



















Preview text:
Đề cương Lịch sử Đảng
Câu 1: Vai trò của NAQ trong việc thành lập đảng
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước của Nhân dân Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính
trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương
hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời
đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, mở ra con
đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam suốt 90 năm
qua. Công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong quá trình chuẩn bị thành
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là:
Một là, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt
Nam - Con đường Cách mạng Vô sản.Những chuyến đi, những cuộc khảo
nghiệm, dấu chân Người từng in trên 3 đại dương, 4 châu lục và khoảng 30 quốc
gia trong 10 năm (1911 - 1920). Quá trình thâm nhập thực tiễn rộng lớn đó đã
giúp người thanh niên yêu nước nhận thức rõ hơn, khái quát hơn những vấn đề
mang tính chất bước ngoặt quan trọng, đó là nhận ra diện mạo, bản chất của chủ
nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân: ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo,
độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bức nặng nề và “dù màu
da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và
giống người bị bóc lột”. Nhận ra bản chất của các cuộc cách mạng qua nghiên
cứu các cuộc cách mạng của các nước tư bản chủ nghĩa: “CáchmệnhPhápcũng
nhưcáchmệnhMỹ,nghĩalàcáchmệnhtưbản.Cáchmệnhkhôngđếnnơi,
khôngtriệtđể,tiếngnóilàcộnghòalàdânchủ.Kỳthựcbêntrongthìnó
bóclộtcôngnôngtrongnước,ởngoàithìápbứcthuộcđịa”[1]. Bắt gặp lý
tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lênin: Người đã tìm thấy con đường cứu nước giải
phóng cho dân tộc - con đường cách mạng vô sản. Sau này Người có kể
lại: “LuậncươngcủaLêninđãlàmchotôirấtcảmđộng,phấnkhởi,sángtỏ,tin
tưởngbiếtbao!Tôivuimừngđếnphátkhóclên.Ngồimộtmìnhtrongbuồngmà
tôinóitolênnhưđangnóitrướcquầnchúngđôngđảo:Hỡiđồngbàobịđọa
đàyđaukhổ!Đâylàcáicầnthiếtchochúngta,đâylàconđườnggiảiphóng
chochúngta”[2].Có thể khẳng định, chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa Nguyễn
Ái Quốc tìm đến lý tưởng cao quý của chủ nghĩa Mác - Lênin, với khát vọng
mang lại hòa bình cho dân tộc, Người đưa ra những thông điệp mang giá trị vĩnh
hằng, đó là những thông điệp về hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, đó
chính là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - con đường Người lựa
chọn suốt 100 năm qua, nay vẫn là sợi chỉ đỏ, là kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng Việt Nam.
Hai là, Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị về tư
tưởng, chính trị, tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
Khi xác định con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản
theo cách mạng Tháng Mười Nga, theo Quốc tế Cộng sản thì Nguyễn Ái Quốc
bằng hoạt động thực tiễn tích cực của mình ở nước ngoài đã tiến hành truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, quá trình truyền bá đi từ thức tỉnh đến giác
ngộ, từ lựa chọn con đường đến hành động cách mạng theo con đường cách mạng vô sản.
Về tư tưởng: Nguyễn Ái Quốc đã dùng ngòi bút của mình tích cực tố cáo, lên án
bản chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và
kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp bức đấu tranh giải phóng. Người đã góp phần
quan trọng vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở các thuộc địa.
Chỉ rõ bản chất của chủ nghĩa thực dân, xác định chủ nghĩa thực dân là kẻ thù
chung của các dân tộc thuộc địa, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
trên thế giới. Đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác - Lênin, xây dựng
mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với
các nước thuộc địa và phục thuộc. Về chính trị: Lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc đã hình thành một hệ thống luận điểm
chính trị: Lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc khẳng định con đường cách mạng của các
dân tộc bị áp bức; xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của
cách mạng vô sản thế giới; xác định lực lượng cách mạng; xác định vai trò lãnh
đạo của Đảng; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Những luận
điểm ấy sau này phát triển thành những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh chính
trị đầu tiên của Đảng.
Về tổ chức:Sau khi từ Liên
Xô về Quảng Châu, Người lựa chọn một số thanh
niên tích cực trong tổ chức Tâm tâm xã lập ra nhóm Cộng sản đoàn
(02/1925). Trên cơ sở nhóm Cộng sản đoàn Người sáng lập nên Hội Việt Nam
cách mạng Thanh niên (6/1925) tại Quảng Châu - Trung Quốc, sau đó Người
liên kết với những cộng sản ở thuộc địa đang hoạt động cách mạng ở Pháp lập ra
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông (7/1925). Các tổ chức là nơi để
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về nước và cũng là sự chuẩn bị quan trọng về
tổ chức để tiến tới thành lập chính đảng của giai cấp vô sản ở Việt Nam. Nhờ
đó, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu
nước Việt Nam những năm 1928 - 1929 theo khuynh hướng cách mạng vô sản.
