2. Tổng quan lý thuyết về nghèo
2.1. Nghèo thu nhập
Theo Trung tâm Thông tin Dự báo Kinh tế - hội Quốc gia, Việt Nam qua nhiều
thập niên, cách đo lường đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo
được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu được quy
thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc
diện hộ nghèo. Đây chính chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy
nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá thấp so với thế giới. Trên
thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do
đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát
nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ. Về
bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền bản của con người,
bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không
thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp
cận được các dịch vụ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc một số hộ không
tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, vùng
sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó,
nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ
sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả bền vững trong thực thi
các chính sách giảm nghèo.
Giống như quá trình phát triển, nghèo đói một khái niệm đa chiều. Trong cùng một
thời điểm, người nghèo thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, thể
những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện
thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình
trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ
chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập,
Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung
bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn
chế.
2. 2. Nghèo đa chiều
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo nghĩa không có đủ ăn, đủ mặc, không
được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không
nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng
nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong
các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”
Vấn đề nghèo đa chiều thể đo bằng tiêu chí thu nhập các tiêu chí phi thu nhập.
Sự thiếu hụthội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh
tuyệt vọng những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.
Thiếu đi sự tham gia tiếng nói về kinh tế, hội hay chính trị sẽ đẩy các nhân
đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - hội
và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5).
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều thể một chỉ số không liên quan đến mức thu
nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội
bản (Oxfam ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional
Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục điều kiện
sống, hiện một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường
nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị
các học giả với quan điểm nghèo một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn
nhận sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu bản của con
người. Nghèo đa chiều tình trạng con người không được đáp ứng mức tối thiểu
các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập Việt Nam từ năm 2013. Đo lường nghèo đa
chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ toàn diện hơn về thực
trạng nghèo nước ta. Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí
nghèo đa chiều, đồng thời soát chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo
hướng đa chiều ở Việt Nam.
3. Phương pháp tính chỉ số nghèo đa chiều theo cách tiếp cận Alkire-Foster
3.1. Ý nghĩa của chỉ số nghèo đa chiều
Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử
dụng để giám sát, đo lượng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu bản giữa các
quốc gia, thông qua các chỉ sHDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay hiện nay
chi số MPI (chỉ số nghèo đa chiều); Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các
yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn cấp độ gia đình: từ giáo dục đến
những tác động về sức khỏe, đến tài sản các dịch vụ. Theo OPHI UNDP, những
chỉ số này cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo
về thu nhập giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên quy của sự nghèo
khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và
cấp độ quốc tế. Cách tiếp cận đa chiều mới trong việc đánh giá mức độ nghèo khổ
được điều chỉnh để sử dụng cấp quốc gia Mexico hiện nay đang được xem xét
áp dụng ở Chile và Colombia.
Theo UNDP (2010), chỉ số nghèo đa chiều (MPI Multidimensional Poverty
Index) phản ánh những thiếu thốn mà một người nghèo phải đối mặt cùng một lúc liên
quan đến giáo dục, sức khỏe và mức sống.
MPI được tạo ra bằng cách sử dụng một kỹ thuật được phát triển bởi Sabina
Alkire James Foster. Phương pháp Alkire Foster đo lường kết quả cấp độ
nhân hoặc cấp độ hộ gia đình theo nhiều tiêu c(chiều chỉ báo). Phương pháp này
linh hoạt có thể được sử dụng với các chiều và chỉ báo khác nhau để tạo ra các biện
pháp cụ thể cho các hội tình huống khác nhau. thể được áp dụng để đo
lường nghèo đói, phúc lợi, các dịch vụ mục tiêu hoặc trợ cấp tiền mặt có điều kiện cho
các chương trình theo dõi và đánh giá.
Chỉ số y đánh giá nghèo cấp độ nhân/hộ, với những người/hộ
nghèo những người/hộ bị thiếu hụt nhiều lần, mức độ nghèo được đo
lường bằng phạm vi thiếu hụt của họ. MPI có thể được sử dụng để tạo ra
một bức tranh sống động về những người sống trong nghèo đói, cả các
quốc gia, khu vực trên thế giới trong các quốc gia theo nhóm dân tộc,
thành thị/nông thôn hoặc các đặc điểm chính khác của hộ gia đình.
MPI thể được sử dụng như một công cụ phân tích để xác định
những người dễ bị tổn thương nhất, cho thấy các khía cạnh họ bị tước
đoạt giúp tiết lộ mối liên hệ giữa các thiếu hụt. Điều này cho phép các
nhà hoạch định chính sách nhắm mục tiêu nguồn lực thiết kế chính sách
hiệu quả hơn. Các khía cạnh quan tâm khác, chẳng hạn như công việc, an
toàn trao quyền, thể được tích hợp vào MPI trong tương lai khi dữ
liệu có sẵn.
