, an ninh đến văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ...
Điều này phản ánh nhận thức rằng hội nhập là một quá trình toàn diện, các lĩnh vực có
sự liên kết, tác động lẫn nhau. Hội nhập quốc tế được xác định là sự nghiệp của toàn dân
và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đòi 18
hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các trụ cột đối ngoại: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà
nước và đối ngoại nhân dân.
Bối cảnh Quốc tế Phức tạp và Yêu cầu Đổi mới
Những phát triển trong tư duy đối ngoại tại Đại hội XI là sự phản ứng cần thiết và
kịp thời trước bối cảnh thế giới và khu vực chuyển biến nhanh chóng, phức tạp và khó
đoán định. Sự trỗi dậy của các cường quốc mới, cạnh tranh chiến lược gia tăng, xu thế
đa cực, đa trung tâm ngày càng rõ nét, các vấn đề an ninh truyền thống (tranh chấp lãnh
thổ, biển đảo - đặc biệt là Biển Đông) và phi truyền thống (biến đổi khí hậu, dịch bệnh,
khủng bố, an ninh mạng...) đặt ra những thách thức và cơ hội đan xen. Đường lối đối
ngoại được cập nhật, bổ sung nhằm tăng cường khả năng thích ứng, giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài cho phát triển, đồng thời
nâng cao khả năng tự chủ và bảo vệ vững chắc các lợi ích quốc gia.
b. Điểm mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Thứ nhất, về mục tiêu của đối ngoại, văn kiện Đại hội XI nêu: “vì lợi ích quốc gia,
dân tộc” . Cùng với lợi ích quốc gia dân tộc, Đại hội XI cũng đặt mục tiêu đối ngoại là
“vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Hai mục tiêu này thống nhất với nhau.
Thứ hai, về nhiệm vụ của công tác đối ngoại, văn kiện Đại hội XI nêu rõ: “Nhiệm
vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” .
Thứ ba, tái khẳng định các nguyên tắc của đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ
Đổi mới, Đại hội XI nêu: “bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ, vì hòa
bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển”, “tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp
quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc”. Phần định hướng giải quyết các vấn đề các vấn
đề tồn tại trên cơ sở các “nguyên tắc ứng xử của khu vực”.
Thứ tư, về phương châm của đường lối đối ngoại, các văn kiện của Đại hội khẳng
định: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát
triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là
bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điểm mới
trong phương châm đối ngoại của Đại hội XI là “hội nhập quốc tế” và “thành viên có trách nhiệm”.
Thứ năm, về định hướng đối ngoại, bên cạnh định hướng bao trùm là nâng cao
hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ quốc tế đi vào chiều sâu,
Đại hội XI nêu định hướng về: giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới lãnh thổ; ưu 19
tiên đối tác và định hướng quan hệ ASEAN, đối ngoại Đảng, ngoại giao nhân dân và;
định hướng tổ chức thực hiện. việc tham gia trong ASEAN trở thành một trong những
trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam, ngang với “quan hệ hợp tác, hữu
nghị truyền thống với các nước láng giềng chung biên giới”. 20