BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HOA SEN
NHÓM 3
NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
BÀI THU HOẠCH
TP. HỒ CHÍ MINH, 2023
i
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HOA SEN
NHÓM 3
NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Lớp: 0200_2232
BÀI THU HOẠCH
Nguyễn Việt Long - 22122660 (Leader)
Nguyễn Đức Anh - 22117272
Huỳnh Tấn Kiệt - 22102016
Phan Đức Anh - 22117264
Tôn Trần Nghệ Gia - 22122607
Nguyễn Khánh Ly - 22117188
Đoàn Hoàng Nhi 22100614
Phạm Quỳnh Trúc Nguyên - 22117143
Dương Anh Khoa 22102890
Ngô Tú Trân - 22100223
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GV. ThS Phạm Thị Ngọc Anh
TP.HỒ CHÍ MINH, 2023
LỜI CẢM ƠN
Nhóm 3 xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến trường Đại học Hoa Sen Phạm Thị
Ngọc Anh, giảng viên phụ trách giảng dạy môn Chủ Nghĩa Hội Khoa Học đã
tạo hội cho nhóm 3 chúng em thể tham quan Bảo tàng Lịch sử .Qua đó,
chúng em thể hiểu hơn về Tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và ảnh ởng của
đến hội con người Việt Nam. Đây là một trải nghiệm thú vị học hỏi được
nhiều điều. Nhóm 3 chúng em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Hoa Sen
cô Phạm thị Ngọc Anh đã giúp tôi trải nghiệm thú vị đến với bảo tàng lịch sử.
4
MỞ ĐẦU
Phật giáo một trong những nền tảng đắc lực và đa dạng của sự sống hội
dân tộc của Việt Nam. Trên thực tế, Phật giáo đã được gắn với cộng đồng Việt
Nam trong hàng thế kỷ, đem lại nhiều lợi ích và ý nghĩa tích cực cho xã hội và con
người. Đầu tiên, Phật giáo đã làm cho cuộc sống của con người Việt Nam trở nên
bền vững về thực trạng thể chất cũng như tinh thần. Nhờ đó, người Việt Nam đã tự
tin hơn trong các hoạt động xã hội, kinh tế, trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
các đam khác. Phật giáo cũng đã tạo ra một môi trường quan hệ hội bền
vững hơn, giúp con người trở thành cộng đồng phối hợp chia sẻ. Trong những
nghiên cứu về Phật giáo nghiên cứu lịch sử của , những ảnh hưởng của
đến xã hội và con người Việt Nam đã được khám phá. Bài tiểu luận này được thực
hiện với mục đích khám phá các hiệu ứng của Phật giáo đối với hội con
người Việt Nam.
NỘI DUNG
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GO
1.
lược về Phật Go
1.1. Nguồn gốc ra đời
Phật giáo được Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha) truyền giảng ở miền
đông Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi
Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của
đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu
học. Ngay từ buổi đầu, Phật Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được
một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp,
đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập
tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại
ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới, ngay cả trong các nước có nền
khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
Câu chuyện về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, từ một thái tử có tên là Tất Đạt Đa đã
từ bỏ ngai vàng giàu sang để tìm đến con đường tu đạo, đã trở thành giai thoại lưu
truyền muôn đời.Phụ Thân của ngài là Tịnh Phạn, mẫu thân ngài là Ma Gia. Câu
chuyện về cuôc đời của Ngài từ lúc bắt đầu như đã gánh trên mình sứ mệnh khác
thường. Ngài được thụ thai một cách thần kỳ, mẫu thân ngài nằm thấy con
voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà rằng
đứa bé sinh ra sẽ là vị vua vĩ đại hoặc là một nhà hiền triết cao quý. Ngày ngài ra
đời cũng là ngày mẫu thân ngài qua đời ngay trong vườn Lâm Tỳ Ni. Ngài bước đi
bảy bước lúc đản sanh và nói “ ta đã đến nơi”.
sinh ra trong hoàng tộc, ngài một thời niên thiếu hoan lạc. Ngài lập gia
đình với nàng Da Du Đà La và có một cậu con trai là La Hầu La. Tuy nhiên, cuộc
sống hoang lạc kết thúc vào năm 29 tuổi, Ngài t bỏ cuộc sống hiện tại cả di
sản của hoàng tộc để trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất, đi tìm
chân lý sống đích thực.
Nội dung chủ yếu Bản thể luận của Phật Giáo.
1.1.1. Triết về bản thể luận, nhân sinh quan của Phật giáo.
1.1.1.1. Triết về nhân sinh quan Phật Giáo.
Xét về nguồn gốc, nhân sinh quan Phật giáo được hình thành và phát triển gắn liền
với quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo trên cơ sở tiền đề kinh tế,
chính trị, xã hội và tiền đề tư tưởng văn hóa Ấn Độ cổ đại trước công nguyên. Bên
cạnh đó nó còn xuất phát từ tấm lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn, giải thoát con người
trước nỗi khổ trầm luân.
Nhân sinh quan Phật giáo sẽ một hệ thống c quan niệm, quan điểm của Phật
giáo về nguồn gốc, bản chất cũng như cấu tạo con người. Chi phối cũng như định
hướng mục tiêu, thái độ sống và giá trị của con người. Mục đích cuối cùng của
Phật giáo chính là giải thoát con người ra khỏi kiếp khổ trầm luân.
Do vậy triết lý nhân sinh xét dưới góc độ giải thoát con người sẽ chính là giá trị cơ
bản của hệ thống giáo lý trong nhà Phật. Đức Phật đã nhìn rõ được sự đau khổ của
đời sống con người, giúp cho con người nhận biết và để giải thoát nỗi khổ. Tuy
nhiên muốn thoát được khổ thì con người phải tự phấn đấu, tự tu tâm nơi chính
mình chứ không nên cầu mong vào một ai khác ngoài bản thân họ cả.
1.1.1.2. Triết về bản thể luận.
Theo quan điểm ca Phật giáo, bản thể là: “căn bản tự thể các pháp” mà “Pháp
từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật, hiện tượng, dù là to nhỏ, hữu hình, vô hình, chân
thực, hư vọng. Sự vật cũng là vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả”. Theo
Kinh Hoa Nghiêm thế giới bản thể gọi là lý pháp giới, thế giới hiện tượng gọi là sự
pháp giới. Nó như nước với sóng. Như vậy, bản thể vừa là tâm thức, vừa là vật
chất. Nó là cái duy nhất, đầu tiên, là cội nguồn hay thực tại cuối cùng mà trên đó
vũ trụ được hình thành. Từ bản thể hay chân không, do vô minh, vọng động mà
xuất hiện chúng sinh. Các chúng sinh sau khi giải thoát lại trở về với bản thể tuyệt
đối này.
Thuyết “Ngũ uẩn” quan niệm vạn vật trong vũ trụ được hình thành từ 5 yếu tố: sắc
uẩn (hiện tượng vật chất); thụ uẩn (cảm giác); tưởng uẩn (tác dụng của tri giác
hoặc biểu tượng); hành uẩn (ý chí, tư duy); thức uẩn (tác dụng của ý thức hoặc
nhận thức). Sắc uẩn lại bao gồm tứ đại là: địa, thủy, hỏa, phong và do các cơ quan
cảm giác tứ đại tạo tiếp xúc: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn với sáu trần
này tương hỗ với nhau tạo ra sự sinh động và phong phú của thế giới.
2.
Giá trị và hạn chế của Phật Go.
2.1. Giá trị về mặt kinh tế.
Khi nói đến một tôn giáo con người vẫn thường hay nghĩ về các giá trị tâm linh,
đồng thời dựa trên quan điểm tư tưởng rằng Phật giáo không liên quan đến khía
cạnh kinh tế. Kinh tế học Phật giáo một cách tiếp cận của Phật giáo đối với
kinh tế. Kinh tế học Phật giáo khảo t những đặc điểm tâm của trí óc con
người, những ưu tư, khát vọng và cảm xúc vốn có để thúc đẩy hoạt động kinh tế.
