



















Preview text:
PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
Câu 1: Trình bày khái niệm và chức năng của nhà nước?
- Khái niệm nhà nước:
Nhà nước là tổ chức quyển lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên
thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lỉ xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi ích
của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Chức năng của nhà nước:
Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất, mục đích của
nó, được quy định bởi thực tế khách quan của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và tình hình quốc tế từng
giai đoạn phát triển. Bất kì kiểu nhà nước nào cũng có hai chức năng:
+ Chức năng đối nội: là những mặt hoạt động chủ yếu của nhà nước trong quan hệ với các
cá nhân, tổ chức trong nước, chẳng hạn chức năng kinh tế, chức năng xã hội, chức năng trấn áp, chức năng bảo vệ
trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
+ Chức năng đối ngoại: Chức năng đối ngoại của nhà nước là những mặt hoạt động chủ yếu
của nhà nước trong quan hệ với các quốc gia, dân tộc khác, chẳng hạn chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược,
chức năng phòng thủ, bảo vệ đất nước, chức năng thiết lập quan hệ ngoại giao, hợp tác quốc tế.
Căn cứ vào hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực xã hội, chức năng của nhà nước được phân theo từng lĩnh
vực cụ thể. Theo đó, tương ứng mỗi lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội là một chức năng của nhà nước. Chẳng hạn:
• Chức năng xã hội: Đó là toàn bộ hoạt động của nhà nước trong việc tổ chức và quản
lí các vấn đề xã hội của đời sống như vấn đề về môi trường, giáo dục, y tế, lao động, việc làm, thu nhập của người dân,
phòng chống thiên tai… Đây là các hoạt động góp phần củng cố và bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, bảo đảm sự ổn
định, phát triển an toàn và hài hoà của toàn xã hội.
• Chức năng trấn áp: Trong điều kiện có đấu tranh giai cấp, chức năng trấn áp sự phản kháng của giai
cấp bị trị là rất cần thiết nhằm bảo vệ sự tồn tại vững chắc của nhà nước, bảo vệ lợi ích về mọi mặt của giai cấp thống trị.
• Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược: Đây là chức năng đặc trưng của các nhà nước chủ nô,
nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản giai đoạn chủ nghĩa đế quốc trở về trước. Các nhà nước đó thực hiện chức năng
này nhằm xâm chiếm và mở rộng lãnh thổ, bóc lột nhân dân cũng như áp đặt sự nô dịch đối với các dân tộc khác.
• Chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức trong xã hội: Đây là chức năng của các nhà nước nói chung. Thực hiện chức năng này, nhà nước phải sử
dụng nhiều biện pháp, nhất là các biện pháp pháp lí nhằm phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, đảm bảo
ổn định, trật tự xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
• Chức năng bảo vệ đất nước: Đây là chức năng của mọi nhà nước. Trước đây, nhiều
nhà nước thường phát động chiến tranh xâm lược nước khác, ngày nay, nhiều nhà nước vẫn tìm 1
cách áp đặt ý chí của mình đối với nước khác. Trong điều kiện đó, các nhà nước phải thực hiện các hoạt động nhằm bảo
vệ đất nước, chống lại các cuộc chiến nanh xâm lược cũng như các ảnh hưởng tiêu cực khác từ bên ngoài.
• Chức năng quan hệ với các nước khác: Các nhà nước thực hiện chức năng này nhằm
thiết lập các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá… với các quốc gia khác để trước hết phát triển kinh tế, văn hoá,
giáo dục… trong nước, qua đó có thể cùng nhau giải quyết những vấn đề có tính chất quốc tế.
Ngoài các cách phân loại nêu trên, chức năng nhà nước còn có thể được phân loại theo những
căn cứ khác. Chẳng hạn, dựa vào bản chất của nhà nưóc, chức năng của nhà nước được phân chia thành các chức năng
thể hiện tính giai cấp và các chức năng thể hiện tính xã hội; dựa vào mục đích thực hiện, chức năng của nhà nước được
chia thành chức năng cai trị và chức năng phục vụ; dựa vào hình thức thực hiện, chức năng của nhà nước được chia
thành chức năng lập pháp, chức năng hành pháp, chức năng tư pháp…
Câu 2: Trình bày khái niệm và các yếu tố hợp thành hình thức nhà nước? Xác định
hình thức nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo các yếu tố hợp thành? - Khái niệm:
+ Nhà nước là tổ chức quyển lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để
chuyên thực thi quyền lực, nhằm tổ chức và quản lỉ xã hội, phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội cũng như lợi
ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
+ Bộ máy nhà nước là tổng thể các cơ quan Nhà nước từ Trung ương tới địa phương, được tổ chức, hoạt động
theo những nguyên tắc thống nhất, tạo thành cơ chế đồng bộ nhằm thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước.
- Các yếu tố hợp thành nhà nước:
Bộ máy Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp bao gồm các yếu tố: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,
Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Chính quyền địa phương. Cụ thể: * Quốc hội
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập
pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
* Chủ tịch nước
Chủ tịch nước là một thiết chế khá đặc thù. Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội và chịu
trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội.
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ
tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước. * Chính phủ
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam, Chính phủ là cơ quan hành pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà
nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. 2
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ
trưởng cơ quan ngang Bộ.
Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định. Chính phủ làm việc
theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số.
Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về
hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước
Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.
Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự phân công của
Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về nhiệm vụ được phân công. Khi Thủ tướng
Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính
phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính
phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, cùng các thành viên khác của Chính phủ
chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ. * Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Tòa án
nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do luật định.
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo
vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
* Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân gồm Viện
kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát khác do luật định.
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công
dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp
phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
* Chính quyền địa phương
Trong bộ máy Nhà nước Việt Nam còn có chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương được tổ chức ở các
đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các cấp đơn vị hành chính bao gồm: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Hiện nay, Việt Nam có 05 thành phố trực thuộc Trung ương gồm Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và 58 tỉnh.
Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm
nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. + Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm
chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. 3
Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp
luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân. + Ủy ban nhân dân
Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của
Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ
quan hành chính nhà nước cấp trên.
Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực
hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao phó.
- Hình thức của nhà nước:
+ Hình thức chính thể: có 2 dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa
✓ Chính thể quân chủ: Quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế
✓ Chính thể cộng hòa: Cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ
+ Hình thức cấu trúc: có 2 dạng cơ bản là nhà nước đơn nhất và nhà nước tiểu bang
✓ Nhà nước đơn nhất: là nhà nước, trong đó lãnh thổ quốc gia được phân bố thành các đơn vị hành chính
- lãnh thổ; có một Chính phủ; một Hiến pháp; một hệ thống pháp luật; một quốc tịch; một quy chế công dân; có hệ thống
các cơ quan chính quyền thống nhất từ trung ương đến địa phương.
✓ Nhà nước tiểu bang: là nhà nước được thành lập bởi sự liên kết, hợp nhất hai hay nhiều
nhà nước thành viên. Nhà nước liên bang có chủ quyền chung nhưng mỗi nhà nước thành viên có chủ quyền riêng.
+ Chế độ chính trị: Trong lịch sử, đã tồn tại nhiều chế độ chính trị của các kiểu nhà nước
khác nhau, nhưng chung quy lại có 2 loại chế độ chính trị chính: chế độ chính trị dân chủ và chế độ chính trị phản dân chủ.
✓ Chế độ chính trị dân chủ: là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội căn
cứ vào việc khẳng định toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân thực hiện hoặc thông qua người đại diện do
nhân dân bầu ra, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng, tự do và quyền con người.
✓ Chế độ chính trị phản dân chủ: là chế độ mà nhân dân không có quyền tham gia vào
việc tổ chức bộ máy nhà nước (đặc biệt là cơ quan tối cao của quyền lực nhà nước) hoặc vào việc bàn bạc, thảo luận và
quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước.
Câu 3: Nêu khái niệm pháp luật, quy phạm pháp luật và các hình thức pháp luật?
- Khái niệm pháp luật: là một hệ thống các quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung do nhà nước
ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều
chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định xã hội.
- Khái niệm quy phạm pháp luật: Đó là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp
dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định,
do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực
hiện – (Khoản 1, Điều 3, Luật Ban hành văn bản Quy phạm pháp luật năm 2015).
- Các hình thức pháp luật: 4
Hình thức của pháp luật có hai loại là: hình thức bên trong, và hình thức bên ngoài pháp luật.
+ Hình thức bên trong của pháp luật: chứa đựng các yếu tố nội tại kết cấu nên toàn bộ nội dung của hệ
thống pháp luật. Nói cách khác, hình thức bên trong của pháp luật chính là hình thức cấu trúc của hệ thống pháp
luật. Hình thức cấu trúc bên trong của hệ thống pháp luật của một nhà nước bao gồm các thành phần là các ngành luật
độc lập, trong mỗi ngành luật lại được cấu tạo bởi nhiều chế định pháp luật có tính độc lập tương đối, và trong mỗi chế
định pháp luật được cấu trúc từ nhiều quy phạm pháp luật.
+ Hình thức bên ngoài của pháp luật: Nguồn của pháp luật tức là những hình thức bên ngoài của pháp
luật làm căn cứ dẫn chiếu để giải quyết các sự kiện pháp lý nảy sinh trong cộng đồng dân cư, trong hoạt động kinh
doanh thương mại, nội bộ quốc gia hoặc với các nước khác.
Câu 4: Trình bày khái niệm vi phạm pháp luật và các dấu hiệu của vi phạm pháp luật? - Khái niệm:
Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi trái pháp luật, có lỗi và do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực
hiện. Hậu quả của vi phạm pháp luật là xâm hại dến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
- Dấu hiệu vi phạm pháp luật:
Dưới đây là 05 dấu hiệu của vi phạm pháp luật để tránh nhầm lẫn với trách nhiệm pháp lý:
+ Thứ nhất, vi phạm pháp luật phải là hành vi thực tế của cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào các quan hệ xã
hội. Tức, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để xác định đó là hành vi thực hiện pháp
luật hay vi phạm pháp luật.
+ Thứ hai, vi phạm pháp luật phải là hành vi trái pháp luật ví dụ: Chủ thể vi phạm pháp luật
thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm hoặc thực hiện các hành vi vượt quá thẩm quyền.
+ Thứ ba, vi phạm pháp luật phải là hành vi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý, bởi lẽ hành vi
có tính chất trái pháp luật nhưng của chủ thể không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật.
Trong đó, năng lực trách nhiệm pháp lý của chủ thể là khả năng mà pháp luật quy định cho
chủ thể phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Chủ thể là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất
định và trí tuệ phát triển bình thường.
+ Thứ tư, vi phạm pháp luật là hành vi có lỗi của chủ thể, tức khi thực hiện hành vi trái luật,
chủ thể có thể nhận thức được hành vi của mình cũng như hậu quả của hành vi đó gây ra và điều khiển được hành vi của mình.
Ngược lại, trường hợp chủ thể thực hiện một hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng người
này không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành
vi và hậu quả của hành vi nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật.
+ Thứ năm, vi phạm pháp luật là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ như: Quan hệ tài sản, quan hệ hôn nhân - gia đình…
Câu 5: Trình bày khái niệm quyền con người?
Định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, theo đó quyền
con người được định nghĩa như sau: “Quyền con người là những bảo đảm 5
pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc
sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người”.
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi
nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được tôn trọng và bảo đảm.
Câu 6: Trình bày khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân?
Tại khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã xác định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội được công nhận,
tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiển pháp và pháp luật”.
=> Từ Hiến pháp 2013 ta có khái niệm: “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là các
quyền và nghĩa vụ được xác định trong Hiến pháp trên các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã
hội, văn hóa, là cơ sở để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cụ thể khác của công dân và cơ sở chủ
yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân”.
