Đang tải lên

Vui lòng đợi trong giây lát...

Preview text:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT - HUNG
KHOA QUẢN TRỊ - NGÂN HÀNG
------------ ------------
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
LÝ THUYẾT KIỂM TOÁN
Hà Nội, năm 2024 1 LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang dần phát triển theo xu hướng hội nhập với nền kinh tế
khu vực và thế giới. Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngày càng đa dạng,
phong phú và sôi động, đòi hỏi pháp luật và các biện pháp kinh tế của nhà nước phải
đổi mới để dáp ứng yêu cầu của nền kinh tế đang phát triển. Trong các biện pháp đó,
việc kiểm tra công tác kế toán của các doanh nghiệp ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng.
Kiểm toán là môn khoa học thuộc khối kiến thức chuyên ngành hạch toán kế
toán, không những cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản mang tính lý luận,
mà còn giúp sinh viên nắm được các phương pháp và thủ tục của kiểm toán cụ thể.
Giáo trình kiểm toán được biên soạn nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo, phù hợp với mục
tiêu, chương trình giảng dạy do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định.
Giáo trình biên soạn gồm 4 chương:
Chương I: Tổng quan về kiểm toán
Chương II: Đối tượng và các khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán
Chương III: Hệ thống các phương pháp kiểm toán
Chương IV: Trình tự các bước kiểm toán
Mặc dù có nhiều nỗ lực trong quá trình biên soạn nhưng giáo trình chắc chắn
không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đọc để
giáo trình hoàn thiện hơn. 2
Chương I: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN
1.1. KHÁI NIỆM VỀ KIỂM TOÁN
1.1.1. Các quan điểm về kiểm toán
Thuật ngữ kiểm toán thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta hơn chục
năm cuối thế kỷ XX. Trong quá trình đó, cách hiểu và cách dùng khái niệm này chưa
được thống nhất. Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3 loại quan điểm chính như sau:
Theo quan điểm thứ nhất: kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của nó là
phát sinh cùng cơ chế thị trường. Theo quan niệm đó, người ta thường dẫn ra định
nghĩa trong lời mở đầu “giải thích các chuẩn mực kiểm toán” của Vương quốc Anh:
“Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính
của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công
việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ có liên quan”.
Hoặc cụ thể hơn, có thể dẫn ra quan niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ:
“Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và
đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh
tế riêng biệt nhăm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có
thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được xác được thiết lập”.
Tương tự như vậy là quan niệm trong giáo dục và đào tạo kiểm toán ở cộng hoà
Pháp: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ
chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để
khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực
tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của
luật định”.
Các định nghĩa nêu trên tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thể xác đinh
song quy chung đều bao hàm vào 5 yếu tố cơ bản:
1. Chức năng của kiểm toán: là xác minh và bày tỏ ý kiến. Đây là yếu tố cơ
bản chi phối cả quá trình kiểm toán và bộ máy kiểm toán.
2. Đối tượng trực tiếp của kiểm toán: là các bảng khai tài chính của các tổ
chức hay một thực thể kinh tế. Thông thường, các bảng khai này được hiểu là 3
các bảng tổng hợp kế toán (bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả, bảng chu chuyển tiền tệ...)
3. Khách thể kiểm toán: được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức
pháp lý (một công ty, một đơn vị của chính phủ...)
4. Chủ thể kiểm toán: là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ. Quan
niệm độc lập ở đây thường được hiểu là khi tham gia vào hoạt động kiểm toán
có thái độ độc lập hay tính độc lập về nghiệp vụ.
5. Cơ sở thực hiện kiểm toán: là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực
chung. Các luật định hoặc chuẩn mực này được giải thích với khái niệm rộng
bao gồm cả trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán.
Với nội dung trên, các định nghĩa đã nêu khá đầy đủ các mặt đặc trưng của kiểm
toán. Tuy nhiên, các quan niệm này chủ yếu phù hợp với kiểm toán tài chính với đối
tượng là các báo cáo tài chính, do kiểm toán viên độc lập tiến hành trên cơ sở chuẩn mực chung.
Theo quan điểm thứ hai, kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một
chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kiểm toán. Nội dung của
hoạt động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán.
Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển
và trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Trong cơ chế này, nhà nước vừa là chủ sở hữu
vừa thực hiện lãnh đạo trực tiếp nền kinh tế. Do đó, chức năng kiểm tra của nhà nước
được thực hiện trực tiếp với mọi thực thể kinh tế - xã hội thông qua nhiều khâu kể cả
kiểm tra kế hoạch, thực hiện kế hoạch, xét duyệt, hoàn thành kế hoạch...
Từ khi chuyển đổi cơ chế, với chủ trương đa phương hoá các thành phần kinh tế,
nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất. Từ đó can thiệp của nhà nước bằng kế
hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp... không thể thực hiện với các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh, kể cả với các nhà đầu tư nước ngoài. Cách thức can thiệp của nhà nước
cũng không thể như cũ được nữa.
Mặt khác, các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động... cũng cần có niềm tin vào
tài liệu kế toán trong khi họ không có đủ đội ngũ chuyên gia kế toán đông đủ như nhà
nước. Đồng thời những nhà kinh doanh trong cơ chế thị trường cũng cần biết và tránh 4
rủi ro thường có... Như vậy người quan tâm đến thông tin kế toán không chỉ có nhà
nước mà còn có tất cả các nhà đầu tư, những nhà quản lý, những khách hàng và người
lao động. Vì vậy công tác kiểm tra kế toán cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng song
thật khoa học, khách quan trung thực, đầy đủ sức thuyết phục và tạo niềm tin cho mọi
người quan tâm. Trong điều kiện đó, việc tách kiểm toán ra khỏi những hoạt động kế
toán và hình thành khoa học kiểm toán độc lập là một xu hướng phát triển tất yếu lịch sử.
Theo quan điểm hiện đại, phạm vi kiểm toán rất rộng, bao gồm những lĩnh vực chủ yếu sau: 1.
