1. Phương pháp điện ảnh :
- điện thếĐặc điểm của trường tĩnh điện : hoàn toàn được xác định bởi các giá trị
mô tả tính chất của trường tại biên giữa các vật dẫn và điện môi khác nhau, lẫn điện
trường trên bề mặt.
=> Như vậy nếu ở về một phía của mặt biên, ta làm biến đổi các thông số của
môi trường (chẳng hạn thay vật dẫn này bằng vật dẫn khác hoặc điện môi, thay
điện môi này bằng điện môi khác hoặc vật dẫn). Sau đó thiết lập sự phân bố các
điện tích mới đơn giản hơn, sao cho các điều kiện biên hoàn toàn được giữ nguyên
như trước
=> Khi đó ta dễ dàng tiến hành mọi tính toán và giải các bài tập tĩnh điện đối với hệ
điện tích điểm này. Điện tích vừa được đưa vào như vậy được gọi là điện tích ảnh
của các điện tích đã cho.
- Nội dung chủ yếu của phương pháp ảnh điện là xác định được các điện tích
ảnh, sau đó ta bước vào đã tìm vàgiải bài toán tĩnh điện trên hệ điện tích ảnh
hệ điện tích điểm ban đầu đã biết.
2. tác dụng giữa một và một Xác định lực điện tích điểm mặt phẳng kim loại
vô hạn.
Bài giải: Ta xét phổ đường sức và mặt đẳng thế của một hệ hai điện tích điểm bằng
nhau và trái dấu (hình vẽ). Ta thấy mặt phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai
điện tích – q và + q là một mặt đẳng thế, với mọi điểm trên mặt phẳng có điện thế
bằng 0 ( V = 0).
- Nếu ta thay mặt đẳng thế này bằng một mặt kim loại phẳng vô hạn P (lúc đầu
không mang điện) thì theo kết quả trên điện trường giữa mặt phẳng P và điện tích
điểm +q sẽ không bị thay đổi. Nghĩa là điện trường đã được gây ra bởi các điện tích
trong kim loại vẫn trùng với điện trường của hệ hai điện tích điểm –q và +q đặt đối
xứng nhau qua bản kim loại ( trong đó điện tích ảo – q gọi là ảnh của điện tích q qua
bản kim loại )
=> Vì vậy ta thay thế bài toán xác định lực tương tác giữa điện tích điểm +q
với mặt phẳng kim loại vô hạn P bằng bài toán xác định lực tương tác giữa
điện tích điểm +q và điện tích điểm –q đối xứng với +q qua mặt phẳng kim
loại đó (điện tích –q giống nhau ảnh của +q qua một gương phẳng) -> Vì vậy người
ta gọi là phương pháp ảnh điện.
Vậy độ lớn của lực tương tác giữa q và bản kim loại là: F =
kq2
(2a)2
=
q2
16πεa2
(N)
Như vậy, theo phương pháp điện ảnh : ta có thể thay thế tấm phẳng nối đật đặt
cách một điện tích q một khoảng a bằng một điện tích -q đặt ở khoảng cách 2a so
với điện tích q.
3. Tính điện dung của một dây dẫn hình trụ
Giả sử dây dẫn hình trụ có bán kính R dài vô hạn, mang điện dương +q, đặt song
song với mặt đất và cách mặt đất một khoảng h ( h >> R).
Điện phổ của điện trường giữa dây dẫn và mặt đất được biểu diễn như hình vẽ :
Áp dụng , ta có thể coi điện trường này là phương pháp ảnh điện do dây dẫn
. Đó là của ảnh của nó qua mặt đất gây nên điện trường tổng hợp
hai mặt trụ dẫn điện dài vô hạn tích điện trái dấu gây ra.
Có thể sử dụng định lý Ostrograski –Gaox để tính cường độ điện trường do một dây
dẫn hình trụ gây ra tại điểm cách trục của dây khoảng r :
E0=λ2πεε0r=σR
εε r0
- trong đó: , λ
σ
là mật độ điện dài và mật độ điện mặt; R là bán kính hình trụ
Cường độ điện trường tổng hợp tại một điểm cách dây mang điện dương một
khoảng x là:
E=q2πεε0lx+q
2πεε0l(2hx)
- trong đó: q là độ lớn điện tích trên đoạn dây l.
Hiệu điện thế giữa hai dây dẫn:
V V1 2=
R
2hR
E dx=¿
R
2hR
(
q
2πεε0lx+q
2 2πεε0l( hx)
)
dx¿
V1V2=q
πεε0lln2h
R
Vì hiệu điện thế giữa dây dẫn và ảnh của nó lớn hiệu điện thế giữa hai dây gấp đôi
dẫn và mặt đất. Nên hiệu điện thế giữa dây dẫn và mặt đất sẽ là:
U=V1V2
2=q
2πεε0lln2h
R
Coi hệ thống dây dẫn vàmặt đất như một tụ điện đơn giản, ta sẽ tính được điện
dungcủa một đơn vị dài của dây dẫn:
C=q
U=2πεε0l
ln2h
R

Preview text:

