



















Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN BÁO CÁO TIỂU LUẬN
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC THẢI NGÀNH SẢN XUẤT NHỰA
Sinh viên thực hiện: Lê Ngọc Bảo Hân (231A050635)
Đặng Thị Thu Thảo (221A300151) Võ Ngọc Tiền (231A230184)
Trần Nguyễn Thùy Dương (231A370092)
Phạm Thị Yến Nhi (231A150262) Trần Công Minh (231A150211)
Nguyễn Thị Mai Thư (231A230109)
Hoàng Thị Mai Trinh (221A310183)
Nguyễn Chí Tịnh (231A380065)
Trần Phan Bảo Huy (231A210403)
Lớp học phần: 241NAS10117
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Huỳnh Thành Đạt TP. HL CHÍ MINH, NĂM 2024
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………. LỜI CẢM ƠN
Nhóm em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy Huỳnh Thành
Đạt, người đã tận tình dìu dắt và chỉ bảo chúng em trong suốt quá trình học tập và thực
hiện bài tiểu luận này. Để có thể hoàn thành tốt và chỉn chu nhất cho bài tiểu luận này, đó
không chỉ là sự nỗ lực, cố gắng của cả nhóm chúng em mà còn có được sự hướng dẫn
nhiệt tình, những lời đóng góp ý thật chân thành của thầy Huỳnh Thành Đạt giảng viên
giàng dạy môn Môi trường và con người. Nhóm chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến thầy nhưng vì kiến thức bản thân nên còn hạn chế trong quá trình thực hiện đề tài này
chúng em không thể tránh được những sai sót, kính mong nhận được sự lượng thứ của
thầy. Cuối cùng chúng em chúc thầy dồi dào sức khỏe, thành công và hạnh phúc trong sự
nghiệp trồng người cao quý.
Nhóm em xin chân thành cảm ơn! MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC DO NGÀNH
SẢN XUẤT NHỰA.......................................................................................................1
1.1. Tổng quan ô nhiễm môi trường nước do ngành sản xuất nhựa......................1
1.1.1. Ngành sản xuất nhựa ở Việt Nam..................................................................1
1.2. Nguồn gốc của ô nhiễm nguồn nước từ nhựa...................................................2
1.2.1. Sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp nhựa......................................3
1.2.2. Công nghệ sản xuất và tính chất của nhựa.....................................................3
1.2.3. Quản lý chất thải công nghiệp kém................................................................3
1.2.4. Sự gia tăng tiêu dùng và áp lực sản xuất........................................................4
1.2.5. Thiếu nhận thức và chính sách quản lý..........................................................4
1.3. Tác động của nhựa đến con người, môi trường và sinh vật............................5
1.3.1. Tác động đối với môi trường và sức khoẻ......................................................5
1.3.2. Tác động đối với kinh tế................................................................................6
1.3.3. Tác động đối với xã hội hiện nay...................................................................7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC DO NGÀNH
SẢN XUẤT NHỰA.......................................................................................................9
2.1. Thực trạng ô nhiễm nhựa ở Việt Nam..............................................................9
2.2. Ảnh hưởng của việc sản xuất nhựa đến môi trường và con người...............11
3.1. Nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước do ngành sản xuất nhựa...............13
3.1.1. Chất thải nhựa không phân hủy....................................................................13
3.1.2. Chất thải từ quá trình sản xuất.....................................................................13
3.1.3 Việc sử dụng các chất phụ gia độc hại..........................................................14
3.1.4. Chất thải nhựa từ các sản phẩm tiêu dùng....................................................15
3.1.5. Tái chế không hiệu quả................................................................................15
3.1.6. Microplastics................................................................................................15
3.2 Giải pháp giảm ô nhiễm nguồn nước do ngành sản xuất nhựa.....................16
3.2.1. Cải thiện quy trình xử lý nước trong và sau quá trình sản xuất....................16
3.2.2. Giảm thiểu các sản phẩm nhựa....................................................................17
3.2.3. Tăng cường nghiên cứu và sáng tạo của các trường học..............................18
3.2.4. Tuyên truyền và hợp tác quốc tế..................................................................18
3.2.5. Chính sách của chính phủ............................................................................19
4.1 Nhận xét.............................................................................................................21
4.2. Kiến nghị...........................................................................................................21
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................24 LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, các ngàng công nghiệp đang phát triển mạnh mẻ và đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế và tài nguyên nước là một phần quan trọng trong sự phát triển
không chỉ các ngành công nghiệp mà còn có cuộc sống của mỗi con người, sinh vật
chúng ta tồn tại trên Trái Đất. Nước có vai trò không chỉ cho con người mà còn cho tất
cả sinh vật hiện hữu trên Trái Đất. Nó cung cấp cho con người sự sống thiếu nước thì
con người không thể sống được và có thể không thực hiện đầy đủ các chức năng cần
thiết để phát triển như một cơ thể bình thường. Ngoài ra, nước còn là nguồn nguyên
liệu cho các hoạt động công nghiệp của con người có nước tham gia vào các quá trình
sản xuất thì sẽ thúc đẩy quá trình làm nên các sản phẩm được tốt hơn. Bên cạnh đó,
nước không chỉ là nguồn sống cho con người mà còn cho tất cả sinh vật cung cấp môi
trường sống, nguồn sống để cho các loài sinh vật có thể phát triển tạo nên sự đa dạng
sinh học bên cạnh sự phát triển của loài nước. Qua đó, ta càng thấy rõ được tầm quan
trọng của nguồn nước đối với cuộc sống con người và sinh vật trên Trái Đất thế nhưng
hiện nay do các hoạt động của con người nhất là việc sử dụng nhiều chất thải nhựa
trong sinh hoạt hằng ngày làm gia tăng việc sản xuất nên các phẩm từ nhựa gây ảnh
hưởng tới môi trường nước trong quá trình sản xuất và còn trong quá trình sử dụng của
con người thải ra ngoài môi trường nước. Không chỉ trên thế giới mà việc ô nhiễm
nguồn nước ở nước ta đang ngày càng diễn biến nghiêm trọng gây ảnh hưởng đến con
người và môi trường rất là nhiều làm tăng thêm gánh nặng cho nền kinh tế Việt Nam
để phục hồi lại hiện trạng ban đầu.