MPI phản ánh sự thiếu hụt trong các dịch vụ rất thô chức năng
cốt lõi của con người. MPI cũng cho thấy một hình nghèo khác với
nghèo thu nhập. Theo đó, nghèo đói tiền tệ thường cung cấp hướng dẫn
chính sách không đầy đủ về thiếu hụt trong các khía cạnh khác.
MPI được tính toán theo phương pháp Alkire Foster (2007, 2011)
thông qua sử dụng 10 chỉ báo để đo lường ba khía cạnh quan trọng của
nghèo đói cấp hộ gia đình: giáo dục, y tế mức sống 104 quốc gia
đang phát triển.
Những thiếu hụt trực tiếp đo lường về kết quả giáo dục y tế cũng
như các dịch vụ thiết yếu như nước, vệ sinh điện, nhiên liệu nấu ăn cho
thấy không chỉ bao nhiêu người nghèo còn cả các thành phần của
nghèo đói.
MPI cũng phản ánh cường độ nghèo đói - tổng số thiếu hụt có trọng
số mỗi hộ gia đình phải đối mặt cùng một lúc. Một người bị thiếu hụt
trong 70% các chỉ báo ràng tồi tệ hơn so với một người bị thiếu hụt
40% các chỉ báo.
Vai trò quan trọng của việc sử dụng chỉ số nghèo đa chiều được phản
ánh trong các khía cạnh sau:
Thứ nhất, MPI hiển thị tất cả các thiếu hụt tác động đến cuộc sống của
một ai đó cùng một lúc - vì vậy nó có thể cung cấp một phản ứng toàn diện.
Thứ hai, MPI xác định những người nghèo nhất. Thông tin như vậy
rất quan trọng để nhắm mục tiêu tới những người sống trong nghèo đói để
họ được hưởng lợi từ các chính sách can thiệp quan trọng.
Thứ ba, MPI chỉ ra những thiếu sót nào là phổ biến nhất ở các khu vực
khác nhau và giữa các nhóm khác nhau, để có thể phân bổ các nguồn lực
các chính sách được thiết kế để giải quyết các nhu cầu cụ thể của những
người nghèo.
Thứ tư, MPI phản ánh kết quả của các can thiệp chính sách hiệu quả
một cách nhanh chóng. Bởi MPI đo lường kết quả trực tiếp, sẽ phản
ánh ngay lập tức các thay đổi như tình trạng nhập học, trong khi đó có thể
mất thời gian để điều này ảnh hưởng đến thu nhập.
Tích hợp nhiều khía cạnh khác nhau của nghèo đói liên quan đến Mục
tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG Milenium Development Goals) thành
một biện pháp duy nhất, phản ánh mối liên hệ giữa các thiếu hụt giúp
xác định các bẫy nghèo.
3.2. Phương pháp tính toán chỉ số nghèo đa chiều theo Alkire and Foster
Các bước thực hiện tính toán chỉ số nghèo đa chiều theo phương pháp Alkire -
Foster bao gồm 7 bước
- Lựa chọn nguồn dữ liệu dùng để phân tích. Nguồn dữ liệu này sẽ Bước 1:
đầu vào quan trọng trong tính toán cũng như xác định các chiều các chỉ báo thiếu
hụt. dữ liệu trong bài viết này được trích xuất từ bộ dữ liệu Khảo sát mức sống do
Tổng cục thống kê tiến hành khảo sát năm 2016.
- Lựa chọn đơn vị phân tích (cá nhân hay hộ gia đình). Tuy nhiên, cácBước 2:
bộ số liệu lớn hiện này được khảo sát được thực hiện tại Việt Nam chủ yếu thực hiện ở
cấp độ hộ. Trong nghiên cứu y đơn vị phân tích được lựa chọn hộ gia đình do
thông tin của cá nhân không đầy đủ để phân tích, tính toán nghèo đa chiều.
- Lựa chọn các chiều và các chỉ báo của các chiều. Bước 3:
-Bước 4: Lựa chọn ngưỡng thiếu hụt của các chỉ báo (kí hiệu z ). Chính i
thế một nhân hoặc hộ gia đình i được xem thiếu hụt nếu một chỉ báo x nào đói
nằm dưới ngưỡng hay x > z . Nội dungy được thể hiện trong cột (4) trong i i Bảng 1
ở trên.
