I/ Thực trạng chất thải hiện nay ở Việt Nam
1/ Chất thải là gì ? Phân loại
-Chất thải là vật chất thể rắn, lỏng, khí hoặc dạng khác được thải ra từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. những
vật chất người dùng không còn muốn sử dụng thải ra hay nói cách
khác rác. Chúng thể gây ô nhiễm môi trường hoặc nguy hiểm đến sức
khỏe con người nếu không được xửđúng cách. Như vậy, bạn có thể tìm thấy
chất thải xung quanh cuộc sống của chính mình, bất nơi đâu, từ nhà đến
chỗ làm việc, từ thành phố đến nông thôn. ngày nay, môi trường đang trở
nên càng ô nhiễm do khối lượng lớn chất thải mà con người thải ra mỗi ngày.
- Với sự phát triển nhanh của hội, chất thải được sinh ra nhiều hơn. Điều này
có nghĩa là một lượng lớn rác thải được tạo ra mỗi năm và tăng một cách không
mong muốn. Nhiều rác thải hơn nghĩa nhiều n sự tiêu thụ lãng phí
nguồn tài nguyên. Phân loại là điều cần thiết để giảm nguồn chất thải. Mục tiêu
của việc phân loại này giảm tối đa khối lượng rác thải cần xử lý, hạn chế
nguy ô nhiễm môi trường. Mang lại lượng lớn sản phẩm tái chế, nâng cao
hiệu quả kinh tế cho người dân bằng cáchn phế liệu, tận dụng làm phân bón
vi sinh. Phân loại rác tại nguồn còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường, tận dụng triệt để nguồn tài nguyên hợp lý, y dựng không gian sống
trong lành, sạch sẽ. Giảm tối đa lượng công việc cho công nhân thu gom rác
thải. Tiết kiệm chi phí thu gom, vận chuyển, xử rác một cách hiệu quả
nhất. Có 2 cách để phân loại chất thải bao gồm: phân loại theo nguồn gốc phát
sinh phân loại theo mức độ nguy hiểm. Theo cách phân loạiy, rác sẽ bao
gồm các loại như sau:
Chất thải theo nguồn gốc phát sinh:
Chất thải từ môi trường sinh hoạt: Rác thải sinh hoạt là các chất, các vật
do con người động vật trong quá trình sống, sinh hoạt, sản xuất loại
bỏ ra ngoài môi trường. Nói chung thành phần của chất thải sinh hoạt
bao gồm các chất vô cơ như kim loại, cao su, giấy, thủy tinh các chất
hữu như thực phẩm thừa thãi, xác động vật rất nhiều các chất
khác. Đặc biệt túi nilon đây chất quan ngại trong việc xử chất
thải sinh hoạt của người dân. Đây là loại rác chiếm tỷ lệ cao nhất bởi rác
sinh hoạt được sinh ra từ bất kỳ đâu, từ hộ gia đình, khu chung cư, khu
mua sắm, khu công cộng, khu xây dựng, bệnh viện, văn phòng,…
vậy, nếu không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường.
Chất thải từ nông nghiệp: là những đồ vật, những chất được thải ra trong
quá trình làm nông nghiệp của con người, được biết đến những lọ
thuốc trừ sâu, những túi, vỏ thuốc đã được sử dụng. Những rác thải này
không được vứt đúng chỗ, xử đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường.
Chất thải xây dựng: Đây chất thải sinh ra từ quá trình xây dựng, sửa
chữa, và phá dỡ các công trình xây dựng. Bao gồm các vật liệu xây dựng
không sử dụng, đất đá, gạch, xi măng, vật liệu cách nhiệt, và các vật liệu
xây dựng khác. Ví dụ như: cát, đá,…
Chất thải y tế: Chất thải từ các sở y tế các hoạt động y tế, bao
gồm các loại rác từ bệnh viện, phòng mạch, và cơ sở chăm sóc sức khỏe.
Bao gồm các loại chất thải độc hại như dụng cụ y tế, vật liệu chăm sóc
sức khỏe, chất thải y tế nguy hại khác.gồm các dạng: rắn, lỏng, khí
bao gồm kim tiêm, băng gạc, găng tay, vật liệu tiêu hao từ quá trình
chăm sóc sức khỏe,...
Chất thải công nghiệp: là loại rác gây ô nhiễm môi trường một cách trầm
trọng nếu chúng không được xử đúng cách. Những loại chất thải này
thành phần cực độc thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người
như: Chất hóa học, chất tẩy rửa, nước thải nhiễm chất hóa học, phế liệu
công nghiệp. Một vài nơi, có khu công nghiệp thải chất thải chưa qua xử
lý ra môi trường làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, khiến người dân
ở khu vực xung quanh dễ mắc các bệnh như ung thư, đột biến gen,…
Chất thải từ tự nhiên: một số loại rác phát sinh từ môi trường tự nhiên
như lá cây rụng, cành cây, cỏ, bùn đất,..
Chất thải thương mại: gồm rác ở các cửa hàng, trạm xăng dầu, nhà hàng,
khách sạn…
Chất thải công sở: gồm rác trường học, cơ quan, bệnh viện, nhà thờ…
Rác quét đường: vỏ lon, bao bì, lá cây…
Chất thải vệ sinh: sự yếu kém của hệ thống cống rãnh, nhà tiêu, bể
phốt…
Chất thải theo mức độ nguy hiểm:
-Chất thải thể được phân loại dựa trên mức độ nguy hiểm của chúng. Dưới
đây là các loại chất thải thông thường được phân loại theo mức độ nguy hiểm:
Rác thải nguy hiểm đây loại chất thải thể gây hại cho sức khỏe
con người hoặc môi trường nếu không được xử đúng cách. Chất thải
này thể bao gồm hóa chất độc hại như axit, kiềm, dung môi hữu cơ,
thuốc trừ sâu, chất phóng xạ, và các kim loại nặng như thủy ngân và chì.
Rác thải không nguy hiển đây loại chất thải không chứa các thành
phần độc hại hoặc nguy hiểm đối với con người hoặc môi trường. dụ
bao gồm chất thải hữu cơ từ sinh hoạt hàng ngày, giấy, nhựa không chứa
hóa chất độc hại, và thủy tinh.
Chất thải độc hại đặc biệt: Đây loại chất thải có mức độ nguy hiểm
cao hơn so với chất thải nguy hiểm thông thường u cầu quy trình
xử đặc biệt. dụ bao gồm chất thải y tế nguy hiểm, chất thải hóa
chất độc hại nguồn gốc từ các công nghiệp hoặc nghiên cứu, chất
thải chứa kim loại nặng trong điện tử.
Chất thải nguy hiểm đặc biệt: Đây loại chất thải nguy hiểm tính
chất đặc biệt đòi hỏi biện pháp xử loại bỏ đặc biệt, thường gặp
trong các ngành công nghiệp như hóa dầu, hóa chất, hoặc năng lượng
hạt nhân.
Chất thải gây ra nhiều vấn đề cho môi trường và sức khỏe con người, bao gồm sự
ô nhiễm môi trường, khí hậu, sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm, nguy
cháy nổ. Do đó, việc quản xử chất thải một vấn đề cấp bách trong các
khu dân đô thị. Việc phân loại rác thải tại nguồn, tăng cường công tác thu
gom, tái chế, tái sử dụng xử chất thải các giải pháp hiệu quả để giảm
thiểu tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe con người.
2/ Theo dạng chất thải, bao gồm:
-Chất thải dạng lỏng như: nước phân, nước tiểu, nước chế biến thức ăn, nước tắm rửa
giặt giũ trong nhà, nước ở cộng đồng dân cư, đường phố, nước mưa..
-Chất thải đặc như: phân người, phân gia súc, rác nhà rác trên đường phố,
quan và chợ.
3/ Số liệu về chất thải tại Việt Nam:
- Thực trạng chất thải Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều thách thức,
bao gồm sự gia tăng về lượng chất thải sinh hoạt công nghiệp, đồng thời còn
tồn tại vấn đề về việc xử tái chế chất thải không hiệu quả, gây ô nhiễm môi
trường ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Cần sự chú trọng vào việc phát
triển các giải pháp xử chất thải bền vững thúc đẩy nhận thức cộng đồng về việc
tái chế và giảm thiểu lượng chất thải sản xuất.
-Hiện nay, sự gia tăng về kinh tế cũng như phát triển dân số không ngừng đã
khiến cho thực trạng rác thải sinh hoạt tại Việt Nam ngày càng tồi tệ. Đặc biệt
tại các thành phố lớn mật độ dân số cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
như Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… Đây còn vấn đề gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới môi trường hệ sinh thái của nước ta. Theo số liệu thống
mới nhất, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh nước ta hiện nay
khoảng 24,5 triệu tấn chất thải rắn công nghiệp 8,1 triệu tấn. Ước tính,
mỗi ngày nước ta xả ra khoảng 2.500 tấn rác thải nhựa từ 0,28 đến 0,73
triệu tấn được xả ra đại dương. Đại diện Chương trình Môi trường Liên Hợp
Quốc cho biết, lượng rác thải nhựa trên biển của nước ta nhiều thứ 4 thế giới,
chỉ sau Trung Quốc, Indonesia Philippines. Việt Nam tổng cộng 112 cửa
biển và 80% rác thải trên biển đều trôi ra từ đây.
-Trong đó đáng phải kể nhất đó rác thải nhựa. Việc lạm dụng s dụng sản
phẩm nhựa, nhất túi nilon khó phân huỷ, sản phẩm nhựa dùng một lần đã
đang để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, vấn đề ô nhiễm
nhựa, đặc biệt ô nhiễm nhựa đại dương vấn đề thật sự đáng báo động, đã,
đang và sẽ gây thiệt hại to lớn cho môi trường sinh thái nước ta Theo số liệu.
thống từ Bộ Tài nguyên Môi trường, mỗi năm tại Việt Nam khoảng
1,8 triệu tấn rác thải nhựa thải ra môi trường, 0,28 triệu đến 0,73 triệu tấn trong
số đó bị thải ra biển - nhưng chỉ 27% trong số đó được tái chế, tận dụng bởi các
sở, doanh nghiệp. Điều đáng nói việc xử tái chế rác thải nhựa còn
nhiều hạn chế khi có đến 90% rác thải nhựa được xử lý theo cách chôn, lấp, đốt
và chỉ có 10% còn lại là được tái chế.Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ
từ rác thải nhựa. Lượng rác thải nhựa gia tăng nhanh chóng, năm 2014 khoảng
1,8 triệu tấn/năm, năm 2016 khoảng 2,0 triệu tấn/năm hiện nay khoảng 3,27
triệu tấn/năm được tạo ra tại Việt Nam. Khối lượng rác thải nhựa đổ ra biển
mỗi năm khoảng 0,28 - 0,73 triệu tấn/năm (chiếm gần 6% tổng lượng rác thải
nhựa xả ra biển của thế giới). Tại Việt Nam, bình quân mỗi hộ gia đình sử dụng
khoảng 1kg túi nilon/tháng, riêng hai thành phố lớn Nội Thành phố
Hồ Chí Minh, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn rác thải
nhựa túi nilon. Những con số trên cho thấy tình hình rác thải nhựa Việt
Nam thật đáng báo động, đòi hỏi chúng ta phải chung tay, nâng cao ý thức
nhân mới có thể cùng nhau bảo vệ môi trường.
-Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại đô thị hiện nay đạt khoảng 70% đến 85% và
nông thôn chỉ khoảng 40% đến 55%. Đối với hoạt động công nghiệp, tỷ lệ
thu gom rác thải rắn đạt chỉ 31%. Phương pháp xử rác thải phổ biến nhất
nước ta vẫn chôn lấp đốt thủ công. Cả nước hiện có hơn 660 bãi chôn lấp
nhưng chỉ khoảng 120 bãi hợp vệ sinh. Theo phạm vi, nơi tỷ lệ phát sinh
rác thải nhiều nhất khu vực Đông Nam Bộ đồng bằng sông Hồng. Điều
này đã đang nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường một cách
nghiêm trọng.
-rất nhiều nguyên nhân khiến việc xử rác thải nước ta vẫn còn hạn chế,
chẳng hạn như: Rác chưa được phân loại tại nguồn; Thiếu công nghệ; Thiếu
nguồn lực;….Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất vẫn thiếu quy định giải pháp
đồng bộ. Hiện nay, Việt Nam đang đặt ra mục tiêu xử lý rác thải đô thị đạt 90%
vào năm 2025 100% vào năm 2050. Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi mỗi
ngườin phải chủ động trong vấn đề phân loại vứt rác đúng nơi quy định,
Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật đầu nghiên cứu nhiều hơn
nữa về quy trình xử lý rác thải.
II.Ảnh hưởng chất thải đến đời sống xã hội:
1. Chất thải rắn:
1.1 Tác động đến môi trường tự nhiên:
a. Tác động đến môi trường đất và cảnh quan:
-Do đặc tính về kích thước các thành phần khó phân hủy như nhựa, cao su, vải,
…, tác động dễ dàng nhận thấy nhất của rác thải rắn hình ảnh những bãi rác gây
mất thẩm mỹ tại các khu vực cộng đồng, khu đô thị và dân cư.
-Đồng thời các bãi rác tự phát mọc lên khi chất thải rắn sinh hoạt được đổ trực tiếp
lên mặt đất làm axit hóa đất do tác dụng của các vi sinh vật. Bên cạnh đó, các chất
hại trong đất do thấm nước rỉ từ rác sự tích tụ các kim loại nặng góp phần
làm ô nhiễm môi trường đất.
-Chất thải rắn thể chứa các chất độc hại chất ô nhiễm, khi được bỏ phi
hoặc không xử đúng cách, chúng có thể thẩm thấu vào đất gây ra ô nhiễm
đất. Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của thực vật, động vật, cả con người
thông qua việc tiêu thụ thực phẩm từ đất ô nhiễm.
b. Tác động đến môi trường nước :
Chất thải rắn thể gây ra ô nhiễm nước khi chúng được thải ra vào môi trường
không qua quá trình xử hoặc tái chế đúng cách. Các chất độc hại trong chất
thải rắn có thể làm suy giảm chất lượng nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của hệ sinh
thái nước và cả con người khi sử dụng nước.
Chất thải rắn sinh hoạt khi thải vào các nguồn nước gây ra:
- Rác thải nổi trên bề mặt nước gây mất mỹ quan, ngoài ra còn cảm trở ánh sáng
gây khó khăn cho quá trình quang hợp của các thực vật dưới nước.
- Các chất thải rắn sinh hoạt lửng trong nước, nhất các loại nhựa, dây,…
quấn vào các sinh vật dưới nước gây chết cho các loại thủy hải sản và quấn vào
động cơ của các tàu thuyền làm cảm trở quá trình giao thông đường thủy.
- Còn các chất thải lắng xuống đáy làm tăng khối lượng trầm tích. Quá trình
phân hủy kỵ khí sinh ra các loại khí độc hại, đặc biệt khí H2S làm ngộ độc
cho các loại thủy hải sản.
Thậm chí khi rác thải được chôn lấp hợp vệ sinh thì cũng gây ô nhiễm môi trường
nước do nước rỉ rác không được xử đạt yêu cầu. Do ý thức của người dân
lượng lớn chất thải bị thải xuống mạng lưới thoát nước làm cho nhiều đoạn cống bị
tắc nghẽn.
c. Tác động đến môi trường không khí:
Trong quá trình phân hủy các chất hữu khả năng phân hủy sinh học trong
chất thải rắn sinh hoạt sẽ phát sinh mùi khó chịu. Các hợp chất phát sinh mùi như
sau:
- Hydro sunfua (H2S): là sản phẩm phân hủy kỵ khí của các loại đạm có chứa S,
mùi “trứng thối” . Nếu độ pH < 6,0, H2S sẽ gây mùi hôi thối không bị
phân ly. Khi độ pH > 6,5, H2S sẽ bị phân ly hoàn toàn thành HS- S2-
không tạo ra mùi hôi thối. Và vì bãi chôn lấp dài ngày có pH cao nên không thể
phát hiện được Hydro sunfua.
- Mercaptan: Chất này cũng sản phẩm của quá trình phân hủy kỵ khí của các
loại đạm có S, tuy nhiên nồng độ của Mercaptan rất thấp.
- Các loại axit béo bay hơi: Quá trình phân hủy kỵ khí của các chất hữu
(cacbohydrat, protein lipit) thường hình thành 3 loại sau: CH3COOH C2,
CH3CH2COOH C3, CH3CH2CH2COOH C4. Hỗn hợp của 3 loại axit béo
này gây mùi hôi thối rất khó chịu.
Mặt khác, ở trên đỉnh gần bãi chôn lấp thường ít mùi do đặc thù tạo khí của
bãi chôn lấp, nhưng mùi có độ đậm đặc hơn ở các khoảng cách xa hơn ngoài phạm
vi bãi.
Ngoài ra còn phát sinh thêm nhiều loại khí nhà kính khí gây ô nhiễm môi
trường như:
- Khí CO2: 35 – 40% thể tích khí trong bãi chôn lấp.
- Phosphin (PH3): nếu hít khí này nồng độ 0,3 1,0 ppm sẽ gây nhiễm động
và có khả năng gây sảy thai.
- Khí metan: chiếm 45 – 65% thể tích trong bãi chôn lấp, là loại khí có hiệu suất
gây hiệu ứng nhà kính gấp 21 lần so với CO2.
- Khí amoniac (NH3): chiếm tỉ lệ thấp trong bãi chôn lấp.
Bên cạnh đó khí thải từ đốt chất thải rắn sinh hoạt như: CO, dioxin/furan, kim
loại,…cũng có khả năng làm ô nhiễm môi trường không khí nếu không có các biện
pháp kiểm soát, xử lý đảm bảo.
Tóm lại, chất thải rắn ảnh hưởng đáng kể đến môi trường tự nhiên, gây ra
nhiều vấn đề từ ô nhiễm đất nước đến sự ảnh hưởng đến sinh vật hoang
các vấn đề liên quan đến thay đổi khí hậu. Để giảm thiểu ảnh hưởng của chất thải
rắn, cần các biện pháp hiệu quả để giảm lượng chất thải, tái chế xử chúng
một cách bền vững.
1.2Tác động đến sức khỏe cộng đồng :
Khoảng 71% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt hiện nay được thu gom trên cả
nước được xử bằng biện pháp chôn lấp, nhưng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh chỉ
có khoảng 20% . Do bãi chôn lấp là nơi thích hợp để các loài ruồi nhặng, chuột bọ
các loại sinh vật gây bệnh phát triển trú. Với một chu kỳ sinh trưởng rất
ngắn, các loại sinh vật này sẽ nguồn phát tán bệnh tật đối với các khu dân
xung quanh nếu không được xử hợp lý. Chúng gây các bệnh nhiễm khuẩn
đường hấp các bệnh đường hấp khác như: hen phế quản, viêm đường
hấp, dị ứng, ung thư phổi. Chịu nhiều ảnh hưởng của các yêu tố địa hình, khí hậu,
các nguồn chất thải lỏng rắn,…nên quá trình vận hành bãi chôn lấp dẫn đến sự
thay đổi thành phần vi sinh vật trong không khí theo chiều hướng tiêu cực, bao
gồm như sau:
- Tăng chủng loại số lượng các loại nấm hoại sinh, nấm độc nấm gây
bệnh.
- Tăng nhanh các chất gây dị ứng trong không khí, yếu tố gây dị ứng tại chỗ
và dị ứng da.
- Tăng số lượng các vi khuẩn gây bệnh (vi khuẩn tan máu, các vi khuẩn đường
ruột,…)
- Các xe vận tải chở rác, máy xúc, máy ủi làm việc…là điều kiện thuận lợi để
các loại ruồi nhặng, chuột, gián…phát triển nhiều, tạo điều kiện đem các vi
khuẩn, các loại nấm gây bệnh các chất dị ứng theo gió lan truyền ra các
khu vực ngoài bãi chôn lấp. Đây chính một trong các nguyên nhân làm các
bệnh về mũi họng, các bệnh ngoài da và đường hô hấp gia tăng.
Các bãi chôn lấp: đây nơi các bệnh truyền nhiễm như lỵ, thương hàn, tả…phát
sinh, là nơi các loại sinh vật trung gian, đặc biệt ruồi. Chúng phát triển, sinh sản
vận chuyển các mầm bệnh từ bãi rác tới nơi chế biến thức ăn ở các hộ gia đình.
Các mảnh vỡ thủy tinh, bơm kim tiêm cũ, các vật sắc nhọn…là mối đe dọa nguy
hiểm đến sức khỏe con người khi dẫn phải.