Hiến pháp năm 2013 quy định công dân Việt Nam có các nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44);
- Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (khoản 1 Điều 45);
- Nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân (khoản 2 Điều 45);
- Nghĩa vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 46);
- Nghĩa vụ chấp hành các quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46);
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);
- Nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47);
- Nghĩa vụ học tập (Điều 39);
- Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam (Điều 46).
Các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, điểu chỉnh những quan hệ
quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và hoạt động bình thường của xã hội.
Các quyền của công dân bao gồm: các quyền về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và các
quyền tự do cá nhân. Muốn được hưởng các quyền công dân của một nhà nước thì phải có quốc tịch của nhà nước đó.
Câu 7: Trình bày các quyền chính trị và quyền dân sự cơ bản của công dân? Nêu ví dụ minh họa? - Khái niệm chung:
Cho đến nay có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về quyền dân sự và chính trị. Công ước quốc tế về
các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) không đưa ra khái niệm, mà chỉ liệt kê một loạt các quyền và tự do cơ
bản của con người trên cả hai lĩnh vực dân sự và chính trị. Từ đó, có thể hiểu một cách đơn giản: “Các quyền
chính trị là các quyền của cá nhân được tham gia một cách trực tiếp và gián tiếp vào công việc của Nhà
nước và xã hội, bao gồm cả việc thành lập và quản lý nhà nước”. “Quyền dân sự được hiểu là
những quyền cá nhân, gắn chặt với nhân thân của mỗi người, chỉ cá nhân mới có thể sử dụng độc
lập và không thể chuyển giao cho người khác
như: quyền sống, quyền tự do đi lại, cư trú…”. 6
Để thực hiện các quyền chính trị, cá nhân phải tham gia cùng với những người khác, như quyền hội họp
hòa bình, quyền bầu cử…
- Phân tích cụ thể nội dung các quyền: * Quyền chính trị:
+ Thứ nhất, về quyền bầu cử, ứng cử và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã
hội: Các quyền này được quy định tại Điều 27, 28, 29 Hiến pháp năm 2013. Theo đó, công dân đủ 18 tuổi trở lên có
quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Công dân có quyền
tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. Theo
Điều 6, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện.
+ Thứ hai, về quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tiếp cận thông tin: Theo Điều 25 Hiến pháp
năm 2013, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin. Nếu như Hiến pháp 1992 chỉ quy
định “Công dân có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013 tại Điều 25 đã thay chữ “được thông
tin” bằng cụm từ “tiếp cận thông tin”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về
các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật.
+ Thứ ba, về quyền tự do hội họp, lập hội, biểu tình: Quyền này được quy định tại Điều 25, Hiến pháp năm 2013.
+ Thứ tư, về quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo: Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định:
Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng
trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
+ Thứ năm, về quyền bình đẳng của các dân tộc: Theo Điều 5, Hiến pháp năm 2013, các
dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân
tộc. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán,
truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để tất
cả các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Điều 42 Hiến pháp năm 2013 đã quy định một
quyền mới là: Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp. * Quyền dân sự:
+ Về quyền sống: được quy định tại Điều 19, Hiến pháp năm 2013: "Mọi người có quyền sống. Tính
mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật".
+ Về quyền đời tư: Điều 20, 21 (Hiến pháp 2013) quy định về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia
đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức
trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ. Với các nội dung đó, Hiến pháp đã mở rộng chủ thể và
nội dung của quyền được bảo vệ về đời tư so với Điều 73 (Hiến pháp 1992) - chỉ quy định về quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín.
+ Về quyền tự do và an ninh cá nhân; quyền không bị tra tấn, truy bức, nhục hình: Điều 20,
(Hiến pháp 2013) quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp 7
luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình
thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu
không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ
trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định.
+ Về quyền khiếu nại, tố cáo: Điều 30 (Hiến pháp 2013) đã quy định đầy đủ về quyền này, từ quyền của
người dân và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu lại, tố cáo cho
đến người bị thiệt hại có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp
luật; và nghiêm cấm việc trả thù người khiếu lại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu lại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác.
+ Thứ năm, về quyền tự do cư trú, đi lại: Hiến pháp 2013 quy định: Công dân có quyền có nơi ở hợp
pháp. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người
đó đồng ý. Việc khám xét chỗ ở do Luật định (Điều 22). Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có
quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 23).
+ Về quyền bình đẳng giới: Theo Điều 26 (Hiến pháp 2013), công dân nam, nữ bình đẳng
về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nếu Điều 63 của Hiến pháp năm 1992 chỉ
quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ, thì Hiến pháp năm 2013
quy định “nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” (Điều 26). Quy định này đã thay đổi quan niệm và cách tiếp cận về bình
đẳng giới, từ chỉ bình đẳng với giới nữ sang bình đẳng với cả giới nam và giới nữ. Chủ thể và nội dung quyền bình
đẳng về giới, do vậy, được mở rộng và làm sâu sắc hơn. - Ví dụ minh họa:
+ Quyền bình đẳng giới: Bình đẳng giới giữa nam và nữ vì tỉ lệ sinh tại nhiều địa phương trong cả nước ở mức
mất cân bằng, nhiều nam giới hơn.
Hơn nữa bình đẳng giới thể hiện trong tiếng nói, nữ giới ngoài làm việc nhà cũng cần được
tiếp cận với giáo dục, được tham gia vào cơ quan Nhà nước, được tôn trọng trong các lĩnh vực và được tham gia vào
những quyết sách lớn, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước.
Câu 8: Trình bày các quyền kinh tế và quyền văn hóa, xã hội cơ bản của công dân? Nêu ví dụ minh họa?
Cùng với các quyền con người về dân sự và chính trị, các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội được Nhà nước bảo
hộ bằng nhiều quy định cụ thể.
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa được Đại hội đồng Liên Hiệp
Quốc thông qua ngày 16-12-1966, Công ước quy định các quyền con người về kinh tế, xã hội, văn hóa tại phần
III, từ Điều 6 đến Điều 15, bao gồm các quyền cơ bản, như: “Quyền được hưởng an sinh xã hội, quyền được
giáo dục, quyền được hưởng điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi,
quyền được thụ hưởng mức sống phù hợp, quyền được tự do lập gia đình”…
Việt Nam chính thức phê chuẩn công ước này vào ngày 14-9-1982.
Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bao gồm các quyền: có việc làm, quyền được bảo trợ xã 8
hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở, quyền giáo dục, quyền được đảm bảo mức sống
phù hợp, quyền công đoàn, v.v. Văn kiện pháp lý quốc tế tiêu biểu nhất đề cập đến thế hệ quyền này là ICESCR. * Quyền sở hữu
Quyền sở hữu là một trong những quyền quan trọng, được ghi nhận tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “Mọi
người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn
góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật
bảo hộ”. Đồng thời, Điều 32 Hiến pháp cũng khẳng định: “Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc
vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường
tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường”.
Bên cạnh đó, việc quy định rõ hơn về sở hữu tư nhân trong Hiến pháp năm 2013, trong đó
có việc mở rộng chủ thể của quyền này từ “công dân” sang “mọi người” đã đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, khi mà
các thể nhân, pháp nhân nước ngoài có mặt làm ăn, sinh sống ngày càng nhiều tại Việt Nam.
Quyền sở hữu cũng được cụ thể hóa tại các văn bản luật và dưới luật. Điều 163, Bộ luật Dân
sự năm 2015 khẳng định quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác được pháp luật công nhận và bảo vệ,
không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái pháp luật quyền sở hữu đối với tài sản của mình. Chủ sở hữu có quyền tự
bảo vệ, ngăn cản bất cứ người nào có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; yêu cầu tòa án, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật
việc thực hiện quyền sở hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại (Điều 169, 170 Bộ luật Dân sự năm 2015).
* Quyền tự do kinh doanh
Đảm bảo quyền cho người dân được tự do kinh doanh là một trong những chính sách, chủ trương quan
trọng của Nhà nước, phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Điều 33 Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Tài
sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ.
Quyền tự do kinh doanh đã được cụ thể hóa tại các luật và văn bản dưới luật có liên quan.
Điều 7 và Điều 8 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 ghi nhận quyền tự do kinh doanh, gồm: Quyền kinh doanh
các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư;
hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn; chủ động mở rộng quy mô ngành, nghề kinh doanh; tuyển
dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh; được Nhà nước khuyến khích ưu đãi và tạo điều kiện thuận
lợi tham gia sản xuất, cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích; chủ động ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để nâng
cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp.
* Quyền có việc làm và phát triển thị trường lao động
Hiến pháp năm 2013 có các quy định cụ thể về lĩnh vực lao động, việc làm bao gồm các quyền làm việc,
lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; quyền được đảm bảo các điều kiện làm việc công bằng, an toàn;
được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi, đồng thời nghiêm cấm 9
việc phân biệt, cưỡng bức lao động, sử dụng công nhân dưới độ tuổi lao động tối thiểu (Điều 35 Hiến pháp năm
2013), phù hợp với các chuẩn mực quốc tế trong lĩnh vực này như quy định tại Công ước quốc tế về các quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa.
Bên cạnh Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Việc làm, Việt Nam đã thông qua Luật An
toàn vệ sinh lao động và đang tiến hành sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Dạy nghề, Luật Đưa người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động có thời hạn, và hướng đến xây dựng mới Luật Tiền lương tối
thiểu. Đồng thời, theo quy định hiện nay, người lao động thất nghiệp sẽ được nhận trợ cấp thất nghiệp thông qua
chính sách bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc đã thực hiện từ năm 2009 đến nay. - Ví dụ minh họa:
Quyền được tự do kinh doanh: Bạn có thể kinh doanh các mặt hàng phục vụ nhu cầu đời sống thiết yếu,
bình đẳng lẫn nhau. VD kinh doanh dịch vụ vận tải, ăn uống, bưu điện, điện tử - viễn thông. Không được kinh doanh
các mặt hàng bị pháp luật cấm như: đòi nợ, hụi, cầm đồ lãi suất cao, buôn bán vận chuyển trái phép chất cấm…
Câu 9: Trình bày các nghĩa vụ cơ bản của công dân? Nêu ví dụ minh họa?
Nghĩa vụ cơ bản công dân là sự tất yếu đòi hỏi công dân phải có những hành vi nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu
vì lợi ích của Nhà nước, của xã hội theo quy định của Pháp luật. Hay nói khác đi đó là đòi hỏi có tính bắt buộc từ phía
Nhà nước đối với công dân; nghĩa là công dân phải thực hiện một hành vi nào đó hoặc không được phép thực hiện một
hành vi nào đó theo quy định của Pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích chung của Nhà nước, của xã hội và của công dân
Hiến pháp năm 2013 quy định công dân Việt Nam có các nghĩa vụ sau đây:
- Nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc (Điều 44);
- Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (khoản 1 Điều 45);
- Nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân (khoản 2 Điều 45);
- Nghĩa vụ tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 46);
- Nghĩa vụ chấp hành các quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 46);
- Nghĩa vụ bảo vệ môi trường (Điều 43);
- Nghĩa vụ nộp thuế (Điều 47);
- Nghĩa vụ học tập (Điều 39);
- Nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam (Điều 46).
VD: Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc quy định các công dân nam đến độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên phải tham gia khám
tuyển và nhập ngũ quân sự. Đó chính là nghĩa vụ bắt buộc để bảo vệ Tổ quốc và nó đáp ứng lợi ích chung cho Nhà
nước, xã hội và chính bản thân.
Câu 10: Trình bày khái niệm vi phạm hành chính, tội phạm? Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm? - Khái niệm liên quan:
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản
lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính –
(Khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012).
+ Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) định nghĩa: “Tội phạm là 10
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền
văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm
phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của
trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.
- Phân biệt vi phạm hành chính và tội phạm:
Các yếu tố phân biệt Vi phạm hành chính Tội phạm
* Mặt khách quan: Mức độ nguy hiểm * Mặt khách quan: Mức độ nguy
thấp hơn tội phạm hình sự (đây là dấu hiệu hiểm cao hơn vi phạm hành chính. cơ bản nhất).