-Bước 5: Lựa chọn trọng số cho mỗi chỉ báo. Mỗi chiều trọng số như nhau
được đo lường bởi các chỉ báo thành phần kí hiệu là I . Xác định trọng số cho từng chỉi
báo thành phần bước tiếp theo của phương pháp này. Trọng số của các chỉ báo được
xác định ngang bằng nhau trong mỗi chiều được hiệu w (trọng số của chỉi
báo d) với
i=1
d
wi=1
(d số chỉ báo). Các giá trị này được thể hiện trong cột (5) (6)
của . Bảng 1
-Bước 6: Lựa chọn ngưỡng nghèo (để xác định người nghèo). Điểm số thiếu
hụt của mỗinhân (hoặc hộ gia đình) nằm giữa 0 và 1. Điểm số gia tăng thì số lượng
thiếu hụt cũng gia tăng đạt đến giá trị tối đa 1 nếu hộ đó thiếu hụt tất cả các chỉ
báo (c = 1). Một hộ không thiếu hụt chỉ báo nào thì điểm thiếu hụt bằng 0 (c =0). Côngi i
thức tính điểm thiếu hụt của hộ i:
ci=
i=1
d
wiIi
(1)
Giá trị của trọng số phụ thuộc số chiều số chỉ báo thành phần của mỗi
chiều. Nếu hộ được xác định thiếu hụt chỉ báo d thì I = 1 I =0 nếu hộ khôngi i
thiếu hụt ở chỉ báo d.
Để ước lượng tỷ lệ nghèo thì cần xác định được ngưỡng nghèo kí hiệu k. Một hộ
được xác định nghèo nếu điểm số nghèo cao hơn ngưỡng nghèo hay c k. Theoi
phương pháp Alkire and Foster (2007, 2011) sử dụng ngưỡng 1/3 nghĩa một hộ đưc
xác định nghèo đa chiều (NĐC) khi điểm số thiếu hụt lớn hơn hoặc bằng 1/3 (0,333).
Nói cách khác, một hộ được coi thiếu hụt đa chiều khi thiếu hụt từ 4 chỉ báo trở lên.
Chú ý rằng, khi c k thì c (k) = c , nhưng nếu c < k thì c (k) = 0 với c (k) điểm sối i i i i i
thiếu hụt của người nghèo.
-Bước 7: tính toán chỉ s NĐC hay còn gọi chỉ số đếm đầu điều chỉnh
(Adjusted Headcount Ratio)
MPI là sự kết hợp của hai mảnh ghép thông tin:
- Tỷ lệ dân số/hộ thiếu hụt (nghèo) đa chiều hay còn gọi tỷ lệ đếm đầu đa
chiều (Multidimensional Headcount Ratio, hiệu H, còn gọi tắt tỷ lệ đếm đầu)
được tính bằng: H = q/n (2). dụ, nếu H=0,8 hay bằng 80% nghĩa rằng tỷ lệ dân
số/hộ nghèo đa chiều là 80%
Với q số người/hộ NĐC n quy dân số/quy hộ. Giá trị này cho
biết bao nhiêu người/hộ trong tổng số người/hộ điều tra được xác định nghèo đa
chiều. Tuy nhiên, H không phản ánh mức độ hay độ sâu của thiếu hụt của hộ nghèo.
Người/hộ nghèo thiếu hụt trong tất cả các chiều hay thiếu hụt 1/k chiều đều
người/hộ nghèo.
- Độ sâu của thiếu hụt (nghèo) đa chiều (Intensity of poverty hiệu A
tính bằng đơn vị): chính là trung bình tỷ lệ thiếu hụt đã được gia trọng. Giá trị này cho
biết những người/hộ NĐC bị thiếu hụt trung bình bao nhiêu % số chỉ báo được gia
trọng và được tính theo công thức:
A=
i=1
n
ci(k)
q
(3). Với c (k) là điểm số thiếu hụt của cá nhân/hộ i và q số nời/si
hộ nghèo đa chiều. dụ, nếu A=0,5 (hay 50%) có nghĩa những người/hnghèo đa
chiều đã thiếu hụt 50% số chỉ báo được gia trọng (hay thiếu hụt 1/2 số chỉ báo)
Khi đó: MPI = H*A (4)
Giá trị này cho biết, tỷ lệ người/h C sau khi đã điều chỉnh theo độ sâu của nghèo.
MPI càng cao thì mức độC càng tăng. MPI không chỉ phản ánh tỷ lệ n phản ánh
độ sâu của nghèo đói. Thông tin về MPI thhiện rằng ai là người/hộ nghèo và họ nghèo
như thế nào. dụ với tỷ lệ đếm đầu và độ sâu nghèo ở trên thì chỉ số nghèo đa chiều –
MPI = 0,4. Giá trị nàynghĩa rằng,tới 40% dân số/hộ là nghèo đa chiều. Như vy, t
lệ đếm đầu đã được điều chỉnh lại theo độ sâu của nghèo vừa phản ánh mức độ, vừa phản
ánh độ sâu thiếu hụt đa chiều, do đó chỉ tiêu MPI phản ánh chính c hơn tình trạng nghèo
đa chiều của h.
Khi sonh MPI giữa các quốc gia, Alkire and Santos (2013) đã phân nhóm trong đó
nước MPI thấp nếu MPI <= 0,053; MPI mức trung bình nếu 0,053 < MPI <=
0,283; MPI ở mức cao nếu MPI > 0,283.
Hiện tại, Bộ lao động thương binh xã hội (2018) đã thực hiện tính toán chỉ số nghèo đa
chiều cũng như phân tích các khía cạnh của nghèo đa chiều dựa trên bộ dữ liệu Khảo
sát mức sống (VHLSS Vietnam Household Living Standards Survey) theo cách tiếp
cận của phương pháp AF cho toàn bộ dân cư Việt Nam.