Cách hiểu về kinh tế học của Phật giáo nhắm đến mục tiêu làm những được
xem hại những gì được xem ích trong những hoạt động của con
người liên quan đến sản xuất và tiêu thụ, nhất là cố gắng làm cho con người
trưởng thành về đạo đức.
Khi Phật còn tại thế thì Ngài không cho hàng đệ tử xuất gia làm kinh tế và chính
trị nhưng ở thời điểm hiện nay, xã hội đang phụ thuộc vào kinh tế thị trường. Có
nền kinh tế phát triển và vững mạnh thì nhân dân mới có thể sống trong ấm no
hạnh phúc, vì thế giáo hội Phật giáo Việt Nam nên có định hướng phát triển kinh
tế. Vả lại, có kinh tế thì mới có thể thực hiện được Phật sự và phát triển Phật giáo
sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, làm kinh tế hay bất cứ việc
cũng phải phát xuất từ tâm niệm là vì lợi ích cho quần sanh. Nếu thiếu đi tâm niệm
này thì sẽ bị mất gốc. Cho dù mang hình thức Phật giáo mà chỉ làm vì lợi ích của
cá nhân mình mà không nghĩ tới lợi ích của người khác thì chẳng còn ý nghĩa
của người con Phật đang làm Phật sự nữa. Vì an lạc, vì lợi ích cho quần sanh là
quan điểm sống của Phật giáo xuyên suốt từ xưa đến nay. Muốn thực hiện được
tưởng này tbản thân của mỗi người con Phật phải rèn luyện cho mình đầy đủ
giới đức, tự hoàn thiện bản thân, phục vụ chúng sanh với tinh thần vô trụ, vô chấp.
Kinh tế Phật giáo luôn được đặt trong bối cảnh cần phải phát triển toàn diện về
nhân cách và có được sự hạnh phúc toàn diện, không còn những mối lo toan ,như
vậy thì lối sống con người mới có được sự an lạc trọn vẹn và mang ý nghĩa cao
đẹp. Kinh tế học theo quan điểm này không giống quan điểm về kinh tế của “ Ch
nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội”, sự phát triển kinh tế luôn được đặt trong hai
2.2. Giá trị về mặt hội.
Trong đời sống sinh hoạt, các cá nhân, gia đình đang cố gắng khắc phục những
biểu hiện của nếp sống tiểu nông như tác phong thủ công, lề mề, làm ăn nhỏ… Các
giá trị mới như trọng lý trong xã hội, hiệu quả, dân chủ, đề cao ý thức cá nhân, ý
thức sở hữu cá nhân đang được hình thành đặc biệt rõ nét trong lối sống của tầng
lớp thanh niên. Ngay nông thôn, khu vực giữ đậm đặc nhất các gtrị chuẩn
mực sống đã ăn sâu bám rễ vào tư duy và lối sống của người Việt Nam thì sự hỗn
dung văn hóa đang diễn ra sâu rộng. Truyền thống tình làng nghĩa xóm, trong các
giá trị cộng đồng vẫn là hạt nhân cơ bản trong sự phát triển làng xã song sự áp chế
của tính đồng nhất cộng đồng, sự thanh nhàn, sự bằng lòng với cái nghèo không
còn hiệu lực như xưa, xu hướng vươn tới làm giàu, chú trọng đến lợi ích vật chất
là một giá trị xã hội ngày càng phổ biến hơn…
tưởng Phật giáo suy nghĩ người Việt mối quan hệ mật thiết, gắn bó. Cơ
sở của sự hoà nhập đó xuất phát từ đặc điểm của dân tộc Việt Nam dân
nông nghiệp trồng lúa nước với tín ngưỡng bản địa đa thần giáo, con người
Việt Nam hiền hoà, yêu hoà bình, giàu lòng nhân ái. Văn hoá Phật giáo với
những giá trị tích cực như từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn, bình đẳng, bác ái dễ đi
vào lòng người, phù hợp với phong tục, tập quán và hoà quyện vào nền văn hoá
dân tộc Việt Nam. Thông qua điều kiện lịch sử, dân tộc Việt Nam với gần 1000
năm Bắc thuộc, chịu biết bao đau khổ, khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam,
với những giá trị của mình, Phật giáo đã góp phần xoa dịu nỗi đau, như một liều
thuốc an thần đối với nhân dân ta. Do đó, tư tưởng Phật giáo và suy nghĩ của con
người Việt Nam có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ. Thông qua những giá
trị tích cực như từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn, bình đẳng, bác ái, dễ đi vào lòng
người tạo sự phợp với phong tục, tập quán con người Việt Nam.
2.3. Giá trị về mặt chính trị
Phải khẳng định rằng đức Phật không chủ trương dùng chính trị trong giáo đoàn
của Ngài và dùng chính trị để truyền đạo. Một minh chứng rõ nhất chính là Ngài
đã từ bỏ con đường chính trị để đi tu khi đạt được giác ngộ Ngài cũng không
mượn quyền lực chính trị vốn vẫn còn có sẵn dành cho Ngài để truyền đạo. Chính
vì lẽ đó, những lời dạy của ngài liên quan đến chính trị thực tế là những điều đạo
đức dành cho
8
đấng minh quân để có thể tự điều phục chính mình và từ đó mang tình thương yêu
để điều hành đất nước.
Như chúng ta đã biết tôn giáo nơi tập hợp quần chúng. Với điều kiện thuận
lợi này Phật giáo chúng ta phải biết kêu gọi đồng bào Phật tử phải đoàn kết thương
yêu và chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau. đoàn kết, tình thương thì mới đủ sức
mạnh về thể chất và tinh thần chống lại âm mưu của ngoại bang dòm ngó để chống
phá nền hòa bình độc lập của chúng ta. “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết;
thành công, thành công, đại thành công”. Lịch sử đã chứng minh cho ta thấy,
tinh thần đoàn kết thì đời Trần mới có đủ sức mạnh ba lần đánh bại quân Nguyên
viết lên trang sử hào hùng cho dân tộc nói chung cho Phật giáo nói riêng.
Mặt khác, vào năm 2008, nước ta lần đầu tiên được đăng cai tổ chức đại lễ Phật
Đản Liên Hiệp Quốc, được sự hỗ trợ của chính phủ. Đại lễ này mang một ý
nghĩa chính trị rất lớn, Phật giáo chúng ta tổ chức đại lễ này thành công thì cũng đã
giúp cho nền chính trị nước nhà ổn định.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam nhiều vị danh tăng như Đại Khuông
Việt, Quốc Vạn Hạnh, Giác hoàng Điều ngự Trần Nhân Tông qua “vai trò”
chính trị ảnh hưởng rõ nét đến tiến trình phát triển lịch sử dân tộc. Trong nhiều
thời kỳ, Phật giáo đã phát huy ảnh hưởng như một “nguồn động lực” thúc đẩy sự
phát triển, thậm chí còn chi phối tới tư tưởng và học thuật, văn học và nghệ thuật
của đất nước như ới hai triều đại Lý và Trần mà tác phẩm văn thơ Lý - Trần đã
phản ánh.
