


















Preview text:
Chủ nghĩa xã hội khoa học
I. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trình bày những nhân tố
chủ quan để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của mình, liên hệ với việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam.
1. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
a. Khái niệm giai cấp công nhân
Mác và Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp
công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công
nhân đại công nghiệp... Dù diễn đạt bằng thuật ngữ nào, thì các nhà kinh
điển cũng dựa trên hai tiêu chí để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng khác:
Về phương thức lao động: là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp
vận hành công cụ sản xuất có tính công nghiệp hiện đại và xã hội hóa cao.
Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp do đó có những
phẩm chất riêng mà không giai tầng nào có được. Đó là tính tiên tiến,
hiện đại, ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác phong chuyên nghiệp, tinh thần
khoa học và cách mạng triệt để, tinh thần quốc tế hóa cao và trong sáng.
Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa : đó là những người lao
động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và
bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư. Đây là đặc trưng khiến giai cấp
công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản.
Có thể định nghĩa: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội, hình
thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp
hiện đại; họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là lực lượng chủ
yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội; ở các nước tư bản chủ nghĩa, họ là những người không có hoặc cơ
bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị
bóc lột giá trị thặng dư, ở các nước xã hội chủ nghĩa, cùng với nhân dân
lao động, họ làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng hợp tác lao
động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình
b. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân chính là những nhiệm
vụ mà giai cấp công nhân cần phải thực hiện với tư cách là giai cấp tiên
phong, là lực lượng đi đầu trong cuộc cách mạng xác lập hình thái kinh
tế- xã hội cộng sản chủ nghĩa: lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh xóa
bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ mọi áp bức bóc lột, giải phóng chính
mình và nhân dân lao động, xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa. Nội dung kinh tế:
giai cấp công nhân phải đóng vai trò nòng cốt trong qua
trình giải phóng và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, tạo cơ hội cho
quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa ra đời.
Nội dung chính trị- xã hội:
Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao
động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị
để lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ bóc lột, áp
bức, giành quyền lực về tay giai cấp công nhân, thiết lập nhà nước xã hội
chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Nội dung văn hóa, tư tưởng: giai cấp công nhân thực hiện cuộc cách
mạng về văn hóa, tư tưởng, phủ định có kế thừa các giái trị cũ và từng
bước xây dựng hệ giái trị mới thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
2. Căn cứ khách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình thực hiện
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân a. Căn cứ khách quan
Học thuyết C.Mác- Ph.Ăngghen về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân đã chứng minh rằng sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được
quy định bởi những điều kiện khách quan:
Thứ nhất, do địa vị kinh tế- xã hội của giai cấp công nhân quy định: Giai
cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất cấu thành lực
lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản, đại diện cho lực lượng sản xuất hiện
đại, có trình độ xã hội hóa cao, tiêu biểu cho xu hướng phát triển của xã
hội loài người, vì vậy họ là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những
người không có, hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, bị lệ thuộc
trong quá trình sản xuất và phân phối kết quả lao động của chính họ, vì
vậy có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là lực lượng đông đảo
trong xã hội, có lợi ích cơ bản phù hợp với lợi ích của những người lao
động khác, nên giai cấp công nhân có khả năng tập hợp những người lao
động bị áp bức đê xóa bỏ chế độ người bóc lột người
Thứ hai, do địa vị chính trị- xã hội của giai cấp công nhân quy định: gắn
liền với nền đại công nghiệp, nên đây là giai cấp tiên phong cách mạng,
có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có tính tổ chức và kỷ luật cao, có bản chất quốc tế. b. Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, là sự phát triển của bản thân giai cấp công nhân về cả số lượng
và chất lượng: có số lượng ngày càng đông trên quy mô mô lớn, gắn liền
với sự phát triển về chất lượng thể hiện ở trình độ trưởng thanh về ý thức
chính trị, tự nhận thức được vai trò và trọng trách của giai cấp mình đối với lịch sử.
Thứ hai, Đảng Cộng sản là nhân tố chủ quan quan trọng nhất để giai cấp
công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. Ra đời trên cơ
sở kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân, Đảng
Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, còn giai cấp công
nhân là cơ sở xã hội- giai cấp của Đảng và Đảng đảm nhận vai trò lãnh
đạo cuộc cách mạng của giai cấp công nhân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản giai cấp công nhân mới có sự chuyển biến từ đấu tranh tự phát sang đấu tranh tự giác.