Tuy nhiên, chỉ số nghèo đa chiu cũng có một vài hạn chế khi sdụng (Alkire and
Santos, 2013). Đầu tiên, chỉ số này có thdẫn đến một tình huống mất rất nhiều thông tin
nếu các nhân không nghèo, mặc họ bị thiếu hụt đa chiều nhưng không ợt qua
nỡng thiếu hụt theo quy ước. Thứ hai, điểm yếu của MPIphân chia thành hai biểu hiện
yếu của các tớc đo nghèo đa chiều khi pn loại dân số tnh hai nm: không ngo và
nghèo.
3.3. Xác định chiều chỉ báo đo lường các chiều trong nghèo đa chiều sử
dụng trong nghiên cứu
Việc lựa chọn các chiều chỉ báo đo lường các chiều nghèo đa chiều được các quốc
gia lựa chọn rất khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ để lựa chọn các chiều chỉ báo dựa
trên (i) Mục tiêu phát triển thiên niên kỉ (MDG Milenium Development Goals), (ii)
Mục tiêu phát triển bền vững (SDG Subtainable Development Goals) dựa trên
khuyến nghị theo phương pháp của Alkire Foster (2007, 2011) để các quốc gia xây
dựng bộ tiêu chí đo lường nghèo đa chiều. Theo đề xuất của Alkire Foster, nghèo
đa chiều được đo lường bởi 3 chiều thiếu hụt gồm: giáo dục, y tế và điều kiện sống với
10 chỉ báo thiếu hụt. Theo cách tiếp cận này, Việt Nam cũng đã xây dựng bộ tiêu chí
riêng phù hợp với điều kiện của Việt Nam do Bộ lao động thương binh hội chủ trì
được đưa vào tính toán bắt đầu từ năm 2016. Tuy nhiên, bộ tiêu chí này được thiết
kế với 5 chiều thiếu hụt được đo lường bởi 10 chỉ báo (mỗi chiều được đo lường bằng
2 chỉ báo). Chi tiết các chỉ báo các chiều được đề cập trong cột (2)cột (3) trong
Bảng 1 dưới đây:
STT Chiều Chỉ
báo
từng
chiều
Thiếu hụt nếu Trọn
g số
chỉ
báo
Trọng số từng
chiều
1D1
Giáo dục
CB1
Trình
độ
giáo
Hộ bất thành
viên nào đủ 15
tuổi chưa bao giờ
đi học hoặc hiện
0.1 0.2
dục
của
người
lớn
nay không còn đi
học không
bằng tốt nghiệp
THCS hoặc không
có bằng nghề
CB2
Tình
trạng
đi học
của
trẻ em
Hộ gia đình bất
thành viên nào
trong độ tuổi 5 -14
chưa bao giờ đi
học hoặc hiện
không còn đi học
0.1
2D2
Y tế
CB3
Tiếp
cận
dịch
vụ y
tế
Những hộ gia đình
bất thành
viên nào trong 12
tháng qua đi
khám chữa bệnh ít
nhất một lần trong
đó không đủ hoặc
thiếu tiền chi trả
để khám/chữa
bệnh
0.1 0.2
CB4
Tiếp
cận
BHY
T
Hộ bất thành
viên nào từ 6 tuổi
trở lên không
BHYT
0.1
3D3
Nhà ở
CB5
Chất
lượng
nhà ở
Nhà của hộ thuộc
loại nhà tạm/nhà
thiếu kiên cố/nhà
đơn sơ
0.1 0.2
CB6:
Diện
tích
nhà
bình
quân
đầu
người
Diện tích nhà
bình quân đầu
người dưới 8m2
0.1
4D4
Điều kiện sống
CB7:
Nguồ
n
nước
sinh
hoạt
hợp
vệ
sinh
Nguồn nước hợp
vệ sinh bao gồm:
nước máy vào
nhà, nước máy
công cộng, giếng
khoan/giếng đào
được bảo vệ, nước
khe được bảo
vệ, nước mưa,
nước mua. Nếu
0.1 0.2
không thuộc các
nguồn này thì hộ
được coi thiếu
hụt
CB8
Hố
xí/nhà
tiêu
hợp
vệ
sinh
Hố xí/nhà tiêu hợp
vệ sinh gồm tự
hoại, bán tự hoại,
cải tiến ống
thông hơi, hai
ngăn. Nếu hố
xí/nhà tiêu của hộ
không thuộc
những loại trên thì
được coi thiếu
hụt
0.1
5D5
Tiếp cận thông tin
CB9
Sử
dụng
dịch
vụ
viễn
thông
Hộ gia đình không
thành viên nào
sử dụng điện thoại
(cố định/di động)
và Internet
0.1 0.2
CB10
Tài
sản
phục
vụ
tiếp
cận
thông
tin
Hộ gia đình không
tài sản nào
trong số các tài
sản được liệt
sau đây: tivi
(màu/đen trắng),
radio, máy tính
(PC, laptop,
tablet)
0.1
(Nguồn: Bộ lao động thương binh hội, 2015 Alkire
and Foster, 2007, 2011)

Preview text:

2. Tổng quan lý thuyết về nghèo 2.1. Nghèo thu nhập
Theo Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia, Việt Nam qua nhiều
thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo
được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy
thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc
diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy
nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên
thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do
đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát
nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo.