Có thể nói, trong những năm tháng đầy cam go, hiểm nguy, thử thách, với khát
vọng cháy bỏng giải phóng dân tộc, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động khẩn
trương, tích cực và đầy sáng tạo chuẩn bị những tiền đề tư tưởng, chính trị, tổ
chức để dẫn đến sự ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam phù hợp với xu thế tiến bộ của lịch sử.
Ba là, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng.
Cuối năm 1929, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ dẫn tới sự ra đời của
ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng,
Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Sự ra đời của các tổ chức cộng sản đã khẳng
định bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng Việt Nam. Tuy
nhiên, sự ra đời ba tổ chức cộng sản ở ba miền đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế
Cộng sản, kêu gọi Quốc tế Cộng sản thừa nhận tổ chức của mình và đều nhận là
đảng cách mạng chân chính, do đó không tránh khỏi phân tán về lực lượng và
thiếu thống nhất về tổ chức.Trước nhu cầu cấp bách của phong trào cách mạng
trong nước, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đến
Hương Cảng (Trung Quốc) triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản để
lập một chính đảng duy nhất của Việt Nam, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bốn là, Người đã soạn thảo và thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng. Cương lĩnh đã xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam
với nhiều nội dung rất quan trọng: mục tiêu của cách mạng, nhiệm vụ cách
mạng, lực lượng cách mạng, phương pháp tiến hành cách mạng, quan hệ quốc
tế, vai trò lãnh đạo của Đảng. Những nội dung ấy dẫu rằng “vắn tắt” nhưng đã
phản ánh những vấn đề cơ bản trước mắt và lâu dài cho cách mạng Việt Nam,
đưa cách mạng Việt Nam sang một bước ngoặt lịch sử vĩ đại. Cương lĩnh chính
trị đầu tiên là một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng
tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân
văn sâu sắc. Và là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta trong mọi thời
kì cách mạng và đặc biệt có giá trị trong thời đại ngày nay. 90 năm thực hiện
đường lối chiến lược theo Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Việt Nam vẫn kiên định
con đường cách mạng được khẳng định từ Cương lĩnh chính tri đầu tiên, đó là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vẫn là sợi chỉ đỏ, là kim chỉ nam
cho hoạt động cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011)
khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa
chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp
với xu thế phát triển của lịch sử”[3]; Đại hội lần thứ XII (2016) của Đảng tiếp
tục khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với
thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”[4]. Do đó, chúng ta
hoàn toàn có quyền khẳng định rằng di sản Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị
lý luận và thực tiễn sâu sắc trong kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay.
Kỷ niệm 130 năm ngày sinh của Bác, chúng ta càng thấy công lao to lớn của
Người đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam nói chung và sự ra
đời của Đảng ta nói riêng. Tưởng nhớ Người, chúng ta càng khắc sâu công lao
của Người, mỗi cán bộ đảng viên của Đảng, đặc biệt những người hoạt động
trên lĩnh vực tư tưởng lý luận tự hào luôn có Đảng lãnh đạo, càng ra sức học tập
để thấm nhuần đạo đức cách mạng của Người, xây dựng bản lĩnh chính trị vững
vàng trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận
dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tích ,
cực nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh
nghiệm lãnh đạo của Đảng, học tập đạo đức và phong cách của Người để vận
dụng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong công cuộc đổi mới, đấu tranh
chống các quan điểm sai trái phủ nhận vai trò của Đảng, hạ thấp uy tín của
Người đối với cách mạng Việt Nam, góp phần tích cực hiện thực hóa các Nghị
quyết của Đảng trong cuộc sống.
Câu2:Cươnglĩnhchínhtrịnăm1930.
Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10 năm 1930)
Tháng 10/1930, sau 8 tháng Đảng ra đời, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành
Trung ương lâm thời có ý nghĩa như một Đại hội cũng tổ chức tại Hương Cảng
do điều kiện trong nước bị đế quốc đàn áp khủng bố gắt gao phong trào cách
mạng. Hội nghị (họp từ ngày 14/10 đến 31/10/1930) thông qua bản Luận cương
chánh trị, án nghị quyết của Trung ương toàn thể Đại hội nói về tình hình hiện
tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, Điều lệ Đảng, hợp thành nội
dung Cương lĩnh thứ hai của Đảng.
Bút tích trang đầu dự thảo Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông
Dương, tháng 10/1930. (Ảnh tư liệu)
Luận cương chánh trị của Ðảng Cộng sản Ðông Dương (còn được gọi là Luận
cương cách mạng tư sản dân quyền) do đồng chí Trần Phú khởi thảo. Toàn bộ
nội dung Luận cương chánh trị của Ðảng Cộng sản Ðông Dương là những tư
tưởng cơ bản về mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp đấu tranh cách mạng của
Ðảng Cộng sản Ðông Dương; tiếp tục khẳng định và bổ sung một số vấn đề cốt
lõi về con đường cách mạng của Việt Nam mà Chánh cương vắn tắt đã nêu.