Thứ ba, có sự liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và các tầng lớp lao động khác: liên minh này dưới sự lãnh đạo
của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản, tạo nên lực lượng cách
mạng hùng hậu để đi tới thành công.
3. Liên hệ với vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Giai cấp công nhân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam không ngừng vươn lên và phát triển mọi mặt, từng bước giác ngộ và
hiện thực hoá sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình. Nghị quyết Hội nghị
T.W 6 (khóa X) khẳng định: "Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch
sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là
Ðảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất
tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;
lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Ðảng". a. Về kinh tế
Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát
triển. Về kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng cơ bản, chủ yếu đóng
vai trò quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh
tế, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từng bước nâng cao năng suất
lao động, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và
sản phẩm; đóng góp to lớn nâng cao tiềm lực kinh tế đất nước. Sau 35
năm đổi mới, với vai trò là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng
lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Công nhân công nhân nước ta
hiện nay tuy chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 14% dân số, 27% lực lượng lao động
xã hội nước nhưng hằng năm đóng góp trên 50% tổng sản phẩm xã hội và
bảo đảm hơn 60% ngân sách nhà nước, nắm giữ những cơ sở vật chất và
các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội, quyết định phương
hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế. Sự lớn mạnh của giai cấp công
nhân là nhân tố quan trọng để đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
b. Về chính trị- xã hội
Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền
phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội, có vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp công
nhân đóng góp trực tiếp vào quá trình phát triển của đất nước, góp phần
quan trọng giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng
quan hệ lao động hài hòa, tiến bộ, cùng với các giai cấp, tầng lớp và
thành phần xã hội khác, giai cấp công nhân nước ta là cơ sở chính trị - xã
hội vững chắc của Đảng và Nhà nước. Giữ vững bản chất giai cấp công
nhân của Đảng; giai cấp công nhân có vai trò trong xây dựng, chỉnh đốn
Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nên
dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời tăng cường quan hệ đoàn kết, hợp tác
quốc tế với giai cấp công nhân trên thế giới.
c. Về văn hóa tư tưởng
Giai cấp công nhân có vai trò xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung cốt lõi là xây dựng
con người mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng hệ giá trị văn hóa và con
người Việt Nam. Giai cấp công nhân tham gia vào cuộc đấu tranh trên
lĩnh vực tư tưởng lý luận để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại những quan điểm sai trái của
thế lực thù địch, kiên định vào lý tưởng, mục tiêu, con đường cách mạng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
d. Quan điểm cá nhân và liên hệ bản thân (Tham khảo)
Giai cấp công nhân Việt Nam là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai
thác thuộc địa của thực dân Pháp vậy nên khi vừa mới ra đời, giai cấp
công nhân Việt Nam với lòng kiên cường chống giặc ngoại xâm đã trở
thành lực lượng trực tiếp đối kháng với giai cấp tư bản, phần lớn xuất
thân từ giai cấp nông dân nên gắn bó mật thiết với nông dân và các tầng
lớp nhân dân lao động. Hiện nay, giai cấp công nhân là lực lượng tiên
phong trong sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa, đi đầu trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng vai trò quan trọng trong phát triển
đất nước. Tuy nhiên số lượng giai cấp công nhân Việt Nam còn ít, trình
độ chưa cao, còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng, tập quán, thói quen của
người sản xuất nhỏ. Để thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử, cần phát
triển giai cấp công nhân Việt Nam về số lượng và chất lượng; nâng cao
giác ngộ và bản lĩnh về chính trị, nhạy bén và vững vàng trước diễn biến
phức tạp của tình hình thế giới và trong nước; nâng cao trình độ học vấn,
chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế.
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay, tri thức đóng vai trò
ngày càng quan trọng, là nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc
gia. Là một sinh viên, em cần phải hiểu rõ bản chất và sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân, giữ vững và phát huy bản chất cách mạng, truyền
thống yêu nước, lao động cần cù, tiên phong và sáng tạo trong lao động,
kiên định với quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách
mạng thông quan Đảng Cộng sản. Cần phấn đấu học tập để trở thành một
phần của lực lượng giai cấp công nhân có trình độ cao để đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
có thể làm chủ được xã hôi, đưa đất nước phát triển, hiện đại, văn minh.