2.4. Hạn chế của Phật giáo
Bên cạnh những tác động tích cực, Phật giáo cũng có những tác động tiêu cực
không nhỏ tới đời sống của người Việt Nam. Với cách nhìn cuộc đời là bể khổ
không bờ bến, thoát khổ bằng tu tâm, dưỡng tính để diệt trừ vô minh đạt giác ngộ,
Phật giáo đưa lại quan niệm sống bi quan, yếm thế, coi cuộc đời chỉ là phù hoa,
thoảng qua, là sống gửi, thác về. Nhìn cuộc đời một cách bi quan, thụ động nên
không ít người Việt dễ chùn bước khi gặp khó khăn, sống buông trôi cho qua
ngày, đoạn tháng với niềm tin chỉ lo tu tâm, dưỡng tính là đủ. Khi gặp trắc trở một
số người Việt thường nghĩ đến số phận, nghiệp chướng, nhân quả, khiến con
người hình thành tính cách bị động, ít chịu vươn lên, hạn chế năng lực đấu tranh
xã hội của những con người hiện thực, thậm chí thờ ơ, do dự đối với cái tiêu cực,
cái ác đang gây bất bình trong xã hội; không tin
9
tưởng vào hoạt động đấu tranh tích cực cải tạo, chống tiêu cực trong xã hội,
chờ đợi, tin vào nhân quả tự đến. Hạn chế lớn nhất của Phật giáo đối với phương
pháp tư duy của người Việt Nam là quan điểm duy tâm thần bí. Quan điểm này
khiến người ta không hướng vào hiện thực, hướng vào nghiệp, vào quả báo,
vào thần linh để mong được phù hộ, độ trì. Và một khi tư duy như vậy thì không
cần gì đến sự tìm tòi và khám phá, sáng tạo và hành động.Phật giáo chỉ thấy cá
nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ thấy con người nói chung mà
không thấy con người thuộc các giai cấp đối kháng nhau trong xã hội trước đây,
không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội. Do đó, không thấy được
nguyên nhân xã hội đưa đến sự khổ ải của con người, không thấy được sự cần
thiết phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột vì thế quan niệm từ bi, bác ái trong một
số trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
PHẦN 2: nh hưởng của Phật giáo đối với hội Việt Nam ngày nay.
1.
Tích cực
1.1. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Đạo đức
Có thể nói, ảnh hưởng lớn nhất của Phật giáo tới đời sống xã hội Việt Nam là ở
lĩnh vực đạo đức. Phật giáo đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể để con
người rèn luyện. Những chuẩn mực đạo đức phổ biến nhất là 5 giới: “không sát
sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu” và 10 điều
thiện: “3 điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; 3 điều
thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê; 4 điều thuộc về nói
năng: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói điều
ác”. Những chuẩn mực đạo đức này, cũng chính là những nguyên tắc ứng xử p
hợp giữa người với người, nhằm xây dựng đạo đức xã hội tốt đẹp.
Đạo đức Phật giáo hướng con người đến những giá trị nhân bản cao cả, góp phần
tích cực vào việc hoàn thiện đạo đức cá nhân. Tinh thần từ bi, bác ái trong Phật
giáo không chỉ hướng đến con người mà còn đến muôn vật, cỏ cây. Phật giáo kêu
gọi lòng nhân đạo, yêu thương, bảo vệ sự sống. Đặc biệt trong quan hệ giữa người
với
10
14
người, tình yêu thương phải biến thành hành động xoa dịu nỗi đau, cứu giúp con
người, gìn giữ hòa bình.
Như vậy, đạo đức Phật giáo nhiều điểm tương đồng với đạo đức người Việt.
Những phạm trù cơ bản của đạo đức Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm vào đời sống
người Việt hiện nay. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của Phật giáo,
người Việt đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
Hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã đem lại đời sống vật chất tốt
hơn cho mọi người, tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường là lối sống thực dụng,
chạy theo đồng tiền… dẫn tới sự xuống cấp về đạo đức, lối sống gây bức xúc trong
xã hội, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp.
Những giá trị tích cực của Phật giáo càng được nhân lên với những hoạt động cụ
thể, thiết thực:
- Phật giáo tổ chức “Lễ cầu nguyện hòa bình cho biển Đông”. Lãnh
đạo Giáo hội
và giáo đoàn 180 tăng ni, Phật tử đã trực tiếp ra các đảo Trường Sa cầu nguyện hòa
bình và động viên quân, dân trên các đảo tiền tiêu. Thực hiện “Đại lễ Cầu siêu”
cho các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc.
- Phật giáo rất quan tâm tới việc xây dựng gia đình văn hóa, kiểu
mẫu. Hiện nay, tại một số ngôi chùa tổ chức lễ cưới. Đây là một nghi thức cưới
đặc biệt được tổ chức trong không gian tâm linh tín ngưỡng Phật giáo nhằm xây
dựng gia đình hạnh phúc. Lễ cưới chùa y cầu nối giữa đạo đời, sự
hòa quyện nhuần nhuyễn giữa đạo đức dân tộc với đạo đức Phật giáo.
- Với mục đích đưa Phật giáo đến gần gũi hơn với thế hệ trẻ, nuôi
15
dưỡng tâm từ bi yêu thương, gieo trồng hạt giống thiện lành, nhân ái, chăm học,
chăm lao động, hiếu nghĩa, trau dồi nhân cách đạo đức, ngăn cản hành vi bạo lực,
nhiều chùa trên cả nước đã mở khóa tu mùa hè nhằm hướng các em học sinh tới
đời sống “Chân – Thiện – Mỹ”. Điển hình như Chùa Ba Vàng (Uông Bí – Quảng
Ninh), chỉ trong 6 tháng năm 2018 đã mở hai khóa tu tập mùa hè hoàn toàn miễn
phí cho 3.000 em.
- Đặc biệt, công tác từ thiện xã hội là hoạt động Phật sự đạo đức mang
tính tích cực và trong sáng, thể hiện tinh thần từ bi của Phật giáo và truyền thống
tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam. Theo “Báo cáo tổng kết hoạt động Phật
sự nhiệm kỳ VII (2012 – 2017)”.
- Đạo đức Phật giáo cùng những hoạt động cụ thể đã đang đóng
góp tích cực
trong việc xây dựng con người mới Việt Nam, xã hội chủ nghĩa, trong việc xây
dựng nền đạo đức mới tốt đẹp, thực hiện đúng phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”.
1.2. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Văn hoá.
Một trong những đóng góp quan trọng của văn hóa Phật giáo là chùa, bởi rất gần
gũi, gắn bó với người dân. Chùa đã hòa nhập vào làng mà biến thành chùa làng.
Chùa làng có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và góp phần tích cực hình
thành tư tưởng, đạo đức, nhân cách cho người dân. Chùa cũng tạo thành phong
cách kiến trúc độc đáo và thân thuộc, mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa từng vùng,
miền. Những chùa, quần thể Phật giáo lớn đồng thời cũng là những công trình kiến
trúc văn hóa tiêu biểu như Bái Đính, Trúc lâm Đà Lạt, Trúc lâm Yên Tử, Thiền
viện Trúc lâm, chùa Ba Vàng, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Dâu, chùa Thiên Mụ, tháp
16
Phổ Minh.
Nhưng điều đặc biệt là lễ hội dân gian và văn hóa tín ngưỡng của người Việt luôn
gắn liền với lễ hội văn hóa – tín ngưỡng Phật giáo. Vì vậy nếu tách rời lễ hội dân
gian với lễ hội văn hóa Phật giáo thì sẽ làm nghèo đi bản sắc văn hóa hòa đồng của
người Việt và việc bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống ở Việt Nam sẽ khó mà
thực hiện được.