Các mối nguy gây ô nhiễm không khí, đất, nước ảnh hưởng đến sức khỏe con
người, đặc biệt các dân sống xung quanh khu vực chứa chất thải. Ô nhiễm
môi trường làm ảnh hưởng đến nguồn thức ăn, các chất ô nhiễm trong đất,
nước, không khí nhiễm vào các loại thực phẩm như động vật, rau…Việc đốt cháy
chất thải rắn, đặc biệtchất thải hữu cơ, có thể tạo ra khói, khí độc các hạt bụi
mịn, gây ra ô nhiễm không khí. Các chất ô nhiễm như khí CO2, khí sulfur dioxide
(SO2), các chất hữu bay hơi (VOCs) thể gây ra các vấn đề hấp như
hen suyễn, viêm phổi và các bệnh về đường hô hấp khác.
Ngoài ra trong phân người, phân gia súc còn chứa các loại mầm bệnh gây truyền
nhiễm đường ruột: vi khuẩn tả, thương hàn,…các virusy bệnh gan, bại liệt,…
các loại ký sinh trùng và đặc biệt là trứng giun sán…
Việc thải bỏ chất thải rắn sinh hoạt bừa bãi trên đường, các khu đất trống hay các
bãi chôn lấp không hợp vệ sinh dẫn đến sự sinh sản của các loại côn trùng, gián,
chuột và bọ chét (vật trung gian phát tán bệnh dịch hạch).
Bên cạnh đó, người dân tự đốt chất thải rắn sinh hoạt dẫn đến trong quá trình đốt
làm phát sinh bụi, hơi nước khí thải (CO, dioxin/furan, axit, kim loại) làm góp
phần gây nên các bệnh về hen suyễn, tim, làm tổn thương đến hệ thần kinh đặc
biệt dioxin/furan có khả năng gây ung thư rất cao.
Tóm lại, chất thải rắn có thể có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của cộng đồng
từ nhiều khía cạnh khác nhau, đòi hỏi sự chú ý hành động kịp thời từ cả chính
phủ và cộng đồng để giảm thiểu tác động tiêu cực này.
1.3Tác động đến phát triển kinh tế, xã hội:
a. Chi phí quản lý chất thải rắn sinh hoạt ngày càng tăng:
-Do sự gia tăng dân số độ phổ biến của các đồ dùng một lần đã khiến cho lượng
chất thải rắn sinh hoạt ngày càng tăng, dẫn đến chi phí quản lý cũng đã tăng theo.
-Chi phí xử lý: Xử chất thải rắn đòi hỏi một khoản đầu lớn từ cả chính phủ
các doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm việc thu gom, vận chuyển, xử tái chế
chất thải. Việc tiêu tốn nhiều nguồn lực kinh tế này thể ảnh hưởng đến i nguyên
và ngân sách của một quốc gia hoặc một cộng đồng.
Trong mỗi năm, các thành phố phải chi trả để thực hiện các hoạt động quản
chất thải rắn sinh hoạt với con số lên đến hàng nghìn tỷ đồng, gồm: thu gom chất
thải từ các nguồn phát sinh, trên đường phố; trung chuyển và vận chuyển; xử lý; vệ
sinh quét dọn đường phố, các nơi công cộng; vớt chất thải rắn trên sông. Ngoài
ra, chưa tính đến các chi phí về đất (do tiền thuê đất không phải trả), chi phí khám
và chữa bệnh cho người dân do ô nhiễm gây nên, tại nạn do vận chuyển,…
b. Tác động đến ngành du lịch
-Chất thải rắn chưa được xử triệt để hợp dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi
trường nhất một số bãi tắm ven bờ, gần nhà hàng, khu dân cư…chất thải một
số khu du lịch biển càng gia tăng, trong đó ý thức bảo vệ môi trường của du khách
người dân còn kém, chất thải thực phẩm được vứt bừa i trên các cáci
tắm, ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm năng khai thác du lịch.
-Các khu vực chứa các sở xử chất thải hoặc chôn lấp thể không hấp dẫn
cho du khách du lịch. Điều này thể làm giảm thu nhập từ ngành du lịch
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của các khu vực này.
c. Gây xung đột, bất ổn xã hội
- Các vụ xung đột do chất thải rắn gây ra được tiếp diễn thường xuyên, chủ yếu do
vận chuyển, lưu giữ, chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt, xả thải. Gần đây vào ngày
23 tháng 12 năm 2019, người dân tại Nam Sơn Hồng Kỳ đã tập trung tại
cổng sau phía tỉnh lộ 35 hướng vào bãi rác Nam Sơn để chặn đường không cho xe
chở rác vào bãi. Do hàng chục năm phải chịu ảnh hưởng với mùi hôi thối ô
nhiễm từ khu vực xử lý chất thải. Kết quả, khiến cho rác bị tồn đọng và ùn ứ lượng
lớn.
-Chất thải rắn thường tập trung các khu vực nghèo ít phát triển, gây ra sự bất
bình đẳng hội tạo ra một môi trường sống không an toàn cho cộng đồng.
Ngoài ra, mùi hôi và ô nhiễm từ các khu vực chứa chất thải có thể gây ra sự không
hài lòng và phản đối từ cộng đồng địa phương.
Tóm lại, chất thải rắntác động đáng kể đến phát triển kinh tế hội bằng
cách tạo ra các chi phí xử lý, làm giảm tiềm năng tài nguyên, ảnh hưởng đến du
lịch du lịch, gây ra s bất bình đẳng thách thức về quản môi trường. Để
giảm thiểu ảnh hưởng này, cần các biện pháp hiệu quả để quản xử chất
thải rắn một cách bền vững.
2. Chất thải lỏng:
Chất thải lỏng bao gồm: nước phân, nước tiểu, nước chế biến thức ăn, nước tắm
rửa giặt giũ trong gia đình, nước cộng đồng dân cư, đường phố, nước mưa…
nước thải sinh hoạt được cho có nồng dộ ô nhiễm cao, chứa thuốc trừ sâu, nhiều
chất bẩn độc hại, vi khuẩn, virus…nên nếu không được xử theo quy định sẽ gây
tổn hại đến sức khỏe con người.
2.1 Ảnh hưởng đến môi trường đất:
-Chất thải lỏng khi ngấm vào đất sẽ làm biến đổi các thành phần trong đất, gây
ảnh hưởng cho các loại cây trồng trên vùng đất ô nhiễm, từ đó gây hại đến chất
lượng cây trồng làm giảm lượng dinh dưỡng trong đất, gây nhiễm mặn
làm ảnh hưởng đến cấu trúc đất. Bên cạnh đó, khi chất thải lỏng ô nhiễm ngấm vào
lòng đất cũng đồng thời ngấm vào mạch nước ngầm, khi người dân sdụn nguồn
nước ngầm cũng sẽ dễ mắc các bệnh về đường ruột, đường tiêu hóa. Nước thải bị
đọng các bãi rác, cống rãnh còn nơi trú ngụ của một số loại vi sinh vật,
chuột gây truyền nhiễm bệnh dịch hạch, sốt vàng chảy máu cho con người.
2.2 :Ảnh hưởng đến môi trường không khí
-Ảnh hưởng rõ rệt nhất đó thông qua mùi hôi thối bốc lên bất thường, các chất
sau khi phân hủy sẽ tạo ra các khí độc như H2S, CO2 gây nên hiệu ứng nhà
kính. Mùi hôi thối sẽ trở nên nồng nặc hơn khi thời tiết nóng bức, gây ảnh hưởng
đến đời sống sinh hoạt của người dân, làm giảm năng suất lao động do mất khả
năng tập trung. Điều này làm cho sức khỏe của con người dần hao mòn, giảm tuổi
thọ và dễ mắc các bệnh phổi và các bệnh về đường hô hấp.
2.3Ảnh hưởng đến những nguồn nước khác:
-Chất thải lỏng mang các thành phần độc hại hòa lẫn vào các nguồn nước khác
khiến cho hàm lượng và cấu trúc của các chất có trong nguồn nước đó cũng bị thay
đổi theo, nếu con người chúng ta sử dụng lại các nguồn nước này thì sẽ rất nguy
hại cho sức khỏe. Đối với các vùng gần sông hay kênh rạch, chất thải lỏng sẽ được
trực tiếp thải ra đây, gây ô nhiễm nguồn nước gây ảnh hưởng xấu đến các sinh
vật sống dưới nước. Nguồn nước sạch thay đổi do nhiễm các loại hóa chất độc hại
các hợp chất hữu phân hủy các vi sinh vật hại cho sức khỏe con người,
nguồn nước sạch tất nhiên trở thành nguồn lây bệnh cho các quần thể sinh vật
xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến con người.
-Chất thải rắn không được xử đúng cách thể làm tăng nguy ô nhiễm nước
bề mặt nước ngầm. Khi chất thải rắn được đặt trong các khu vực chôn lấp
không an toàn hoặc không có hệ thống xử hiệu quả, các chất hóa học vi sinh
vật có thể thấm vào nước ngầm và gây ra ô nhiễm.
2.4Ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
Con người khi sử dụng nguồn nước thải ô nhiễm, lâu dần về sau sẽ dẫn đến các
bệnh đường ruột, viêm hấp, viêm da, kiết lị, ung thư, ngộ độc, biến đổi
gen...nguồn nước ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp khi con người ăn uống hoặc tắm
rửa, ảnh hưởng gián tiếp khi con người sử dụng thực phẩm, sử dụng nước bị ô
nhiễm hoặc ăn cá/động vật ăn nước.
Tóm lại, chất thải rắn có thểảnh hưởng lớn đến chất thải lỏng bằng cách gây
ra ô nhiễm, tăng hàm lượng hữu cơ, tạo ra chất thải lỏng độc hại làm giảm khả
năng xử lý. Để giảm thiểu ảnh hưởng này, cần các biện pháp hiệu quả để quản
lý và xử lý cả chất thải rắn và chất thải lỏng một cách bền vững.
III.Các giải pháp giảm thiểu chất thải:
1.Giảm thiểu chất thải:
- Giảm thiểu chất thải một bộ quy trình thực hành nhằm giảm thiểu lượng
chất thải tạo ra. Bằng cách giảm thiểu hoặc loại bỏ sự phát sinh những chất thải
hại khó phân hủy, quy trình giảm thiểu chất thải hỗ trợ những nỗ lực thúc đẩy
một xã hội bền vững hơn.
-Giảm thiểu chất thải sẽ giúp nhiều quốc gia tiết kiệm nguyên liệu, hạn chế tác
động đến môi trường, bảo vệ sức khỏe con người giảm chi phí xử lý. Khi giảm
thiểu chất thải thì quá trình xử cũng giảm theo. Điều này đồng nghĩa với việc
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý khí thải ở các lò đốt dễ dàng, hiệu quả.