Chính vì nhận thấy tác hại nghiêm trọng của ô nhiễm nguồn nước do rác thải
nhựa đến với môi trường nên chúng em đã chọn đè tài “ô nhiễm nguồn nước do sản xuất nhựa”.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC DO
NGÀNH SẢN XUẤT NHỰA
1.1. Tổng quan ô nhiễm môi trường nước do ngành sản xuất nhựa
1.1.1. Ngành sản xuất nhựa ở Việt Nam
Hiện nay, theo như thống kê thì các sản phẩm nhựa thành phẩm của Việt Nam đã có
mặt tại gần 160 quốc gia. Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Nhật Bản,
Mỹ, Đức,…Trong những 2023, tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa là 5,2 tỷ USD.
Và ngành nhựa Việt Nam kỳ vọng năm 2024, con số này sẽ tăng khoảng 4%, tương đương 5,5 tỷ USD.
Hình 1.1.1 Các loại nhựa và màu nhựa đang được sản xuất hiện nay
Về nguyên liệu nhựa của ngành nhựa Việt Nam, trong 5 tháng đầu năm 2024, lượng
nhập khẩu nguyên liệu nhựa ước tính đạt 3,29 triệu tấn, trị giá 4,52 tỷ USD. So với
cùng kỳ năm trước, con số này tăng 28% về khối lượng và 17,3% về giá trị.
Thì đến nay, ngành nhựa Việt Nam có khả năng sản xuất được các loại nguyên liệu
như PVC, PP, PET, PS, PE với công suất gần 3 triệu tấn/năm. Nguồn nguyên liệu trong
nước có thể đáp ứng 30% nhu cầu thị trường nội địa, 70% còn lại nhập khẩu từ các
quốc gia khác. Có thể nói, cơ hội lớn nhất của ngành nhựa Việt Nam là những hiệp 1
định thương mại như Hiệp định Thương mại tự do Việt – Liên minh Châu Âu
Hình 1.1.2 Doanh thu ngành nhựa theo quý từ năm 2021-2024 (Tỷ Đồng)
(EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP)… Ngành nhựa Việt
Nam kỳ vọng sẽ mở rộng cơ hội xuất khẩu khi các hiệp định này có hiệu lực. Từ đó
đưa ngành nhựa Việt Nam ra thị trường toàn cầu mạnh mẽ hơn.
Hình 1.1.3 Lãi ròng ngành nhựa theo quý từ năm 2021-2024 (Tỷ Đồng)
1.2. Nguồn gốc của ô nhiễm nguồn nước từ nhựa
Sự phát triển của ngành công nghiệp nhựa đã mang lại nhiều tiện ích cho cuộc sống,
nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn đối với môi trường.Những thách
thức này là việc phát triển dựa trên những bối cảnh lịch sử, công nghiệp, và các yếu tố
cấu thành của ngành sản xuất nhựa. 2
1.2.1. Sự ra đời và phát triển của ngành công nghiệp nhựa
Sự phát minh nhựa tổng hợp: Vào đầu những thế kỷ 20, nhựa tổng hợp (synthetic
plastics) đã được phát minh với mục tiêu thay thế các nguyên liệu tự nhiên như gỗ, kim
loại, và cao su. Và sự phát triển này đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành sản xuất
vật liệu. Tuy vậy, thì quá trình sản xuất nhựa đòi hỏi sử dụng nhiều hóa chất, dung môi,
và các phụ gia độc hại, tạo nền tảng cho vấn đề ô nhiễm nguồn nước.
Tăng trưởng sản xuất nhựa toàn cầu: Sau Thế chiến II, nhựa trở thành "vua" của các
vật liệu, xuất hiện tràn lan trong bao bì thực phẩm, ống nước, vật liệu xây dựng và
hàng triệu sản phẩm khác. Sự bùng nổ của ngành công nghiệp nhựa đi kèm với một
vấn đề nan giải: nước thải công nghiệp. Hàng ngày, hàng tấn nước thải chứa đầy các
hóa chất độc hại như BPA (Bisphenol A), phthalate và hàng tỷ hạt vi nhựa siêu nhỏ từ
các nhà máy sản xuất nhựa đổ thẳng ra sông ngòi, đại dương. Chỉ cần hình dung một
chai nước nhựa bị vứt bừa bãi, khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và sóng biển, nó sẽ
phân hủy thành những mảnh nhựa siêu nhỏ, len lỏi vào cơ thể sinh vật biển và cuối
cùng có thể xâm nhập vào chuỗi thức ăn của con người.