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ. Về
bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người,
bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không
thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp
cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có
tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng
sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó,
nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ
sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi
các chính sách giảm nghèo.
Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều. Trong cùng một
thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là
những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện
thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình
trạng nghèo thực tế của người dân. Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ
chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập,
Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung
bình nên cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn chế. 2. 2. Nghèo đa chiều
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không
được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không
có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có
nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong
các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập.
Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh
và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều.
Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân
đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội
và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5).
Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu
nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ
bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional
Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y-tế, giáo dục và điều kiện
sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường
nghèo truyền thống dựa trên thu nhập.
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và
các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn
nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con
người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu
các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo lường nghèo đa
chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực
trạng nghèo ở nước ta. Hiện nay Bộ LĐ-TB&XH đang đề xuất xây dựng bộ tiêu chí
nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo
hướng đa chiều ở Việt Nam.
3. Phương pháp tính chỉ số nghèo đa chiều theo cách tiếp cận Alkire-Foster
3.1. Ý nghĩa của chỉ số nghèo đa chiều
Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử
dụng để giám sát, đo lượng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các
quốc gia, thông qua các chỉ số HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay hiện nay là
chi số MPI (chỉ số nghèo đa chiều); Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các
yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến
những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Theo OPHI và UNDP, những
chỉ số này cung cấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo
về thu nhập giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo
khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và
cấp độ quốc tế. Cách tiếp cận đa chiều mới trong việc đánh giá mức độ nghèo khổ
được điều chỉnh để sử dụng ở cấp quốc gia ở Mexico và hiện nay đang được xem xét
áp dụng ở Chile và Colombia.
Theo UNDP (2010), chỉ số nghèo đa chiều (MPI – Multidimensional Poverty
Index) phản ánh những thiếu thốn mà một người nghèo phải đối mặt cùng một lúc liên
quan đến giáo dục, sức khỏe và mức sống.
MPI được tạo ra bằng cách sử dụng một kỹ thuật được phát triển bởi Sabina
Alkire và James Foster. Phương pháp Alkire và Foster đo lường kết quả ở cấp độ cá
nhân hoặc cấp độ hộ gia đình theo nhiều tiêu chí (chiều và chỉ báo). Phương pháp này
linh hoạt và có thể được sử dụng với các chiều và chỉ báo khác nhau để tạo ra các biện
pháp cụ thể cho các xã hội và tình huống khác nhau. Nó có thể được áp dụng để đo
lường nghèo đói, phúc lợi, các dịch vụ mục tiêu hoặc trợ cấp tiền mặt có điều kiện cho
các chương trình theo dõi và đánh giá.
Chỉ số này đánh giá nghèo ở cấp độ cá nhân/hộ, với những người/hộ
nghèo là những người/hộ bị thiếu hụt nhiều lần, và mức độ nghèo được đo
lường bằng phạm vi thiếu hụt của họ. MPI có thể được sử dụng để tạo ra
một bức tranh sống động về những người sống trong nghèo đói, ở cả các
quốc gia, khu vực và trên thế giới và trong các quốc gia theo nhóm dân tộc,
thành thị/nông thôn hoặc các đặc điểm chính khác của hộ gia đình.
MPI có thể được sử dụng như một công cụ phân tích để xác định
những người dễ bị tổn thương nhất, cho thấy các khía cạnh mà họ bị tước
đoạt và giúp tiết lộ mối liên hệ giữa các thiếu hụt. Điều này cho phép các
nhà hoạch định chính sách nhắm mục tiêu nguồn lực và thiết kế chính sách
hiệu quả hơn. Các khía cạnh quan tâm khác, chẳng hạn như công việc, an
toàn và trao quyền, có thể được tích hợp vào MPI trong tương lai khi dữ liệu có sẵn.
MPI phản ánh sự thiếu hụt trong các dịch vụ rất thô sơ và chức năng
cốt lõi của con người. MPI cũng cho thấy một mô hình nghèo khác với
nghèo thu nhập. Theo đó, nghèo đói tiền tệ thường cung cấp hướng dẫn
chính sách không đầy đủ về thiếu hụt trong các khía cạnh khác.
MPI được tính toán theo phương pháp Alkire và Foster (2007, 2011)
thông qua sử dụng 10 chỉ báo để đo lường ba khía cạnh quan trọng của
nghèo đói ở cấp hộ gia đình: giáo dục, y tế và mức sống ở 104 quốc gia đang phát triển.