2.Vai trò của xử lý chất thải:
-Hiện tại các công trình vệ sinh để quản tập trung, xử các chất thải còn thiếu
về số lượng kém chất lượng- đặt biệt những vùng sâu, vùng xa, vùng nông
thôn còn nhiều khó khăn.
-Người dân một số vùng vẫn còn thói quen tập quán sử dụng phân người
gia súc chưa được xử lý để bón ruộng và nuôi cá.
- Tốc độ phát triển dân số nhanh, mật độ dân số phân bố không đều, đô thị hóa
phát triển nhanh khi trình độ văn hóa chưa được nâng cao, do đó những kiến thức
về vệ sinh môi trường nói chung là chưa được phổ cập rộng rãi.
3.Xử lý chất thải:
* Có một số hình thức chủ yếu sau:
-Xử lý chất thải của con người gồm: phân, nước tiểu.
-Xử lý rác.
-Xử lý chất thải lỏng.
* Quản lý chất thải:
-Giảm thiểu nguồn phát sinh.
-Tái sử dụng-tái chế.
-Thu hồi năng lượng từ chất thải rắn.
-Chôn lắp hợp vệ sinh.
3.1 Xử lý chất thải của con người :
Biện pháp chủ yếu s dụng các nhà tiêu hợp vệ sinh.Có một s hình thức nhà
tiêu hợp vệ sinh đang được sử dụng sau đây:
*Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ:
-Loại nhà tiêu này chỉ được áp dụng những vùng nông thôn sử dụng phân đã
ủ để làm phân bón và không ngập nước.
-Nguyên tắc của nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ:
+ Có hai ngăn riêng biệt, một ngăn phòng uế và một ngăn ủ, hai ngăn này sử dụng
luân phiên nhau.
+ Có hệ thống dẫn nước tiểu riêng biệt.
+ Có đủ chất độn (đất mịn hoặc tro bếp…).
- Quy định về xây dựng:
+ Tường ngăn chứa phân kín không bị rò rỉ, thấm nước.
+ Cửa lấy mùn phân được trát kín bằng vật liệu không thấm nước.
+ Mặt sàn, máng rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước tiểu. nắp đậy
hai
lỗ tiêu.
+ Nhà tiêu được che kín, ngăn được nước mưa.
+ Ống thông hơi (đối với nhà tiêu hai ngăn có ống thông hơi) có đường kính ít
nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn ruồi.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Sàn nhà tiêu sạch không có giấy, rác.
+ Giấy bẩn cho vào lỗ tiêu hoặc cho vào dụng cụ nắp đậy. Không mùi hôi,
thối.
+ Không có côn trùng hoặc ruồi trong nhà tiêu.
+Không sử dụng đồng thời hai ngăn.
+ Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu sau mỗi lần đi tiêu.
+ Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước (nếu có) và dụng cụ chứa nước tiểu.
Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng.
+ Lỗ tiêu ở ngăn đang sử dụng luôn được đậy kín, ở ngăn ủ được trát kín.
* Nhà tiêu chìm có ống thông hơi (áp dụng cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa):
- Quy định về xây dựng:
+ Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng.
+ Các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt từ 10m trở lên.
+ Mặt sàn, máng rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước tiểu. Miệng hố
phân
cao hơn mặt đất xung quanh ít nhất 20cm.
+ Có nắp đậy lỗ tiêu.
+ Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa, ống thông hơi có đương kính
ít nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn ruồi.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy rác. Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu.
+ Không có mùi hôi, thối.
+ Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu.
+ Không có bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước tiểu.
+ Lỗ tiêu thường xuyên được đậy kín.
* Nhà tiêu thấm dội nước (áp dụng cho vùng nông thôn)
- Quy định về xây dựng:
+ Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng.
+ Các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt từ 10m trở lên.
+ Bể chứa phân không bị lún, sụt,thánh bể cao hơn mặt đất ít nhất 20cm. Nắp bể
chưa phân được trát kín, không bị rạn nứt.
+ Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước. Bệ xí có nút nước.
+ Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không thấm, tràn ra mặt đất.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy.
+ Không có mùi hôi thối.
+ Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác.
+ Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy
bẩn có nắp đậy.
+ Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu. Bệ xi sạch, không dính đọng phân,
nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa.
* Nhà tiêu tự hoại:
- Quy định về xây dựng:
+ Bể xử lý gồm 3 ngăn.
+ Bể chứa phân không bị lún sụt.
+ Nắp phân chứa phân được trát kín, không bị rạn nứt. Mặt sàn nhà tiêu phẳng
nhẵn
và không đọng nước.
+ Bệ xí có nút nước. Có ống thông hơi.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bị gậy. Không có mùi hôi thối.
+ Nước từ bệ chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tự do ra xung quanh.
Sàn
nhà tiêu sạch, không có rêu trơn giấy, rác.
+ Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy
bẩn có nắp đậy.
+ Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu. Bệ xí sạch, không dính, đọng phân.
+ Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa.
4.2.2. Xử lý rác.
- Ngoài phân người gia súc thì những chất thải dạng đặc rắn còn được gọi
rác. Rác cũng nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, không khí.
nơi sinh sản nhiều loại vi sinh vật gây bệnh truyền bệnh. Trong quá trình đô thị
hóa, các thành phố, thị xã, khu công nghiệp, khu chế xuất… ngày càng phát triển
thì lượng rác thải từ các khu vực đó cũng ngày càng nhiều. dụ: Nội trong
những năm cuối thế kỷ XX, lượng rác thải ra hằng ngày là dưới 3000m3. Trong đó
có những loại rác rất nguy hiểm như rác thải ra từ các bệnh viện.
.- Lượng rác này không xử kịp thời sẽ gây ra những phiền toái, trở ngại trong
sản xuất. Rác công nghiệp thể tái chế, phân loại, chôn lấp, thiêu đốt..là tùy theo
đặc điểm của từng loại. nước ta hiện nay một số giải pháp xử rác thải như
sau:
+ Xử lí theo phương pháp tự nhiên là đánh đống ở ngoài trời và ủ.
+ Đối với các loại rác không còn chết biến được nữa thì đem chôn lấp hợp vệ sinh.
Hiện nay, các chất thải của Nội được đem chon lấp tại một số địa điểm quy
định, chúng được cho vào từng hố và được lấp một loại đất trơ lèn chặt.
+ Tái chế rác từ nhà máy giấy thành nhiên liệu đốt cho lò hơi.
* Rác ở bệnh viện là một loại rác đặc biệt, do đó phải có biện pháp xử lí riêng theo
Quyết định số 2575/1999QĐ-BYT ngày 27/08/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế nguy hại áp dụng cho các thành phố lớn: Tại
bệnh viện đặt lò đốt.
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế áp dụng cho các thị xã.
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế đối với các trung tâm y tế huyện.
+ hình thiêu đốt chất thải rắn y tế đối với các phòng khám đa khoa, nhà hộ
sinh,
trạm y tế xã.
- Chôn lấp chất thải
+ Qui định về chôn lấp chải trong qui chế quản lý chất thải y tế: áp dụng cho cơ sở
y tế chưa có điều kiện thiêu đốt và không chôn lẫn chất thải sinh hoạt, chôn tại khu
vực qui định.
+ Yêu cầu đối với chôn lấp chất thải y tế: không áp dụng với chất thải y tế nguy
hại
chưa qua xử lý ban đầu.
+ Chôn lấp chất thải tại bãi chôn lấp chất thải của thành phố: Chất thải y tế không
nguy hại, không có điều kiện xử lý.
+ Chôn lấp chất thải trong khuôn viên bệnh viện: áp dụng với bệnh viện vùng sâu,
vùng xa và là tạm thời.
- Phương pháp chôn lấp chất thải sau khi đã đóng gói: cho chất thải vào thùng
kim loại hoặc thùng nhựa 3/4 cho thêm bột nhựa, vữa xi măng.. sau khi khô gắn,
chôn lấp..
- Phương pháp làm trơ hóa: Dùng máy nghiền chất thải trộn với vôi, xi măng để
khô hoặc chôn lấp.
4.2.3. Xử lý chất thải lỏng.
- Chất thải lỏng bao gồm: nước thải từ các khu chung cư, các hộ gia đình và các cơ
quan.
- Cấu trúc của hệ thống xử chất thải lỏng một hệ thống cống. Hệ thống cống
nàycó ưu điểm đảm nhận việc tập trung vận chuyển toàn bộ chất lỏng một
cách hoàn chỉnh cả về mặt vệ sinh dịch tễ, bảo vệ được môi trường không bị ô
nhiễm.
- Hệ thống cống, bao gồm:
+ Hệ thống cống chung để đưa tất cả các loại nước thải và nước mưa vào cho
một mạng lưới ống cống.
+ Hệ thống cống riêng biệt gồm hai hệ thống riêng để dẫn nước thải sinh hoạt hằng
ngày nước thải công g nghiệp. Nước mưa thì được dẫn qua một hệ thống cống
riêng và qua xử lí sơ bộ rồi được dấn ngay vào bể nước.
+ Hệ thống cống không hoàn toang riêng biệt gồm hai mạng lưới cống dẫn nước
phân một phần nước mưa. Trong hệ thống những ống nối liền với nhau.
Phần còn lại của nước mưa được đi riêng, qua xử lắng cặn được dẫn vào bể
nước.
- Bảo quản, sử dụng hệ thống cống:
+ Tại các hộ gia đình, ống cống được làm bằng sành hay bê tông xi măng đúc. Hệ
thống cống phải được lắp kín.
+ Hệ thống cống tự chảy ngoài đường, phải có đủ độ dốc để chất thải tự chảy.
Ống phải chắc chắn, không thấm nước, mặt trong phải nhẵn, ống được đặt sâu
dưới đất
để tránh bị vỡ khi có các phương tiện giao thông đi qua.
- Một số công trình xử lí nước thải gồm:
+ Làm sạch cơ học: Nước thải phải được chảy qua lưới chắn bể lắng cát để giữ lại
cặn cặn lửng, sau đó đến bể lắng thực sự. Cuối cùng nước thải được
làm trong
và khử trùng.
+ Làm sạch sinh học bằng cánh đồng tưới, cánh đồng lọc.

Preview text:

I/ Thực trạng chất thải hiện nay ở Việt Nam
1/ Chất thải là gì ? Phân loại
-Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Là những
vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra hay nói cách
khác là rác. Chúng có thể gây ô nhiễm môi trường hoặc nguy hiểm đến sức
khỏe con người nếu không được xử lý đúng cách. Như vậy, bạn có thể tìm thấy
chất thải ở xung quanh cuộc sống của chính mình, ở bất kì nơi đâu, từ nhà đến
chỗ làm việc, từ thành phố đến nông thôn. Và ngày nay, môi trường đang trở
nên càng ô nhiễm do khối lượng lớn chất thải mà con người thải ra mỗi ngày.