1.2.2. Công nghệ sản xuất và tính chất của nhựa
Quy trình sản xuất phức tạp: Ngành nhựa sử dụng các hợp chất hóa học như
monomer, polymer, và các chất phụ gia (như phthalates, bisphenol A - BPA) để tăng
độ bền, độ dẻo, và khả năng chịu nhiệt của sản phẩm. Tuy nhiên, quá trình này thường
phát sinh nước thải chứa hóa chất độc hại nếu không được xử lý đúng cách.
Đặc tính không phân hủy của nhựa: Tuy nhiên thì Nhựa, hay được xem như một
"quái vật" khó tiêu của tự nhiên, có khả năng tồn tại hàng trăm, thậm chí hàng ngàn
năm trong môi trường. Khi chất thải nhựa không được xử lý một cách đúng đắn, chúng
dần bị phân hủy thành những hạt vi nhựa siêu nhỏ. Những hạt nhựa này quá nhỏ để có
thể lọc bỏ bằng các hệ thống xử lý nước thông thường, dễ dàng xâm nhập vào mọi
ngóc ngách của môi trường: từ những dòng sông, hồ nước ngọt cho đến những đại
dương bao la. Nguy hiểm hơn, vi nhựa còn có khả năng hấp thụ các chất độc hại trong
nước, trở thành "vận chuyển" độc tố vào cơ thể sinh vật biển và cuối cùng là con người thông qua chuỗi thức ăn.
1.2.3. Quản lý chất thải công nghiệp kém
Hệ thống quản lý môi trường chưa hoàn thiện: Ở nhiều quốc gia đang phát triển, bao
gồm cả Việt Nam, việc quản lý nước thải công nghiệp còn nhiều bất cập. Các nhà máy
sản xuất nhựa, đặc biệt là các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, thường xả thải trực tiếp ra các sông
ngòi, kênh rạch mà không qua hệ thống xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn. Tình 3
trạng này diễn ra phổ biến tại nhiều khu công nghiệp và làng nghề sản xuất nhựa trên
cả nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng các nguồn nước mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc
sống của người dân và hệ sinh thái.
Lỗ hổng trong tái chế và xử lý chất thải: Mặc dù nhựa là vật liệu có thể tái chế,
nhưng thực tế, tỷ lệ tái chế nhựa lại rất thấp. Nguyên nhân chính là do chi phí tái chế
nhựa khá cao, thị trường tiêu thụ sản phẩm từ nhựa tái chế còn hạn chế, và hệ thống thu
gom, phân loại rác thải nhựa chưa được đầu tư đầy đủ. Điều này dẫn đến việc phần lớn
chất thải nhựa từ các nhà máy, sản phẩm lỗi, hoặc sau khi sử dụng bị vứt bỏ một cách
bừa bãi ra môi trường. Các sản phẩm nhựa này sau đó sẽ phân hủy thành các hạt vi
nhựa, xâm nhập vào nguồn nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng và đe dọa đến đa dạng sinh học.
1.2.4. Sự gia tăng tiêu dùng và áp lực sản xuất
Nhu cầu thị trường tăng cao: Sự gia tăng dân số và xu hướng tiêu dùng tiện lợi, đặc
biệt là ở các đô thị lớn, đã thúc đẩy nhu cầu sử dụng các sản phẩm nhựa một cách
chóng mặt. Bao bì nhựa, túi nilon, chai lọ nhựa... trở thành một phần không thể thiếu
trong cuộc sống hàng ngày. Để đáp ứng nhu cầu này, ngành công nghiệp nhựa đã phát
triển mạnh mẽ, kéo theo đó là lượng nước thải và chất thải rắn tăng lên đáng kể. Các
chất thải nhựa này không chỉ gây ô nhiễm nguồn nước mà còn xâm nhập vào đất,
không khí, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người.
Chạy theo lợi nhuận: Sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nhựa, kết hợp với việc
một số doanh nghiệp trong ngành ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn hơn đầu tư vào công nghệ
xử lý nước thải hiện đại, đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
Nhiều nhà máy sản xuất nhựa vẫn đang xả thải trực tiếp ra môi trường mà không qua
xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn, gây ô nhiễm các sông ngòi, hồ, biển, ảnh hưởng
trực tiếp đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.
1.2.5. Thiếu nhận thức và chính sách quản lý
Nhận thức thấp về tác động môi trường: Trong giai đoạn đầu của ngành nhựa, khi
nhựa được coi là một "vật liệu kỳ diệu" với nhiều ưu điểm vượt trội, ít ai có thể lường
trước được những tác động lâu dài và nghiêm trọng của nó đối với môi trường, đặc biệt
là nguồn nước. Chính sự thiếu hiểu biết về tính bền vững và khả năng phân hủy của
nhựa đã dẫn đến việc thiếu sót trong việc xây dựng các quy định và biện pháp bảo vệ
môi trường. Doanh nghiệp, trong quá trình sản xuất và kinh doanh, cũng chưa có ý
thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội, dẫn đến việc xả thải tùy tiện, gây ô nhiễm nghiêm trọng các nguồn nước. 4
Chính sách môi trường chưa đồng bộ: Nhiều quốc gia chưa có hoặc chưa thực thi
nghiêm ngặt các quy định về xử lý nước thải công nghiệp, tái chế nhựa, và giảm thiểu
ô nhiễm vi nhựa, khiến tình trạng ô nhiễm nước tiếp tục gia tăng. Kết luận Nguồn gốc
của ô nhiễm nguồn nước do ngành sản xuất nhựa bắt nguồn từ sự phát triển không
kiểm soát của ngành công nghiệp này, sự phức tạp trong quy trình sản xuất, và những
lỗ hổng trong quản lý chất thải. Để giải quyết triệt để vấn đề, cần cải thiện công nghệ
sản xuất, tăng cường tái chế, và thúc đẩy các chính sách bảo vệ môi trường chặt chẽ hơn.