+ Về mức độ thiệt hại: Đối với một số
+ Về mức độ thiệt hại: Mức độ gây loại tội phạm, Bộ luật hình sự quy
thiệt hại biểu hiện dưới các hình thức khác định mức độ gây thiệt hại cho xã hội của hành
nhau như: Giá trị tài sản bị xâm hại, giá trị vi. Mức độ gây thiệt hại biểu hiện dưới các h h
àng hóa vi phạm, mức độ thương tật… Căn cứ ình thức khác nhau như: Giá trị tài sản bị
vào các dấu hiệu này, có thể phân biệt được xâm hại, giá trị hàng hóa vi phạm, mức độ ranh giới
thương tật… Căn cứ vào các dấu hiệu này, có
giữa vi phạm hành chính và tội phạm.
thể phân biệt được ranh giới giữa vi
+ Về số lần vi phạm: Phải căn cứ vào dấu ph
ạm hành chính và tội phạm.
hiệu số lần thực hiện hành vi vi phạm và + Về số lần vi phạm: Nhiều trường hợp
mức độ vi phạm của hành vi.
bị coi là tội phạm khi đã bị xử phạt vi phạm
+ Về công cụ, phương tiện, thủ đoạn hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi đã
thực hiện hành vi vi phạm: Đây cũng thực hiện (hoặc các hành vi khác có tính Về các dấu hiệu
được coi là căn cứ để đánh giá mức độ nguy chất tương cấu thành
hiểm của hành vi vi phạm. tự).
Vi phạm hành chính chỉ quy định hai
+ Về công cụ, phương tiện, thủ đoạn
hình thức lỗi là cố ý và vô ý, không có sự phân thực hiện hành vi vi phạm: Đây cũng
biệt cố ý trực tiếp hay gián tiếp, vô ý vì được coi là căn cứ để đánh giá mức độ nguy
quá tự tin hay do cẩu thả.
hiểm của hành vi vi phạm.
* Mặt chủ quan: Không có * Mặt chủ quan:
* Chủ thể: bao gồm cá nhân và tổ Do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành chức;
vi của từng trường hợp lỗi là khác nhau, * Khách thể:
hơn nữa, tội phạm là loại vi phạm pháp luật
Dù phạm vi giao nhau là lớn nhưng vẫn bị áp dụng chế tài nặng nhất nên tại Điều 10
tồn tại các quan hệ xã hội chỉ có thể là vi và Điều 11 Bộ luật hình sự quy định 04 hình
phạm hành chính, dù có vi phạm nhiều lần thức cũng không chuyển
hóa thành tội phạm (ví dụ, hành vi tiểu lỗi của chủ
thể để giúp giải quyết
tiện nơi công cộng, điều khiển mô tô, xe máy
chính xác các vụ án hình sự:
không đội mũ bảo hiểm…).
+ Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận 11
thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã
hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó
và mong muốn hậu quả xảy ra.
+ Cố ý gián tiếp: Người phạm tội
nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi
đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn
nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
+ Vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội
tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho
rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.
+ Vô ý do cẩu thả: Người phạm tội
không thấy trước hành vi của mình có thể gây
ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù
phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
* Chủ thể: là cá nhân và pháp nhân thương mại. * Khách thể:
Có những hành vi vi phạm pháp luật chỉ có th
ể là tội phạm chứ không bao giờ là vi
phạm hành chính, dù có gây hậu quả hay chưa
(ví dụ, hành vi giết người, hiếp dâm…)
Chỉ được quy định trong Bộ luật hình
sự do Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà
Được quy định trong luật, các nghị định về nước cao nhất ban hành.
Về căn cứ pháp lý x + B
ử phạt vi phạm hành chính
ị xử lý bằng các chế tài hình sự
+ Mức xử phạt nghiêm khắc hơn so với + B vi ph
ị xử lý bằng các chế tài hành chính ạm hành chính + C + Do t
ác hình thức xử phạt hành chính cũng ít
ính nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm nghiêm trọng hơn nên theo quy Về chế tài
nghiêm khắc hơn tội phạm
định pháp luật, án tích của người đó bị ghi vào
(biện pháp) xử lý
+ Do tính nguy hiểm cho xã hội thấp lý lịch tư pháp.
hơn nên việc xử phạt không bị ghi vào lý lịch Vi t
ệc xử lý người phạm tội được giao ư pháp của người đó.
cho một cơ quan duy nhất là Tòa án Về chủ thể có
+ Được giao cho nhiều cơ quan, người có 12
thẩm quyền xử lý
thẩm quyền ở các ngành; các cấp;
trong đó chủ yếu là các chức danh thuộc
cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Cũng
có trường hợp, việc xử phạt được giao
cho chức danh thuộc cơ quan khác, ngoài
cơ quan quản lý hành chính nhà nước.
+ Việc xử phạt của các chức danh
thuộc Tòa án chỉ được áp dụng trong phạm vi rất hẹp.
+ Việc xem xét, quyết định chế tài xử
phạt do 1 chủ thể là người có thẩm quy
ền ra quyết định xử phạt áp dụng.
+ Thủ tục xử phạt phần nhiều mang tính
quyền lực đơn phương từ phía cơ quan hành
chính nhà nước, dù pháp luật có quy định
quyền khiếu nại, khởi kiện của chủ thể bị xử
phạt. Do các chế tài xử phạt có mức độ nhẹ Việc xem xét, áp dụng hình phạt do Tòa án Về trình tự,
hơn nhiều so với các chế tài hình sự. Chế tài thực hiện theo thủ tục tố tụng tư pháp. thủ tục xử lý
hành chính chủ yếu tác động đến tài sản, vật
chất, tinh thần của người vi phạm (cảnh cáo,
phạt tiền…), trong khi đó, chế tài hình sự
phần nhiều bao gồm những hình phạt liên quan đến
tước quyền tự do của người phạm tội.
Câu 11: Trình bày khái niệm và dấu hiệu tội phạm?