Luận cương nhận định, nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền ở
nước ta là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ, lập ra chính
phủ công nông, tịch thu ruộng đất của địa chủ trao cho nông dân; bãi bỏ các sưu
thuế hiện thời, ngày làm công 8 giờ, cải thiện sinh hoạt cho thợ thuyền và những
người lao động; xứ Ðông Dương hoàn toàn độc lập, thừa nhận dân tộc tự quyết;
lập quân đội công nông; ủng hộ Liên Xô, liên kết với giai cấp công nhân thế giới
và phong trào cách mạng thuộc địa, bán thuộc địa...
Phương pháp đấu tranh của quần chúng là bãi công, bãi công thị oai, bãi công võ
trang, tổng bãi công bạo động; kết hợp đòi quyền lợi hằng ngày như tăng tiền
lương, bớt giờ làm, giảm thuế, chống thuế... với mục đích lớn của Ðảng là đánh
đổ đế quốc, địa chủ phong kiến, giành độc lập, lập chính phủ công nông.
Về vai trò lãnh đạo của Ðảng, Luận cương chỉ rõ: Ðiều kiện cốt yếu cho sự
thắng lợi của cuộc cách mạng ở Ðông Dương là cần phải có một đảng cộng sản
có đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần
chúng và từng trải tranh đấu mà trưởng thành. Ðảng là đội tiên phong của vô sản
giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc, đại biểu cho quyền lợi chính
và lâu dài cho cả giai cấp vô sản, lãnh đạo tranh đấu để đạt mục đích cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.
* Chính cương Đảng Lao động Việt Nam (tháng 2 năm 1951)
Chính cương Ðảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí
thư Trường Chinh chỉ đạo soạn thảo và được Ðại hội II của Ðảng (tháng 2 năm
1951) thảo luận, thông qua.
Chính cương chỉ rõ: trước khi thuộc Pháp, xã hội Việt Nam căn bản là một xã
hội phong kiến, nông dân là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhất. Từ khi thuộc Pháp,
Việt Nam là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến; giai cấp công nhân Việt Nam
hình thành và trưởng thành nhanh; tư bản Việt Nam ra đời nhưng bị tư bản độc
quyền Pháp đè nén nên không phát triển được. Khi Nhật xâm chiếm Việt Nam,
chế độ thuộc địa của Pháp ở Việt Nam cũng trở nên phát-xít hóa, làm cho nhân
dân Việt Nam càng thống khổ hơn.
Vì vậy, nhiệm vụ căn bản của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi đế quốc xâm
lược, giành độc lập thống nhất thật sự cho đất nước, xóa bỏ những di tích phong
kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ
nhân dân, gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội. Ðộng lực của cách mạng Việt Nam
lúc này là công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức, tư sản
dân tộc, những thân sĩ yêu nước và tiến bộ; trong đó nền tảng là công nhân,
nông dân, trí thức; lực lượng lãnh đạo là giai cấp công nhân. Từ đó Chính cương
khẳng định: cách mạng Việt Nam hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội. Ðây là một cuộc đấu tranh lâu dài, trải
qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có một nhiệm vụ trọng tâm, trước mắt là phải
tập trung sức hoàn thành giải phóng dân tộc.
Về chính sách của Ðảng, Chính cương chỉ rõ: hoàn thành sự nghiệp giải phóng
dân tộc, xóa bỏ phong kiến, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Chính sách kháng chiến là thực hiện một cuộc chiến tranh nhân
dân toàn dân, toàn diện, trường kỳ, kháng chiến đến cùng để giành độc lập thống
nhất cho Tổ quốc. Xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân dựa vào Mặt trận
dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nhân, nông dân, trí thức do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Chính cương còn nêu những quan điểm cơ bản về xây dựng quân đội, phát triển
kinh tế tài chính, cải cách ruộng đất, phát triển văn hóa giáo dục, chính sách đối
với tôn giáo, chính sách dân tộc, chính sách đối với vùng tạm chiếm, chính sách
ngoại giao, chính sách đối với Việt kiều... Về ngoại giao, Chính cương khẳng
định nguyên tắc "tôn trọng độc lập, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất quốc gia của
nhau và cùng nhau bảo vệ hòa bình, dân chủ thế giới, chống bọn gây chiến"; mở
rộng ngoại giao nhân dân, giao thiệp thân thiện với Chính phủ nước nào tôn
trọng chủ quyền của Việt Nam, đặt quan hệ ngoại giao với các nước đó theo
nguyên tắc tự do, bình đẳng và có lợi cho cả hai bên, đấu tranh cho hòa bình thế giới.
* Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (tháng 6 năm 1991)
Sau khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, cả nước đi lên CNXH,
dưới sự lãnh đạo của Đảng, một lần nữa, nhân dân ta lại vượt qua thử thách
hiểm nghèo. Mô hình xây dựng CNXH kiểu cũ bị sụp đổ tại trung tâm của hệ
thống XHCN. Chế độ chính trị ở Liên Xô, các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ.