1.3. Tác động của nhựa đến con người, môi trường và sinh vật
Hình ảnh những con rùa biển mắc kẹt trong túi nilon, những bãi biển ngập tràn rác
nhựa đã trở nên quá quen thuộc. Đó là kết quả của việc chúng ta lạm dụng nhựa một
cách vô tư. Vi nhựa, những hạt nhựa siêu nhỏ, xâm nhập vào mọi ngóc ngách của môi
trường, gây ra những hậu quả khôn lường cho hệ sinh thái và sức khỏe con người. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng vi nhựa có thể gây ra các bệnh ung thư, rối loạn nội tiết và
ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Để bảo vệ hành tinh của chúng ta, chúng ta
cần thay đổi thói quen tiêu dùng, giảm thiểu việc sử dụng sản phẩm nhựa một lần và
tích cực tham gia vào các hoạt động tái chế, và để hiểu rõ hơn ta cần nên nhìn vào
những tác động hết sức cụ thể:
1.3.1. Tác động đối với môi trường và sức khoẻ
Nước thải và vi nhựa từ ngành sản xuất nhựa đã và đang phá hủy môi trường nước
một cách toàn diện khi mà nước thải từ các nhà máy sản xuất nhựa thường chứa các
hóa chất độc hại như phthalates, bisphenol A (BPA), và các hợp chất hữu cơ khó phân
hủy. Khi các chất này xâm nhập vào các dòng sông, hồ, và đại dương, chúng làm suy
giảm chất lượng nước và tiêu diệt các loài sinh vật thủy sinh nhạy cảm. Ví dụ, cá và
động vật giáp xác thường ăn nhầm vi nhựa, dẫn đến tắc nghẽn hệ tiêu hóa và tử vong.
Làm mất cân bằng hệ sinh thái: Vi nhựa có khả năng hấp thụ các chất ô nhiễm khác
như kim loại nặng và hóa chất độc hại. Khi vi nhựa xâm nhập vào chuỗi thức ăn, chúng
không chỉ tích lũy trong các sinh vật nhỏ mà còn lan truyền đến các loài lớn hơn, bao
gồm cả con người. Điều này gây mất cân bằng nghiêm trọng trong hệ sinh thái.
Suy giảm chất lượng đất và nước: Các nguồn nước bị ô nhiễm từ ngành nhựa cũng
ảnh hưởng đến hệ thống nước ngầm và đất trồng trọt, làm giảm năng suất nông nghiệp
và gây nguy cơ sa mạc hóa ở nhiều khu vực.
Tác động đối với sức khỏe con người Sức khỏe con người chịu ảnh hưởng trực tiếp
và gián tiếp từ nguồn nước bị ô nhiễm bởi ngành nhựa: 5
Tiếp xúc với hóa chất độc hại: Các chất hóa học như BPA và phthalates có trong
nước thải nhựa được chứng minh là gây rối loạn nội tiết, ảnh hưởng đến khả năng sinh
sản, và làm tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư. Những chất này dễ dàng xâm nhập
vào cơ thể thông qua nước uống, thực phẩm bị nhiễm, hoặc tiếp xúc trực tiếp. • Nguy
cơ từ vi nhựa: Theo các nghiên cứu thực tiễn, vi nhựa đã được tìm thấy trong nước
uống đóng chai, nước máy, và thực phẩm biển. Khi con người tiêu thụ vi nhựa, chúng
có thể gây tổn thương mô, viêm nhiễm, và tích tụ lâu dài trong cơ thể, dẫn đến các vấn
đề sức khỏe như rối loạn miễn dịch và tim mạch.
Gánh nặng y tế: Ở các khu vực bị ảnh hưởng nặng bởi ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt
là do chất thải nhựa, tỷ lệ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, da liễu và các
bệnh mãn tính như ung thư, suy thận tăng cao đáng kể. Việc sử dụng nguồn nước ô
nhiễm để sinh hoạt hàng ngày đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng, gây
áp lực lớn lên hệ thống y tế và khiến chi phí điều trị tăng vọt. Điều này không chỉ ảnh
hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các khu vực này.