Kiểm toán về thông tin (Infomation audit): hướng vào việc đánh giá
tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở pháp lý cho việc
giải quyết các mối quan hệ kinh tế và tạo niềm tin cho những người
quan tâm đến tài liệu kế toán. 2.
Kiểm toán tính qui tắc (Regularity audit): hướng vào việc đánh giá
tình thình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra
trong quá trình hoạt động. 3.
Kiểm toán hiệu quả (Efficiency audit): có đối tượng trực tiếp là các
yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán,
sản xuất hay dịch vụ... Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc
hoạch định chính sách và phương hướng giải pháp cho việc hoàn thiện
hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. 4.
Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness audit): được đặc biệt quan tâm ở
khu vực công cộng nơi mà lợi ích và hiệu quả không còn giữ nguyên
vẹn ý nghĩa của nó như trong doanh nghiệp, nơi mà năng lực quản lý
cần được đánh giá toàn diện và bồi dưỡng thường xuyên nhằm không
ngừng nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị kiểm toán..
1.1.2. Khái niệm về kiểm toán
Từ những điều trình bày trên có thể đi đến kết luận:
“Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được
kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm 5
toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực
hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”.
1.2. QUÁ TRÌNH RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN VÀ SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN
CỦA KIỂM TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.2.1. Quá trình ra đời và phát triển của kiểm toán
Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, kiểm toán ra đời vào khoảng
thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại.
Ở thời kỳ đầu, kiểm toán chỉ mới ở mức độ sơ khai, thường được gọi là kiểm
toán cổ điển. Biểu hiện của hoạt động kiểm toán cổ điển là những người làm công tác
kế toán đọc to những số liệu, tài liệu cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực.
Vì vậy, từ “Audit” (có nghĩa là “kiểm toán”) trong Tiếng anh có gốc từ cụm từ La tinh
“Audire” (có nghĩa là “nghe”).
Cùng với sự phát triển của xã hội và sự phát triển của kế toán là sự phát triển
không ngừng của các công cụ kiểm soát về kế toán. ở đâu có hoạt động của con người,
ở đó có hoạt động kiểm tra, kiểm soát. ở đâu có kế toán, ở đó có kiểm tra kế toán.
Kiểm tra kế toán phát triển từ thấp đến cao. Khi xã hội phát triển, xuất hiện
của cải dư thừa, hoạt động kế toán ngày càng được mở rộng và ngày một phức tạp thì
việc kiểm tra kiểm soát về kế toán và tài chính càng được quan tâp với mức độ cao hơn.
Từ thời kỳ La Mã cổ đại vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, kiểm tra kế toán
và tài chính chỉ mới ở mức độ đơn giản, nhằm mục đích phục vụ cho việc quản lý tài
sản của các nhà buôn, của giai cấp cầm quyền và tầng lớp đại địa chủ quý tộc. Đến
thời kỳ cách mạng công nghiệp bùng nổ ở Châu Âu, xuất hiện nhiều thành phần kinh
tế, kéo theo sự ra đời nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau. Cùng với sự phát triển
của thị trường, sự tích tụ, tập trung tư bản đã làm cho sự phát triển của các doanh
nghiệp và các tập đoàn ngày càng được mở rộng. Sự tách rời giữa quyền sở hữu của
ông chủ và người quản lý, người làm công ngày càng xa, đã đặt ra cho các ông chủ
một cách thức kiểm soát mới. Phải dựa vào sự kiểm tra của những người chuyên
nghiệp hay những KTV bên ngoài. Việc kiểm tra đi dần từ việc kiểm tra ghi chép kế
toán đến tuân thủ quy định của pháp luật và mãi đến những thập niên 80, kiểm toán
hoạt động bắt đầu được hình thành và phát triển, nhưng hiện nay đã trở thành lĩnh vực
trung tâm của kiểm toán nói chung, đặc biệt là kiểm toán Nhà nước và kiểm toán nội bộ. 6
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, từ việc phá sản của hàng loạt các tổ chức tài
chính và sự khủng hoảng kinh tế trên thế giới đã bộc lộ rõ những hạn chế của kiểm tra
kế toán, sự kiểm tra trên cùng một hệ thống. Chính từ đây, việc kiểm tra kế toán buộc
phải được chuyển sang một giai đoạn mới, yêu cầu kiểm tra kế toán một cách độc lập đã được đặt ra.
Ở Hoa Kỳ sau khủng hoảng về tài chính vào những năm 1929 đến năm 1934 ủy
ban bảo vệ và trao đổi tiền tệ (SEC) và đã xây dựng và ban hành quy chế về KTV bên
ngoài. Đồng thời, trường đào tạo kế toán viên công chứng của Hoa Kỳ (AICPA) đã in
ra mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán tài khoản của công ty. Cũng trong giai
đoạn này, ở các tổ chức kinh doanh, các doanh nghiệp bắt đầu xuất hiện và phát triển
chức năng kiểm tra một cách độc lập trong nội bộ với tên gọi kiểm toán nội bộ. Năm
1941 Viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ (IIA) được thành lập, đã đi vào hoạt động và đào
tạo các KTV nội bộ. Đồng thời, Viện đã xây dựng và ban hành hệ thống chuẩn mực
kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ vào năm 1978.
Tại Pháp, việc kiểm tra một cách độc lập của những người chuyên nghiệp bên
ngoài đã được xác lập và thông qua bởi đạo luật về các công ty thương mại ngày
24/07/1966. Đồng thời, kiểm toán nội bộ ở Pháp cũng đã được hình thành chính thức
vào những năm 60 thế kỷ 20 ở những công ty con thuộc tập đoàn ngoại quốc. Đến
1965 Hội KTV nội bộ của Pháp được thành lập và sau này phát triển trở thành Viện
KTV nội bộ của Pháp năm 1973.