Những m gần đây, Ban Văn hóa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối
hợp với Ban Văn hóa các tỉnh, thành phố tổ chức các lễ hội văn hóa Phật giáo gắn
với văn hóa dân gian rất thành công như: lễ hội chùa Bái Đính (Ninh Bình); Hội
Xuân Ngọa Vân (Đông Triều – Quảng Ninh), Hội chùa Hương (Hà Tây Hà Nội);
Hội Hoa Mẫu đơn Phật Tích (Bắc Ninh); lễ hội Hoa Ban (Điện Biên) vói hoạt
động cầu siêu các anh hùng liệt sĩ, cầu nguyện quốc thái dân an, rước kiệu từ
nghĩa trang Độc lập về chùa Linh Quang; lễ hội Mùa xuân Côn Sơn – Kiếp Bạc
(Hải Dương) gắn liền với anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi; lễ hội
chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Đậu (Hà Nội); lễ hội Quan
âm ở Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Bạc Liêu, Bình Dương. Các lễ hội văn hóa
Khmer của đồng bào dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long như: lễ hội Chôl
Chnăm Thmây, Dolta, Óck Ombok… Tại các chùa Phật giáo Khmer đều tổ chức
biểu diễn 3 loại hình văn hóa Phật giáo dân tộc như Đua Ghe ngo, Trống Sa Dăm
và nhạc Ngũ âm…
Những lễ hội này không chỉ sự tham gia của đông đảo Phật tử còn sự
tham gia vô cùng đông đảo của nhân dân, đáp ứng không chỉ nhu cầu về tâm linh,
17
về tinh thần mà còn là nét đẹp trong văn hóa truyền thống dân tộc, thể hiện truyền
thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những bậc tiền nhân, tiên tổ lập quốc, ghi nhớ
công lao các anh hùng, liệt sĩ trong quá trình bảo vệ và dựng xây đất nước. Lễ hội
văn hóa Phật giáo cũng đem lại cho con người giá trị trải nghiệm và giải thoát
trong tâm hồn, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới giá trị chân thiện – mỹ và
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Lễ hội còn là một bảo tàng văn hóa lưu
giữ các giá trị văn hóa và các sinh hoạt văn hóa qua các thời kỳ lịch sử được tái
hiện ở cuộc sống đương thời.
Từ góc độ này, Phật giáo đã rất tích cực tham gia vào việc khôi phục truyền thống
văn hóa – tín ngưỡng dân gian của dân tộc theo xu hướng tìm về cội nguồn, bản
sắc văn hóa dân tộc.
Như vậy, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn tồn tại và gắn liền
với cuộc sống người Việt Nam. Suốt hơn 2.000 năm qua, tư tưởng cốt lõi của Phật
giáo nhân văn cao cả, từ bi bác ái, cuộc sống an lạc cho mỗi nhân
cộng đồng. Những tư tưởng đó không hề xa lạ với truyền thống nhân văn quý báu
của người Việt Nam, nó là một nhân tố tạo nên đời sống văn hóa, tư tưởng đoàn
kết, tương thân, tương ái cùng u cầu hạnh phúc chung của người VIệt Nam.
tưởng nhân văn Phật giáo xét theo bản chất không mang tính giai cấp mà mang
tính nhân loại, đã góp phần trong quá trình hòa nhập văn hóa, tưởng dân tộc
vào trong dòng chảy chung của tư tưởng, văn hóa nhân loại.
thế, việc khai thác những hạt nhân tích cực, hợp của văn hóa Phật giáo nhằm
xây dựng nhân cách con người Việt Nam rất quan trọng. Sự hòa quyện văn hóa
18
Phật giáo với văn hóa, truyền thống dân tộc đã và đang góp phần xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
1.3. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Kinh tế.
Phật giáo với sứ mạng nhậo thế vào từng ngõ ngách của cuộc đời đầy dẫy sự khổ
đau của con người đã và đang hành động tích cực trên các phương diện xã hội và
kinh tế là khía cạnh được Phật giáo quan tâm.
Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững lâu dài, theo quan điểm người làm
kinh tế cần phát huy trí tuệ để nhìn nhận bản chất của mọi sự vật hiện tượng theo
nguyên duyên sinh ngã từ đó không bị lòng tham đi vào con đường sai
lạc, mê lầm, Hơn thế nữa cần có một đức tánh trung thực để thể hiện con người có
đạo đức tạo được lòng tin tạo được sự hợp tác lâu dài.
Người dân Việt Nam đã tin tưởng, sống và làm theo các nguyên tắc mà Phật giáo
đưa ra, dựa trên các nguyên tắc không được khai thác và sử dụng trong nền kinh tế
để giúp cho sự phát triển bền vững. Điển hình là không được sản xuất và buôn bán
vũ khí, không được sản xuất chất độc. Hơn thế nữa, kinh tế học Phật giáo luôn chú
trọng đến con người cùng với sự hoạt đồng kinh tế hướng đến lợi ích chung: “
Hoạt động kinh tế đó không lợi dụng, bóc lột những người khác, không làm tăng
dục vọng của chính người đó trong lúc tước đoạt những nhu cầu cơ bản của người
khác, không thuộc năm lại hoạt động bất chính về kinh tế, không dẫn đến không
lãng phí quá đáng hoặc tạo ra sự mất cân bằng về sinh thái”.
Những nguyên tắc này đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giữ sự yên bình
cho đất nước ta, không vì chút lợi lộc mà đi lầm đường, không vì lòng tham mà
19
bóc lột, lợi dụng người khác, hướng đến sự phát triển nền kinh tế bền vững.
1.4. Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Môi sinh, môi trường.
Không chỉ chú trọng cách thức giao tiếp trong quan hệ giữa người với người, Đức
Phật còn chú trọng đến cả cách thức ứng xử của con người với môi trường thiên
nhiên. Từ trong giáo nguyên thủy của mình, Đức Phật đã khuyên con người
nên chung sống hài hòa với thiên nhiên. Hạn chế dục vọng, sống hòa mình với
muôn loài cỏ cây, hoa lá, chim muông, yêu thương cả con sâu, cái kiến… đã trở
thành những chuẩn mực trong đạo đức Phật giáo. Một trong những điều răn trong
“Ngũ giới” của Phật giáo là “cấm sát sinh”, tức không chỉ cấm giết người mà còn
cấm giết các loài động vật khác. Mùa An cư kiết hạ hàng năm mà Giáo hội Phật
giáo các nước đang thực hiện cũng bắt nguồn từ lời răn của Đức Phật là không làm
hại các sinh linh khác.
Ngay từ buổi đầu mới du nhập vào Việt Nam, quan niệm sống hài hoà với thiên
nhiên của Phật giáo đã nhanh chóng được người dân Việt đón nhận, vì nó phù hợp
với điều kiện và môi trường sống của người Việt. Tôn trọng tự nhiên, sống hài hòa
với tự nhiên đã trở thành một trong những lẽ sống của người Việt. Lẽ sống ấy đã
đi vào thi ca, nhạc họa và trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của người
Việt Nam.Sống hài hoà và giữ gìn những món quà do thiên nhiên ban tặng, hiện
nay Việt Nam đã hình thành và phát triển hơn 30 vườn quốc gia và nhiều khu bảo
tồn thiên nhiên khác, mang đến những di sản được thế giới công nhận.
1.5. Ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo.