II. Định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam, trình bày những đặc
điểm của giai cấp công nhân Việt Nam, giải pháp để xây dựng phát
triển giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh
1. Định nghĩa giai cấp công nhân Việt Nam
Mác và Ăngghen đã sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp
công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công
nhân đại công nghiệp... Dù diễn đạt bằng thuật ngữ nào, thì các nhà kinh
điển cũng dựa trên hai tiêu chí để phân định giai cấp công nhân với các giai tầng khác:
Về phương thức lao động: là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp
vận hành công cụ sản xuất có tính công nghiệp hiện đại và xã hội hóa cao.
Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp do đó có những
phẩm chất riêng mà không giai tầng nào có được. Đó là tính tiên tiến,
hiện đại, ý thức tổ chức kỷ luật cao, tác phong chuyên nghiệp, tinh thần
khoa học và cách mạng triệt để, tinh thần quốc tế hóa cao và trong sáng.
Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa : đó là những người lao
động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và
bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư. Đây là đặc trưng khiến giai cấp
công nhân trở thành giai cấp đối kháng với giai cấp tư sản.
Có thể định nghĩa: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội, hình
thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp
hiện đại; họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, là lực lượng chủ
yếu của tiến trình lịch sử quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội; ở các nước tư bản chủ nghĩa, họ là những người không có hoặc cơ
bản không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê cho giai cấp tư sản và bị
bóc lột giá trị thặng dư, ở các nước xã hội chủ nghĩa, cùng với nhân dân
lao động, họ làm chủ các tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng hợp tác lao
động vì lợi ích chung của toàn xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của mình
2. những đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam
Trước hết giai cấp công nhân việt nam mang những đặc điểm cùa
giai cấp công nhân nói chung -
Điểm nổi bật của giai cấp công nhân là lao động bằng phương thức
công nghiệp với đặc trưng về công cụ lao động là máy móc -
Là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp, là chủ thể của quá
trình sản xuất vật chất hiện đại. là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên
tiến, cho phương thức sản xuất tiên tiến, quyết định sự tồn tại và phát
triển của xã hội hiện đại. -
Nền sản xuất đại công nghiệp và phương thức sản xuất tiên tiến đã
rèn luyện cho giai cấp công nhân những phẩm chất đặc biệt về tính tổ
chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và tâm lý lao động công nghiệp.
Đó là một giai cấp cách mạng và có tinh thần cách mạng triệt để. đối lập
với lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, góp phần xóa bỏ chế độ tư hữu, xóa
bỏ áp bức bóc lột, giành chính quyền và làm chủ xã hội. Giai cấp công
nhân có tinh thần cách mạng triệt để và được xem là “giai cấp dân tộc” –
vừa có quan hệ quốc tế, vừa có bản sắc dân tộc và chịu trách nhiệm trước hết với dân tộc mình.
* Các đặc điểm ấy chính là những phẩm chất cần thiết để giai cấp công
nhân có vai trò lãnh đạo cách mạng.
Đặc điểm riêng của giai cấp công nhân việt nam -
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt
Nam, đối đầu trực tiếp với thực dân Pháp. Hình thành ở một nước thuộc
địa, nửa phong kiến, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, với chế độ chủ
nghĩa tư bản trục lợi không quan tâm đến phát triển công nghiệp, nền
giai cấp công nhân Việt Nam phát triển chậm. Sau khi cuộc xâm lăng và
bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến hành khai
thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô cả nước. chúng đã ra sức bóc lột,
truyền bá những tư tưởng sai lệch để ngu dân, mị dân làm người dân nói
chung và công nhân Việt Nam nói riêng có những suy nghĩ sai lệch gây
ảnh hưởng đất nước.