Kiểm toán ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan do yêu cầu quản lý và
phục vụ cho quản lý nhằm cung cấp thông tin trung thực, tin cậy cho mọi đối tượng có
quan tâm trên thị trường.
Ở giai đoạn đầu, khi mới hình thành, kiểm toán độc lập được biểu hiện thông qua
việc cung cấp dịch vụ kiểm toán của một hoặc một nhóm KTV hoặc của một văn
phòng kiểm toán độc lập riêng biệt. Mô hình này đến nay vẫn đang được duy trì và vẫn
phát huy hiệu quả ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, trong xu hướng hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay, mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế về khả năng cạnh tranh,
nên nó đang dần dần chuyển sang sát nhập để hình thành các tổ chức tập đoàn lớn, có
đủ tiềm lực về tài chính và sức mạnh để cạnh tranh trong tương lai và sẵn sàng đáp
ứng mọi nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Điển hình là bốn công ty kiểm toán tầm
cỡ quốc tế (the Big Four) như: KPMG Peat Marwick (Mỹ); Ernst and Young (Mỹ);
Pricewaterhouse Cooper (Anh) và Deloitte Touche Tohmatsu International (Mỹ). Mỗi
công ty nay đều có trên 13.000 nhân viên, đặt văn phòng trên 110 quốc gia trực tiếp
cạnh tranh với các công ty khu vực và công ty nội địa. 7
Về quy trình và phương pháp kĩ thuật kiểm toán cũng có nhiều sự thay đổi và
phát triển: từ việc kiểm toán cổ điển theo chủ quan chuyển sang xây dựng thành quy
trình kiểm toán chặt chẽ; từ việc kiểm toán toàn diện sang kiểm toán chọn mẫu; từ việc
kiểm toán toàn bộ số liệu đã biết dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ để thực hiện kiểm
toán và đánh giá ảnh hưởng của nó đến khối lượng công việc kiểm toán va áp dụng
phương pháp kiểm toán cụ thể; từ sự xét đoán cảm tính chủ quan sang xét đoán nghề
nghiệp, khách quan; từ việc sử dụng bằng chứng có giá trị pháp lý sang sử dụng bằng
chứng có sức thuyết phục; từ việc kiểm toán trong chứng từ đến kiểm toán ngoài
chứng từ; từ việc kiểm toán thủ công đến kiểm toán trong điều kiện áp dụng máy tính,
khi kế toán đã thực hiện trong môi trường tin học.
Về phạm vi kiểm toán cũng được mở rộng từ việc lấy trọng tâm của kiểm toán là
báo cáo tài chính (BCTC) chuyển dần sang lấy trọng tâm là kiểm toán hoạt động nhằm
đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của hoạt động; chức năng kiểm tán cũng được chuyển
dần từ tập trung kiểm tra xác nhận sang tập trung vào tư vấn trình bày ý kiến trong tương lai.
Trước 1975 ở miền Nam nước ta đã có hoạt động kiểm toán của các công ty
kiểm toán độc lập dưới chế độ Việt Nam cộng hòa thời Mỹ Diệm.
Sau khi nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý (năm 1986) từ kế hoạch hóa tập trung
sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, ngày 13/05/1991 Công ty kiểm toán
Việt Nam được thành lập lấy tên là VACO với 13 nhân viên. Đến nay Việt Nam đã có
hơn 100 Công ty kiểm toán với hơn 1.000 KTV. Hoạt động kiểm toán độc lập được
phát triển dần và ngày càng mở rộng, từ số khách thể được kiểm toán bắt buộc nhỏ hẹp
theo Nghị định 07/1994/CP ngày 29/01/1994 của Chính phủ, đến nay theo Nghị định
105/2004/CP ngày 30/03/2004 thì khách thể kiểm toán độc lập bắt buộc đã được mở
rộng thêm nhiều lĩnh vực với doanh thu ngày càng cao, ngày càng khẳng định được vị
trí, vai trò to lớn của nó trong cơ chế thị trường. Đến ngày 11/07/1994 Nghị định số
70/1994/NĐ-CP của Chính phủ thành lập cơ quan kiểm toán Nhà nước thuộc Chính
phủ (nay đã chuyển lên Quốc hội) và đến ngày 28/10/1997 xây dựng ban hành quy chế
kiểm toán nội bộ áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước.
1.2.2. Sự cần thiết khách quan của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường
Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý. Kiểm
toán là một công cụ quản lý phát triển từ thấp đến cao, gắn liền với hoạt động kinh tế
của con người. Từ khi kế toán ra đời, con người đã biết khai thác công cụ kế toán vào
quản lý kinh tế. Kế toán là một công cụ quản lý tất yếu khách quan trong hệ thống
công cụ quản lý của con người. 8
Kế toán cung cấp thông tin kinh tế phục vụ quản lý. Xã hội càng phát triển,
thông tin kế toán ngày càng được mở rộng, đa dạng, phức tạp và chứa đựng nhiều rủi
ro. Đồng thời xuất hiện càng nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng các thông tin kế
toán. Các đối tượng quan tâm đến thông tin kinh tế ngày càng được mở rộng phong
phú và đa dạng như Nhà nước, chủ doanh nghiệp, cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng, các
tổ chức tài chính tín dụng, người bán, người mua, người lao động,… Xã hội càng phát
triển, nền kinh tế thị trường càng phức tạp, thông tin kinh tế càng có nguy cơ chứa
đựng nhiều rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy. Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin
và sự điều chỉnh thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin. Xã hội càng phát triển
sẽ kéo theo hoạt động kinh tế ngày càng phát triển, mở rộng và đa dạng. Sự tách biệt
giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản ngày càng tăng, các thông tin được cung
cấp có nguy cơ ngày càng bị hợp pháp hóa và thành tích hóa có lợi cho người cung cấp thông tin.
Thứ hai: Khối lượng thông tin quá nhiều. Xã hội càng phát triền, thông tin càng phong
phú, đa dạng với khối lượng càng nhiều, khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch
trong những thông tin đúng đắn ngày càng tăng.