Là một quốc gia chưa phát triển, lại vừa trải qua 30 năm chiến tranh, bị bao vây
cấm vận, Đảng ta đã vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư
tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện công cuộc đổi mới mở đầu từ Đại hội VI, năm
1986. Tại Đại hội VII, lần đầu tiên, Đảng ta đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong điều kiện hòa bình. Đó là “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH” năm 1991 (gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991).
Cương lĩnh chỉ rõ mục tiêu và đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây
dựng, đó là một xã hội: Do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát
triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu
sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người
được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo
lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn
diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau
cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Cương lĩnh cũng xác định, quá độ lên CNXH ở nước ta là quá trình lâu dài, trải
qua nhiều chặng đường. Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá
độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với
kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta
trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.
Thực hiện Cương lĩnh, Đảng và nhân dân ta một mặt kiên trì mục tiêu và các
nguyên tắc của CNXH, mặt khác chuyển đổi mô hình xây dựng đất nước từ mô
hình cũ với Nhà nước “chuyên chính vô sản”, “kinh tế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu bao cấp” sang mô hình mới về CNXH. Về chế độ chính trị, đó là chế
độ do “nhân dân lao động làm chủ”; về kinh tế, đó là nền “kinh tế hàng hóa nhiều thành phần”…
* Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011)
Tại Đại hội XI, năm 2011, một lần nữa, Đảng ta điều chỉnh Cương lĩnh 1991.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát
triển năm 2011) được xây dựng trên cơ sở tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng
của Đảng, trực tiếp là tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, 25 năm
công cuộc đổi mới, dự báo xu thế phát triển của thế giới, của đất nước, đề ra
mục tiêu, phương hướng và những định hướng lớn phát triển đất nước trong thập
niên thứ hai của thế kỷ XX với tầm nhìn đến giữa thế kỷ. Thực tiễn 10 năm qua
đã chứng minh tính đúng đắn và giá trị to lớn, toàn diện về tư tưởng, lý luận,
thực tiễn của Cương lĩnh 2011.
Cương lĩnh 2011 của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ tiếp tục khẳng định
con đường XHCN, mà đưa vào văn kiện này những nội dung mới phù hợp với
những xu thế lớn của thời đại. Đó là xu thế “hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ,
hợp tác và phát triển”, đồng thời, Cương lĩnh cũng chỉ ra những thách thức đang
diễn ra gay gắt trên thế giới và khu vực. Đó là “… chiến tranh cục bộ, xung đột
vũ trang… hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo,
tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế”.
Theo thời gian và tiến trình lịch sử, mỗi Cương lĩnh của Đảng chứa đựng những
giá trị nội dung và ý nghĩa lớn lao riêng. Các Cương lĩnh năm 1930 đã đưa đến
ba cao trào cách mạng trong những năm 30, 40 thế kỷ trước và thắng lợi huy
hoàng của Cách mạng Tháng Tám 1945; đồng thời là cơ sở cho Đảng ta đề ra
đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh chống
thực dân Pháp xâm lược.
Cương lĩnh năm 1951 định hướng cho quyết tâm đi đến thắng lợi trong cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp, xây dựng miền Bắc XHCN, tạo tiền đề cho
Đại hội III (9/1960) của Đảng đề ra đường lối tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lược tập trung kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ ở miền Nam diễn ra suốt từ sau Hiệp định Giơnevơ (7/1954)
đến năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng quá độ lên CNXH.
Cương lĩnh năm 1991 là bước phát triển, hoàn chỉnh các Cương lĩnh trước đó
của Đảng, mở đầu cho quá trình nhận thức đầy đủ hơn, ngày càng rõ ràng hơn
về CNXH và xây dựng xã hội XHCN Việt Nam.
Cương lĩnh 2011 thể hiện niềm tin vững chắc của Đảng trên cơ sở khoa học,
thực tiễn về mục tiêu, con đường đi lên CNXH. Niềm tin của Đảng tạo thành
niềm tin của đại đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân; khắc phục cơ bản sự mơ hồ
về sự thay đổi bản chất và tiền đồ của chủ nghĩa tư bản, sự dao động, hoài nghi
về tương lai của CNXH. Đây là cơ sở quan trọng góp phần củng cố sự thống
nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận xã hội.
Những điểm chung trong các Cương lĩnh của Đảng là tư tưởng nhất quán về
cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đến cách mạng XHCN, độc lập
dân tộc gắn với CNXH; nhân dân là động lực cách mạng; Đảng Cộng sản lãnh
đạo cách mạng; Nhà nước, Chính phủ, quân đội của nhân dân; xây dựng nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Câu 3: Hội nghị trung ương 8 tháng 5/1941.