1.3.2. Tác động đối với kinh tế
Khi ô nhiễm nguồn nước do ngành nhựa gây thiệt hại lớn về kinh tế đặc biệt trong
các lĩnh vực phụ phuộc vào tài nguyên nước
Chi phí xử lý nước: Các quốc gia và địa phương phải chi hàng tỷ đô la mỗi năm để
xử lý nguồn nước bị ô nhiễm, đảm bảo an toàn cho sinh hoạt và sản xuất. Ví dụ, một số
nhà máy xử lý nước ở các quốc gia Đông Nam Á đã báo cáo mức chi phí tăng gấp đôi
do phải đối mặt với vi nhựa và hóa chất độc hại từ nước thải công nghiệp .Còn ở Việt
Nam nói riêng, thành phố Hồ Chí Minh nói chung thì hiện hành, đơn giá nước sinh
hoạt tại TPHCM được thực hiện theo Quyết định 25/2019/QĐ-UBND
Định mức sử dụng nước Đơn giá (đồng/m3) Thuế 5% (đồng/m3) - Đến 4m3/người/tháng + Hộ dân cư: 6.700 335
+ Riêng hộ nghèo và cận nghèo: 6.300 315
- Từ 4m3 đến 6m3/người/tháng 12.900 645 - Trên 6m3/người/tháng 14.400 720
Theo đó, giá nước sạch tại TPHCM theo định mức thấp nhất cho hộ gia đình sử
dụng 4 m3 mỗi người mỗi tháng là 6.700 đồng/m3; định mức 4-6 m3 là 12.900 6
đồng/m3; từ 6 m3 trở lên là 14.900 đồng/m3. Cơ quan hành chính sự nghiệp, đoàn thể
giá 13.000 đồng/m3. Đơn vị sản xuất giá 12.100 đồng/m3. Đơn vị kinh doanh, dịch vụ giá 21.300 đồng/m3.
Tổn thất trong nông nghiệp và thủy sản: Các khu vực canh tác và nuôi trồng thủy
sản bị ảnh hưởng bởi nước ô nhiễm thường ghi nhận năng suất giảm mạnh. Nông dân
phải đối mặt với chi phí bổ sung cho phân bón, thuốc trừ sâu, và hệ thống lọc nước để
giảm thiểu tác động từ ô nhiễm.
Ảnh hưởng đến du lịch: Ô nhiễm nhựa làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên của các điểm đến
du lịch ven sông, hồ, và bờ biển, gây thiệt hại lớn cho ngành du lịch và các cộng đồng
phụ thuộc vào nguồn thu này. Ví dụ, các bãi biển tại Thái Lan và Indonesia thường
xuyên bị phàn nàn về tình trạng rác thải nhựa tràn ngập, làm giảm sức hấp dẫn đối với du khách quốc tế.
1.3.3. Tác động đối với xã hội hiện nay
Bất bình đẳng xã hội: Tại Việt Nam, các cộng đồng nghèo, đặc biệt là những người
sinh sống gần các khu công nghiệp nhựa, đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ ô
nhiễm môi trường. Việc thiếu hụt nguồn lực khiến họ không thể tiếp cận nguồn nước
sạch, dẫn đến nhiều vấn đề về sức khỏe và chất lượng cuộc sống. Đây là một vấn đề xã
hội bức xúc, đòi hỏi sự vào cuộc của cả cộng đồng và chính quyền để tìm ra giải pháp
bền vững, đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Mâu thuẫn lợi ích: Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do ngành nhựa thường gây ra
mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích khác nhau, bao gồm chính quyền địa phương, doanh
nghiệp, và người dân. Ví dụ, ở một số quốc gia, các cuộc biểu tình của cộng đồng sống
gần nhà máy sản xuất nhựa đã nổ ra khi họ phải đối mặt với ô nhiễm mà không nhận
được sự hỗ trợ hoặc bồi thường thích đáng.
Tác động của ô nhiễm nguồn nước do ngành sản xuất nhựa không chỉ giới hạn ở
môi trường mà còn lan rộng đến sức khỏe con người, kinh tế và xã hội. Việc sử dụng
nguồn nước ô nhiễm để sinh hoạt hàng ngày đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể các bệnh
liên quan đến đường tiêu hóa, da liễu và các bệnh mãn tính như ung thư, suy thận. Điều
này không chỉ gây áp lực lớn lên hệ thống y tế mà còn làm giảm năng suất lao động,
ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Để giải quyết vấn đề này, cần có một sự
thay đổi căn bản trong cách chúng ta sản xuất và tiêu thụ nhựa. Cụ thể, cần cải thiện
quy trình sản xuất để giảm thiểu lượng chất thải nhựa, tăng cường đầu tư vào các công
nghệ xử lý nước thải hiện đại, và khuyến khích người dân thay đổi thói quen tiêu dùng,
ưu tiên sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường. Đồng thời, sự hợp tác chặt
chẽ giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng là vô cùng cần thiết để xây dựng một 7
tương lai bền vững, nơi con người và môi trường sống được bảo vệ.
Ô nhiễm nguồn nước do ngành sản xuất nhựa là một vấn đề cấp bách đòi hỏi sự
quan tâm của toàn xã hội. Sự phát triển nhanh chóng của ngành nhựa, kết hợp với việc
quản lý chất thải chưa hiệu quả, đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng các nguồn
nước trên toàn cầu. Các tác động tiêu cực của ô nhiễm nhựa bao gồm: hủy hoại hệ sinh
thái, gây ra các bệnh tật cho con người, ảnh hưởng đến kinh tế và gây ra các bất ổn xã hội. 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC DO
NGÀNH SẢN XUẤT NHỰA
2.1. Thực trạng ô nhiễm nhựa ở Việt Nam
Nhựa là một phần không thể thiếu trong xã hội hiện đại, được sử dụng rộng rãi trong
đời sống hàng ngày, sản xuất công nghiệp, y tế và bao bì...Tuy nhiên, quá trình sản
xuất nhựa tạo ra một lượng lớn ô nhiễm nước thải, gây ra những ảnh hưởng nghiêm
trọng đối với môi trường và hệ sinh thái. Nước thải ô nhiễm chủ yếu phát sinh từ quá
trình xử lý nguyên liệu, phản ứng hóa học và các chất thải từ việc làm sạch thiết bị.