Thứ ba: Tính phức tạp của thông tin và nghiệp vụ kinh tế ngày càng tăng. Xã hội càng
phát triển, hoạt động càng đa dạng, các nghiệp vụ và thông tin càng phức tạp. Nguy cơ
chứa đựng thông tin sai lệch là không thể tránh khỏi.
Thứ tư: Khả năng thông đồng trong xử lý thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin
ngày càng lớn. Xã hội càng phát triển, các hiện tượng tiêu cực càng tinh vi với mức độ
gia tăng. Khả năng câu kết, thông đồng để đem lại lợi ích cho người cung cấp thông tin
ngày càng lớn, rủi ro thông tin ngày càng cao.
Từ đó, kiểm toán ra đời phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng
thông tin, là một sự cần thiết tất yếu khách quan.
1.3. CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN
1.3.1. Chức năng xác minh: nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính
pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính.
Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển
của hoạt động kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và được thể
hiện khác nhau tuỳ đối tượng cụ thể của kiểm toán là bảng khai tài chính hay nghiệp
vụ kinh tế cụ thể hoặc toàn bộ tài liệu kế toán. Đối với các bảng khai tài chính, việc 9
thực hiện chức năng xác minh được thực hiện ở sự xác nhận của người kiểm tra độc
lập ở bên ngoài. Ngay từ thời cổ đại, những kiểm toán viên độ lập được vua Edouard
Đệ nhất nam tước tuyển dụng cũng chỉ ghi một chữ “ chứng thực” trên bảng khai tài
chính. Cho đến ngày nay, do quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp và yêu cầu pháp lý
càng cao nên việc xác minh bảng khai tài chính cần có hai mặt:
+ Tính trung thực của các con số.
+ Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.
Ngày nay theo chuẩn mực của kiểm toán tài chính, chức năng xác minh này
không chỉ còn biểu hiện bằng một chữ “chứng thực” nữa mà được chuyển hoá thành
“Báo cáo kiểm toán” thích ứng với từng tình huống khác nhau.
Đối với các thông tin khác đã được lượng hoá, thông thường việc xác minh được
thực hiện trước hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ. Kết quả cuối cùng khi đã xác minh
được điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các bảng khai tài chính.
Đối với kiểm toán các nghiệp vụ, cũng qua lịch sử phát triển lâu dài. Lúc đầu
kiểm toán các nghiệp vụ được giới hạn ở hoạt động tài chính, ở hoạt động này, chức
năng xác minh của kiểm toán có thể được thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội
kiểm. Sản phẩm của hoạt động xác minh này thường là những biên bản (biên bản kiểm
tra, biên bản xử lý sai phạm...). Mãi tới nửa cuối thế kỷ XX, kiểm toán nghiệp vụ mới
được mở rộng ở lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả hoạt động, ở lĩnh vực này kiểm toán
hướng nhiều vào thực hiện chức năng thứ hai là “bày tỏ ý kiến”.
1.3.2. Chức năng bày tỏ ý kiến
Chức năng này có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông
tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh. Nếu kết luận về chất lượng thông tin có quá
trình phát triển lâu dài từ chỗ chỉ có từ “xác nhận” đến hình thành báo cáo kiểm toán
theo chuẩn mực chung thì kết luận về pháp lý hoặc tư vấn cũng có quá trình phát triển
lâu dài. Trong quá trình đó, sản phẩm cụ thể của bày tỏ ý kiến chỉ thấy rõ ở thế kỷ XX.
Tuy nhiên, cách thức thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến về trách nhiệm và tư vấn
cũng rất khác biệt giữa khách thể kiểm toán và giữa các nước có cơ sở kinh tế và pháp lý khác nhau. 10
Ở khu vực ở công cộng (bao gồm cả các xí nghiệp và các cá nhân hưởng thụ ngân
sách nhà nước) đều đặt dưới sự kiểm soát của kiểm toán nhà nước. Trong quan hệ này,
chức năng xác minh và kết luận về chất lượng thông tin của kiểm toán được thực hiện
tương tự như nhau. Tuy nhiên chức năng “bày tỏ ý kiến” về pháp lý và “tư vấn” kiểm toán lại rất khác nhau.
Ở mức độ cao của chức năng này là sự phán quyết như các quan toà. Có thể tìm
thấy biểu hiện rõ nét nhất ở toà thẩm kế của cộng hoà Pháp và các nước Tây Âu. Ở
đây, cơ quan kiểm tra nhà nước có quyền kiểm tra các tài liệu và tình hình quản lý của
các tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước để xác minh tính chính xác và hợp lệ của tài
liệu thu chi và quản lý ngân sách. Đồng thời, các cơ quan này cũng có quyền xét xử
như một quan toà bằng các phán quyết của mình, kiểm toán viên cao cấp được pháp
luật thừa nhận những quyền đặc biệt: chẳng hạn, ở cộng hoà Pháp, họ được pháp luật
thừa nhận quyền ”bất năng thuyên chuyển”, đặc biệt ở Đức, được thừa nhận quyền “bất năng thay đổi”.
Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách nhà nước: chức năng bày
tỏ ý kiến này cũng được thực hiện qua phương thức tư vấn. Tuy nhiên, do khách thể
chủ yếu là các doanh nghiệp nên chức năng tư vấn chủ yếu được biểu hiện dưới hình
thức các lời khuyên hoạc các đề án. Do đó, trong trường hợp này, nếu sản phẩm của
bày tỏ ý kiến kết quả xác minh về độ tin cậy của thông tin là “báo cáo kiểm toán” thì
sản phẩm của bày tỏ ý kiến dạng tư vấn là “thư quản lý”.
Ngoài chức năng tư vấn cho quản trị doanh nghiệp, ngày nay các công ty kiểm
toán chuyên nghiệp còn phát triển chức năng tư vấn của mình trong nhiều lĩnh vực
chuyên sâu đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính.