- Khái niệm tội phạm
Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) định nghĩa khái niệm “Tội phạm” hay cũng chính
là “Tội phạm hình sự” đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có
năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an
ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật
này phải bị xử lý hình sự. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng
kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác. - Dấu hiệu:
Theo Luật hình sự Việt Nam, tội phạm phải là hành vi của con người (hành động và không hành động). Nếu
không có hành vi thì không có tội phạm. Ngay cả khi pháp nhân thương mại (một 13
chủ thể của tội phạm) phải chịu trách nhiệm hình sự thì đó cũng là chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội do
cá nhân hay tập thể con người thực hiện dưới danh nghĩa pháp nhân thương mại, chứ pháp nhân thương mại không
thể tự thực hiện được hành vi nào để có thể phạm tội.
Hành vi được hiểu dưới góc độ Luật hình sự là những biểu hiện của con người ra ngoài thế
giới khách quan được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển.
Những gì trong tư tưởng, trong suy nghĩ, chưa thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan bằng hành vi
thì chưa thể là tội phạm. Bởi vì, chỉ thông qua hành vi của mình con người mới có thể gây ra thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với hành vi không phải là tội phạm thông qua 5 đặc điểm sau:
đặc điểm nguy hiểm cho xã hội, đặc điểm có lỗi, đặc điểm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, đặc điểm
được quy định trong luật hình sự và đặc điểm phải chịu hình phạt.
Về bản chất pháp lý thì tội phạm là một trong 4 loại vi phạm pháp luật, trong đó tội phạm là
vi phạm pháp luật hình sự nên nó phải chứa đựng đầy đủ các đặc điểm của vi phạm pháp luật nói chung. Song bên cạnh đó
nó còn mang các đặc điểm có tính đặc thù riêng của nó để dựa vào đó có thể phân biệt được tội phạm với các vi phạm
pháp luật khác. Các đặc điểm đó đã được thể hiện trong khái niệm tội phạm, đó là:
* Tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
Bất kỳ một hành vi vi phạm nào cũng đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng đối với tội phạm thì tính nguy
hiểm cho xã hội luôn ở mức độ cao hơn so với các loại vi phạm pháp luật khác. Đây là đặc điểm thể hiện dấu hiệu về
nội dung của tội phạm nó quyết định các dấu hiệu khác như tính được quy định trong Bộ luật Hình sự của tội phạm.
Chính vì vậy, việc xác định dấu hiệu này có ý nghĩa như sau: Là căn cứ quan trọng để phân
biệt giữa các tội phạm và các vi phạm pháp luật khác; Là dấu hiệu quan trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của
tội phạm; Là căn cứ quan trọng để quyết định hình phạt. Để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm chúng ta phải cân nhắc, xem xét, đánh giá một cách toàn diện các yếu tố sau: Tính chất của quan hệ xã hội bị
xâm phạm; Phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội; Mức độ thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra; Hình
thức và mức độ lỗi; Động cơ và mục đích phạm tội; Nhân thân người phạm tội; Hoàn cảnh chính trị xa hội lúc và nơi
hành vi phạm tội xảy ra; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. * Tính có lỗi
Một người thực hiện hành vi phạm tội luôn bị đe dọa phải áp dụng hình phạt – là biện pháp cưỡng chế nghiêm
khắc nhất. Mục đích của hình phạt theo luật hình sự Việt Nam là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà chủ yếu
nhằm cải tạo, giáo dục họ. Mục đích này chỉ đạt được nếu hình phạt được áp dụng đối với người có lỗi khi thực hiện hành
vi phạm tội – tức là khi thực hiện hành vi phạm tội đó họ có đầy đủ điều kiện và khả năng để lựa chọn một biện pháp
xử sự khác không gây thiệt hại cho xã hội nhưng họ đã thực hiện hành vi bị luật hình sự cấm gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
* Tính trái pháp luật hình sự
Bất kỳ một hành vi nào bị coi là tội phạm cũng đều được quy định trong Bộ luật Hình sự. 14
Đặc điểm này đã được pháp điển hóa tại Điều 2 Bộ luật Hình sự chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy
định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, một người thực hiện hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu nhưng
hành vi đó chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự thì không bị coi là tội phạm. Đặc điểm này có ý nghĩa về phương
diện thực tiễn là tránh việc xử lý tùy tiện của người áp dụng pháp luật. Về phương diện lý luận nó giúp cho cơ quan
lập pháp kịp thời bổ sung sửa đổi Bộ luật Hình sự theo sát sự thay đổi của tình hình kinh tế – xã hội để công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả.
* Tính phải chịu hình phạt
Đặc điểm này không được nêu trong khái niệm tội phạm mà nó là một dấu hiệu độc lập có tính quy kết kèm theo
của tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Tính phải chịu hình phạt của tội phạm có nghĩa là bất cứ
một hành vi phạm tội nào cũng bị đe dọa phải áp dụng một hình phạt đã được quy định trong Bộ luật Hình sự. Từ việc
phân tích các đặc điểm của tội phạm có thể đưa ra khái niệm tội phạm theo các đặc điểm của nó: tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt.
Câu 12: Trình bày khái niệm và cấu thành tội phạm?
- Khái niệm cấu thành tội phạm:
Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu cần và đủ, đặc trưng cho tội phạm cụ thể được quy định trong luật.
Trong đó, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm
độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa,
quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định
của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
- Cấu thành tội phạm:
Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm có thể
rút ra được bốn yếu tố cấu thành chung nhất mà bất kỳ một tội phạm nào cũng phải có, đó là:
+ Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại. Nếu quan hệ xã
hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm. Do đó, khi đề cập đến
tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại.
+ Mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội
phạm, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả
giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, hoàn cảnh phạm tội… Thông qua biểu hiện bên ngoài ở mặt khách
quan của tội phạm có thể đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Mặt khách quan của tội phạm bao gồm:
• Hành vi: Hành vi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm. Hành vi bao gồm hành vi hành động (ví dụ:
hành vi của tội giết người, tội cướp tài sản,…) và hành vi không hành động (ví 15
dụ: hành vi của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,…)
• Hậu quả: Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả tội phạm. VD: tội hiếp dâm
thì hậu quả không phải là dấu hiệu định tội, tội vứt bỏ con mới đẻ thì hậu quả là dấu hiệu định tội.
• Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội
phạm được phản ánh qua hình thức động cơ, mục đích của tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm:
• Lỗi: Lỗi là dấu hiệu bắt buộc ở tất cả các tội phạm. Lỗi bao gồm:
• Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước
hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;
• Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho
xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
• Lỗi vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa.
• Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại
cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.
+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi phạm tội. Người
phạm tội (chủ thể của tội phạm) phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định mà Bộ luật
hình sự quy định đối với mỗi loại tội phạm.
Câu 13: Trình bày phân loại tội phạm?
Căn cứ vào quy định tại (Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015) và căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:
+ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không
lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam
giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
+ Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà
mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 3 - 7 năm tù;
+ Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao
nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;
+ Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm
tù, tù chung thân hoặc tử hình.
Câu 14: Trình bày khái niệm, hình thức và nội dung của hợp đồng dân sự? - Khái niệm:
Dưới góc độ pháp luật, khái niệm hợp đồng dân sự tại Việt Nam được quy định tại Điều 385 Bộ luật dân
sự năm 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự”. 16 - Nội dung:
Có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sau:
+ Điều khoản cơ bản của hợp đồng dân sự
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu của hợp đồng. Đó là những điều khoản không thể thiếu được
đối với từng loại hợp đồng. Nếu không thoả thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được. Điều
khoản cơ bản có thể do tính chất của từng hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quy định. Tùy theo từng loại hợp đồng mà
điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, địa điểm... Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản, vì không
thoả thuận tới nó sẽ không thể hình thành hợp đồng. Chẳng hạn, điều khoản về đối tượng luôn là điều khoản cơ bản
trong hợp đồng mua bán tài sản. Ngoài ra, có những điều khoản mà vốn dĩ không phải là điều khoản cơ bản nhưng
các bên thấy cần phải thoả thuận được điều khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là điều khoản
cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết.
Điều khoản cơ bản của hợp đồng dân sự là điều khoản mà thiếu nó thì không hình thành hợp đồng dân sự.
Tổng hợp các điểu khoản cơ bản tạo nên nội dung chủ yếu của hợp đồng. Đây là điều kiện cần và đủ để hình thành
hợp đồng do pháp luật quy định hoặc theo thỏa thuận của các bên.
Tùy từng loại hợp đồng mà điều khoản cơ bản có thể là đối tượng, giá cả, phương thức thanh
toán... Có điều khoản dĩ nhiên là điều khoản cơ bản như điều khoản về đối tượng của hợp đồng.
+ Điều khoản thông thường của hợp đồng dân sự
Là những điều khoản được pháp luật quy định trước. Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thoả thuận
những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thoả thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định.
Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp đồng. Để
giảm bớt những công việc không cần thiết trong giao kết hợp đồng, các bên có thể không cần thoả thuận và không
cần ghi vào văn bản hợp đồng những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các bên vẫn phải thực hiện những
điều khoản đó. Vì vậy, nếu có tranh chấp về những nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Ví dụ: Địa điểm giao tài sản động sản (đối tượng của hợp đồng mua bán)
là tại nơi cư trú của người mua nếu người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thoả thuận về địa điểm giao tài sản.
+ Điều khoản tùy nghi của hợp đồng dân sự
Ngoài các điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và các điều khoản mà pháp luật đã quy định
trước, khi giao kết hợp đồng các bên còn có thể thoả thuận để xác định thêm các điều khoản khác nhằm làm nội dung của
hợp đồng được cụ thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các điều khoản này
được gọi là điều khoản tùy nghi.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa
chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên
có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà
vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia.
Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều khoản cơ bản, có thể
là điều khoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùy nghi. Chẳng hạn, địa điểm giao 17
vật trong hợp đồng mua bán tài sản sẽ là điều khoản cơ bản, nếu khi giao kết, các bên đã thoả thuận cụ thể về nơi giao
vật. Ngược lại, nó sẽ là điều khoản thông thường nếu các bên không thoả thuận mà mặc nhiên thừa nhận và thực hiện
theo quy định của pháp luật. Mặt khác, địa điểm trong hợp đồng mua bán sẽ là điều khoản tùy nghi nếu các bên đã thoả
thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi để thực hiện nghĩa vụ giao vật.
Dựa vào tính chất của các điều khoản tùy nghi, người ta còn có thể phân chúng thành hai
loại khác nhau: tùy nghi ngoài pháp luật và tùy nghi khác pháp luật.
* Phụ lục hợp đồng: Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp
đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng. - Hình thức:
+ Hình thức giao kết miệng (bằng lời nói): được áp dụng với các trường hợp thỏa thuận thực hiện một
công việc với giá trị của hợp đồng không lớn hoặc khi các bên hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau, hoặc là các đối tác
tin cậy lâu năm hoặc là những hợp đồng sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt (mua bán ngoài chợ, cho bạn thân vay tiền).
+ Hình thức giao kết bằng hành vi cụ thế: Trường hợp bên mua và bên bán thỏa thuận nhau;
nếu bên bán gửi thư báo giá, mà bên kia không trả lời tức là đã chấp nhận mua hàng theo giá đã được chào.
+ Hình thức bằng văn bản (viết): Các bên giao kết hợp đồng thống nhất về quyền và nghĩa
vụ hợp đồng bằng văn bản. Các bên thỏa thuận với nhau về những nội dung chính mà đã cam kết và người đại diện
của các bên phải ký hợp đồng.
Câu 15: Trình bày khái niệm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu?
Quyền sở hữu là hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và những tài sản
khác theo quy định của pháp luật.