1. Phương pháp điện ảnh :
- Đặc điểm của trường tĩnh điện : hoàn toàn được xác định bởi các giá trị điện thế
mô tả tính chất của trường tại biên giữa các vật dẫn và điện môi khác nhau, lẫn điện trường trên bề mặt.
=> Như vậy nếu ở về một phía của mặt biên, ta làm biến đổi các thông số của
môi trường
(chẳng hạn thay vật dẫn này bằng vật dẫn khác hoặc điện môi, thay
điện môi này bằng điện môi khác hoặc vật dẫn). Sau đó thiết lập sự phân bố các
điện tích mới đơn giản hơn, sao cho các điều kiện biên hoàn toàn được giữ nguyên như trước
=> Khi đó ta dễ dàng tiến hành mọi tính toán và giải các bài tập tĩnh điện đối với hệ
điện tích điểm này. Điện tích vừa được đưa vào như vậy được gọi là điện tích ảnh
của các điện tích đã cho.
- Nội dung chủ yếu của phương pháp ảnh điện là xác định được các điện tích
ảnh
, sau đó ta bước vào giải bài toán tĩnh điện trên hệ điện tích ảnh đã tìm và
hệ điện tích điểm ban đầu đã biết.
2. Xác định lực tác dụng giữa một điện tích điểm và một mặt phẳng kim loại vô hạn.
Bài giải: Ta xét phổ đường sức và mặt đẳng thế của một hệ hai điện tích điểm bằng
nhau và trái dấu (hình vẽ). Ta thấy mặt phẳng trung trực của đoạn thẳng nối hai
điện tích – q và + q là một mặt đẳng thế, với mọi điểm trên mặt phẳng có điện thế bằng 0 ( V = 0).
- Nếu ta thay mặt đẳng thế này bằng một mặt kim loại phẳng vô hạn P (lúc đầu
không mang điện) thì theo kết quả trên điện trường giữa mặt phẳng P và điện tích
điểm +q sẽ không bị thay đổi. Nghĩa là điện trường đã được gây ra bởi các điện tích
trong kim loại vẫn trùng với điện trường của hệ hai điện tích điểm –q và +q đặt đối
xứng nhau qua bản kim loại ( trong đó điện tích ảo – q gọi là ảnh của điện tích q qua bản kim loại )
=> Vì vậy ta thay thế bài toán xác định lực tương tác giữa điện tích điểm +q
với mặt phẳng kim loại vô hạn P
bằng bài toán xác định lực tương tác giữa
điện tích điểm +q và điện tích điểm –q đối xứng với +q qua mặt phẳng kim
loại đó
(điện tích –q giống nhau ảnh của +q qua một gương phẳng) -> Vì vậy người
ta gọi là phương pháp ảnh điện. kq2 q2
Vậy độ lớn của lực tương tác giữa q và bản kim loại là: F = = (N) (2a) 16 2 πεa2
Như vậy, theo phương pháp điện ảnh : ta có thể thay thế tấm phẳng nối đật đặt
cách một điện tích q một khoảng a bằng một điện tích -q đặt ở khoảng cách 2a so với điện tích q.

3. Tính điện dung của một dây dẫn hình trụ
Giả sử dây dẫn hình trụ có bán kính R dài vô hạn, mang điện dương +q, đặt song
song với mặt đất và cách mặt đất một khoảng h ( h >> R).
Điện phổ của điện trường giữa dây dẫn và mặt đất được biểu diễn như hình vẽ :
Áp dụng phương pháp ảnh điện, ta có thể coi điện trường này là do dây dẫn
ảnh của nó qua mặt đất gây nên. Đó là điện trường tổng hợp của
hai mặt trụ dẫn điện dài vô hạn tích điện trái dấu gây ra.
Có thể sử dụng định lý Ostrograski –Gaox để tính cường độ điện trường do một dây
dẫn hình trụ gây ra tại điểm cách trục của dây khoảng r :
E0=λ2πεε0r=σR εε0r -
trong đó: λ, σlà mật độ điện dài và mật độ điện mặt; R là bán kính hình trụ
Cường độ điện trường tổng hợp tại một điểm cách dây mang điện dương một khoảng x là:
E=q2πεε0lx+q
2πεε 0l(2hx) -
trong đó: q là độ lớn điện tích trên đoạn dây l.
Hiệu điện thế giữa hai dây dẫn: 2hR 2hR
2πεε0lx+q V1−V2=∫ E dx=¿∫ ( q )dx¿ 2 2 R R
πεε 0l( hx)
V1−V2=qπεε0lln2hR
Vì hiệu điện thế giữa dây dẫn và ảnh của nó lớn gấp đôi hiệu điện thế giữa hai dây
dẫn và mặt đất. Nên hiệu điện thế giữa dây dẫn và mặt đất sẽ là: U=V1−V2 2=q
2πεε 0lln2h R
Coi hệ thống dây dẫn vàmặt đất như một tụ điện đơn giản, ta sẽ tính được điện
dungcủa một đơn vị dài của dây dẫn:
C=qU=2πεε0l ln2h R