Mặc dù ra đời muộn, số lượng ít, trình độ nghề nghiệp hạn chế - so với
giai cấp công nhân thế giới, còn ảnh hưởng tập quán nông dân, song
giai cấp công nhân Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên đảm đương vai
trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình
là giải phóng dân tộc để giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. -
Lực lượng giai cấp công nhân Việt Nam còn ít nhưng đã sớm có
tinh thần đoàn kết chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp. Giai cấp công
nhân Việt Nam tiếp thu và kế thừa truyền thống yêu nước, đấu tranh bất
khuất chống ngoại xâm của dân tộc. Giai cấp công nhân khi ra đời vừa
chịu nỗi nhục mất nước, vừa bị áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế
quốc nên họ có tinh thần cách mạng kiên cường, triệt để, sớm nhận thức
được mối quan hệ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp giải
phóng giai cấp, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. -
Phần lớn những người công nhân nước ta vốn xuất thân từ nông
dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, nên có quan hệ mật thiết, tự
nhiên với nông dân và đông đảo nhân dân lao động. Chính vì vậy, giai
cấp công nhân Việt Nam sớm liên minh với nông dân, tạo thành khối liên
minh công – nông và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo cho sự
lãnh đạo của giai cấp công nhân trong suốt quá trình cách mạng. Đây
cũng là điều kiện cần thiết đảm bảo cho cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi. -
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sau một thời gian ngắn thì Đảng
Cộng sản Việt Nam ra đời .
Đảng Cộng sản đã đem yếu tố tự giác vào phong trào công nhân
, làm cho phong trào công nhân có một bước
phát triển nhảy vọt về chất. Giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, trở thành lực lượng chính trịCđộc lập, giành được quyền lãnh đạo
cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt. -
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc
và sớm có Đảng lãnh đạo nên không bị tác động bởi các khuynh hướng
khác, không bị giai cấp tư sản đầu độc về tư tưởng nên luôn luôn đoàn
kết, thống nhất trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và bọn địa chủ phong kiến tay sai
3. Giải pháp để xây dựng phát triển giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh
a. Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển về số lượng và chất lượng
Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn , tác phong công nghiệp, Phương hướng
kỷ luật lao động của công nhân
Bảo đảm việc làm, nhà ở, đãi ngộ cho công nhân
về tiền lương, bảo hiểm xã
Sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật hội, bảo hiểm ý tế, bảo
hiểm thất nghiệp … để bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân
b. Một số giải pháp chủ yếu
Nâng cao nhận thức về quan điểm giai cấp công nhân là giai cấp lãnh
đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng Sản Việt Nam
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh
Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Gắn kết chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế. …..
Nhà nước và toàn xã hội; ko ngừng nâng cao đời ssống vật chất, tinh
thần của công nhân. Chú trọng và quan tâm giải quyết kịp thời những vấn
đề bức xúc, cấp bách của giai cấp công nhân.
Đào tạo, bồi dương và nâng cao trình độ cho công nhân
Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh là trách nhiệm của cả hệ thống
chính trị, của toàn xã hội và sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi người
công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người sử dụng lao động
III. Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam diễn ra trong
điều kiện nào? Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở nước ta, những thành tựu chủ yếu
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
1. Thời kỳ quá độ lên cnxh ở VN diễn ra trong điều kiện nào? a.
Thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là gì ?
Thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội về phương diện
chính trị là việc thiết lập, tăng cường chuyên chính vô sản mà thực chất
của nó là việc giai cấp công nhân nắm và sử dụng quyền lực nhà nước
trấn áp giai cấp tư sản, tiến hành xây dựng một xã hội không giai cấp.
Về măt lí luận và thực tiễn, thời kỳ quá độ từ củ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, đối với các nước chưa
trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, cần thiết phải có thời kỳ quá độ khá
lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; thứ hai, đối với những
nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản phát triển, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa cộng sản có một thời kỳ quá độ nhất định - quá độ chính trị, thời kỳ
cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia, thời kỳ quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản
Từ khái niệm về thời kì quá độ ở trên ta có cơ sở để tìm hiểu về thời kì
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cũng trong di sản lý luận kinh điển Macxit
thì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là sự phát triển trực tiếp từ những luận
chứng khoa học về tính tất yếu lịch sử của chủ nghĩa xã hội về vai trò và
sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Theo lý luận này thì “Quá độ
lên chủ nghĩa xã hội là sự chuyển tiếp quá độ bằng cách mạng để phủ
định một trật tự xã hội cũ sang một trật tự xã hội mới với phương thức
sản xuất mới, quan hệ sản xuất và chế độ sở hữu mới mang tính chất xã
hội chủ nghĩa, với Nhà nước kiểu mới mà chủ thể quyền lực là giai cấp
công nhân và nhân dân lao động” b.