Quyền chiếm hữu là quyền năng của chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của
mình, nắm giữ, chi phối tài sản thuộc sở hữu nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu chỉ chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình hoặc chuyển giao
quyền sở hữu cho chủ thể khác như bán, trao đổi, tặng cho v.v. hoặc theo các căn cứ được quy định từ Điều
242 đến Điều 244 Bộ luật dân sự năm 2015.
Câu 16: Trình bày nội dung quyền chiếm hữu trong quyền sở hữu?
- Khái niệm có liên quan:
+ Theo Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”.
Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
+ Quyền chiếm hữu là quyền của một chủ thể pháp luật được nắm giữ, quản lí tài sản trên
thực tế hoặc danh nghĩa pháp lí theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Trong pháp luật dân sự Việt
Nam, quyển chiếm hữu là một trong ba nội dung pháp lí của quyền sở hữu.
+ Quyền sở hữu là một phạm trù pháp lí phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở 18
hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội.
Các quy phạm pháp luật về sở hữu xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của các chủ sở hữu trong việc chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.
Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ
sở hữu theo quy định của luật.
Theo Bộ luật Dân sự 2015, quyền chiếm hữu của chủ sở hữu được quy định như sau: Chủ sở hữu được
thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. - Nội dung:
Điều 186, Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu quy định: “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của
mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội".
Do đó, căn cứ vào chủ thể chiếm hữu có thể phân thành 2 loại là chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu
của người không phải là chủ sở hữu. Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ
xác lập quyền sở hữu, trừ một số trường hợp được pháp luật quy định như đối với tài sản bị chôn giấu, bị vùi lấp, bị chìm
đắm, tài sản bị người khác đánh rơi, bỏ quên...
Căn cứ vào nhận thức của người chiếm hữu đối với việc chiếm hữu tài sản thì chiếm hữu có
thể phân thành chiếm hữu ngay tình và chiếm hữu không ngay tình. Điều 180 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
+ Chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình
có quyền đổi với tài sản đang chiếm hữu
+ Chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình
không có quyển đối với tài sản đang chiếm hữu
Ngoài ra, việc chiếm hữu còn được xác định theo tình trạng chiếm hữu liên tục (Điều 182)
và chiếm hữu công khai (Điều 183). Theo đó:
+ Chiếm hữu liên tục: được hiểu là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không
có tranh chấp về quyển đổi với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định
có hiệu lực pháp luật của toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu
+ Chiếm hữu công khai: được hiểu là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch,
không giấu giếm, tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tỉnh năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản,
giữ gìn như tài sản của chính mình.
Câu 17: Trình bày nội dung quyền sử dụng trong quyền sở hữu? - Khái niệm:
Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng và khai thác những lợi ích vật chất của tài sản trong phạm vi
pháp luật cho phép. Nguyên tắc chung là việc khai thác những giá trị sử dụng của tài sản nhằm để thoả mãn
những nhu cầu về sinh hoạt vật chất hoặc tinh thần cho bản thân mình. - Nội dung:
Thực hiện quyền sử dụng còn là việc dựa vào tính năng của vật mà con người khai thác lợi ích vật chất của
chúng để thoả mãn các nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh. 19
Ngoài ra, việc khai thác lợi ích vật chất của tài sản còn bao gồm cả việc thu nhận những kết quả của tài sản
do tự nhiên mang lại. VD: trứng do gia cầm đẻ ra, hoa quả trên cây, gia súc nhỏ do mẹ chúng sinh ra...
Như vậy, việc sử dụng tài sản là một trong những quyền năng quan trọng và có ý nghĩa thực
tế của chủ sở hữu. Chủ sở hữu có toàn quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức của tài sản theo ý chí tuỳ nghi
của mình. Thông thường, chủ sở hữu trực tiếp sử dụng tài sản của mình nhưng có thể được chuyển giao cho người khác
trên cơ sở một hợp đồng hợp pháp của chủ sở hữu.
Trong một số trường hợp khác mà pháp luật quy định, cơ quan hoặc tổ chức cũng có quyền
sử dụng tài sản trên cơ sở một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thông thường, khi chủ sở hữu muốn chuyển quyền sử dụng cho người khác thì phải chuyển luôn quyền chiếm
hữu tài sản. Bởi lẽ, muốn khai thác công dụng của tài sản, trước hết người sử dụng phải thực hiện hành vi chiếm
hữu. Tuy nhiên, trên thực tế cũng có trường họp chủ sở hữu cho sử dụng tài sản mà không chuyển quyền chiếm hữu.
Quyền sử dụng là một quyền năng mà pháp luật quy định cho chủ sở hữu được phép sử dụng
các tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt hoặc sản xuất, kinh doanh nhưng việc sử dụng đó không
được gây thiệt hại và làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người
khác, không được trái với lợi ích chung của xã hội.
Câu 18: Trình bày nội dung quyền định đoạt trong quyền sở hữu? - Khái niệm:
Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền sở hữu như sau: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật. Như vậy, quyền định đoạt tài sản
là một loại quyền sở hữu.
Điều 192 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về Quyền định đoạt như sau: “Quyền định đoạt là quyền chuyển
giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”. - Nội dung:
Pháp luật quy định cho cá nhân là chủ sở hữu hoặc không phải chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản, tuy
nhiên cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
+ Về năng lực hành vi: Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật
+ Trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về định đoạt tài sản: Trong trường hợp pháp luật có quy định về
trình tự, thủ tục định đoạt thì cần phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục đó
Theo đó mà các Chủ thể có quyền định đoạt bằng hành vi, và làm chủ về ý chí của mình
thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản, tùy thuộc vào nhu
cầu, mong muốn của chủ thể. Có thể thấy quyền định đoạt được thực hiện ở hai góc độ khác nhau:
✓ Thứ nhất, Đối với định đoạt dưới góc độ thực tế của tài sản. các chủ thể có thể sư dụng các cách như tác
động trực tiếp lên tài sản bằng cách tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản theo quy định. Tiêu dùng là việc chủ thể đưa tài
sả vào sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống của các chủ thể. Tiêu hủy tài sản là việc chủ thể bằng một hành
vi cụ thể làm cho tài sản không 20