Những thiếu hụt trực tiếp đo lường về kết quả giáo dục và y tế cũng
như các dịch vụ thiết yếu như nước, vệ sinh và điện, nhiên liệu nấu ăn cho
thấy không chỉ có bao nhiêu người nghèo mà còn cả các thành phần của nghèo đói.
MPI cũng phản ánh cường độ nghèo đói - tổng số thiếu hụt có trọng
số mà mỗi hộ gia đình phải đối mặt cùng một lúc. Một người bị thiếu hụt
trong 70% các chỉ báo rõ ràng là tồi tệ hơn so với một người bị thiếu hụt 40% các chỉ báo.
Vai trò quan trọng của việc sử dụng chỉ số nghèo đa chiều được phản
ánh trong các khía cạnh sau:
Thứ nhất, MPI hiển thị tất cả các thiếu hụt tác động đến cuộc sống của
một ai đó cùng một lúc - vì vậy nó có thể cung cấp một phản ứng toàn diện.
Thứ hai, MPI xác định những người nghèo nhất. Thông tin như vậy là
rất quan trọng để nhắm mục tiêu tới những người sống trong nghèo đói để
họ được hưởng lợi từ các chính sách can thiệp quan trọng.
Thứ ba, MPI chỉ ra những thiếu sót nào là phổ biến nhất ở các khu vực
khác nhau và giữa các nhóm khác nhau, để có thể phân bổ các nguồn lực và
các chính sách được thiết kế để giải quyết các nhu cầu cụ thể của những người nghèo.
Thứ tư, MPI phản ánh kết quả của các can thiệp chính sách hiệu quả
một cách nhanh chóng. Bởi vì MPI đo lường kết quả trực tiếp, nó sẽ phản
ánh ngay lập tức các thay đổi như tình trạng nhập học, trong khi đó có thể
mất thời gian để điều này ảnh hưởng đến thu nhập.
Tích hợp nhiều khía cạnh khác nhau của nghèo đói liên quan đến Mục
tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG – Milenium Development Goals) thành
một biện pháp duy nhất, phản ánh mối liên hệ giữa các thiếu hụt và giúp
xác định các bẫy nghèo.
3.2. Phương pháp tính toán chỉ số nghèo đa chiều theo Alkire and Foster
Các bước thực hiện tính toán chỉ số nghèo đa chiều theo phương pháp Alkire - Foster bao gồm 7 bước - Bước 1: Lựa
chọn nguồn dữ liệu dùng để phân tích. Nguồn dữ liệu này sẽ là
đầu vào quan trọng trong tính toán cũng như xác định các chiều và các chỉ báo thiếu
hụt. dữ liệu trong bài viết này được trích xuất từ bộ dữ liệu Khảo sát mức sống do
Tổng cục thống kê tiến hành khảo sát năm 2016.
- Bước 2: Lựa chọn đơn vị phân tích (cá nhân hay hộ gia đình). Tuy nhiên, các
bộ số liệu lớn hiện này được khảo sát được thực hiện tại Việt Nam chủ yếu thực hiện ở
cấp độ hộ. Trong nghiên cứu này đơn vị phân tích được lựa chọn là hộ gia đình do
thông tin của cá nhân không đầy đủ để phân tích, tính toán nghèo đa chiều.
- Bước 3: Lựa chọn các chiều và các chỉ báo của các chiều.
-Bước 4: Lựa chọn ngưỡng thiếu hụt của các chỉ báo (kí hiệu là zi). Chính vì
thế một cá nhân hoặc hộ gia đình i được xem là thiếu hụt nếu ở một chỉ báo xi nào đó
nằm dưới ngưỡng hay xi > zi. Nội dung này được thể hiện trong cột (4) trong Bảng 1 ở trên.
-Bước 5: Lựa chọn trọng số cho mỗi chỉ báo. Mỗi chiều có trọng số như nhau
được đo lường bởi các chỉ báo thành phần kí hiệu là Ii. Xác định trọng số cho từng chỉ
báo thành phần là bước tiếp theo của phương pháp này. Trọng số của các chỉ báo được
xác định là ngang bằng nhau trong mỗi chiều và được kí hiệu là wi (trọng số của chỉ d
báo d) với ∑ wi=1 (d là số chỉ báo). Các giá trị này được thể hiện trong cột (5) và (6) i=1 của Bảng 1.
-Bước 6: Lựa chọn ngưỡng nghèo (để xác định người nghèo). Điểm số thiếu
hụt của mỗi cá nhân (hoặc hộ gia đình) nằm giữa 0 và 1. Điểm số gia tăng thì số lượng
thiếu hụt cũng gia tăng và đạt đến giá trị tối đa là 1 nếu hộ đó thiếu hụt tất cả các chỉ
báo (ci = 1). Một hộ không thiếu hụt chỉ báo nào thì điểm thiếu hụt bằng 0 (ci=0). Công
thức tính điểm thiếu hụt của hộ i: d ci=∑ wiIi i=1 (1)
Giá trị của trọng số phụ thuộc và số chiều và số chỉ báo thành phần của mỗi
chiều. Nếu hộ được xác định là thiếu hụt ở chỉ báo d thì Ii = 1 và Ii =0 nếu hộ không
thiếu hụt ở chỉ báo d.