HồChủtịchđãởlánnàytrongnhữngngàyHộinghịTrungươngĐảngCộng
sảnĐôngDươnglầnthứ8họp(tháng5/1941),quyếtđịnhthànhlậpViệtNam
độclậpđồngminh(MặttrậnViệtMinh)lãnhđạonhândâncảnướcthựchiện
nhiệmvụgiảiphóngdântộc
Hội nghị tổ chức trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó (Hà Quảng - Cao Bằng).
Dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên,
Hoàng Quốc Việt, Vũ Anh và một số đồng chí khác.
Hội nghị phân tích nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc Chiến tranh thế giới
thứ hai, từ đó nhận định phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô và chiến tranh Thái
Bình Dương sẽ bùng nổ. Loài người sẽ bị tàn sát ghê gớm trong cuộc chiến
tranh phát xít. Phe Đồng minh chống phát xít nhất định sẽ thắng lợi, phe phát xít
nhất định sẽ thất bại, phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ. Hội
nghị dự đoán: nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một
nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước
xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công. Hội nghị nhận
định cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng thế giới, của
phong trào dân chủ chống phát xít.
Hội nghị chỉ rõ: Nhân dân Đông Dương phải chịu những hậu quả nặng nề của
cuộc chiến tranh thế giới, vì vậy thái độ chính trị của các giai cấp có thay đổi
khá lớn. Mâu thuẫn chủ yếu phải được giải quyết cấp bách lúc này là mâu thuẫn
giữa các dân tộc Việt Nam với bọn đế quốc phát xít Pháp - Nhật. Hội nghị tán
thành Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, bảy về chuyển
hướng chiến lược và sách lược. Hội nghị đề ra nhiều chủ trương, chính sách cụ
thể, nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề dân tộc, nhấn mạnh Đảng của giai
cấp công nhân, nếu muốn tập hợp lực lượng toàn dân thì phải giương cao ngọn
cờ dân tộc, phải đoàn kết hết sức rộng rãi “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận,
của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong
lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được
độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc
còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm
cũng không đòi lại được”.
Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt
trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Các tổ chức quần
chúng yêu nước chống đế quốc trong Mặt trận đều lấy tên là Hội Cứu quốc như
Hội Công nhân Cứu quốc, Hội Nông dân Cứu quốc, Hội Phụ nữ Cứu quốc, Hội
Thanh niên Cứu quốc, Hội Phụ lão Cứu quốc, Hội Nhi đồng Cứu vong, Hội
Quân nhân Cứu quốc... Với các dân tộc Lào, Cao Miên, Đảng chủ trương thành
lập Mặt trận ở mỗi nước, tiến tới thành lập một Mặt trận chung Đông Dương.
Nhằm triệt để phát huy yếu tố dân tộc, phân hoá hàng ngũ giai cấp địa chủ, Hội
nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu đánhđổđịachủ,chia
ruộngđấtchodâncày thay bằng khẩu hiệu tịchthuruộngđấtcủabọnđếquốc
vàViệtgianchiachodâncàynghèo, chia lại ruộng công, giảm tô, giảm tức.
Hội nghị xác định: phương pháp cách mạng là "cuộc cách mạng Đông Dương
kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang". Hội nghị quyết định phải xúc tiến
công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, khi thời cơ đến “với lực lượng sẵn có ta
có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có
thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn".
Hội nghị quyết định đặt vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của một nước Việt
Nam, Lào, Khơ me, thi hành đúng quyền “dân tộc tự quyết", với tinh thần liên
hệ mật thiết, giúp đỡ nhau giành thắng lợi...
Hội nghị đề ra nhiệm vụ xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo sự
nghiệp cách mạng của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị đề ra gấp rút đào tạo cán bộ
và tăng thêm thành phần vô sản trong Đảng.
Hội nghị bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức gồm các đồng chí Trường
Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang, Phùng Chí Kiên, đồng chí Trường Chinh
làm Tổng Bí thư của Đảng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí
Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang.
Hội nghị lần thứ tám của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh chủ
trương thay đổi chiến lược cách mạng được đề ra từ Hội nghị tháng 11-1939, có
ý nghĩa quyết định thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Câu4:KhókhăncủaVNsaucáchmạngtháng8.
Thếgiới: với âm mưu chia lại thuộc địa thế giới phe chủ nghĩa đế qốc ra sức tấn
công , đà áp pong trào cách mạng TG , trong đó có cách mạng VN sa CMT8
thành công koong nước nào ugr hộ lập trường đôc lập và công nhận địa vị pháp
lý của nhà nước VNDCH , VN nằm trg vòng vây của CNĐQ, bi bao vây cách
biệt với TG bên ngoài , cách mạng 3 nước đông dương nói chung và cách mạng
VN nói riêng phải đương đầu với nhiều bất lợi, khó khăn,thử thách hết sức to
lownsvaf rất nghiêm trọng. Trongnước:
- Sự bao vây của các thế lực quân đội nước ngoài:
Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, gần 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc lấy danh nghĩa
là giải giáp quân Nhật nhưng âm mưu chính là lật đổ chính quyền cách mạng.