1.4. Ý NGHĨA VÀ TÁC DỤNG CỦA KIỂM TOÁN - Chủ DN Q
- Người có lợi ích trực tiếp
- Ngưòi có lợi ích gián tiếp Doanh nghiÖp LËp b¸o c¸o TC - Độc lập, khách quan K
- Có kỹ năng nghề nghiệp 11 - Có địa vị pháp lý
Hàng năm các đơn vị đều phải lập báo cáo tài chính. Đây là đối tượng quan tâm
của nhiều người như chủ DN, cổ đông, NH,... Các đối tượng này tuy quan tâm đến báo
cáo TC ở các góc độ khác nhau nhưng đều có nhu cầu được sử dụng các thông tin
chính xác, trung thực, đáng tin cậy. Do đó cần có một bên thứ ba độc lập, khách quan,
có kỹ năng nghề nghiệp, có địa vị và trách nhiệm pháp lý kiểm tra và đưa ra kết luận là
báo cáo TC của doanh nghiệp lập ra có phản ánh đúng đắn, trung thực, hợp lý tình
hình tài chính của doanh nghiệp không, có phù hợp với các nguyên tắc và chuẩn mực
kế toán không,... Ngoài ra kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị kế toán phát hiện và
chấn chỉnh kịp thời các gian lận, sai sót, phòng ngừa sai phạm và thiệt hại có thể xảy
ra trong kinh doanh. Do đó kiểm toán có những ý nghĩa và tác dụng sau:
1.4.1. Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm
Trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự
phản ánh của nó trong tài liệu kế toán. Trong đó có cả cơ quan nhà nước, các nhà đầu
tư, các nhà quản lý, các khách hàng và người lao động.
Các cơ quan nhà nước cần có thông tin trung thực để điểu tiết vĩ mô nền kinh tế
bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chung của mình với mọi thành
phần kinh tế, với mọi hoạt động xã hội. Đặc biệt, các khoản thu chi của ngân sách nhà
nước, các khoản vốn liếng và kinh phí nhà nước đầu tư cho các đơn vị kinh doanh
hoặc sự nghiệp và tài sản, tài nguyên quốc gia.... càng cần được giám sát chặt chẽ theo
hướng đúng pháp luật và có hiệu quả. Chỉ có hoạt động kiểm toán phát triển trên cơ sở
khoa học thực sự mới đáp ứng được những yêu cầu thông tin cho những quyết sách
của nhà nước và kế toán mới thực sự trở thành cái nền vững chắc cho cả sự can thiệp
trực tiếp lẫn quản lý gián tiếp của nhà nước.
Các nhà đầu tư cần có tài liệu tin cậy để trước hết có xu hướng đúng đắn, sau đó
có điều hành sử dụng vốn đầu tư và cuối cùng có tài liệu trung thực về ăn chia, phân
phối kết quả đầu tư. Trong cơ chế thị trường, do tính đa phương hoá đầu tư và đa dạng
hoá các thành phần kinh tế nên các nhà đầu tư không chỉ không chỉ có nhà đầu tư trong
nước mà còn có cả nhà đầu tư nước ngoài; với đầu tư trong nước cũng không chỉ có
nhà nước mà còn có cả tư nhân, các cổ đông, các xã viên và các nhà đầu tư khác; trong 12
đầu tư cũng không chỉ có đầu tư trực tiếp mà còn có đầu tư gián tiếp... Để thu hút vốn
của các nhà đầu tư và tạo cơ hội thuận lợi cho việc sử dụng hợp lý mọi nguồn đầu tư,
cần có những thông tin trung thực và khách quan về tình hình tài chính, trước hết và
chủ yếu thông qua kiểm toán toàn bộ các bảng khai tài chính về tài sản, về thu nhập,
về chi phí cùng các bảng thuyết minh kèm theo.
Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần thông tin trung
thực không chỉ trên các bảng khai tài chính mà còn thông tin cụ thể về tài chính, về
hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mỗi giai đoạn
quản lý kể cả tiếp nhận vốn liếng, chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh và
hoạt động quản lý... Những thông tin đó chỉ có được thông qua hoạt động quản lý và kiểm toán khoa học.
Người lao động cũng cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về ăn
chia phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm... Nhu cầu đó chỉ có
thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh.
Khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác cũng cần hiểu rõ
thực chát về kinh doanh và về tài chính của các đơn vị được kiểm toán về nhiều mặt:
số lượng và chất lượng sản phẩm, hàng hoá, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán,
hiệu năng và hiệu quả các bộ phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản xuất ở đơn vị được kiểm toán.
Tất cả những người quan tâm này không càn hoặc không thể biết tất cả các kỹ
thuật nghiệp vụ của “nghề” tài chính, kế toán nhưng cần biết thực trạng của hoạt động
này. Chỉ có kiểm toán mới mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan.
1.4.2. Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ
Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ
đa dạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hướng
các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các mối quan hệ trên, không chỉ cần có
định hướng đúng và thực hiện tốt mà còn cần thường xuyên soát xét việc thực hiện để
hướng các nghiệp vụ vào các quỹ đạo mong muốn. Hơn nữa, chính định hướng và tổ
chức thực hiện cũng chỉ được thực hiện tốt trên cơ sở những bài học từ soát xét và uốn
nắn thường xuyên những lệch lạc trong quá trình thực hiện. 13
Hoạt động tài chính lại bao gồm nhiều mối quan hệ đầu tư, kinh doanh, về phân
phối, thanh toán. Tính phức tạp của hoạt động này tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa
các quan hệ tài chính với lợi ích con người. Trong
khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của hoạt động tài chính. Ngoài việc chứa đựng
những phức tạp của các quan hệ tài chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá
trình xử lý thông tin bằng phương pháp kỹ thuật rất đặc thù. Do đó, nhu cầu hướng dẫn
nghiệp vụ và củng cố nề nếp trong quản lý tài chính càng đòi hỏi ở mức độ thường
xuyên và ở mức độ cao hơn.