Bên cạnh những mặt tích cực thì Phật giáo cũng có những mặt hạn chế đối với xã

Preview text:

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HOA SEN NHÓM 3
NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BÀI THU HOẠCH
TP. HỒ CHÍ MINH, 2023 i
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC HOA SEN NHÓM 3
NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Môn: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Lớp: 0200_2232 BÀI THU HOẠCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GV. ThS Phạm Thị Ngọc Anh
Nguyễn Việt Long - 22122660 (Leader)
Nguyễn Đức Anh - 22117272
Huỳnh Tấn Kiệt - 22102016
Phan Đức Anh - 22117264
Tôn Trần Nghệ Gia - 22122607
Nguyễn Khánh Ly - 22117188
Đoàn Hoàng Nhi – 22100614
Phạm Quỳnh Trúc Nguyên - 22117143
Dương Anh Khoa – 22102890
Ngô Tú Trân - 22100223
TP.HỒ CHÍ MINH, 2023 LỜI CẢM ƠN
Nhóm 3 xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến trường Đại học Hoa Sen và cô Phạm Thị
Ngọc Anh, giảng viên phụ trách giảng dạy môn Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học đã
tạo cơ hội cho nhóm 3 chúng em có thể tham quan Bảo tàng Lịch sử .Qua đó,
chúng em có thể hiểu hơn về Tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và ảnh hưởng của nó
đến xã hội và con người Việt Nam. Đây là một trải nghiệm thú vị và học hỏi được
nhiều điều. Nhóm 3 chúng em xin chân thành cảm ơn trường Đại học Hoa Sen và
cô Phạm thị Ngọc Anh đã giúp tôi trải nghiệm thú vị đến với bảo tàng lịch sử. MỞ ĐẦU
Phật giáo là một trong những nền tảng đắc lực và đa dạng của sự sống xã hội và
dân tộc của Việt Nam. Trên thực tế, Phật giáo đã được gắn bó với cộng đồng Việt
Nam trong hàng thế kỷ, đem lại nhiều lợi ích và ý nghĩa tích cực cho xã hội và con
người. Đầu tiên, Phật giáo đã làm cho cuộc sống của con người Việt Nam trở nên
bền vững về thực trạng thể chất cũng như tinh thần. Nhờ đó, người Việt Nam đã tự
tin hơn trong các hoạt động xã hội, kinh tế, trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
và các đam mê khác. Phật giáo cũng đã tạo ra một môi trường quan hệ xã hội bền
vững hơn, giúp con người trở thành cộng đồng phối hợp và chia sẻ. Trong những
nghiên cứu về Phật giáo và nghiên cứu lịch sử của nó, những ảnh hưởng của nó
đến xã hội và con người Việt Nam đã được khám phá. Bài tiểu luận này được thực
hiện với mục đích khám phá các hiệu ứng của Phật giáo đối với xã hội và con người Việt Nam. 4 NỘI DUNG
PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO 1.
Sơ lược về Phật Giáo 1.1.
Nguồn gốc ra đời
Phật giáo được Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni Buddha) truyền giảng ở miền
đông Ấn Độ vào thế kỷ 6 TCN. Được truyền bá trong khoảng thời gian 49 năm khi
Đức Phật còn tại thế ra nhiều nơi đến nhiều chủng tộc nên lịch sử phát triển của
đạo Phật khá đa dạng về các bộ phái cũng như các nghi thức hay phương pháp tu
học. Ngay từ buổi đầu, Phật Thích Ca, người sáng lập đạo Phật, đã tổ chức được
một giáo hội với các giới luật chặt chẽ. Nhờ vào sự uyển chuyển của giáo pháp,
đạo Phật có thể thích nghi với nhiều hoàn cảnh xã hội, nhiều dạng người, nhiều tập
tục ở các thời kỳ khác nhau, và do đó ngày nay Phật giáo vẫn tiếp tục tồn tại và
ngày càng phát triển rộng rãi trên toàn thế giới, ngay cả trong các nước có nền
khoa học tiên tiến như Hoa Kỳ và Tây Âu.
Câu chuyện về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, từ một thái tử có tên là Tất Đạt Đa đã
từ bỏ ngai vàng giàu sang để tìm đến con đường tu đạo, đã trở thành giai thoại lưu
truyền muôn đời.Phụ Thân của ngài là Tịnh Phạn, mẫu thân ngài là Ma Gia. Câu
chuyện về cuôc đời của Ngài từ lúc bắt đầu như đã gánh trên mình sứ mệnh khác
thường. Ngài được thụ thai một cách thần kỳ, mẫu thân ngài nằm mơ thấy con
voi trắng sáu ngà đi vào bên hông bà và lời tiên tri của nhà hiền triết A Tư Đà rằng
đứa bé sinh ra sẽ là vị vua vĩ đại hoặc là một nhà hiền triết cao quý. Ngày ngài ra
đời cũng là ngày mẫu thân ngài qua đời ngay trong vườn Lâm Tỳ Ni. Ngài bước đi
bảy bước lúc đản sanh và nói “ ta đã đến nơi”.
Vì sinh ra trong hoàng tộc, ngài có một thời niên thiếu hoan lạc. Ngài lập gia
đình với nàng Da Du Đà La và có một cậu con trai là La Hầu La. Tuy nhiên, cuộc
sống hoang lạc kết thúc vào năm 29 tuổi, Ngài từ bỏ cuộc sống hiện tại và cả di
sản của hoàng tộc để trở thành một người tầm đạo lang thang hành khất, đi tìm
chân lý sống đích thực.
Nội dung chủ yếu Bản thể luận của Phật Giáo. 1.1.1.
Triết lý về bản thể luận, nhân sinh quan của Phật giáo. 1.1.1.1.
Triết lý về nhân sinh quan Phật Giáo.
Xét về nguồn gốc, nhân sinh quan Phật giáo được hình thành và phát triển gắn liền
với quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo trên cơ sở tiền đề kinh tế,
chính trị, xã hội và tiền đề tư tưởng văn hóa Ấn Độ cổ đại trước công nguyên. Bên
cạnh đó nó còn xuất phát từ tấm lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn, giải thoát con người
trước nỗi khổ trầm luân.
Nhân sinh quan Phật giáo sẽ là một hệ thống các quan niệm, quan điểm của Phật
giáo về nguồn gốc, bản chất cũng như cấu tạo con người. Chi phối cũng như định
hướng mục tiêu, thái độ sống và giá trị của con người. Mục đích cuối cùng của
Phật giáo chính là giải thoát con người ra khỏi kiếp khổ trầm luân.
Do vậy triết lý nhân sinh xét dưới góc độ giải thoát con người sẽ chính là giá trị cơ
bản của hệ thống giáo lý trong nhà Phật. Đức Phật đã nhìn rõ được sự đau khổ của
đời sống con người, giúp cho con người nhận biết và để giải thoát nỗi khổ. Tuy
nhiên muốn thoát được khổ thì con người phải tự phấn đấu, tự tu tâm nơi chính
mình chứ không nên cầu mong vào một ai khác ngoài bản thân họ cả. 1.1.1.2.
Triết lý về bản thể luận.
Theo quan điểm của Phật giáo, bản thể là: “căn bản tự thể các pháp” mà “Pháp là
từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật, hiện tượng, dù là to nhỏ, hữu hình, vô hình, chân
thực, hư vọng. Sự vật cũng là vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả”. Theo
Kinh Hoa Nghiêm thế giới bản thể gọi là lý pháp giới, thế giới hiện tượng gọi là sự
pháp giới. Nó như nước với sóng. Như vậy, bản thể vừa là tâm thức, vừa là vật
chất. Nó là cái duy nhất, đầu tiên, là cội nguồn hay thực tại cuối cùng mà trên đó
vũ trụ được hình thành. Từ bản thể hay chân không, do vô minh, vọng động mà
xuất hiện chúng sinh. Các chúng sinh sau khi giải thoát lại trở về với bản thể tuyệt đối này.
Thuyết “Ngũ uẩn” quan niệm vạn vật trong vũ trụ được hình thành từ 5 yếu tố: sắc
uẩn (hiện tượng vật chất); thụ uẩn (cảm giác); tưởng uẩn (tác dụng của tri giác
hoặc biểu tượng); hành uẩn (ý chí, tư duy); thức uẩn (tác dụng của ý thức hoặc
nhận thức). Sắc uẩn lại bao gồm tứ đại là: địa, thủy, hỏa, phong và do các cơ quan
cảm giác tứ đại tạo tiếp xúc: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn với sáu trần
này tương hỗ với nhau tạo ra sự sinh động và phong phú của thế giới. 2.
Giá trị và hạn chế của Phật Giáo. 2.1.
Giá trị về mặt kinh tế.
Khi nói đến một tôn giáo con người vẫn thường hay nghĩ về các giá trị tâm linh,
đồng thời dựa trên quan điểm tư tưởng rằng Phật giáo không liên quan đến khía
cạnh kinh tế. Kinh tế học Phật giáo là một cách tiếp cận của Phật giáo đối với
kinh tế. Kinh tế học Phật giáo khảo sát những đặc điểm tâm lý của trí óc con
người, những ưu tư, khát vọng và cảm xúc vốn có để thúc đẩy hoạt động kinh tế.