Mang theo bọn phản động Việt Nam Quốc Dân đảng và Việt Nam Cách Mạng
đảng tìm mọi cách chống phá chính quyền cách mạng.
Từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam: Quân Anh với danh nghĩa là giải giáp quân Nhật,
nhưng âm mưu lại là giúp đỡ Pháp quay trở lại xâm lược, tạo điều kiện cho quân
Pháp quay lại xâm lược miền Nam.
Ngoài ra, trên cả nước ta có 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp. Một bộ phận quân
Nhật đã có tình gây ra nhiều tội ác cho nhân dân ta.
Những khó khăn sau cách mạng tháng 8 năm 1945
- Các thế lực thù địch trong nước thì luôn tìm mọi cách để chống phá chính quyền cách mạng.
- Nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng
nề; hậu quả của nạn đói cuối năm 1944 - đầu năm 1945 chưa được khắc phục.
Tiếp đến là nạn lũ lụt lớn, làm vỡ đê ở chín tỉnh Bắc Bộ, rồi hạn hán kéo dài,
khiến cho nửa tổng số ruộng đất không canh tác được.
- Ngân sách Nhà nước trống rỗng. Chính quyền cách mạng chưa quản lý được
Ngân hàng Đông Dương. Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc lại tung ra thị
trường các loại tiền Trung Quốc đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm
rối loạn. Các cơ sở công nghiệp của ta chưa kịp phục hồi sản xuất. Hàng hóa
khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn.
- Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức nạng nề,
hơn 90% dân số không biết chữ.
- Trong khi đó, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được củng cố,
lực lượng vũ trang còn non yếu, chưa có kinh nghiệm quản lý Nhà nước.
Câu5:Đườnglốikhángchiếnchốngpháp1945-1947.
Nội dung cơ bản của đường lối là: dựa trên sức mạnh toàn dân, tiến hành kháng
chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
Đường lối đó được thể hiện trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, lời kêu
gọi, bài viết, lời nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Tổng Bí thư Trường
Chinh, trong đó tập trung ở các văn bản: Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (25-11-
1945), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-12-1946), tác phẩm Kháng chiến nhất định
thắng lợi của đồng chí Trường Chinh (8-1947), … Nội dung:
-Mục tiêu của cuộc kháng chiến là đánh đổ thực dân Pháp xâm lược, giành nền
độc lập, tự do, thống nhất hoàn toàn; vì nền tự do dân chủ và góp phần bảo vệ hòa bình thế giới …
-Kháng chiến toàn dân là đem toàn bộ sức dân, tài chí, lực dân; động viên toàn
dân tích cực tham gia kháng chiến. Xây dựng sự đồng thuận, nhất trí của cả
nước, đánh địch ở mọi nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng
xã là một pháo đài, mỗi đường phố là một mặt trận”. Trong đó Quân đội nhân
dân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
-Kháng chiến toàn diện là đánh địch trên mọi lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh
tế, văn hóa, tư tưởng, ngoại giao, trong đó mặt trận quân sự, đấu tranh vũ trang
giữ vai trò mũi nhọn, mang tính quyết định. Động viên và phát huy cho được
mọi tiềm năng, sức mạnh của dân tộc, mọi nguồn lực vật chất, tinh thần trong
nhân dân phục vụ kháng chiến thắng lợi.
-Kháng chiến lâu dài là tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Đảng. Trường kỳ kháng
chiến là một quá trình vừa đánh tiêu hao lực lượng địch vừa xây dựng, phát
triển lực lượng ta, từng bước làm chuyển biến so sánh lực lượng trên chiến
trường có lợi cho ta; lấy thời gian là lực lượng vật chất để chuyển hóa yếu
thành mạnh. Kháng chiến lâu dài nhưng không có nghĩa là kéo dài vô thời hạn
mà phải luôn tranh thủ, chớp thời cơ thúc đẩy cuộc kháng chiến có bước nhảy
vọt về chất, thắng từng bước đi đến thắng lợi cuối cùng.
-Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, là phải lấy nguồn nội lực của dân tộc,
phát huy nguồn sức mạnh vật chất, tinh thần vốn có của nhân dân ta làm chỗ
dựa chủ yếu của cuộc chiến tranh nhân dân. Trên cơ sở đó, để tìm kiếm, phát
huy cao độ và có hiệu quả sự ủng hộ, giúp đỡ tinh thần và vật chất của quốc tế
khi có điều kiện. Lấy độc lập, tự chủ về đường lối là yếu tố quan trọng hàng đầu. Ý nghĩa: -
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và đường lối kháng chiến của Đảng là hoàn
toàn đúng đắn, trở thành ngọn cờ dẫn đường chỉ lối, động viên toàn Đảng, toàn
dân ta tiến lên. Đường lối đó được nhân dân ủng hộ, hưởng ứng trong suốt quá
trình kháng chiến và trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu quyết định
thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.
-Đường lối kháng chiến có tác dụng dộng viên, dẫn dắt nhân dân ta tiến hành
cuộc kháng chiến dưới sự lãnh đạo của đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù phải
trải qua nhiều hy sinh gian khổ nhưng nhất định sẽ giành thắng lợi.