Điều kiện diễn ra thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vừa thuận lợi vừa khó khăn đan xen
Xuất phát từ một xã hội vốn là thuộc địa, nửa phng kiến, lực lượng
sản xuất rấ thấp . Đất nước trải qua chiến tranh ác liệt, kéo dài nhiều
thập kỷ, hậu quả để lại còn nặng nề. Những tàn dư thực dân, phong kiến
còn nhiều. Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ
xã hội chủ nghĩa và nền độc lập dân tộc của nhân dân ta.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ,
cuốn hút tất cả các nước ở mức dộ khác nhau. Nền sản xuất vật chất và
đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng tới
nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa
tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt.
Thời đại ngày nay vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ
nghĩa xã hội , cho dù chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp
đổ. Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn
tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân
tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức,
song theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loại người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
2. Thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa ở nước ta ( cần rút ngắn lại )
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự lựa
chọn duy nhất đúng, khoa học, phản ánh đúng quy luật phát triển khách
quan của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay.
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, như Đại hội
IX của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Con đường đi lên của nước ta
là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học công nghệ,
để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Đây là tư tưởng mới, phản ánh nhận thức mới, tư duy mới của Đảng ta về
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Tư
tưởng này cần thực hiện đầy đủ những nội dung sau đây:
Thứ nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là
con đường cách mạng tất yếu khách quan, con đường xây dựng đất nước
tong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Thứ hai, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức
là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng tư bản chủ nghĩa. Điều đó có nghĩa là trong thời kỳ qúa độ
còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, song sở hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa và thành phần kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa
không chiếm vai trò chủ đạo, thời kỳ quá độ còn nhiều hình thức phân
phối, ngoài phân phối theo lao động vẫn là chủ đạo còn phân phối theo
mức độ đóng góp và quỹ phúc lợi xã hội, thời kỳ quá độ vẫn còn quan hệ
bóc lột và bị bóc lột, song quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa không giữ vai trò thống trị.
Thứ ba, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi
hỏi phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới
chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là những thành tựu về khoa học và công nghệ,
thành tựu về quản lý để phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội, đặc
biệt là xây dựng nền kinh tế hện đại, phát triển nhanh lực lượn sản xuất.
Thứ tư, quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là
tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tát cả các lĩnh vực, là sự nghiệp
rất khó khăn, phức tạp, lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ
chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ đòi hỏi phải có quyết tâm chính
trị cao và khát vọng lớn của toàn Đảng, toàn dân.
3. Những thành tựu chủ yếu trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta hiện nay. Thành tựu:
Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512
USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008.
Trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới
Trong đại dịch Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng
ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn
Hiện Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng Internet, là một trong
những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới
Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức
0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước
có cùng trình độ phát triển.( xếp thứ 7/11 quốc gia khu vực Đông Nam Á)
Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm
y tế miễn phí. Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em và tỉ lệ tử vong ở trẻ sơsinh
giảm gần 3 lần. Tuổi thọ trung bình của dân cư tăng từ 62 tuổi
năm 1990 lên 73,7 tuổi năm 2020
Việt Nam có 95% người lớn biết đọc, biết viết
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ
USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại
hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng
nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020
Thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch
COVID-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được
nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính
ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Hạn chế: Về kinh tế
Chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh còn thấp, thiếu bền vững
Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ; hiệu quả và năng lực của nhiều doanh
nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế
Môi trường bị ô nhiễm tại nhiều nơi
Công tác quản lý, điều tiết thị trường còn nhiều bất cập Về xã hội:
Khoảng cách giàu nghèo gia tăng; chất lượng giáo dục, chăm sóc y tế
và nhiều dịch vụ công ích khác còn không ít hạn chế
Văn hóa, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; tội phạm và các tệ nạn xã
hội diễn biến phức tạp.
Đặc biệt, tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính
trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để
can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu "diễn biến hòa
bình" nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
IV. Phân tích những nguyên tắc cơ bản đề giải quyết vấn đề dân tộc
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, liên hệ với quan điểm của
Đảng về việc giải quyết quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam ngày nay.
1. Phân tích những nguyên tắc cơ bản đề giải quyết vấn đề dân tộc
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. a. Dân tộc là gì?
Dân tộc là chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững,
có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc
thù hay chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước,
có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý
thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích
chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung
trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và dữ nước. b.