- Với sự phát triển nhanh của xã hội, chất thải được sinh ra nhiều hơn. Điều này
có nghĩa là một lượng lớn rác thải được tạo ra mỗi năm và tăng một cách không
mong muốn. Nhiều rác thải hơn có nghĩa là nhiều hơn sự tiêu thụ và lãng phí
nguồn tài nguyên. Phân loại là điều cần thiết để giảm nguồn chất thải. Mục tiêu
của việc phân loại này là giảm tối đa khối lượng rác thải cần xử lý, hạn chế
nguy cơ ô nhiễm môi trường. Mang lại lượng lớn sản phẩm tái chế, nâng cao
hiệu quả kinh tế cho người dân bằng cách bán phế liệu, tận dụng làm phân bón
vi sinh. Phân loại rác tại nguồn còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường, tận dụng triệt để nguồn tài nguyên hợp lý, xây dựng không gian sống
trong lành, sạch sẽ. Giảm tối đa lượng công việc cho công nhân thu gom rác
thải. Tiết kiệm chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác một cách hiệu quả
nhất. Có 2 cách để phân loại chất thải bao gồm: phân loại theo nguồn gốc phát
sinh và phân loại theo mức độ nguy hiểm. Theo cách phân loại này, rác sẽ bao gồm các loại như sau:
Chất thải theo nguồn gốc phát sinh:
Chất thải từ môi trường sinh hoạt: Rác thải sinh hoạt là các chất, các vật
do con người và động vật trong quá trình sống, sinh hoạt, sản xuất loại
bỏ ra ngoài môi trường. Nói chung thành phần của chất thải sinh hoạt
bao gồm các chất vô cơ như kim loại, cao su, giấy, thủy tinh và các chất
hữu cơ như thực phẩm thừa thãi, xác động vật và rất nhiều các chất
khác. Đặc biệt là túi nilon đây là chất quan ngại trong việc xử lý chất
thải sinh hoạt của người dân. Đây là loại rác chiếm tỷ lệ cao nhất bởi rác
sinh hoạt được sinh ra từ bất kỳ đâu, từ hộ gia đình, khu chung cư, khu
mua sắm, khu công cộng, khu xây dựng, bệnh viện, văn phòng,… vì
vậy, nếu không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng lớn đến môi trường.
Chất thải từ nông nghiệp: là những đồ vật, những chất được thải ra trong
quá trình làm nông nghiệp của con người, nó được biết đến là những lọ
thuốc trừ sâu, những túi, vỏ thuốc đã được sử dụng. Những rác thải này
không được vứt đúng chỗ, xử lý đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Chất thải xây dựng: Đây
là chất thải sinh ra từ quá trình xây dựng, sửa
chữa, và phá dỡ các công trình xây dựng. Bao gồm các vật liệu xây dựng
không sử dụng, đất đá, gạch, xi măng, vật liệu cách nhiệt, và các vật liệu
xây dựng khác. Ví dụ như: cát, đá,…
Chất thải y tế: Chất thải từ các cơ sở y tế và các hoạt động y tế, bao
gồm các loại rác từ bệnh viện, phòng mạch, và cơ sở chăm sóc sức khỏe.
Bao gồm các loại chất thải độc hại như dụng cụ y tế, vật liệu chăm sóc
sức khỏe, và chất thải y tế nguy hại khác.gồm các dạng: rắn, lỏng, khí
bao gồm kim tiêm, băng gạc, găng tay, vật liệu tiêu hao từ quá trình chăm sóc sức khỏe,...
Chất thải công nghiệp: là loại rác gây ô nhiễm môi trường một cách trầm
trọng nếu chúng không được xử lý đúng cách. Những loại chất thải này
có thành phần cực độc có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người
như: Chất hóa học, chất tẩy rửa, nước thải nhiễm chất hóa học, phế liệu
công nghiệp. Một vài nơi, có khu công nghiệp thải chất thải chưa qua xử
lý ra môi trường làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, khiến người dân
ở khu vực xung quanh dễ mắc các bệnh như ung thư, đột biến gen,…
Chất thải từ tự nhiên: một số loại rác phát sinh từ môi trường tự nhiên
như lá cây rụng, cành cây, cỏ, bùn đất,..
Chất thải thương mại: gồm rác ở các cửa hàng, trạm xăng dầu, nhà hàng, khách sạn…
Chất thải công sở: gồm rác trường học, cơ quan, bệnh viện, nhà thờ…
Rác quét đường: vỏ lon, bao bì, lá cây…
Chất thải vệ sinh: sự yếu kém của hệ thống cống rãnh, nhà tiêu, bể phốt…
Chất thải theo mức độ nguy hiểm:
-Chất thải có thể được phân loại dựa trên mức độ nguy hiểm của chúng. Dưới
đây là các loại chất thải thông thường được phân loại theo mức độ nguy hiểm:
Rác thải nguy hiểm là đây là loại chất thải có thể gây hại cho sức khỏe
con người hoặc môi trường nếu không được xử lý đúng cách. Chất thải
này có thể bao gồm hóa chất độc hại như axit, kiềm, dung môi hữu cơ,
thuốc trừ sâu, chất phóng xạ, và các kim loại nặng như thủy ngân và chì.
Rác thải không nguy hiển là đây là loại chất thải không chứa các thành
phần độc hại hoặc nguy hiểm đối với con người hoặc môi trường. Ví dụ
bao gồm chất thải hữu cơ từ sinh hoạt hàng ngày, giấy, nhựa không chứa
hóa chất độc hại, và thủy tinh.
Chất thải độc hại đặc biệt: Đây là loại chất thải có mức độ nguy hiểm
cao hơn so với chất thải nguy hiểm thông thường và yêu cầu quy trình
xử lý đặc biệt. Ví dụ bao gồm chất thải y tế nguy hiểm, chất thải hóa
chất độc hại có nguồn gốc từ các công nghiệp hoặc nghiên cứu, và chất
thải chứa kim loại nặng trong điện tử.
Chất thải nguy hiểm đặc biệt: Đây là loại chất thải nguy hiểm có tính
chất đặc biệt đòi hỏi biện pháp xử lý và loại bỏ đặc biệt, thường gặp
trong các ngành công nghiệp như hóa dầu, hóa chất, hoặc năng lượng hạt nhân.
Chất thải gây ra nhiều vấn đề cho môi trường và sức khỏe con người, bao gồm sự
ô nhiễm môi trường, khí hậu, sự lây lan của các bệnh truyền nhiễm, và nguy cơ
cháy nổ. Do đó, việc quản lý và xử lý chất thải là một vấn đề cấp bách trong các
khu dân cư và đô thị. Việc phân loại rác thải tại nguồn, tăng cường công tác thu
gom, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải là các giải pháp hiệu quả để giảm
thiểu tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe con người.
2/ Theo dạng chất thải, bao gồm:
-Chất thải dạng lỏng như: nước phân, nước tiểu, nước chế biến thức ăn, nước tắm rửa
giặt giũ trong nhà, nước ở cộng đồng dân cư, đường phố, nước mưa..
-Chất thải đặc như: phân người, phân gia súc, rác ở nhà rác ở trên đường phố, ở cơ quan và chợ.
3/ Số liệu về chất thải tại Việt Nam:
- Thực trạng chất thải ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều thách thức,
bao gồm sự gia tăng về lượng chất thải sinh hoạt và công nghiệp, đồng thời còn
tồn tại vấn đề về việc xử lý và tái chế chất thải không hiệu quả, gây ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng. Cần có sự chú trọng vào việc phát
triển các giải pháp xử lý chất thải bền vững và thúc đẩy nhận thức cộng đồng về việc
tái chế và giảm thiểu lượng chất thải sản xuất.
-Hiện nay, sự gia tăng về kinh tế cũng như phát triển dân số không ngừng đã
khiến cho thực trạng rác thải sinh hoạt tại Việt Nam ngày càng tồi tệ. Đặc biệt
là tại các thành phố lớn có mật độ dân số cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh
như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng,… Đây còn là vấn đề gây ảnh hưởng
nghiêm trọng tới môi trường và hệ sinh thái của nước ta. Theo số liệu thống kê
mới nhất, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở nước ta hiện nay
khoảng 24,5 triệu tấn và chất thải rắn công nghiệp là 8,1 triệu tấn. Ước tính,
mỗi ngày nước ta xả ra khoảng 2.500 tấn rác thải nhựa và có từ 0,28 đến 0,73
triệu tấn được xả ra đại dương. Đại diện Chương trình Môi trường Liên Hợp
Quốc cho biết, lượng rác thải nhựa trên biển của nước ta nhiều thứ 4 thế giới,
chỉ sau Trung Quốc, Indonesia và Philippines. Việt Nam có tổng cộng 112 cửa
biển và 80% rác thải trên biển đều trôi ra từ đây.
-Trong đó đáng phải kể nhất đó là rác thải nhựa. Việc lạm dụng sử dụng sản
phẩm nhựa, nhất là túi nilon khó phân huỷ, sản phẩm nhựa dùng một lần đã và
đang để lại những hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường, vấn đề ô nhiễm
nhựa, đặc biệt là ô nhiễm nhựa đại dương là vấn đề thật sự đáng báo động, đã,
đang và sẽ gây thiệt hại to lớn cho môi trường sinh thái ở nước ta Theo . số liệu
thống kê từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm tại Việt Nam có khoảng
1,8 triệu tấn rác thải nhựa thải ra môi trường, 0,28 triệu đến 0,73 triệu tấn trong
số đó bị thải ra biển - nhưng chỉ 27% trong số đó được tái chế, tận dụng bởi các
cơ sở, doanh nghiệp. Điều đáng nói là việc xử lý và tái chế rác thải nhựa còn
nhiều hạn chế khi có đến 90% rác thải nhựa được xử lý theo cách chôn, lấp, đốt
và chỉ có 10% còn lại là được tái chế.Việt Nam đang đối mặt với nhiều nguy cơ
từ rác thải nhựa. Lượng rác thải nhựa gia tăng nhanh chóng, năm 2014 khoảng
1,8 triệu tấn/năm, năm 2016 khoảng 2,0 triệu tấn/năm và hiện nay khoảng 3,27
triệu tấn/năm được tạo ra tại Việt Nam. Khối lượng rác thải nhựa đổ ra biển
mỗi năm khoảng 0,28 - 0,73 triệu tấn/năm (chiếm gần 6% tổng lượng rác thải
nhựa xả ra biển của thế giới). Tại Việt Nam, bình quân mỗi hộ gia đình sử dụng
khoảng 1kg túi nilon/tháng, riêng hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn rác thải
nhựa và túi nilon. Những con số ở trên cho thấy tình hình rác thải nhựa ở Việt
Nam thật đáng báo động, đòi hỏi chúng ta phải chung tay, nâng cao ý thức cá
nhân mới có thể cùng nhau bảo vệ môi trường.
-Tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại đô thị hiện nay đạt khoảng 70% đến 85% và
ở nông thôn chỉ khoảng 40% đến 55%. Đối với hoạt động công nghiệp, tỷ lệ
thu gom rác thải rắn đạt chỉ 31%. Phương pháp xử lý rác thải phổ biến nhất ở
nước ta vẫn là chôn lấp và đốt thủ công. Cả nước hiện có hơn 660 bãi chôn lấp
nhưng chỉ khoảng 120 bãi là hợp vệ sinh. Theo phạm vi, nơi có tỷ lệ phát sinh
rác thải nhiều nhất là khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng. Điều
này đã và đang là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường một cách nghiêm trọng.
-Có rất nhiều nguyên nhân khiến việc xử lý rác thải ở nước ta vẫn còn hạn chế,
chẳng hạn như: Rác chưa được phân loại tại nguồn; Thiếu công nghệ; Thiếu
nguồn lực;….Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất vẫn là thiếu quy định và giải pháp
đồng bộ. Hiện nay, Việt Nam đang đặt ra mục tiêu xử lý rác thải đô thị đạt 90%
vào năm 2025 và 100% vào năm 2050. Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi mỗi
người dân phải chủ động trong vấn đề phân loại và vứt rác đúng nơi quy định,
Nhà nước phải hoàn thiện hệ thống pháp luật và đầu tư nghiên cứu nhiều hơn
nữa về quy trình xử lý rác thải.
II.Ảnh hưởng chất thải đến đời sống xã hội: 1. Chất thải rắn:
1.1 Tác động đến môi trường tự nhiên:
a. Tác động đến môi trường đất và cảnh quan:
-Do đặc tính về kích thước và các thành phần khó phân hủy như nhựa, cao su, vải,
…, tác động dễ dàng nhận thấy nhất của rác thải rắn là hình ảnh những bãi rác gây
mất thẩm mỹ tại các khu vực cộng đồng, khu đô thị và dân cư.
-Đồng thời các bãi rác tự phát mọc lên khi chất thải rắn sinh hoạt được đổ trực tiếp
lên mặt đất làm axit hóa đất do tác dụng của các vi sinh vật. Bên cạnh đó, các chất
có hại trong đất do thấm nước rỉ từ rác và sự tích tụ các kim loại nặng góp phần
làm ô nhiễm môi trường đất.
-Chất thải rắn có thể chứa các chất độc hại và chất ô nhiễm, khi được bỏ phi lê
hoặc không xử lý đúng cách, chúng có thể thẩm thấu vào đất và gây ra ô nhiễm
đất. Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe của thực vật, động vật, và cả con người
thông qua việc tiêu thụ thực phẩm từ đất ô nhiễm.
b. Tác động đến môi trường nước :
Chất thải rắn có thể gây ra ô nhiễm nước khi chúng được thải ra vào môi trường
mà không qua quá trình xử lý hoặc tái chế đúng cách. Các chất độc hại trong chất
thải rắn có thể làm suy giảm chất lượng nước, ảnh hưởng đến sức khỏe của hệ sinh
thái nước và cả con người khi sử dụng nước.
Chất thải rắn sinh hoạt khi thải vào các nguồn nước gây ra:
- Rác thải nổi trên bề mặt nước gây mất mỹ quan, ngoài ra còn cảm trở ánh sáng
gây khó khăn cho quá trình quang hợp của các thực vật dưới nước.
- Các chất thải rắn sinh hoạt lơ lửng trong nước, nhất là các loại nhựa, dây,…
quấn vào các sinh vật dưới nước gây chết cho các loại thủy hải sản và quấn vào
động cơ của các tàu thuyền làm cảm trở quá trình giao thông đường thủy.
- Còn các chất thải lắng xuống đáy làm tăng khối lượng trầm tích. Quá trình
phân hủy kỵ khí sinh ra các loại khí độc hại, đặc biệt là khí H2S làm ngộ độc
cho các loại thủy hải sản.
Thậm chí khi rác thải được chôn lấp hợp vệ sinh thì cũng gây ô nhiễm môi trường
nước do nước rỉ rác không được xử lý đạt yêu cầu. Do ý thức của người dân và
lượng lớn chất thải bị thải xuống mạng lưới thoát nước làm cho nhiều đoạn cống bị tắc nghẽn.
c. Tác động đến môi trường không khí:
Trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học trong
chất thải rắn sinh hoạt sẽ phát sinh mùi khó chịu. Các hợp chất phát sinh mùi như sau:
- Hydro sunfua (H2S): là sản phẩm phân hủy kỵ khí của các loại đạm có chứa S,
có mùi “trứng thối” . Nếu độ pH < 6,0, H2S sẽ gây mùi hôi thối và không bị
phân ly. Khi độ pH > 6,5, H2S sẽ bị phân ly hoàn toàn thành HS- và S2- và
không tạo ra mùi hôi thối. Và vì bãi chôn lấp dài ngày có pH cao nên không thể
phát hiện được Hydro sunfua.
- Mercaptan: Chất này cũng là sản phẩm của quá trình phân hủy kỵ khí của các
loại đạm có S, tuy nhiên nồng độ của Mercaptan rất thấp.
- Các loại axit béo bay hơi: Quá trình phân hủy kỵ khí của các chất hữu cơ
(cacbohydrat, protein và lipit) thường hình thành 3 loại sau: CH3COOH – C2,
CH3CH2COOH – C3, CH3CH2CH2COOH – C4. Hỗn hợp của 3 loại axit béo
này gây mùi hôi thối rất khó chịu.
Mặt khác, ở trên đỉnh và gần bãi chôn lấp thường có ít mùi do đặc thù tạo khí của
bãi chôn lấp, nhưng mùi có độ đậm đặc hơn ở các khoảng cách xa hơn ngoài phạm vi bãi.
Ngoài ra còn phát sinh thêm nhiều loại khí nhà kính và khí gây ô nhiễm môi trường như:
- Khí CO2: 35 – 40% thể tích khí trong bãi chôn lấp.
- Phosphin (PH3): nếu hít khí này ở nồng độ 0,3 – 1,0 ppm sẽ gây nhiễm động
và có khả năng gây sảy thai.
- Khí metan: chiếm 45 – 65% thể tích trong bãi chôn lấp, là loại khí có hiệu suất
gây hiệu ứng nhà kính gấp 21 lần so với CO2.
- Khí amoniac (NH3): chiếm tỉ lệ thấp trong bãi chôn lấp.
Bên cạnh đó khí thải từ lò đốt chất thải rắn sinh hoạt như: CO, dioxin/furan, kim
loại,…cũng có khả năng làm ô nhiễm môi trường không khí nếu không có các biện
pháp kiểm soát, xử lý đảm bảo.
 Tóm lại, chất thải rắn có ảnh hưởng đáng kể đến môi trường tự nhiên, gây ra
nhiều vấn đề từ ô nhiễm đất và nước đến sự ảnh hưởng đến sinh vật hoang dã và
các vấn đề liên quan đến thay đổi khí hậu. Để giảm thiểu ảnh hưởng của chất thải
rắn, cần có các biện pháp hiệu quả để giảm lượng chất thải, tái chế và xử lý chúng một cách bền vững.
1.2 Tác động đến sức khỏe cộng đồng :
Khoảng 71% khối lượng chất thải rắn sinh hoạt hiện nay được thu gom trên cả
nước được xử lý bằng biện pháp chôn lấp, nhưng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh chỉ
có khoảng 20% . Do bãi chôn lấp là nơi thích hợp để các loài ruồi nhặng, chuột bọ
và các loại sinh vật gây bệnh phát triển và cư trú. Với một chu kỳ sinh trưởng rất
ngắn, các loại sinh vật này sẽ là nguồn phát tán bệnh tật đối với các khu dân cư
xung quanh nếu không được xử lý hợp lý. Chúng gây các bệnh nhiễm khuẩn
đường hô hấp và các bệnh đường hô hấp khác như: hen phế quản, viêm đường hô
hấp, dị ứng, ung thư phổi. Chịu nhiều ảnh hưởng của các yêu tố địa hình, khí hậu,
các nguồn chất thải lỏng và rắn,…nên quá trình vận hành bãi chôn lấp dẫn đến sự
thay đổi thành phần vi sinh vật trong không khí theo chiều hướng tiêu cực, bao gồm như sau:
- Tăng chủng loại và số lượng các loại nấm hoại sinh, nấm độc và nấm gây bệnh.
- Tăng nhanh các chất gây dị ứng trong không khí, là yếu tố gây dị ứng tại chỗ và dị ứng da.
- Tăng số lượng các vi khuẩn gây bệnh (vi khuẩn tan máu, các vi khuẩn đường ruột,…)
- Các xe vận tải chở rác, máy xúc, máy ủi làm việc…là điều kiện thuận lợi để
các loại ruồi nhặng, chuột, gián…phát triển nhiều, tạo điều kiện đem các vi
khuẩn, các loại nấm gây bệnh và các chất dị ứng theo gió mà lan truyền ra các
khu vực ngoài bãi chôn lấp. Đây chính là một trong các nguyên nhân làm các
bệnh về mũi họng, các bệnh ngoài da và đường hô hấp gia tăng.
Các bãi chôn lấp: đây là nơi các bệnh truyền nhiễm như lỵ, thương hàn, tả…phát
sinh, là nơi các loại sinh vật trung gian, đặc biệt là ruồi. Chúng phát triển, sinh sản
và vận chuyển các mầm bệnh từ bãi rác tới nơi chế biến thức ăn ở các hộ gia đình.
Các mảnh vỡ thủy tinh, bơm kim tiêm cũ, các vật sắc nhọn…là mối đe dọa nguy
hiểm đến sức khỏe con người khi dẫn phải.