Đặc biệt ở nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế trong đó có các
quan hệ tài chính, chế độ kế toán thay đổi nhiều lần, cùng với sự bung ra của các thành
phần kinh tế xã hội khác nhau. Trong khi đó, ở nhiều nơi và nhiều lúc, công tác kiểm
tra, kiểm soát chưa chuyển hướng kịp thời dẫn tới tình trạng kỷ cương bị buông lỏng,
nhiều tổ chức kế toán và đơn vị kinh doanh ngoài quốc doanh không làm kế toán....
Trước thực tiễn đó đã nảy sinh quan điểm cho rằng chưa thể tiến hành cải cách công
tác kiểm tra trong khi chưa triển khai toàn diện và rộng khắp công tác kế toán. Tuy
nhiên, kinh nghiệm thực tế đã chỉ rõ, chỉ có thể triển khai tốt hơn công tác kế toán mới
có thể nhanh chóng đưa công tác tài chính kế toán đi vào nề nếp. Thực tiễn đó đã
chứng minh rõ tác dụng hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp tài chính kế toán của kiểm toán.
1.4.3. Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý
Rõ ràng, kiểm toán không chỉ xác minh độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn về
quản lý. Có thể thấy đặc biệt rõ tác dụng của vai trò tư vấn này trong kiểm toán hiệu
năng và hiệu quả quản lý. Vai trò này phát huy rrát ró trong cá đơn vị được kiểm toán
thường xuyên. Trong điều kiện đó, việc tích luỹ kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sở
cho những bài học cho tương lai. Điều đó cũng có thể giải thích từ tính phức tạp và đa
dạng trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế - xã hội trong đơn vị được kiểm
toán. Đặc biệt trong những bước chuyển đổi cơ chế kinh tế, có nhiều quan hệ mới,
phức tạp nảy sinh. Trong cả nhận thức lẫn thực tiễn có thể thấy rõ tính phức tạp của
các quan hệ này từ chính những đặc trưng của kinh tế thị trường: lợi nhuận là mục
tiêu cuối cùng, công bằng xã hội, phúc lợi xã hội không còn đủ các điều kiện thuận lợi
duy trì và phát triển trong cơ chế thị trường thuần tuý. Cạnh tranh là qui luật đạt tới lợi
nhuận, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, canh tranh và bình đẳng trước pháp luật. 14
Kinh tế mở cửa, đa phương hoá đầu tư và mở rộng, các quan hệ kinh tế có lợi ích trực
tiếp song không phải mọi quan hệ này đều chỉ đơn thuần về kinh tế... Đặc biệt trong
điều kiện mới chuyển đổi cơ chế kinh tế, hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, kinh
nghiệm và chuyên gia giỏi về quản lý chưa có nhiều. Trong điều kiện đó, duy trì kỷ
cương và dảm bảo phát triển đúng hướng và chỉ có thể có được trên cơ sở xây dựng
đồng bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực để trên cơ sở tích luỹ
kinh nghiệm từ xác minh đi đến tư vấn cho mọi lĩnh vực hoạt động.
Từ tất cả những điều trình bày ở trên, có thể thấy rõ kiểm toán có ý nghĩa lớn trên
nhiều mặt. Đó là “quan toà công minh của quá khứ, người dẫn dắt cho hiện tại và
người cố vấn sáng suốt cho tương lai”. 1.5. PHÂN LOẠI KIỂM TOÁN
1.5.1. Phân loại kiểm toán theo chức năng
1.5.1.1. Kiểm toán hoạt động
Là kiểm toán để xem xét và đánh giá tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của đơn vị.
Tính hiệu lực là khả năng hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của một đơn vị.
Tính hiệu quả là việc đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất.
Kiểm toán hoạt động được hình thành ngay từ khi kiểm toán ra đời và loại kiểm
toán phổ biến với nội dung rất đa dạng nhằm đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị.
Đối tượng của kiểm toán hoạt động là rất đa dạng và phong phú. Mỗi đơn vị có
kế hoạch, chương trình hoạt động cho những thời kỳ nhất định với các nhiệm vụ, mục
tiêu cụ thể. Việc kiểm tra đánh gía tình hình thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu mà đơn vị
đề ra là công việc có ý nghĩa rất quan trọng, giúp đơn vị đề ra các giải pháp cho định
hướng phát triển tiếp theo của đơn vị. Kiểm toán thực hiện việc đánh giá khả năng
hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra thông qua việc đánh giá kết quả của phương
án kinh doanh, một qui trình công nghệ, một phương án đầu tư... đó chính là tính hiệu
lực trong hoạt động của đơn vị.
Cùng với tính hiệu lực, việc đánh giá tính hiệu quả hoạt động của đơn vị giúp cho
đơn vị biết được hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực của mình để có giải pháp
thiết thực khai thác huy động và sử dụng tốt hơn các nguồn lực trong đơn vị. Do đối
tượng của kiểm toán như vậy nên khó có thể đưa ra một khuôn mẫu cho kiểm toán 15
hoạt động. Mặt khác tính hiệu lực và hiệu quả của quả trình hoạt động rất khó được
đánh giá một cách khách quan, việc xây dựng các chuẩn mực đề đánh giá các thông tin
trong một cuộc kiểm toán là một việc mang nặng tính chủ quan.
Kiểm toán hoạt động có thể được thực hiện bởi kiểm toán viên độc lập, kiểm toán
viên nôi bộ, kiểm toán viên nhà nước. Báo cáo kết quả kiểm toán là các bản giải trình
của kiểm toán viên cho người quản lý. Trong đó phân tích ưu và nhược điểm của hoạt
động được kiểm toán. Đồng thời đưa ra những đề xuất kiến nghị hoạt động của kiểm
toán viên để nâng cao công tác quản lý.