Cách hiểu về kinh tế học của Phật giáo nhắm đến mục tiêu làm rõ những gì được
xem là có hại và những gì được xem là có ích trong những hoạt động của con
người liên quan đến sản xuất và tiêu thụ, nhất là cố gắng làm cho con người
trưởng thành về đạo đức.
Khi Phật còn tại thế thì Ngài không cho hàng đệ tử xuất gia làm kinh tế và chính
trị nhưng ở thời điểm hiện nay, xã hội đang phụ thuộc vào kinh tế thị trường. Có
nền kinh tế phát triển và vững mạnh thì nhân dân mới có thể sống trong ấm no
hạnh phúc, vì thế giáo hội Phật giáo Việt Nam nên có định hướng phát triển kinh
tế. Vả lại, có kinh tế thì mới có thể thực hiện được Phật sự và phát triển Phật giáo
sâu rộng vào mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, làm kinh tế hay bất cứ việc gì
cũng phải phát xuất từ tâm niệm là vì lợi ích cho quần sanh. Nếu thiếu đi tâm niệm
này thì sẽ bị mất gốc. Cho dù mang hình thức Phật giáo mà chỉ làm vì lợi ích của
cá nhân mình mà không nghĩ tới lợi ích của người khác thì chẳng còn ý nghĩa
của người con Phật đang làm Phật sự nữa. Vì an lạc, vì lợi ích cho quần sanh là
quan điểm sống của Phật giáo xuyên suốt từ xưa đến nay. Muốn thực hiện được
lý tưởng này thì bản thân của mỗi người con Phật phải rèn luyện cho mình đầy đủ
giới đức, tự hoàn thiện bản thân, phục vụ chúng sanh với tinh thần vô trụ, vô chấp.
Kinh tế Phật giáo luôn được đặt trong bối cảnh cần phải phát triển toàn diện về
nhân cách và có được sự hạnh phúc toàn diện, không còn những mối lo toan ,như
vậy thì lối sống con người mới có được sự an lạc trọn vẹn và mang ý nghĩa cao
đẹp. Kinh tế học theo quan điểm này không giống quan điểm về kinh tế của “ Chủ
nghĩa tư bản và Chủ nghĩa xã hội”, sự phát triển kinh tế luôn được đặt trong hai 2.2.
Giá trị về mặt xã hội.
Trong đời sống sinh hoạt, các cá nhân, gia đình đang cố gắng khắc phục những
biểu hiện của nếp sống tiểu nông như tác phong thủ công, lề mề, làm ăn nhỏ… Các
giá trị mới như trọng lý trong xã hội, hiệu quả, dân chủ, đề cao ý thức cá nhân, ý
thức sở hữu cá nhân đang được hình thành đặc biệt rõ nét trong lối sống của tầng
lớp thanh niên. Ngay ở nông thôn, khu vực giữ đậm đặc nhất các giá trị chuẩn
mực sống đã ăn sâu bám rễ vào tư duy và lối sống của người Việt Nam thì sự hỗn
dung văn hóa đang diễn ra sâu rộng. Truyền thống tình làng nghĩa xóm, trong các
giá trị cộng đồng vẫn là hạt nhân cơ bản trong sự phát triển làng xã song sự áp chế
của tính đồng nhất cộng đồng, sự thanh nhàn, sự bằng lòng với cái nghèo không
còn hiệu lực như xưa, xu hướng vươn tới làm giàu, chú trọng đến lợi ích vật chất
là một giá trị xã hội ngày càng phổ biến hơn…
Tư tưởng Phật giáo và suy nghĩ người Việt có mối quan hệ mật thiết, gắn bó. Cơ
sở của sự hoà nhập đó là xuất phát từ đặc điểm của dân tộc Việt Nam là cư dân
nông nghiệp trồng lúa nước với tín ngưỡng bản địa là đa thần giáo, con người
Việt Nam hiền hoà, yêu hoà bình, giàu lòng nhân ái. Văn hoá Phật giáo với
những giá trị tích cực như từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn, bình đẳng, bác ái dễ đi
vào lòng người, phù hợp với phong tục, tập quán và hoà quyện vào nền văn hoá
dân tộc Việt Nam. Thông qua điều kiện lịch sử, dân tộc Việt Nam với gần 1000
năm Bắc thuộc, chịu biết bao đau khổ, khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam,
với những giá trị của mình, Phật giáo đã góp phần xoa dịu nỗi đau, như một liều
thuốc an thần đối với nhân dân ta. Do đó, tư tưởng Phật giáo và suy nghĩ của con
người Việt Nam có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ. Thông qua những giá
trị tích cực như từ bi, hỷ xả, cứu khổ, cứu nạn, bình đẳng, bác ái, dễ đi vào lòng
người tạo sự phù hợp với phong tục, tập quán con người Việt Nam. 2.3.
Giá trị về mặt chính trị
Phải khẳng định rằng đức Phật không chủ trương dùng chính trị trong giáo đoàn
của Ngài và dùng chính trị để truyền đạo. Một minh chứng rõ nhất chính là Ngài
đã từ bỏ con đường chính trị để đi tu và khi đạt được giác ngộ Ngài cũng không
mượn quyền lực chính trị vốn vẫn còn có sẵn dành cho Ngài để truyền đạo. Chính
vì lẽ đó, những lời dạy của ngài liên quan đến chính trị thực tế là những điều đạo đức dành cho 8
đấng minh quân để có thể tự điều phục chính mình và từ đó mang tình thương yêu
để điều hành đất nước.
Như chúng ta đã biết tôn giáo là nơi tập hợp quần chúng. Với điều kiện thuận
lợi này Phật giáo chúng ta phải biết kêu gọi đồng bào Phật tử phải đoàn kết thương
yêu và chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau. Có đoàn kết, có tình thương thì mới có đủ sức
mạnh về thể chất và tinh thần chống lại âm mưu của ngoại bang dòm ngó để chống
phá nền hòa bình và độc lập của chúng ta. “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết;
thành công, thành công, đại thành công”. Lịch sử đã chứng minh cho ta thấy, có
tinh thần đoàn kết thì đời Trần mới có đủ sức mạnh ba lần đánh bại quân Nguyên
viết lên trang sử hào hùng cho dân tộc nói chung cho Phật giáo nói riêng.
Mặt khác, vào năm 2008, nước ta lần đầu tiên được đăng cai tổ chức đại lễ Phật
Đản Liên Hiệp Quốc, được sự hỗ trợ của chính phủ. Đại lễ này mang một ý
nghĩa chính trị rất lớn, Phật giáo chúng ta tổ chức đại lễ này thành công thì cũng đã
giúp cho nền chính trị nước nhà ổn định.
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam có nhiều vị danh tăng như Đại sư Khuông
Việt, Quốc sư Vạn Hạnh, Giác hoàng Điều ngự Trần Nhân Tông qua “vai trò”
chính trị ảnh hưởng rõ nét đến tiến trình phát triển lịch sử dân tộc. Trong nhiều
thời kỳ, Phật giáo đã phát huy ảnh hưởng như một “nguồn động lực” thúc đẩy sự
phát triển, thậm chí còn chi phối tới tư tưởng và học thuật, văn học và nghệ thuật
của đất nước như dưới hai triều đại Lý và Trần mà tác phẩm văn thơ Lý - Trần đã phản ánh. 2.4.