Các mối nguy cơ gây ô nhiễm không khí, đất, nước ảnh hưởng đến sức khỏe con
người, đặc biệt là các dân cư sống xung quanh khu vực chứa chất thải. Ô nhiễm
môi trường làm ảnh hưởng đến nguồn thức ăn, các chất ô nhiễm có trong đất,
nước, không khí nhiễm vào các loại thực phẩm như động vật, rau…Việc đốt cháy
chất thải rắn, đặc biệt là chất thải hữu cơ, có thể tạo ra khói, khí độc và các hạt bụi
mịn, gây ra ô nhiễm không khí. Các chất ô nhiễm như khí CO2, khí sulfur dioxide
(SO2), và các chất hữu cơ bay hơi (VOCs) có thể gây ra các vấn đề hô hấp như
hen suyễn, viêm phổi và các bệnh về đường hô hấp khác.
Ngoài ra trong phân người, phân gia súc còn chứa các loại mầm bệnh gây truyền
nhiễm đường ruột: vi khuẩn tả, thương hàn,…các virus gây bệnh gan, bại liệt,…
các loại ký sinh trùng và đặc biệt là trứng giun sán…
Việc thải bỏ chất thải rắn sinh hoạt bừa bãi trên đường, các khu đất trống hay các
bãi chôn lấp không hợp vệ sinh dẫn đến sự sinh sản của các loại côn trùng, gián,
chuột và bọ chét (vật trung gian phát tán bệnh dịch hạch).
Bên cạnh đó, người dân tự đốt chất thải rắn sinh hoạt dẫn đến trong quá trình đốt
làm phát sinh bụi, hơi nước và khí thải (CO, dioxin/furan, axit, kim loại) làm góp
phần gây nên các bệnh về hen suyễn, tim, làm tổn thương đến hệ thần kinh và đặc
biệt dioxin/furan có khả năng gây ung thư rất cao.
 Tóm lại, chất thải rắn có thể có ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của cộng đồng
từ nhiều khía cạnh khác nhau, đòi hỏi sự chú ý và hành động kịp thời từ cả chính
phủ và cộng đồng để giảm thiểu tác động tiêu cực này.
1.3 Tác động đến phát triển kinh tế, xã hội:
a. Chi phí quản lý chất thải rắn sinh hoạt ngày càng tăng:
-Do sự gia tăng dân số và độ phổ biến của các đồ dùng một lần đã khiến cho lượng
chất thải rắn sinh hoạt ngày càng tăng, dẫn đến chi phí quản lý cũng đã tăng theo.
-Chi phí xử lý: Xử lý chất thải rắn đòi hỏi một khoản đầu tư lớn từ cả chính phủ và
các doanh nghiệp. Chi phí này bao gồm việc thu gom, vận chuyển, xử lý và tái chế
chất thải. Việc tiêu tốn nhiều nguồn lực kinh tế này có thể ảnh hưởng đến tài nguyên
và ngân sách của một quốc gia hoặc một cộng đồng.
Trong mỗi năm, các thành phố phải chi trả để thực hiện các hoạt động quản lý
chất thải rắn sinh hoạt với con số lên đến hàng nghìn tỷ đồng, gồm: thu gom chất
thải từ các nguồn phát sinh, trên đường phố; trung chuyển và vận chuyển; xử lý; vệ
sinh và quét dọn đường phố, các nơi công cộng; vớt chất thải rắn trên sông. Ngoài
ra, chưa tính đến các chi phí về đất (do tiền thuê đất không phải trả), chi phí khám
và chữa bệnh cho người dân do ô nhiễm gây nên, tại nạn do vận chuyển,…
b. Tác động đến ngành du lịch
-Chất thải rắn chưa được xử lý triệt để và hợp lý dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi
trường nhất là ở một số bãi tắm ven bờ, gần nhà hàng, khu dân cư…chất thải một
số khu du lịch biển càng gia tăng, trong đó ý thức bảo vệ môi trường của du khách
và người dân còn kém, chất thải và thực phẩm được vứt bừa bãi trên các các bãi
tắm, ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm năng khai thác du lịch.
-Các khu vực chứa các cơ sở xử lý chất thải hoặc chôn lấp có thể không hấp dẫn
cho du khách và du lịch. Điều này có thể làm giảm thu nhập từ ngành du lịch và
ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của các khu vực này.
c. Gây xung đột, bất ổn xã hội
- Các vụ xung đột do chất thải rắn gây ra được tiếp diễn thường xuyên, chủ yếu do
vận chuyển, lưu giữ, chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt, xả thải. Gần đây là vào ngày
23 tháng 12 năm 2019, người dân tại xã Nam Sơn và Hồng Kỳ đã tập trung tại
cổng sau phía tỉnh lộ 35 hướng vào bãi rác Nam Sơn để chặn đường không cho xe
chở rác vào bãi. Do hàng chục năm phải chịu ảnh hưởng với mùi hôi thối và ô
nhiễm từ khu vực xử lý chất thải. Kết quả, khiến cho rác bị tồn đọng và ùn ứ lượng lớn.
-Chất thải rắn thường tập trung ở các khu vực nghèo và ít phát triển, gây ra sự bất
bình đẳng xã hội và tạo ra một môi trường sống không an toàn cho cộng đồng.
Ngoài ra, mùi hôi và ô nhiễm từ các khu vực chứa chất thải có thể gây ra sự không
hài lòng và phản đối từ cộng đồng địa phương.
 Tóm lại, chất thải rắn có tác động đáng kể đến phát triển kinh tế và xã hội bằng
cách tạo ra các chi phí xử lý, làm giảm tiềm năng tài nguyên, ảnh hưởng đến du
lịch và du lịch, gây ra sự bất bình đẳng và thách thức về quản lý môi trường. Để
giảm thiểu ảnh hưởng này, cần có các biện pháp hiệu quả để quản lý và xử lý chất
thải rắn một cách bền vững.
2. Chất thải lỏng:
Chất thải lỏng bao gồm: nước phân, nước tiểu, nước chế biến thức ăn, nước tắm
rửa giặt giũ trong gia đình, nước ở cộng đồng dân cư, đường phố, nước mưa…
nước thải sinh hoạt được cho là có nồng dộ ô nhiễm cao, chứa thuốc trừ sâu, nhiều
chất bẩn độc hại, vi khuẩn, virus…nên nếu không được xử lý theo quy định sẽ gây
tổn hại đến sức khỏe con người.
2.1 Ảnh hưởng đến môi trường đất:
-Chất thải lỏng khi ngấm vào đất sẽ làm biến đổi các thành phần có trong đất, gây
ảnh hưởng cho các loại cây trồng trên vùng đất ô nhiễm, từ đó gây hại đến chất
lượng cây trồng và làm giảm lượng dinh dưỡng có trong đất, gây nhiễm mặn và
làm ảnh hưởng đến cấu trúc đất. Bên cạnh đó, khi chất thải lỏng ô nhiễm ngấm vào
lòng đất cũng đồng thời ngấm vào mạch nước ngầm, khi người dân sử dụn nguồn
nước ngầm cũng sẽ dễ mắc các bệnh về đường ruột, đường tiêu hóa. Nước thải bị
ứ đọng ở các bãi rác, cống rãnh còn là nơi trú ngụ của một số loại vi sinh vật,
chuột gây truyền nhiễm bệnh dịch hạch, sốt vàng chảy máu cho con người.
2.2 Ảnh hưởng đến môi trường không khí:
-Ảnh hưởng rõ rệt nhất đó là thông qua mùi hôi thối bốc lên bất thường, các chất
sau khi phân hủy sẽ tạo ra các khí độc như H2S, CO2 và gây nên hiệu ứng nhà
kính. Mùi hôi thối sẽ trở nên nồng nặc hơn khi thời tiết nóng bức, gây ảnh hưởng
đến đời sống sinh hoạt của người dân, làm giảm năng suất lao động do mất khả
năng tập trung. Điều này làm cho sức khỏe của con người dần hao mòn, giảm tuổi
thọ và dễ mắc các bệnh phổi và các bệnh về đường hô hấp.
2.3 Ảnh hưởng đến những nguồn nước khác:
-Chất thải lỏng mang các thành phần độc hại hòa lẫn vào các nguồn nước khác
khiến cho hàm lượng và cấu trúc của các chất có trong nguồn nước đó cũng bị thay
đổi theo, nếu con người chúng ta sử dụng lại các nguồn nước này thì sẽ rất nguy
hại cho sức khỏe. Đối với các vùng gần sông hay kênh rạch, chất thải lỏng sẽ được
trực tiếp thải ra đây, gây ô nhiễm nguồn nước và gây ảnh hưởng xấu đến các sinh
vật sống dưới nước. Nguồn nước sạch thay đổi do nhiễm các loại hóa chất độc hại
các hợp chất hữu cơ phân hủy và các vi sinh vật có hại cho sức khỏe con người,
nguồn nước sạch tất nhiên trở thành nguồn lây bệnh cho các quần thể sinh vật
xung quanh và ảnh hưởng trực tiếp đến con người.
-Chất thải rắn không được xử lý đúng cách có thể làm tăng nguy cơ ô nhiễm nước
bề mặt và nước ngầm. Khi chất thải rắn được đặt trong các khu vực chôn lấp
không an toàn hoặc không có hệ thống xử lý hiệu quả, các chất hóa học và vi sinh
vật có thể thấm vào nước ngầm và gây ra ô nhiễm.
2.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người:
Con người khi sử dụng nguồn nước thải ô nhiễm, lâu dần về sau sẽ dẫn đến các
bệnh đường ruột, viêm hô hấp, viêm da, kiết lị, ung thư, ngộ độc, biến đổi
gen...nguồn nước ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp khi con người ăn uống hoặc tắm
rửa, ảnh hưởng gián tiếp khi con người sử dụng thực phẩm, sử dụng nước bị ô
nhiễm hoặc ăn cá/động vật ăn nước.
 Tóm lại, chất thải rắn có thể có ảnh hưởng lớn đến chất thải lỏng bằng cách gây
ra ô nhiễm, tăng hàm lượng hữu cơ, tạo ra chất thải lỏng độc hại và làm giảm khả
năng xử lý. Để giảm thiểu ảnh hưởng này, cần có các biện pháp hiệu quả để quản
lý và xử lý cả chất thải rắn và chất thải lỏng một cách bền vững.
III.Các giải pháp giảm thiểu chất thải:
1.Giảm thiểu chất thải:
- Giảm thiểu chất thải là một bộ quy trình và thực hành nhằm giảm thiểu lượng
chất thải tạo ra. Bằng cách giảm thiểu hoặc loại bỏ sự phát sinh những chất thải có
hại và khó phân hủy, quy trình giảm thiểu chất thải hỗ trợ những nỗ lực thúc đẩy
một xã hội bền vững hơn.