1.5.1.2. Kiểm toán tuân thủ
Kiểm toán tuân thủ là loại kiểm toán đánh giá việc tuân thủ, thực hiện các thủ tục,
nguyên tắc, các qui định của nhà nước, các cơ quan cấp trên có thẩm quyền. Với nội
dung như vậy kiểm toán tuân thủ còn gọi là kiểm toán tính qui tắc.
Mục đích của kiểm toán tuân thủ là đánh giá xem đơn vị có tuân thủ pháp luật,
chế độ hay không. Kiểm toán tuân thủ cũng được thực hiện bởi kiểm toán viên độc lập,
kiểm toán viên nôi bộ, kiểm toán viên nhà nước
Báo cáo kết quả kiểm toán về tình hình chấp hành, tuân thủ luật pháp chế độ của
đơn vị cho nhà nước, cơ quan có thẩm quyền, cấp trên, cho chủ doanh nghiệp.
1.5.1.3. Kiểm toán báo cáo tài chính
Là việc kiểm tra và xác nhận tính trung thực, hợp lý của các báo cáo tài chính
cũng như việc báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán
được thừa nhận rộng rãi hay không. Các báo cáo tài chính thường được kiểm toán
nhiều nhất là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ...
Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là việc đưa ra ý kiến xác nhận rằng các
báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở các chuẩn mực và chế độ kiểm toán hiện hành,
có trung thực, hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu không.
Kiểm toán báo cáo tài chính cũng được thực hiện bởi kiểm toán viên độc lập,
kiểm toán viên nôi bộ, kiểm tóan viên nhà nước.
Kiểm toán báo cáo tài chính là loại kiểm toán phổ biến và quan trọng đặc biệt
trong nền kinh tế thi trường. Vệc kiểm toán báo cáo tài chính có thể do các tổ chức,
các cơ quan quản lý chức năng khác nhau tiến hành nhưng thường do các công ty, các 16
tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thực hiện nhằm cung cấp cho các đối tượng sử dụng
thông tin trên báo cáo tài chính về mức độ phù hợp, trung thực, hợp lý của chúng phục
vụ cho việc ra quyết định phù hợp với mục đích sử dụng thông tin.
1.5.2. Phân loại kiểm toán theo chủ thể kiểm toán
1.5.2.1. Kiểm toán nội bộ
Là việc kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ tiến hành, mục đích kiểm toán
nội bộ đánh giá tính thích hợp và tính hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ để phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách chế
độ quản lý kinh tế tài chính của nhà nước cũng như việc chấp hành các nghị quyết, qui
định của ban giám đốc, hội đồng quản trị, đặc biệt là để đánh giá chất lượng và độ tin
cậy của thông tin kinh tế tài chính.
Phạm vi kiểm toán nội bộ rất rộng với các nội dung đa dạng khác nhau, có thể
khái quát nội dung kiểm toán nội bộ thành 3 nội dung chủ yếu sau:
- Kiểm toán báo cáo kế toán với nội dung kiểm tra, xác nhận tính kịp thời, đầy
đủ, kịp thời, khách quan, mức độ tin cậy của thông tin trên báo cáo kế toán (bao
gồm cả báo cáo tài chính và báo cáo quản trị) trước khi ký duyệt và công bố;
kiểm tra phân tích và đánh giá các thông tin trên báo cáo kế toán đưa ra kiến
nghị, đề xuất cho các nhà quản lý doanh nghiệp.
- Kiểm toán hoạt động với nội dung cụ thể: kiểm tra việc khai thác, huy động và
sử dụng các nguồn lực; kiểm tra đánh giá tính hiệu quả và tính hiệu lực trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
- Kiểm toán tính tuân thủ với các nội dung: kiểm tra việc chấp hành các chế độ,
thể lệ kế toán; kiểm tra việc thực hiện các quyết định của ban giám đốc, hội
đồng quản trị cũng như luật pháp của nhà nước.
Công việc của kiểm toán nội bộ là do yêu cầu của bản thân doanh nghiệp, người
tiến hành kiểm toán là người làm công ăn lương không cần chứng chỉ hành nghề.
Kết quả kiểm toán nội bộ cũng cần được lập báo cáo kiểm toán nội bộ, trong báo
cáo phải trình bày đầy đủ các nội dung, kết quả kiểm toán theo mục tiêu, yêu cầu đề ra
cho từng cuộc kiểm toán, xác nhận tính đầy đủ, trung thực, hợp lý của các thông tin đã
kiểm tra, đồng thời phải trình bày những kiến nghị, đề xuất biện pháp xử lý các hiện
tượng vi phạm chính sách, chế độ qui định, các hiện tượng gian lận trong quản lý. Báo 17
cáo kiểm toán nội bộ ít có giá trị pháp lý. Thông tin cung cấp chủ yếu phục vụ cho
công tác quản lý của doanh nghiệp.
1.5.2.2. Kiểm toán nhà nước
Là công việc kiểm toán do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện với mục đích là
kiểm soát việc chi tiêu tài nguyên công quĩ, tài sản quốc gia. Đánh giá tính hiệu quả và
đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc chi tiêu tài nguyên và tài sản quốc gia.
Kiểm toán nhà nước cũng tiến hành theo 3 nội dung: kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ nhưng chủ yếu là kiểm toán tuân thủ; thông
qua đó mà kiểm tra đánh giá việc chấp hành các chính sách, chế độ qui định của nhà
nước tại các đơn vị. Một trong các nội dung quan trọng của kiểm toán nhà nước là việc
kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách của các tỉnh, thành phố trước khi trình hội
đồng nhân dân và tổng quyết toán ngân sách nhà nước của chính phủ trước khi trình quốc hội.
Kiểm toán nhà nước được tiến hành theo luật định. Khi thực hiện nhiệm vụ. kiểm
toán nhà nước chỉ tuân thủ theo pháp luật của nhà nước qui định về chế độ kiểm toán
và đúng với những qui định trong điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà
nước. đặc trưng của kiểm toán nhà nước:
- Nhằm thực hiện chức năng quản lý (không phải để kinh doanh).