Trong đó ô nhiễm nhựa là một trong những vấn đề môi trường cấp bách nhất trong thời
đại hiện nay, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, động vật hoang dã và sức khỏe con người
trên toàn cầu. Hậu quả của việc ô nhiễm nói chung và ô nhiễm nguồn nước thải do sản
xuất nhựa nói riêng đã và đang có những tác động tiêu cực đến con người, do đó cần
phải tìm ra những giải pháp tiềm năng để giảm thiểu vấn đề ngày càng nghiêm trọng
này. Việc sử dụng nhựa rất rộng rãi và phổ biến, không chỉ trong sinh hoạt gia đình, mà
còn trong những lĩnh vực sản xuất, y tế, công nghiệp,… Có thể nói, việc sản xuất nhựa
với mức độ cao như vậy đến từ việc nhu cầu sử dụng nhựa của con người cao. Đầu tiên
là về tính đa dạng, linh hoạt của nhựa. Nhựa có thể được chế tạo thành nhiều loại với
các tính chất khác nhau, từ nhựa dẻo, cứng đến nhựa trong suốt hay mờ. Điều này giúp
nhựa có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu khác nhau trong cuộc sống, từ bao bì, đồ gia
dụng, xây dựng, cho đến các thiết bị điện tử và y tế. Không chỉ vậy, mà chi phí sản
xuất và chi phí mua của nhựa cũng thấp, chính vì việc sản xuất với chi phí thấp hơn so
với những vật liệu khác nên giúp giảm chi phí cho người dùng, đồng thời thúc đẩy
ngành công nghiệp nhựa phát triển cực kì mạnh mẽ. Nhìn xung quanh chúng ta, nơi
đâu cũng có sự xuất hiện của nhựa và bao ni lông, các hàng quán ven đường, các chuỗi
cà phê, quán ăn lớn,... Việc sử dụng nhựa đã ăn sâu vào đời sống của con người và trở
thành một điều không thể thiếu. Nhựa được sử dụng phổ biến còn bởi vì nhẹ, dễ vận
chuyển và lưu trữ, điều này làm cho nó trở thành lựa chọn phổ biến trong việc đóng gói
và vận chuyển hàng hóa. Có
thể thấy với những đặc điểm vượt trội như chi phí thấp,
tính linh hoạt, dễ sản xuất, và khả năng ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công
nghiệp, nhu cầu sử dụng nhựa của con người đã và đang ngày càng cao. Tuy nhiên,
cùng với đó, việc tiêu thụ nhựa quá mức dẫn đến sản xuất nhựa quá mức cũng gây ra
những vấn đề nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước và đại dương.
Theo số liệu thống kê từ Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm tại Việt Nam có 9
khoảng 1,8 triệu tấn rác thải nhựa thải ra môi trường, 0,28 triệu đến 0,73 triệu tấn trong
số đó bị thải ra biển - nhưng chỉ 27% trong số đó được tái chế, tận dụng bởi các cơ sở,
doanh nghiệp.Điều đáng nói là việc xử lý và tái chế rác thải nhựa còn nhiều hạn chế
khi có đến 90% rác thải nhựa được xử lý theo cách chôn, lấp, đốt và chỉ có 10% còn lại
là được tái chế. Khối lượng rác thải nhựa đổ ra biển mỗi năm khoảng 0,28 - 0,73 triệu
tấn/năm (chiếm gần 6% tổng lượng rác thải nhựa xả ra biển của thế giới). Tại Việt
Nam, bình quân mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 1kg túi nilon/tháng, riêng hai thành
phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trung bình mỗi ngày thải ra môi trường
khoảng 80 tấn rác thải nhựa và túi nilon.
Do nhu cầu sử dụng nhựa tăng cao nên dẫn đến việc sản xuất nhựa cũng tăng, quá
trình sản xuất nhựa tạo ra một lượng lớn ô nhiễm nước thải, gây ra những ảnh hưởng
nghiêm trọng đối với môi trường và hệ sinh thái. Trong quá trình sản xuất nhựa, các
chất thải độc hại như hóa chất, nhựa chưa hoàn thiện, các dung môi, các chất phụ gia,
chất làm dẻo, chất tạo màu... Những chất này có thể xâm nhập vào nguồn nước nếu
không được xử lý đúng cách, gây ô nhiễm nước và làm giảm chất lượng nguồn nước,
ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Nhựa thải ra từ các quá trình sản
xuất nhựa có thể trôi dạt vào các con sông, hồ, biển, gây tắc nghẽn, làm ô nhiễm nước.