Những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề dân tộc
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong tiến trình
cách mạng xã hội chủ nghĩa, các vấn đề dân tộc cần phải được
giải quyết trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các dân tộc hoàn toàn bình đẳng.
Quyền bình đẳng giữa các dân tộc cần phải được coi là quyền thiêng
liêng bất khả xâm phạm. Bất kể cộng đồng dân tộc nào (cho dù đó là
cộng đồng có đông người hay ít người; có trình độ phát triển cao hay
thấp;…) cũng đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau; không thể có đặc
quyền đặc lợi cho riêng một dân tộc nào về các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, ngôn ngữ….
Trong phạm vi một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa
các dân tộc cần phải được nhà nước bảo vệ bằng pháp luật; đồng thời nhà
nước cần phải có chính sách phù hợp trong việc khắc phục sự chênh lệch
về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc, tạo nên sự
phát triển hài hoà giữa các dân tộc.
Trong phạm vi quan hệ giữa các quốc gia – dân tộc trên thế giới,
quyền bình đẳng dân tộc cần phải được gắn kết với cuộc đấu tranh chống
chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bá quyền nước lớn; chống sự áp
bức, bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước lạc hậu,
chậm phát triển về kinh tế nhằm đạt được sự bình đẳng giữa các quốc gia
– dân tộc trên phạm vi quốc tế
Thứ hai, các dân tộc được quyền tự quyết.
Quyền tự quyết của các dân tộc là nói đến quyền làm chủ của mỗi dân
tộc mà trước hết và cơ bản là quyền các dân tộc có thể tự mình quyết định
con đường phát triển kinh tế, chính trị – xã hội của dân tộc mình, không
chịu sự ràng buộc, cưỡng bức của dân tộc khác.
Quyền tự quyết của các dân tộc bao gồm: quyền tự do phân tách, hình
thành nên cộng đồng quốc gia – dân tộc độc lập vì lợi ích chính đáng của
các dân tộc và quyền liên hiệp các dân tộc trên cơ sở tự nguyện và bình
đẳng của các dân tộc.
Thứ ba, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là một nội dung cơ bản trong
cương lĩnh dân tộc của V.I. Lênin; nó thể hiện bản chất quốc tế của giai
cấp công nhân và phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa sự nghiệp giải
phóng dân tộc với giải phóng giai cấp; phản ánh tính thống nhất biện
chứng giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng.
Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là một quan điểm có tính
nguyên tác trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc trong tiến trình cách
mạng xã hội chủ nghĩa; quan điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với việc giải quyết các vấn đề thuộc quyền bình đẳng giữa các dân tộc và
quyền tự quyết của các dân tộc.
2. Liên hệ với quan điểm của Đảng về việc giải quyết quan hệ giữa
các dân tộc ở Việt Nam ngày nay. ( Tham khảo )
Việt Nam là một quốc gia độc lập, gồm 54 dân tộc có sự khác biệt rất lớn
về trình độ giữa các tộc người, dân tộc kinh chiếm 86% dân số, là dân tộc
đông nhất nước ta, các dân tộc ít người chiếm 14% dân số phần lớn rải
rác trên địa bàn cả nước. Các dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết,
tương thân tương ái,gắn bó lâu đời trong quá trình đấu tranh dựng nước
và giữ nước. Các dân tộc Việt Nam đều có một bản sắc riêng tạo nên sự
thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam. Trong đó, thì bản sắc
văn hóa của các dân tộc chính là yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc văn hóa
Việt Nam nói chung. Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn đã và đang đặt
ra hiện nay cũng chính là cơ sở quan trọng để đề ra những chính sách dân
tộc đúng đắn, phù hợp. Có thể thấy, vừa qua, một số vụ bạo loạn xảy ra ở
Tây Nguyên, Tây Bắcdo các thế lực thù địch công kích, lợi dụng những
sơ hở, thiếu sót của ta trong thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo
nhằm âm mưu chia rẽ, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc của ta. Điều
nay, đòi hỏi Đảng, Nhà nước cũng như các cấp, các ngành cần có những
giải pháp mềm mỏng, phù hợp để thực hiện các chính sách dân tộc hiện