Để ước lượng tỷ lệ nghèo thì cần xác định được ngưỡng nghèo kí hiệu k. Một hộ
được xác định là nghèo nếu điểm số nghèo là cao hơn ngưỡng nghèo hay ci ≥ k. Theo
phương pháp Alkire and Foster (2007, 2011) sử dụng ngưỡng 1/3 nghĩa là một hộ được
xác định là nghèo đa chiều (NĐC) khi điểm số thiếu hụt lớn hơn hoặc bằng 1/3 (0,333).
Nói cách khác, một hộ được coi là thiếu hụt đa chiều khi thiếu hụt từ 4 chỉ báo trở lên.
Chú ý rằng, khi ci ≥ k thì ci (k
) = ci, nhưng nếu ci < k thì ci ( k) = 0 với ci (k ) là điểm số
thiếu hụt của người nghèo.
-Bước 7: tính toán chỉ số NĐC hay còn gọi là chỉ số đếm đầu điều chỉnh (Adjusted Headcount Ratio)
MPI là sự kết hợp của hai mảnh ghép thông tin:
- Tỷ lệ dân số/hộ thiếu hụt (nghèo) đa chiều hay còn gọi là tỷ lệ đếm đầu đa
chiều (Multidimensional Headcount Ratio, kí hiệu là H, còn gọi tắt là tỷ lệ đếm đầu)
được tính bằng: H = q/n (2). Ví dụ, nếu H=0,8 hay bằng 80% có nghĩa rằng tỷ lệ dân
số/hộ nghèo đa chiều là 80%
Với q là số người/hộ NĐC và n là quy mô dân số/quy mô hộ. Giá trị này cho
biết có bao nhiêu người/hộ trong tổng số người/hộ điều tra được xác định là nghèo đa
chiều. Tuy nhiên, H không phản ánh mức độ hay độ sâu của thiếu hụt của hộ nghèo.
Người/hộ nghèo thiếu hụt trong tất cả các chiều hay thiếu hụt 1/k chiều đều là người/hộ nghèo.
- Độ sâu của thiếu hụt (nghèo) đa chiều (Intensity of poverty – kí hiệu là A và
tính bằng đơn vị): chính là trung bình tỷ lệ thiếu hụt đã được gia trọng. Giá trị này cho
biết những người/hộ NĐC bị thiếu hụt trung bình bao nhiêu % số chỉ báo được gia
trọng và được tính theo công thức: n ∑ ci(k)
A= i=1 q (3). Với ci(k) là điểm số thiếu hụt của cá nhân/hộ i và q là số người/số
hộ nghèo đa chiều. Ví dụ, nếu A=0,5 (hay 50%) có nghĩa là những người/hộ nghèo đa
chiều đã thiếu hụt 50% số chỉ báo được gia trọng (hay thiếu hụt 1/2 số chỉ báo) Khi đó: MPI = H*A (4)
Giá trị này cho biết, tỷ lệ người/hộ NĐC sau khi đã điều chỉnh theo độ sâu của nghèo.
MPI càng cao thì mức độ NĐC càng tăng. MPI không chỉ phản ánh tỷ lệ mà còn phản ánh
độ sâu của nghèo đói. Thông tin về MPI thể hiện rằng ai là người/hộ nghèo và họ nghèo
như thế nào. Ví dụ với tỷ lệ đếm đầu và độ sâu nghèo ở trên thì chỉ số nghèo đa chiều –
MPI = 0,4. Giá trị này có nghĩa rằng, có tới 40% dân số/hộ là nghèo đa chiều. Như vậy, tỷ
lệ đếm đầu đã được điều chỉnh lại theo độ sâu của nghèo vừa phản ánh mức độ, vừa phản
ánh độ sâu thiếu hụt đa chiều, do đó chỉ tiêu MPI phản ánh chính xác hơn tình trạng nghèo đa chiều của hộ.
Khi so sánh MPI giữa các quốc gia, Alkire and Santos (2013) đã phân nhóm trong đó
nước có MPI thấp nếu MPI <= 0,053; MPI ở mức trung bình nếu 0,053 < MPI <=
0,283; MPI ở mức cao nếu MPI > 0,283.
Hiện tại, Bộ lao động thương binh xã hội (2018) đã thực hiện tính toán chỉ số nghèo đa
chiều cũng như phân tích các khía cạnh của nghèo đa chiều dựa trên bộ dữ liệu Khảo
sát mức sống (VHLSS – Vietnam Household Living Standards Survey) theo cách tiếp
cận của phương pháp AF cho toàn bộ dân cư Việt Nam.