Hạn chế của Phật giáo
Bên cạnh những tác động tích cực, Phật giáo cũng có những tác động tiêu cực
không nhỏ tới đời sống của người Việt Nam. Với cách nhìn cuộc đời là bể khổ
không bờ bến, thoát khổ bằng tu tâm, dưỡng tính để diệt trừ vô minh đạt giác ngộ,
Phật giáo đưa lại quan niệm sống bi quan, yếm thế, coi cuộc đời chỉ là phù hoa,
thoảng qua, là sống gửi, thác về. Nhìn cuộc đời một cách bi quan, thụ động nên
không ít người Việt dễ chùn bước khi gặp khó khăn, sống buông trôi cho qua
ngày, đoạn tháng với niềm tin chỉ lo tu tâm, dưỡng tính là đủ. Khi gặp trắc trở một
số người Việt thường nghĩ đến số phận, nghiệp chướng, nhân quả, khiến con
người hình thành tính cách bị động, ít chịu vươn lên, hạn chế năng lực đấu tranh
xã hội của những con người hiện thực, thậm chí thờ ơ, do dự đối với cái tiêu cực,
cái ác đang gây bất bình trong xã hội; không tin 9
tưởng vào hoạt động đấu tranh tích cực cải tạo, chống tiêu cực trong xã hội, mà
chờ đợi, tin vào nhân quả tự đến. Hạn chế lớn nhất của Phật giáo đối với phương
pháp tư duy của người Việt Nam là quan điểm duy tâm thần bí. Quan điểm này
khiến người ta không hướng vào hiện thực, mà hướng vào nghiệp, vào quả báo,
vào thần linh để mong được phù hộ, độ trì. Và một khi tư duy như vậy thì không
cần gì đến sự tìm tòi và khám phá, sáng tạo và hành động.Phật giáo chỉ thấy cá
nhân con người mà không thấy xã hội con người, chỉ thấy con người nói chung mà
không thấy con người thuộc các giai cấp đối kháng nhau trong xã hội trước đây,
không thừa nhận sự đấu tranh giai cấp trong xã hội. Do đó, không thấy được
nguyên nhân xã hội đưa đến sự khổ ải của con người, không thấy được sự cần
thiết phải đấu tranh chống áp bức, bóc lột vì thế quan niệm từ bi, bác ái trong một
số trường hợp bất lợi cho sự đấu tranh giải phóng giai cấp, chống áp bức.
PHẦN 2: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội Việt Nam ngày nay. 1. Tích cực 1.1.
Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Đạo đức
Có thể nói, ảnh hưởng lớn nhất của Phật giáo tới đời sống xã hội Việt Nam là ở
lĩnh vực đạo đức. Phật giáo đưa ra những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể để con
người rèn luyện. Những chuẩn mực đạo đức phổ biến nhất là 5 giới: “không sát
sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu” và 10 điều
thiện: “3 điều thuộc về thân: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; 3 điều
thuộc về ý thức: không tham lam, không thù hận, không si mê; 4 điều thuộc về nói
năng: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói điều
ác”. Những chuẩn mực đạo đức này, cũng chính là những nguyên tắc ứng xử phù
hợp giữa người với người, nhằm xây dựng đạo đức xã hội tốt đẹp.
Đạo đức Phật giáo hướng con người đến những giá trị nhân bản cao cả, góp phần
tích cực vào việc hoàn thiện đạo đức cá nhân. Tinh thần từ bi, bác ái trong Phật
giáo không chỉ hướng đến con người mà còn đến muôn vật, cỏ cây. Phật giáo kêu
gọi lòng nhân đạo, yêu thương, bảo vệ sự sống. Đặc biệt trong quan hệ giữa người với 10
người, tình yêu thương phải biến thành hành động xoa dịu nỗi đau, cứu giúp con
người, gìn giữ hòa bình.
Như vậy, đạo đức Phật giáo có nhiều điểm tương đồng với đạo đức người Việt.
Những phạm trù cơ bản của đạo đức Phật giáo đã ảnh hưởng sâu đậm vào đời sống
người Việt hiện nay. Do tuân thủ những điều răn dạy về đạo đức của Phật giáo,
người Việt đã sống và ứng xử đúng đạo lý, góp phần làm cho xã hội tốt đẹp hơn.
Hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã đem lại đời sống vật chất tốt
hơn cho mọi người, tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường là lối sống thực dụng,
chạy theo đồng tiền… dẫn tới sự xuống cấp về đạo đức, lối sống gây bức xúc trong
xã hội, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp.
Những giá trị tích cực của Phật giáo càng được nhân lên với những hoạt động cụ thể, thiết thực: -
Phật giáo tổ chức “Lễ cầu nguyện hòa bình cho biển Đông”. Lãnh đạo Giáo hội
và giáo đoàn 180 tăng ni, Phật tử đã trực tiếp ra các đảo Trường Sa cầu nguyện hòa
bình và động viên quân, dân trên các đảo tiền tiêu. Thực hiện “Đại lễ Cầu siêu”
cho các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. -
Phật giáo rất quan tâm tới việc xây dựng gia đình văn hóa, kiểu
mẫu. Hiện nay, tại một số ngôi chùa tổ chức lễ cưới. Đây là một nghi thức cưới
đặc biệt được tổ chức trong không gian tâm linh tín ngưỡng Phật giáo nhằm xây
dựng gia đình hạnh phúc. Lễ cưới ở chùa là cây cầu nối giữa đạo và đời, là sự
hòa quyện nhuần nhuyễn giữa đạo đức dân tộc với đạo đức Phật giáo. -
Với mục đích đưa Phật giáo đến gần gũi hơn với thế hệ trẻ, nuôi 14
dưỡng tâm từ bi yêu thương, gieo trồng hạt giống thiện lành, nhân ái, chăm học,
chăm lao động, hiếu nghĩa, trau dồi nhân cách đạo đức, ngăn cản hành vi bạo lực,
nhiều chùa trên cả nước đã mở khóa tu mùa hè nhằm hướng các em học sinh tới
đời sống “Chân – Thiện – Mỹ”. Điển hình như Chùa Ba Vàng (Uông Bí – Quảng
Ninh), chỉ trong 6 tháng năm 2018 đã mở hai khóa tu tập mùa hè hoàn toàn miễn phí cho 3.000 em. -
Đặc biệt, công tác từ thiện xã hội là hoạt động Phật sự đạo đức mang
tính tích cực và trong sáng, thể hiện tinh thần từ bi của Phật giáo và truyền thống
tương thân tương ái của dân tộc Việt Nam. Theo “Báo cáo tổng kết hoạt động Phật
sự nhiệm kỳ VII (2012 – 2017)”. -
Đạo đức Phật giáo cùng những hoạt động cụ thể đã và đang đóng góp tích cực
trong việc xây dựng con người mới Việt Nam, xã hội chủ nghĩa, trong việc xây
dựng nền đạo đức mới tốt đẹp, thực hiện đúng phương châm “Tốt đời, đẹp đạo”. 1.2.
Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Văn hoá.
Một trong những đóng góp quan trọng của văn hóa Phật giáo là chùa, bởi rất gần
gũi, gắn bó với người dân. Chùa đã hòa nhập vào làng mà biến thành chùa làng.
Chùa làng có vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và góp phần tích cực hình
thành tư tưởng, đạo đức, nhân cách cho người dân. Chùa cũng tạo thành phong
cách kiến trúc độc đáo và thân thuộc, mang đậm dấu ấn văn hóa bản địa từng vùng,
miền. Những chùa, quần thể Phật giáo lớn đồng thời cũng là những công trình kiến
trúc văn hóa tiêu biểu như Bái Đính, Trúc lâm Đà Lạt, Trúc lâm Yên Tử, Thiền
viện Trúc lâm, chùa Ba Vàng, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Dâu, chùa T15 h iên Mụ, tháp Phổ Minh.
Nhưng điều đặc biệt là lễ hội dân gian và văn hóa tín ngưỡng của người Việt luôn
gắn liền với lễ hội văn hóa – tín ngưỡng Phật giáo. Vì vậy nếu tách rời lễ hội dân
gian với lễ hội văn hóa Phật giáo thì sẽ làm nghèo đi bản sắc văn hóa hòa đồng của
người Việt và việc bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống ở Việt Nam sẽ khó mà thực hiện được.