nay cũng như trong giai đoạn tiếp theo.Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lenin về vấn đề dân tộc, đề cao vấn đề dân tộc, thực tiễn đấu tranh
cách mạng về xây dựng và bảo vệ tổ quốc cũng như dựa vào tình hình thế
giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã có những chính
sách để phát triển các dân tộc Việt Nam. Từ Đại hội Đảng lần thứ VI, sau
hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn:
quốc phòng, an ninh được đảm bảo, đất nước được giữ vững độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã
hội chủ nghĩa, cơ bản giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Trong đó, quan trọng nhất chính là Việt Nam đã thực hiện hiệu quả việc
chống “âm mưu diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; vô hiệu hóa hoạt
động của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, đã lợi dụng các vấn đề
dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để gây mất ổn định đất nước ta. Qua đó cho
thấy, Đảng ta đã đề ra những đường lối, chủ trương đúng đắn trong việc
thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta trong những năm qua. Trong đó,
cơ bản giải quyết tốt quan hệ dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
tộc theo đúng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Chính sách dân tộc ở nước ta chính là việc cụ thể hóa những quan điểm,
đường lối của Đảng về vấn đề dân tộc, tác động trực tiếp đến việc giải
quyết mối quan hệ dân tộc, xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc dựa
vào những nguyên tắc cơ bản, như: bình đẳng, đoàn kết, giải quyết hài
hòa quan hệ giữa các dân tộc và giúp nhau cùng phát triển. Về mục tiêu,
chính sách dân tộc khai thác mọi tiềm năng và thế mạnh của các dân tộc
và của cả đất nước, từng bước khắc phục và xóa bỏ khoảng cách chênh
lệch vùng miền, xóa đói giảm nghèo, thực hiện sự nghiệp “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
V. Định nghĩa gia đình. Các chức năng của gia đình, làm rõ những
biến đổi trong việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam
hiện nay, nêu những giải pháp góp phần xây dựng gia đình ấm no,
tiến bộ, hạnh phúc
1. Định nghĩa gia đình và các chức năng của gia đình
a. Định nghĩa gia đình
Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành,
duy trì, và củng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi dưỡng, cùng với các quy định về quyền và nghĩa vụ
của các thành viên gia đình
b. Các chức năng của gia đình
Chức năng tái sản xuất con người: đây là chức năng đặc thù nhất của
gia đình. Chức năng này một mặt đáp ứng nhu cầu tự nhiên, mặt khác nó
mang ý nghĩa xã hội lớn lao là cung cấp những công dân mới, đảm bảo cho
sự phát triển liên tục và sự trường tồn của xã hội loài người.
Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục:
đây là chức năng xã hội hết sức
quan trọng, vì làm tốt chức năng này gia đình thực sự góp phần quan trọng
vào việc đào tạo thế hệ trẻ nói chung, vào việc duy trì, phát triển truyền
thống đạo đức, văn hóa dân tộc...
Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
nhằm tạo thu nhập cho gia
đình, bảo đảm các nhu cầu thiết yếu nhất của các thành viên trong gia đình.
Qua đó, gia đình có cơ sở để tổ chức đời sống (vật chất và tinh thần), nuôi
dạy, giáo dục con cái, đồng thời góp một phần to lớn vào sự nghiệp xây
dựng xã hội bằng việc làm cụ thể.
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia
đình: có vị trí đặc biệt quan trọng, cùng với các chức năng khác tạo ra
khả năng thực tế để xây dựng gia đình hạnh phúc, đồng thời là những tiền
đề cần thiết cho một thái độ, hành vi tích cực của cá nhân trong cuộc sống gia đình và xã hội.
2. Những biến đổi trong việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam hiện nay a.
Biến đổi về quy mô, kết cấu của gia đình:
Gia đình Việt Nam đang ở bước quá độ, khi xã hội chuyển từ nông nghiệp
cổ truyền sang công nghiệp hiện đại; do đó, cấu trúc gia đình truyền thống
(đa thế hệ) dần tan rã, từng bước được thay thế bằng cấu trúc gia đình hạt nhân (hai thế hệ). b.
Biến đổi về các chức năng của gia đình:
Chức năng tái sản xuất ra con người:
chịu ảnh hưởng của chính
sách kế hoạch hóa gia đình, dẫn đến các tỉ lệ về sinh đẻ, nam-nữ, và độ tuổi đều thay đổi.
Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng:
kinh tế gia đình chuyển
từ sản xuất tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa, không chỉ đáp ứng nhu
cầu trong nước mà còn hướng đến đáp ứng nhu cầu ngoài nước; với thu
nhập ngày càng tăng, gia đình thực sự trở thành một đơn vị tiêu dùng quan trọng của xã hội.
Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục:
việc đầu tư cho nuôi dưỡng,
giáo dục con cái của gia đình đang tăng lên; không chỉ giáo dục con cái về
đạo đức, ứng xử, kỹ năng mà còn giáo dục tri thức khoa học công nghệ,
ngoại ngữ, và hướng đến hòa nhập quốc tế.
Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình:
trong gia đình hiện nay, nhu cầu thỏa mãn tâm sinh lý và tình cảm đang
tăng lên, cùng với việc coi trọng tự do cá nhân hơn ở mỗi thành viên, đã
và đang làm biến đổi chức năng này.
3. Những giải pháp góp phần xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc (Tham khảo)
a. Nâng cao nhận thức về vai trò và tầm quan trọng của gia đình:
Tuyên truyền, giáo dục về giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam:
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục về giá trị đạo đức, truyền thống tốt
đẹp của gia đình Việt Nam thông qua các kênh thông tin đại chúng, hệ
thống giáo dục, các hoạt động cộng đồng,...
Nhấn mạnh vai trò quan trọng của gia đình trong việc nuôi dưỡng, giáo
dục thế hệ trẻ, vun đắp những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp cho xã hội.
Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của mỗi thành viên trong gia đình:
Giáo dục cho các thành viên trong gia đình về vai trò, trách nhiệm của
bản thân đối với gia đình, cộng đồng.
Tăng cường kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong gia đình, giúp các thành
viên thấu hiểu, chia sẻ và yêu thương lẫn nhau.
Tăng cường giáo dục kỹ năng sống cho các thành viên trong gia đình:
Trang bị cho các thành viên trong gia đình các kiến thức, kỹ năng sống
cần thiết để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, ứng phó với những khó khăn, thử thách.
Giúp các thành viên trong gia đình phát triển bản thân, hòa nhập với
cộng đồng và xây dựng cuộc sống hạnh phúc.
b. Xây dựng môi trường gia đình hòa thuận, yêu thương:
Cha mẹ cần dành nhiều thời gian cho con cái:
Cha mẹ cần dành thời gian quan tâm, chia sẻ với con cái về học tập, vui chơi và cuộc sống.
Tham gia các hoạt động giáo dục con cái, tạo môi trường học tập và
phát triển lành mạnh cho con.
Con cái cần biết vâng lời cha mẹ, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu thương anh chị em:
Giáo dục con cái về lòng hiếu thảo, biết vâng lời cha mẹ, kính trọng
ông bà, yêu thương anh chị em.
Tạo dựng môi trường gia đình đoàn kết, yêu thương, giúp con cái phát
triển những phẩm chất tốt đẹp.
Các thành viên trong gia đình cần tôn trọng lẫn nhau:
Các thành viên trong gia đình cần tôn trọng ý kiến, quan điểm của
nhau, biết lắng nghe, chia sẻ và thấu hiểu nhau.
Tránh áp đặt suy nghĩ, hành vi của bản thân lên người khác, tạo điều
kiện cho các thành viên tự do phát triển.
Tạo dựng thói quen sinh hoạt gia đình lành mạnh, văn minh:
Hình thành thói quen sinh hoạt khoa học, hợp lý, đảm bảo sức khỏe
cho các thành viên trong gia đình.
Tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí lành mạnh, gắn kết
các thành viên trong gia đình.
c. Nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình:
Cùng nhau xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế gia đình:
Xác định mục tiêu phát triển kinh tế gia đình phù hợp với điều kiện thực tế.
Lập kế hoạch chi tiêu hợp lý, tiết kiệm chi tiêu, đảm bảo đời sống vật
chất đầy đủ cho gia đình.
Quan tâm đến giáo dục con cái:
Tạo điều kiện cho con cái học tập trong môi trường giáo dục chất lượng cao.
Quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho con.
Hỗ trợ con cái phát triển tài năng, đam mê.
Chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình:
Có ý thức bảo vệ sức khỏe bản thân và các thành viên trong gia đình.
Tham gia khám sức khỏe định kỳ, điều trị kịp thời khi mắc bệnh.
Rèn luyện thói quen ăn uống, sinh hoạt lành mạnh.