Tuy nhiên, chỉ số nghèo đa chiều cũng có một vài hạn chế khi sử dụng (Alkire and
Santos, 2013). Đầu tiên, chỉ số này có thể dẫn đến một tình huống mất rất nhiều thông tin
nếu các cá nhân không nghèo, mặc dù họ bị thiếu hụt đa chiều nhưng không vượt qua
ngưỡng thiếu hụt theo quy ước. Thứ hai, điểm yếu của MPI là phân chia thành hai biểu hiện
yếu của các thước đo nghèo đa chiều khi phân loại dân số thành hai nhóm: không nghèo và nghèo.
3.3. Xác định chiều và chỉ báo đo lường các chiều trong nghèo đa chiều sử dụng trong nghiên cứu
Việc lựa chọn các chiều và chỉ báo đo lường các chiều nghèo đa chiều được các quốc
gia lựa chọn rất khác nhau. Tuy nhiên, căn cứ để lựa chọn các chiều và chỉ báo dựa
trên (i) Mục tiêu phát triển thiên niên kỉ (MDG – Milenium Development Goals), (ii)
Mục tiêu phát triển bền vững (SDG – Subtainable Development Goals) và dựa trên
khuyến nghị theo phương pháp của Alkire và Foster (2007, 2011) để các quốc gia xây
dựng bộ tiêu chí đo lường nghèo đa chiều. Theo đề xuất của Alkire và Foster, nghèo
đa chiều được đo lường bởi 3 chiều thiếu hụt gồm: giáo dục, y tế và điều kiện sống với
10 chỉ báo thiếu hụt. Theo cách tiếp cận này, Việt Nam cũng đã xây dựng bộ tiêu chí
riêng phù hợp với điều kiện của Việt Nam do Bộ lao động thương binh xã hội chủ trì
và được đưa vào tính toán bắt đầu từ năm 2016. Tuy nhiên, bộ tiêu chí này được thiết
kế với 5 chiều thiếu hụt được đo lường bởi 10 chỉ báo (mỗi chiều được đo lường bằng
2 chỉ báo). Chi tiết các chỉ báo và các chiều được đề cập trong cột (2) và cột (3) trong Bảng 1 dưới đây: STT Chiều Chỉ Thiếu hụt nếu Trọn Trọng số từng báo g số chiều từng chỉ chiều báo 1D1 CB1
Hộ có bất kì thành 0.1 0.2 Trình viên nào đủ 15 độ tuổi chưa bao giờ Giáo dục giáo đi học hoặc hiện dục nay không còn đi của học và không có người bằng tốt nghiệp lớn THCS hoặc không có bằng nghề CB2 Hộ gia đình có bất 0.1 Tình kì thành viên nào trạng trong độ tuổi 5 -14 đi học chưa bao giờ đi của học hoặc hiện
trẻ em không còn đi học 2D2 CB3
Những hộ gia đình 0.1 0.2 Y tế Tiếp có bất kì thành cận viên nào trong 12 dịch tháng qua có đi vụ y khám chữa bệnh ít tế nhất một lần trong đó không đủ hoặc thiếu tiền chi trả để khám/chữa bệnh CB4 Hộ có bất kì thành 0.1 Tiếp viên nào từ 6 tuổi cận trở lên không có BHY BHYT T 3D3 CB5
Nhà của hộ thuộc 0.1 0.2 Nhà ở Chất loại nhà tạm/nhà
lượng thiếu kiên cố/nhà nhà ở đơn sơ CB6: Diện tích nhà ở 0.1 Diện bình quân đầu tích người dưới 8m2 nhà bình quân đầu người 4D4
CB7: Nguồn nước hợp 0.1 0.2 Điều kiện sống Nguồ vệ sinh bao gồm: n nước máy vào nước nhà, nước máy sinh công cộng, giếng hoạt khoan/giếng đào hợp được bảo vệ, nước vệ khe mó được bảo sinh vệ, nước mưa, nước mua. Nếu không thuộc các nguồn này thì hộ được coi là thiếu hụt CB8 Hố xí/nhà tiêu hợp 0.1 Hố vệ sinh gồm tự
xí/nhà hoại, bán tự hoại, tiêu cải tiến có ống hợp thông hơi, hai vệ ngăn. Nếu hố sinh xí/nhà tiêu của hộ không thuộc những loại trên thì được coi là thiếu hụt 5D5 CB9 Hộ gia đình không 0.1 0.2 Tiếp cận thông tin Sử có thành viên nào dụng sử dụng điện thoại dịch (cố định/di động) vụ và Internet viễn thông
CB10 Hộ gia đình không 0.1 Tài có tài sản nào sản trong số các tài phục sản được liệt kê vụ sau đây: tivi tiếp (màu/đen trắng), cận radio, máy tính thông (PC, laptop, tin tablet)
(Nguồn: Bộ lao động thương binh xã hội, 2015 và Alkire and Foster, 2007, 2011)