Những năm gần đây, Ban Văn hóa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối
hợp với Ban Văn hóa các tỉnh, thành phố tổ chức các lễ hội văn hóa Phật giáo gắn
với văn hóa dân gian rất thành công như: lễ hội chùa Bái Đính (Ninh Bình); Hội
Xuân Ngọa Vân (Đông Triều – Quảng Ninh), Hội chùa Hương (Hà Tây – Hà Nội);
Hội Hoa Mẫu đơn Phật Tích (Bắc Ninh); lễ hội Hoa Ban (Điện Biên) vói hoạt
động cầu siêu các anh hùng liệt sĩ, cầu nguyện quốc thái dân an, rước kiệu từ
nghĩa trang Độc lập về chùa Linh Quang; lễ hội Mùa xuân Côn Sơn – Kiếp Bạc
(Hải Dương) gắn liền với anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi; lễ hội
chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Đậu (Hà Nội); lễ hội Quan
âm ở Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Bạc Liêu, Bình Dương. Các lễ hội văn hóa
Khmer của đồng bào dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long như: lễ hội Chôl
Chnăm Thmây, Dolta, Óck Ombok… Tại các chùa Phật giáo Khmer đều tổ chức
biểu diễn 3 loại hình văn hóa Phật giáo dân tộc như Đua Ghe ngo, Trống Sa Dăm và nhạc Ngũ âm…
Những lễ hội này không chỉ có sự tham gia của đông đảo Phật tử mà còn có sự
tham gia vô cùng đông đảo của nhân dân, đáp ứng không chỉ nhu cầu về tâm linh, 16
về tinh thần mà còn là nét đẹp trong văn hóa truyền thống dân tộc, thể hiện truyền
thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những bậc tiền nhân, tiên tổ lập quốc, ghi nhớ
công lao các anh hùng, liệt sĩ trong quá trình bảo vệ và dựng xây đất nước. Lễ hội
văn hóa Phật giáo cũng đem lại cho con người giá trị trải nghiệm và giải thoát
trong tâm hồn, cân bằng và củng cố đức tin, hướng tới giá trị chân – thiện – mỹ và
góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. Lễ hội còn là một bảo tàng văn hóa lưu
giữ các giá trị văn hóa và các sinh hoạt văn hóa qua các thời kỳ lịch sử được tái
hiện ở cuộc sống đương thời.
Từ góc độ này, Phật giáo đã rất tích cực tham gia vào việc khôi phục truyền thống
văn hóa – tín ngưỡng dân gian của dân tộc theo xu hướng tìm về cội nguồn, bản sắc văn hóa dân tộc.
Như vậy, cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn tồn tại và gắn liền
với cuộc sống người Việt Nam. Suốt hơn 2.000 năm qua, tư tưởng cốt lõi của Phật
giáo là nhân văn cao cả, từ bi bác ái, vì cuộc sống an lạc cho mỗi cá nhân và
cộng đồng. Những tư tưởng đó không hề xa lạ với truyền thống nhân văn quý báu
của người Việt Nam, nó là một nhân tố tạo nên đời sống văn hóa, tư tưởng đoàn
kết, tương thân, tương ái cùng mưu cầu hạnh phúc chung của người VIệt Nam.
Tư tưởng nhân văn Phật giáo xét theo bản chất không mang tính giai cấp mà mang
tính nhân loại, đã góp phần trong quá trình hòa nhập văn hóa, tư tưởng dân tộc
vào trong dòng chảy chung của tư tưởng, văn hóa nhân loại.
Vì thế, việc khai thác những hạt nhân tích cực, hợp lý của văn hóa Phật giáo nhằm
xây dựng nhân cách con người Việt Nam là rất quan trọng. Sự hòa quyện văn hóa 17
Phật giáo với văn hóa, truyền thống dân tộc đã và đang góp phần xây dựng nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 1.3.
Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Kinh tế.
Phật giáo với sứ mạng nhậo thế vào từng ngõ ngách của cuộc đời đầy dẫy sự khổ
đau của con người đã và đang hành động tích cực trên các phương diện xã hội và
kinh tế là khía cạnh được Phật giáo quan tâm.
Một nền kinh tế muốn phát triển bền vững lâu dài, theo quan điểm là người làm
kinh tế cần phát huy trí tuệ để nhìn nhận bản chất của mọi sự vật hiện tượng theo
nguyên ký duyên sinh vô ngã từ đó không bị lòng tham và đi vào con đường sai
lạc, mê lầm, Hơn thế nữa cần có một đức tánh trung thực để thể hiện con người có
đạo đức tạo được lòng tin tạo được sự hợp tác lâu dài.
Người dân Việt Nam đã tin tưởng, sống và làm theo các nguyên tắc mà Phật giáo
đưa ra, dựa trên các nguyên tắc không được khai thác và sử dụng trong nền kinh tế
để giúp cho sự phát triển bền vững. Điển hình là không được sản xuất và buôn bán
vũ khí, không được sản xuất chất độc. Hơn thế nữa, kinh tế học Phật giáo luôn chú
trọng đến con người cùng với sự hoạt đồng kinh tế hướng đến lợi ích chung: “
Hoạt động kinh tế đó không lợi dụng, bóc lột những người khác, không làm tăng
dục vọng của chính người đó trong lúc tước đoạt những nhu cầu cơ bản của người
khác, không thuộc năm lại hoạt động bất chính về kinh tế, không dẫn đến không
lãng phí quá đáng hoặc tạo ra sự mất cân bằng về sinh thái”.
Những nguyên tắc này đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giữ sự yên bình
cho đất nước ta, không vì chút lợi lộc mà đi lầm đường, không vì lòng tham mà 18
bóc lột, lợi dụng người khác, hướng đến sự phát triển nền kinh tế bền vững. 1.4.
Ảnh hưởng tích cực của Phật giáo đến Môi sinh, môi trường.
Không chỉ chú trọng cách thức giao tiếp trong quan hệ giữa người với người, Đức
Phật còn chú trọng đến cả cách thức ứng xử của con người với môi trường thiên
nhiên. Từ trong giáo lý nguyên thủy của mình, Đức Phật đã khuyên con người
nên chung sống hài hòa với thiên nhiên. Hạn chế dục vọng, sống hòa mình với
muôn loài cỏ cây, hoa lá, chim muông, yêu thương cả con sâu, cái kiến… đã trở
thành những chuẩn mực trong đạo đức Phật giáo. Một trong những điều răn trong
“Ngũ giới” của Phật giáo là “cấm sát sinh”, tức không chỉ cấm giết người mà còn
cấm giết các loài động vật khác. Mùa An cư kiết hạ hàng năm mà Giáo hội Phật
giáo các nước đang thực hiện cũng bắt nguồn từ lời răn của Đức Phật là không làm hại các sinh linh khác.
Ngay từ buổi đầu mới du nhập vào Việt Nam, quan niệm sống hài hoà với thiên
nhiên của Phật giáo đã nhanh chóng được người dân Việt đón nhận, vì nó phù hợp
với điều kiện và môi trường sống của người Việt. Tôn trọng tự nhiên, sống hài hòa
với tự nhiên đã trở thành một trong những lẽ sống của người Việt. Lẽ sống ấy đã
đi vào thi ca, nhạc họa và trở thành một phần tất yếu trong cuộc sống của người
Việt Nam.Sống hài hoà và giữ gìn những món quà do thiên nhiên ban tặng, hiện
nay Việt Nam đã hình thành và phát triển hơn 30 vườn quốc gia và nhiều khu bảo
tồn thiên nhiên khác, mang đến những di sản được thế giới công nhận. 1.5.
Ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo.
Bên cạnh những mặt tích cực thì Phật giáo cũng có những mặt hạn chế đối với xã 19