- Người thực hiện là các kiểm toán viên nhà nước làm công ăn lương cho nhà nước.
- Kết quả kiểm tra gắn liền với các ý kiến đề xuất xử lý.
- Kiểm toán nhà nước mang tính cưỡng chế bắt buộc, mang tính pháp lý cao.
Thông tin do kiểm toán cung cấp phục vụ cho bản thân doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.
1.5.2.3. Kiểm toán độc lập
Là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán về
tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp.
Kiểm toán độc lập hoạt động trong các lĩnh vực với các nội dung rất phong phú,
đa dạng nhưng nội dung chủ yếu là kiểm toán báo cáo tài chính. Kiểm toán báo cáo tài 18
chính là loại dịch vụ phổ biến nhất đối với các công ty kiểm toán độc lập. Ngoài ra các
công ty kiểm toán độc lập còn tiến hành các loại dịch vụ khác như dịch vụ xem xét lại,
dịch vụ xác nhận, dịch vụ tư vấn quản lý.....Mục đích của kiểm toán độc lập là xác
định độ tin cậy của báo cáo tài chính.
Đặc trưng của kiểm toán độc lập:
- Hoạt động của công ty kiểm toán chuyên nghiệp là hoạt động kinh doanh , mục
tiêu là sinh lời nên có thu phí, khách hàng phải trả chi phí cho cuộc kiểm toán.
- Chủ thể kiểm toán là các kiểm toán viên độc lập được cấp chứng chỉ hành nghề.
- Kiểm toán độc lập mang tính tự nguyện.
- Kiểm toán không gắn với các biện pháp xử lý
- Kiểm toán độc lập có tính pháp lý cao.
- Đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng thông tin và tạo điều kiện cho sự phát
triển kinh tế. Báo cáo kiểm toán cung cấp cho đơn vị được kiểm toán, thông tin
do kiểm toán cung cấp phục vụ cho những đối tượng sử dụng thông tin của đơn vị được kiểm toán.
Kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng là hoạt động kinh tế bởi lợi
ích của kiểm toán mang lại đó là những thông tin kinh tế tài chính đã được kiểm tra
xác nhận. Trên cơ sở đó mà các đối tượng sử dụng thông tin ra được quyết định phù
hợp. Chính vì thế mà lợi ích do kiểm toán mang lại, đặc biệt là kiểm toán độc lập rõ
ràng lớn hơn rất nhiều so với chi phí bỏ ra trong quá trình kiểm toán và đó cũng là
phần lợi ích kinh tế chung của xã hội. Cũng vì kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ
tư vấn kiểm lời đã trở thành một hoạt động, một ngành nghề kinh doanh ngày càng
được mở rộng, phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường.
1.6. CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN
Khái niệm: Chuẩn mực kiểm toán là những nguyên tắc cơ bản về nghiệp vụ và
về việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán. Hiểu theo nghĩa
rộng, chuẩn mực kiểm toán bao gồm cả những hướng dẫn, những giải thích về các
nguyên tắc cơ bản để các kiểm toán viên có thể áp dụng trong thực tế, để đo lường và
đánh giá chất lượng công việc kiểm toán.
1.6.1. Sự cần thiết của chuẩn mực kiểm toán 19
Chuẩn mực kiểm toán được hiểu là những quy định về những nguyên tắc, thủ
tục cơ bản và những hướng dẫn thể thức áp dụng các nguyên tắc và thủ tục cơ bản đó
trong quá trình kiểm toán.
Thứ nhất, chuẩn mực kiểm toán trước hết là những nguyên tắc và chỉ dẫn cho
người kiểm toán tổ chức cuộc kiểm toán đạt chất lượng và hiệu quả. Với ý nghĩa này,
chuẩn mực kiểm toán vừa có tính bắt buộc vừa có tính hỗ trợ, hướng dẫn cho các KTV.
Thứ hai, chuẩn mực kiểm toán được các tổ chức kiểm toán và các tổ chức khác
sử dụng làm thước đo chung để đánh giá chất lượng công việc của KTV đã thực hiện
trong quá trình kiểm toán.
Thứ ba, chuẩn mực kiểm toán còn gọi là căn cứ để các đơn vị được kiểm toán
và những người khác có liên quan phối hợp thực hiện trong quá trình kiểm toán và sử
dụng các kết quả của kiểm toán.
Với ý nghĩa như vậy, chuẩn mực kiểm toán không những là cần thiết trong
phạm vi mỗi quốc gia, cho từng lĩnh vực kiểm toán và cho từng loại tổ chức kiểm toán
mà vấn đề về chuẩn mực kiểm toán cũng đã trở nên rất cần thiết trên phạm vi quốc tế,
đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế thế giới hiện nay.
1.6.2. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Trên bình diện thế giới ngày nay, hầu hết các quốc gia cần thiết lập cho mình
hệ thống các chuẩn mực kiểm toán. Bên cạnh đó, ở phạm vi quốc tế, khoảng nửa cuối
thế kỷ trước trở lại đây cũng xuất hiện và tồn tại một hệ thống các chuẩn mực kiểm
toán quốc tế (ISA – International Standards on Auditing), đó là sự đòi hỏi tất yếu của
quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.
Do những quan niệm, cách thức và trình độ kiểm toán khác nhau nên hệ thống
chuẩn mực kiểm toán của các quốc gia khác nhau cũng có những nội dung và hình
thức khác nhau. Để thuận tiện cho việc vận dụng các chuẩn mực kiểm toán khi thực
hiện kiểm toán ở các quốc gia khác nhau, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) mà trực
tiếp là Ủy ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) nay đã đổi thành Ủy ban soạn thảo
chuẩn mực đảm bảo và kiểm toán quốc tế đã thực hiện việc so sánh và phân biệt sự
khác nhau trong các tài liệu về chuẩn mực kiểm toán giữa các quốc gia và trên cơ sở
đó soạn thảo và phát hành hệ thống các chuẩn mực kiểm toán quốc tế nhằm đạt được 20