Các mảnh vụn nhựa này tồn tại lâu dài trong môi trường nước, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến động thực vật thủy sinh. Những mảnh nhựa nhỏ (microplastics) cũng có thể
xâm nhập vào chuỗi thức ăn và cuối cùng là con người. Chất thải từ bao bì nhựa: ngành
sản xuất nhựa chủ yếu sản xuất bao bì, chai lọ, túi nhựa và các sản phẩm nhựa dùng
một lần. Các sản phẩm này sau khi sử dụng không được xử lý hoặc tái chế đúng cách
sẽ trở thành chất thải nhựa, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho các nguồn nước. Các sản
phẩm nhựa phân hủy rất lâu trong môi trường, và khi thải ra môi trường nước, chúng
không chỉ làm ô nhiễm mà còn có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh vật
nước. Quan trọng hơn hết là ô nhiễm nguồn nước thải có thể gây ra những hậu quả
nghiêm trọng đối với sức khỏe con người. Các chất độc hại trong nước thải, như kim
loại nặng, hóa chất độc hại, vi khuẩn, vi rút và các chất hữu cơ, có thể gây ra nhiều
bệnh tật cho con người như: ung thư, ngộ độc, nhiễm trùng, rối loạn hệ sinh sản, bệnh
da liễu, bệnh hô hấp... Ô nhiễm nước thải không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất
mà còn có tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và tinh thần của con người.
Nước ô nhiễm làm giảm chất lượng môi trường sống, khiến cuộc sống của người dân
trở nên khó khăn hơn do môi trường xung quanh ô nhiễm và khó tiếp cận nước sạch.
Không chỉ thế, ô nhiễm nước thải còn gây ra những thiệt hại kinh tế lớn.
Riêng tại Việt Nam, chính phủ đã và đang thực thi nhiều chiến lược để giảm thiểu
rác thải nhựa và bảo vệ môi trường. Năm 2020, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ 10
môi trường 2020, trong đó bổ sung quy định về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và xử lý
chất thải nhựa; hạn chế sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần và túi nilon khó phân
hủy; khuyến khích sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế sản phẩm
nhựa truyền thống. Luật này được Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các
doanh nghiệp chung tay hưởng ứng. Tháng 6-2019, có 9 công ty hàng đầu trong lĩnh
vực hàng tiêu dùng và bao bì đã cùng nhau đồng sáng lập nên Tổ chức Tái chế bao bì
Việt Nam (PRO Việt Nam) với mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn để biến rác
thải thành tài nguyên thay vì thải ra môi trường. Chính phủ và các nhà chức trách đã cố
gắng thực thi nhiều biện pháp tích cực nhằm khống chế và giảm thiểu thực trạng ô
nhiễm nguồn nước thải do sản xuất nhựa. Tuy nhiên, do thực trạng ô nhiễm đã diễn ra
khá lâu dài và có những hậu quả nặng nề nên những biện pháp chặt chẽ hơn cần được
thực thi. Ngoài ra, ý thức của con người cũng cực kì quan trọng. Ô nhiễm nước thải là
vấn đề không thể bỏ qua trong quá trình sản xuất nhựa,và nó cũng chính là một thách
thức môi trường nghiêm trọng cần được chú ý ngay lập tức. Việc xả các hóa chất độc
hại từ các quy trình sản xuất nhựa vào các nguồn nước làm ô nhiễm các cơ sở nước,
gây hại cho các hệ sinh thái thủy sinh, giảm chất lượng nước và gây nguy cơ cho sức
khỏe con người. Bằng cách tăng cường kiểm soát từ nguồn, hoàn thiện công nghệ xử lý
nước thải, khuyến khích tái sử dụng và tuần hoàn nước thải, đồng thời xây dựng các
chính sách bảo vệ môi trường nghiêm ngặt, chúng ta có thể giảm thiểu ô nhiễm nước
thải trong sản xuất nhựa và bảo vệ môi trường sống cho các thế hệ sau. Chỉ khi tất cả
các bên cùng nỗ lực, chúng ta mới có thể phát triển bền vững và giảm thiểu tác động
tiêu cực của ngành công nghiệp nhựa đối với môi trường.
2.2. Ảnh hưởng của việc sản xuất nhựa đến môi trường và con người
Ảnh hưởng đến hệ sinh thái: Ô nhiễm môi trường nước bởi nhựa đang gây ra những
hậu quả nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và cân bằng hệ sinh thái. Hàng triệu tấn
nhựa mỗi năm tràn vào đại dương, phân hủy thành những mảnh vi nhựa siêu nhỏ.
Những hạt nhựa này không chỉ làm ô nhiễm nguồn nước mà còn xâm nhập vào chuỗi
thức ăn biển. Nhiều loài sinh vật biển nhầm lẫn vi nhựa với thức ăn, nuốt phải và bị tắc
nghẽn đường tiêu hóa, dẫn đến suy dinh dưỡng, nhiễm trùng và tử vong. Các loài chim
biển, rùa biển cũng là nạn nhân của ô nhiễm nhựa khi bị mắc kẹt trong các túi nilon,
ống hút hoặc các mảnh nhựa lớn. Sự mất cân bằng hệ sinh thái do ô nhiễm nhựa gây ra
không chỉ ảnh hưởng đến các loài sinh vật biển mà còn tác động đến nguồn lợi thủy
sản và an ninh lương thực của con người. Bên cạnh đó, các hóa chất độc hại trong nhựa
khi thải ra môi trường sẽ tích tụ sinh học trong các sinh vật biển, gây ra những tác động
lâu dài đến sức khỏe của cả hệ sinh thái và con người. 11
Hình 2.2.1. Hình ảnh vi nhựa ảnh hưởng đến hệ sinh thái nước. Ảnh Ngô Hoàng
Ảnh hưởng đến sức khỏe con người: Vi nhựa và các hóa chất độc hại từ nhựa đang
âm thầm xâm nhập vào cơ thể chúng ta qua nhiều con đường, từ đường hô hấp khi
chúng ta hít thở không khí ô nhiễm, đến đường tiêu hóa qua thực phẩm và nước uống
bị nhiễm bẩn. Những hạt vi nhựa siêu nhỏ này, cùng với các hóa chất độc hại như BPA
và phthalates, không chỉ gây ra các vấn đề về hô hấp như viêm phổi, hen suyễn mà còn
tiềm ẩn nguy cơ mắc nhiều bệnh nghiêm trọng khác. Nghiên cứu cho thấy, vi nhựa có
thể gây rối loạn nội tiết, suy giảm hệ miễn dịch, thậm chí gây ra các bệnh ung thư. Đặc
biệt, trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương nhất bởi hệ thống miễn dịch và các cơ quan
nội tạng của trẻ vẫn đang trong quá trình phát triển. Để bảo vệ sức khỏe bản thân và
cộng đồng, chúng ta cần hạn chế sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần, lựa chọn
thực phẩm an toàn, và tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường.