Câu6:TrìnhbàynộidungcơbảnđườnglốikhángchiếnchốngMỹcứu
nướcđượcđềratạiHNBCHTWlầnthứ11vàHNTWlầnthứ12năm 1965?
-Quyết tâm chiến lược: với tinh thần “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâmlược”,
Đảng ta quyết định phát động kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trongtoàn quốc,
coi chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từNam chí
Bắc.-Mục tiêu chiến lược: Kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của
đếquốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào, nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng
miềnNam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến
tớithực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.-Phương châm chiến lược: Đánh lâu
dài, dựa vào sức mình là chính, càng đánhcàng mạnh; tập trung lực lượng của cả
hai miền để mở những cuộc tiến cônglớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết
định trong thời gian tương đối ngắntrên chiến trường miền Nam.-Tư tưởng chỉ
đạo đối với miền Nam: Giữ vững và phát triển thế tiến công, kiênquyết tiến công
và liên tục tiến công. Tiếp tục kiên trì phương châm kết hợpđấu tranh quân sự
với đấu tranh chính trị, thực hiện triệt để 3 mũi giáp công,đánh địch trên cả 3
vùng chiến lược.-Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: Chuyển hướng xây dựng
kinh tế, bảo đảmtiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc
phòng trong điềukiện có chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN,
động viên sứcngười sức của cao nhất để chi viện cho cuộc chiến tranh giải
phóng miền Nam,đồng thời tích cực chuẩn bị đề phòng để đánh bại địch trong
trường hợp chúngliều lĩnh mở rộng chiến tranh cục bộ ra cả nước.
1.3SosánhsựgiốngvàkhácnhaucủaCươnglĩnh3/2/1930vàLuậncương
chínhtrị10/1930
1.1.1.Điểmgiốngnhau:
Những nội dung của Luận cương chính trị thống nhất về cơ bản với Cương lĩnh
chính trị đầu liên của Hội nghị thành lập Đảng: −
Cùng xác định phương hướng chiến lược cơ bản của cách mạng là làm
cách mạng tư sản dân quyển và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. −
Xác định nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng là: chông đế quốc và phong
kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập. −
Tính chất của cách mạng lúc đầu là cuộc cách mạng tư sản dân quyền sau
đó liếp tục phát triển bỏ qua thời kỳ tư bản tiến thắng lên con đường xã hội chủ
nghĩa (độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội). −
Phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách nạng của quần chúng.
Tuyệt đối không đi vào con đường thoả hiệp. −
Về lực lượng lãnh dạo cách mạng là giai cấp vô sản thông qua đội tiền
phong của mình là Đảng Cộng sản. −
Về mối quan hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: cách mạng
Việt Nam với cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. 1.1.2.
Điểmkhácnhau: +
Xác định kẻ thù và nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng:
Trong cương lĩnh chính trị xác định kẻ thù, nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ
giặc Pháp sau đó mới đánh đổ phong kiến và tay sai phản cách mạng (nhiệm vụ
dân tộc và dân chủ). Nhiệm vụ dân tộc được coi là nhiệm vụ trọng đại của cách
mạng, nhiệm vụ dân chủ cũng dựa vào vấn đề dân tộc để giải quyết. Như vậy
mục tiêu của cương lĩnh xác định: làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân
dân được tự do, dân chủ, bình đẳng, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc Việt
gian chia cho dân cày nghèo, thành lập chính phủ công nông binh và tổ chức cho
quân đội công nông, thi hành chính sách tự do dân chủ bình đẳng phổ thông giáo
dục theo hướng công nông hóa.
Trong Luận cương chính trị thì xác định phải “tranh đấu để đánh đổ các di tích
phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bản và để thực hành thổ địa
cách mạng cho triệt để” và “đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập”.
Hai nhiệm vụ chiến lược dân chủ và dân tộc được tiến hành cùng một lúc có
quan hệ khăng khít với nhau. Việc xác định nhiệm vụ như vậy của Luận
cương đã đáp ứng những yêu cầu khách quan đồng thời giải quyết hai mâu thuẫn
cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc đó là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
đang ngày càng sâu sắc. Tuy nhiên, Luận cương chưa xác định được kẻ thù,
nhiệm vụ hàng đầu ở một nước thuộc địa nửa phong kiến nên không nêu cao vấn
đề dân tộc lên hàng đầu đó là nêu cao vấn đề đấu tranh giai cấp, vấn đề cách mạng ruộng đất. +
Về lực lượng cách mạng:
Trong Cương lĩnh chính trị xác định lực lượng cách mạng là giai cấp công nhân
và nông dân nhưng bên cạnh đó cũng phải liên minh đoàn kết với tiểu tư sản, lợi
dụng hoặc trung lập phú nông, trung nông, tiểu địa chủ và tư bản Việt Nam chưa
rõ mặt phản cách mạng. Như vậy, ngoài việc xác định lực lượng nòng cốt của
cách mạng là giai cấp công nhân thì cương lĩnh cũng phát huy được sức mạnh
của cả khối đoàn kết dân tộc, hướng vào nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc.