-Giảm thiểu chất thải sẽ giúp nhiều quốc gia tiết kiệm nguyên liệu, hạn chế tác
động đến môi trường, bảo vệ sức khỏe con người và giảm chi phí xử lý. Khi giảm
thiểu chất thải thì quá trình xử lý cũng giảm theo. Điều này đồng nghĩa với việc
tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xử lý khí thải ở các lò đốt dễ dàng, hiệu quả.
2.Vai trò của xử lý chất thải:
-Hiện tại các công trình vệ sinh để quản lý tập trung, xử lý các chất thải còn thiếu
về số lượng và kém chất lượng- đặt biệt là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn còn nhiều khó khăn.
-Người dân ở một số vùng vẫn còn thói quen và tập quán sử dụng phân người và
gia súc chưa được xử lý để bón ruộng và nuôi cá.
- Tốc độ phát triển dân số nhanh, mật độ dân số phân bố không đều, đô thị hóa
phát triển nhanh khi trình độ văn hóa chưa được nâng cao, do đó những kiến thức
về vệ sinh môi trường nói chung là chưa được phổ cập rộng rãi.
3.Xử lý chất thải:
* Có một số hình thức chủ yếu sau:
-Xử lý chất thải của con người gồm: phân, nước tiểu. -Xử lý rác.
-Xử lý chất thải lỏng. * Quản lý chất thải:
-Giảm thiểu nguồn phát sinh. -Tái sử dụng-tái chế.
-Thu hồi năng lượng từ chất thải rắn. -Chôn lắp hợp vệ sinh.
3.1 Xử lý chất thải của con người :
Biện pháp chủ yếu là sử dụng các nhà tiêu hợp vệ sinh.Có một số hình thức nhà
tiêu hợp vệ sinh đang được sử dụng sau đây:
*Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ:
-Loại nhà tiêu này chỉ được áp dụng ở những vùng nông thôn có sử dụng phân đã
ủ để làm phân bón và không ngập nước.
-Nguyên tắc của nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ:
+ Có hai ngăn riêng biệt, một ngăn phòng uế và một ngăn ủ, hai ngăn này sử dụng luân phiên nhau.
+ Có hệ thống dẫn nước tiểu riêng biệt.
+ Có đủ chất độn (đất mịn hoặc tro bếp…).
- Quy định về xây dựng:
+ Tường ngăn chứa phân kín không bị rò rỉ, thấm nước.
+ Cửa lấy mùn phân được trát kín bằng vật liệu không thấm nước.
+ Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước tiểu. Có nắp đậy hai lỗ tiêu.
+ Nhà tiêu được che kín, ngăn được nước mưa.
+ Ống thông hơi (đối với nhà tiêu hai ngăn có ống thông hơi) có đường kính ít
nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn ruồi.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Sàn nhà tiêu sạch không có giấy, rác.
+ Giấy bẩn cho vào lỗ tiêu hoặc cho vào dụng cụ có nắp đậy. Không có mùi hôi, thối.
+ Không có côn trùng hoặc ruồi trong nhà tiêu.
+Không sử dụng đồng thời hai ngăn.
+ Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu sau mỗi lần đi tiêu.
+ Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước (nếu có) và dụng cụ chứa nước tiểu.
Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng.
+ Lỗ tiêu ở ngăn đang sử dụng luôn được đậy kín, ở ngăn ủ được trát kín.
* Nhà tiêu chìm có ống thông hơi (áp dụng cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa):
- Quy định về xây dựng:
+ Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng.
+ Các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt từ 10m trở lên.
+ Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước tiểu. Miệng hố phân
cao hơn mặt đất xung quanh ít nhất 20cm. + Có nắp đậy lỗ tiêu.
+ Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa, ống thông hơi có đương kính
ít nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn ruồi.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy rác. Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu.
+ Không có mùi hôi, thối.
+ Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu.
+ Không có bọ gậy trong các dụng cụ chứa nước tiểu.
+ Lỗ tiêu thường xuyên được đậy kín.
* Nhà tiêu thấm dội nước (áp dụng cho vùng nông thôn)
- Quy định về xây dựng:
+ Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng.
+ Các nguồn nước ăn uống, sinh hoạt từ 10m trở lên.
+ Bể chứa phân không bị lún, sụt,thánh bể cao hơn mặt đất ít nhất 20cm. Nắp bể
chưa phân được trát kín, không bị rạn nứt.
+ Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước. Bệ xí có nút nước.
+ Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không thấm, tràn ra mặt đất.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy. + Không có mùi hôi thối.
+ Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác.
+ Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy.
+ Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu. Bệ xi sạch, không dính đọng phân,
nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa. * Nhà tiêu tự hoại:
- Quy định về xây dựng: + Bể xử lý gồm 3 ngăn.
+ Bể chứa phân không bị lún sụt.
+ Nắp phân chứa phân được trát kín, không bị rạn nứt. Mặt sàn nhà tiêu phẳng nhẵn và không đọng nước.
+ Bệ xí có nút nước. Có ống thông hơi.
- Quy định về sử dụng và bảo quản:
+ Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bị gậy. Không có mùi hôi thối.
+ Nước từ bệ xí chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tự do ra xung quanh. Sàn
nhà tiêu sạch, không có rêu trơn giấy, rác.
+ Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy.
+ Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu. Bệ xí sạch, không dính, đọng phân.
+ Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa. 4.2.2. Xử lý rác.
- Ngoài phân người và gia súc thì những chất thải ở dạng đặc và rắn còn được gọi là
rác. Rác cũng là nguồn gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước, và không khí. Là
nơi sinh sản nhiều loại vi sinh vật gây bệnh và truyền bệnh. Trong quá trình đô thị
hóa, các thành phố, thị xã, khu công nghiệp, khu chế xuất… ngày càng phát triển
thì lượng rác thải từ các khu vực đó cũng ngày càng nhiều. Ví dụ: ở Hà Nội trong
những năm cuối thế kỷ XX, lượng rác thải ra hằng ngày là dưới 3000m3. Trong đó
có những loại rác rất nguy hiểm như rác thải ra từ các bệnh viện.
.- Lượng rác này không xử lý kịp thời sẽ gây ra những phiền toái, trở ngại trong
sản xuất. Rác công nghiệp có thể tái chế, phân loại, chôn lấp, thiêu đốt..là tùy theo
đặc điểm của từng loại. Ở nước ta hiện nay có một số giải pháp xử lí rác thải như sau:
+ Xử lí theo phương pháp tự nhiên là đánh đống ở ngoài trời và ủ.
+ Đối với các loại rác không còn chết biến được nữa thì đem chôn lấp hợp vệ sinh.
Hiện nay, các chất thải của Hà Nội được đem chon lấp tại một số địa điểm quy
định, chúng được cho vào từng hố và được lấp một loại đất trơ lèn chặt.
+ Tái chế rác từ nhà máy giấy thành nhiên liệu đốt cho lò hơi.
* Rác ở bệnh viện là một loại rác đặc biệt, do đó phải có biện pháp xử lí riêng theo
Quyết định số 2575/1999QĐ-BYT ngày 27/08/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
- Thiêu đốt chất thải rắn y tế
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế nguy hại áp dụng cho các thành phố lớn: Tại
bệnh viện đặt lò đốt.
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế áp dụng cho các thị xã.
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế đối với các trung tâm y tế huyện.
+ Mô hình thiêu đốt chất thải rắn y tế đối với các phòng khám đa khoa, nhà hộ sinh, trạm y tế xã.
- Chôn lấp chất thải
+ Qui định về chôn lấp chải trong qui chế quản lý chất thải y tế: áp dụng cho cơ sở
y tế chưa có điều kiện thiêu đốt và không chôn lẫn chất thải sinh hoạt, chôn tại khu vực qui định.
+ Yêu cầu đối với chôn lấp chất thải y tế: không áp dụng với chất thải y tế nguy hại chưa qua xử lý ban đầu.
+ Chôn lấp chất thải tại bãi chôn lấp chất thải của thành phố: Chất thải y tế không
nguy hại, không có điều kiện xử lý.
+ Chôn lấp chất thải trong khuôn viên bệnh viện: áp dụng với bệnh viện vùng sâu, vùng xa và là tạm thời.
- Phương pháp chôn lấp chất thải sau khi đã đóng gói: cho chất thải vào thùng
kim loại hoặc thùng nhựa 3/4 cho thêm bột nhựa, vữa xi măng.. sau khi khô gắn, chôn lấp..
- Phương pháp làm trơ hóa: Dùng máy nghiền chất thải trộn với vôi, xi măng để khô hoặc chôn lấp.
4.2.3. Xử lý chất thải lỏng.
- Chất thải lỏng bao gồm: nước thải từ các khu chung cư, các hộ gia đình và các cơ quan.
- Cấu trúc của hệ thống xử lí chất thải lỏng là một hệ thống cống. Hệ thống cống
nàycó ưu điểm là đảm nhận việc tập trung và vận chuyển toàn bộ chất lỏng một
cách hoàn chỉnh cả về mặt vệ sinh và dịch tễ, bảo vệ được môi trường không bị ô nhiễm.
- Hệ thống cống, bao gồm:
+ Hệ thống cống chung để đưa tất cả các loại nước thải và nước mưa vào cho
một mạng lưới ống cống.
+ Hệ thống cống riêng biệt gồm hai hệ thống riêng để dẫn nước thải sinh hoạt hằng
ngày và nước thải công g nghiệp. Nước mưa thì được dẫn qua một hệ thống cống
riêng và qua xử lí sơ bộ rồi được dấn ngay vào bể nước.
+ Hệ thống cống không hoàn toang riêng biệt gồm hai mạng lưới cống dẫn nước
phân và một phần nước mưa. Trong hệ thống có những ống nối liền với nhau.
Phần còn lại của nước mưa được đi riêng, qua xử lí lắng cặn và được dẫn vào bể nước.
- Bảo quản, sử dụng hệ thống cống:
+ Tại các hộ gia đình, ống cống được làm bằng sành hay bê tông xi măng đúc. Hệ
thống cống phải được lắp kín.
+ Hệ thống cống tự chảy ngoài đường, phải có đủ độ dốc để chất thải tự chảy.
Ống phải chắc chắn, không thấm nước, mặt trong phải nhẵn, ống được đặt sâu dưới đất
để tránh bị vỡ khi có các phương tiện giao thông đi qua.
- Một số công trình xử lí nước thải gồm:
+ Làm sạch cơ học: Nước thải phải được chảy qua lưới chắn bể lắng cát để giữ lại
cặn vô cơ và cặn lơ lửng, sau đó đến bể lắng thực sự. Cuối cùng nước thải được làm trong và khử trùng.
+ Làm sạch sinh học bằng cánh đồng tưới, cánh đồng lọc.