Ảnh hưởng đến kinh tế: Ô nhiễm môi trường nước do ngành sản xuất nhựa là một
thách thức cấp bách, đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội. Quy trình sản xuất nhựa, từ
khâu khai thác nguyên liệu đến chế tạo và thải bỏ sản phẩm, đều tiềm ẩn những tác
động tiêu cực đến môi trường nước. Các hóa chất độc hại sử dụng trong quá trình sản
xuất, cùng với các mảnh vụn nhựa và vi nhựa thải ra, xâm nhập vào nguồn nước, gây ô
nhiễm nghiêm trọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học thủy sản mà
còn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn. Việc giảm thiểu
ô nhiễm nhựa không chỉ là trách nhiệm của các doanh nghiệp sản xuất mà còn đòi hỏi
sự tham gia tích cực của người tiêu dùng thông qua việc thay đổi thói quen sử dụng,
lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường và ủng hộ các doanh nghiệp có trách
nhiệm. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành những chính sách,
quy định chặt chẽ về quản lý chất thải nhựa, khuyến khích đầu tư vào công nghệ sản
xuất sạch và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn. Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các bên, chúng ta mới có thể xây dựng một tương lai bền vững, nơi con người và môi 12 trường sống hài hòa. 13
CHƯƠNG 3:NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
NƯỚC DO NGÀNH SẢN XUẤT NHỰA
3.1. Nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước do ngành sản xuất nhựa
Ô nhiễm môi trường nước do ngành sản xuất nhựa là một vấn đề nghiêm trọng và có
nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc gây ô nhiễm chủ yếu xuất phát quá trình
sản xuất nhựa các hoạt động tái chế quản lý các chất thải gây ra vấn đề về ô nhiễm.
Các chất thải trong quá trình sản xuất: Trong quá trình sản xuất nhựa, nhiều hóa
chất độc hại và chất thải có thể được thải ra môi trường, bao gồm các loại dung môi,
nhựa thải và các chất phụ khác hệ thống xử lý các chất nhựa còn hạn chế hiệu suất kém
dẫn đến khi chúng ta thải các chất thải ra gây ảnh hưởng đến môi trường nước cũng
như môi trường của sinh vật, con người.
3.1.1. Chất thải nhựa không phân hủy
Theo một báo cáo của Cơ quan Điều tra Môi trường của Vương quốc Anh (EIA) cho
biết trong vòng 5 năm tới, sẽ có 250 triệu tấn nhựa trong các đại dương trên thế giới.
Đến năm 2040, sẽ có 700 triệu tấn—tương đương với trọng lượng của tất cả cá trong
đại dương cộng lại. Và đến năm 2050, nhựa sẽ vượt trội so với cá trong các đại dương của hành tinh.
Một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước là việc sản xuất
và tiêu thụ các sản phẩm nhựa, đặc biệt là các sản phẩm nhựa dùng một lần. Những sản
phẩm này bao gồm túi nilon, chai nhựa, ống hút nhựa, v.v., đều có đặc tính không phân
hủy sinh học, dẫn đến việc chúng tồn tại trong môi trường hàng trăm năm. Khi các sản
phẩm nhựa này bị vứt bỏ vào môi trường mà không qua xử lý, chúng có thể bị cuốn
trôi vào các dòng sông, hồ và biển.
Nhựa sẽ không phân hủy theo cách tự nhiên mà chỉ vỡ ra thành các mảnh nhỏ hơn.
Điều này tạo ra một nguy cơ tiềm tàng rất lớn đối với hệ sinh thái thủy sinh. Những
mảnh nhựa này có thể bị các sinh vật biển, cá, hoặc động vật nước ngọt nuốt phải, gây
tác động nghiêm trọng đến sức khỏe của chúng. Nhiều loài sinh vật có thể chết vì nuốt
phải các mảnh nhựa, và những mảnh nhựa nhỏ này có thể lọt vào chuỗi thức ăn của con
người qua hải sản, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.
3.1.2. Chất thải từ quá trình sản xuất
Bên cạnh các sản phẩm nhựa đã được sản xuất và tiêu thụ, quá trình sản xuất nhựa
cũng đóng góp một phần quan trọng vào ô nhiễm môi trường nước. Trong các nhà máy
sản xuất nhựa, nhiều chất hóa học độc hại được sử dụng trong quá trình chế biến và tạo
hình nhựa, chẳng hạn như styren, formaldehyde, benzen, và các hợp chất hữu cơ dễ 14