Với Luận cương thì xác định giai cấp vô sản và nông dân là hai động lực chính
của cách mạng mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là đông lực
chính và mạnh, là giai cấp lãnh đạo cách mạng, nông dân có số lượng đông đảo
nhất, là một động lực mạnh của cách mạng, còn những giai cấp và tầng lớp khác
ngoài công nông như tư sản thương nghiệp thì đứng về phía đế quốc chống cách
mạng, còn tư sản công nghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách
mạng phát triển cao thì họ sẽ theo đế quốc. Điều đó cho thấy ta chưa phát huy
được khối đoàn kết dân tộc, chưa đánh giá đúng khả năng cách mạng của tầng
lớp tiểu tư sản, khả năng chống đế quốc và phong kiến ở mức độ nhất định của
tư sản dân tộc, khả năng lôi kéo một bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt
trận dân tộc thống nhất chống đế quốc và tay sai. II. Phần thực tiễn
Nhận xét về ưu điểm và hạn chế của Cương lĩnh 3/2/1930 và Luận cương chính trị 10/1930
Như vậy, Cương lĩnh và luận cương đều là những văn kiện có ý nghĩa quan
trọng đối với phong trào cách mạng ở Việt Nam. Luận cương chính trị kế thừa
Cương lĩnh ở những điểm chủ yếu. Xác định được nhiều vấn đề thuộc về chiến
lược cách mạng. Tuy nhiên do nhận thức và bối cảnh thực tiễn khác nhau, hai
văn bản có những nét khác biệt.
1.Cươnglĩnhchínhtrịtháng2/1930
Cương lĩnh thể hiện sự vận dụng đúng đắn sáng tạo, nhạy bên chủ nghĩa Mác-
Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và thực
tiễn cách mạng Việt Nam. Phản ảnh đầy đủ, súc tích các luận điểm cơ bản của
cách mạng Việt Nam. Nó phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp
ứng yêu cầu khách quan của lịch sử.
Trong đó, thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ sáng tạo trong việc đánh giá
đặc điểm, tinh chất xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam. Cương lĩnh chỉ
rõ những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu của dân tộc Việt Nam lúc đó. Giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng thời đánh giá đúng đắn,
sát thực vai trò và thái độ của các lực lượng đối với cách mạng. Thành lập mặt
trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trên cơ sở liên minh công –
nông – tri thức. Những văn kiện dù “vắn tắt” nhưng phản ánh vấn đề cơ bản
trước mắt và lâu dài cho cách mạng Việt Nam. Đưa cách mạng Việt Nam sang một trang sử mới.
Như vậy, cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là cương lĩnh cách mạng giải
phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo. Nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp.
Thẩm đượm tính dân tộc và tính nhân văn với tư tưởng cốt lối là Độc lập – Tự do cho dân tộc.
2.Luậncươngchínhtrịtháng10/1930
Luận cương chính trị tháng 10-1930 ra đời đã xác định nhiều vấn đề cơ bản về
chiến lược cách mạng. Về cơ bản thống nhất với nội dung của Chính cương vắn
tắt, sách lược vắn tắt của Hội nghị thành lập Đảng tháng 2-1930.
Tuy nhiên, do tư tưởng nóng vội, tả khuynh, chưa nhận thức đầy đủ về thực tiễn
cách mạng Việt Nam. Đồng thời, vận dụng máy móc quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lênin, luận cương đã bộc lộ một số hạn chế. Trong đó, chưa nêu rõ được
mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông dương. Không nhấn mạnh nhiệm vụ giải
phóng dân tộc. Luận cương còn nặng về đấu tranh giai cấp và cách mạng ruộng
đất. Đánh giá không đúng khả năng tham gia cách mạng của tiểu tư sản, tư sản
dân tộc. Khả năng lôi kéo bộ phận trung, tiểu địa chủ tham gia mặt trận dân tộc
chống đế quốc và tay sai. Vì thế, chưa đoàn kết dân tộc rộng rãi. KẾT LUẬN
Nhìn chung, Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đúng đắn và hoàn thiện hơn
so với Luận cương. Nguyễn Ái Quốc có cái nhìn liền mạch hơn khi chỉ rõ được
mâu thuẫn cấp thiết nhất. Còn Trần Phú tuy khởi thảo chi tiết hơn nhưng chỉ tập
trung vào vấn đề giai cấp. Cả hai văn kiện tuy có nhiều điểm khác biệt, song,
đều đóng vai trò rất lớn. Đó là sự chuẩn bị tất yếu. Có tính chất quyết định cho
những bước phát triển nhảy vọt trong tiến trình lịch sử của dân tộc ta. Đồng thời
là nền tảng cho việc xây dựng, phát triển và hoàn thiện lí luận, tư tưởng ngày nay.