PHÂN TÍCH NHÂN VT TH KÍNH, TH MU TRONG TRUYN
THƠ NÔM “QUAN ÂM TH KÍNH”.
I.
Tìm hiu chung.
1.
Đôit v truyn (thơ) nôm:
-Truyn thơ Nôm hay Truyn m th thơ tiếng Vit viết bng ch Nôm
(thường thơ lục bát) để k chuyn (trn thuật). Đây một loi hình t s
kh ng phn ánh v hin thc ca hội con ni vi mt phm vi
tương đi rng.
-Ni dung ca truyện thơ Nôm thưng phản ánh đi sng hi cũng n
th hin quan niệm, ng nhân sinh ca tác gi thông qua vic miêu t
thường miêu t chi tiết, ng thut li mt cách ơng đối trn vn cuc
đời, tính cách nhân vt bng mt ct truyn vi chui các biến c, s kin
ni bt.
-Truyn thơ Nôm tiêu biểu cho văn hc c đin Vit Nam, n r vào cui thế
k XVIII, đầu thế k XIX, do viết bng tiếng Vit dùng ch Nôm nên được
gi là truyn Nôm.
2.
Truyn t “Quân Âm Th Kính”.
-Truyn “Quan Âm Thị Kínhkhông xuất hin t thi nào do ai sáng
tác ra. Thot tiên truyn mt khúc hát chèo gm nhiều đoạn, vi ngôn
t rt bình d t nhiên, ràng mt khúc hát ca dân quê, ca đại
chúng. V sau mi truyn thơ “Quan Âm Th nh” xut hiện, được
viết bng th thơ “lục bát”, mang nhiều ý nghĩa thâm thúy của c đạo Nho ln
đạo Pht.
-Truyn “Quan Âm Thị Kính” thấy bản in năm 1868 mang tiêu đ
“Quán Âm Chú Giải Tân Truyện”, bng ch Nôm. Tt c gm 788 câu thơ
“lc bát” và mt thư ca tiu Kính Tâm gi v cha m đưc viết theo li
văn “bin ngẫu”.
3.
Tóm
tt:
một người nam tu hành qua chín kiếp đến khi gn thanh Pht ch
mt thoáng tâm b đầu thai xung trn thế làm con gái. Tên Th
Kính sau ly chng Thin Sĩ. B nghi oan mun giết
chng. tr v ncha m. không th minh oan đưc li b tai tiếng
ảnh ởng đến cha m nàng cải trang thành người nam, tìm đến chùa Vân
xin đi tu. Được gi ctiu Kính Tâm. Trong làng Th Mu lng
lơ, mang thai, đổ ti cho tiu cha đứa tr. Tiu không nhn ti, b ng
tra kho mi người chê bai. chùa Vân phi lãnh tiu v cho nơi
hiên chùa. Đến khi Th Mầu sinh con đem đến b cho tiu. Tiu nhn nhc
nuôi tr. Lúc tiu qua đi mi ngưi mi biết Kính Tâm ngưi n. Gia
đình Th Mu phi lo vic tang ma nàng, còn Th Mu xu h t t
chết. Trong đám tang Kính Tâm s hin din ca cha m nàng cùng
chàng Thiện Sĩ đa tr con Th Mầu. Kính Tâm siêu thăng thành Pht
Quan Âm. Cha m đa tr cũng được siêu thăng. Riêng Thiện thi
làm con vt đứng nh mt bên.
II.
Phân tích 2 nhân vt Th nh Th Mu.
1.
Nhân vt Th Kính:
Sng trong hi vi chi chi phi gia các n giáo khác nhau, s đánh
giá ca hội đi với người ph n cùng khc khe. Tuy vy, Th Kính
mt trong nhng hình mu người ph n trong xã hi lúc by gi bi nàng có
đầy d thậm chí là hơn nhng tiêu chí hội đương thời đặt ra cho ngưi
ph nữ. Nhưng số phn ca nàng lại đầy ry bi kch, bt hnh.
a)
Ngưi ph n tài sc vn toàn, đoan trang du dàng.
-Th Kính con gái duy nht trong nhà, được cha m hết lòng dy bo.
Nàng nim t hào ca cha m bi va tài sc li nết na, nhan sc
xinh đp li thêm “công, dung, ngôn, hnh” vn toàn.
“Nghi gia hai ch t Đào,
Nhn ra trăm nết, nết nào còn chê.”
b)
Ngưi con hiếu tho, ngưi v tt.
Đối vi cha m rut.
-Khi biết tin cha m mun g con gái, nàng cùng lo lng, băn khoăn
không thôi. Mc h s chuyện vui, nhưng Th Kính li cùng bun
ru, không ngừng nghĩ đến tình cảnh gia đình mình, lo cho cha m già
không ai chăm sóc xót xa.
“Nàng nghe nghĩ ngi đã xong,
Năm canh thc mc, trong lòng cm thương.
Linh Xuân mt khóm hu vang, Quế non Yên đã n nang chi nào?
ta mt chút đào,
Thn hôn cũng đã ra vào làm khuây.
Áo Lai chưa múa sân này, Thì đem kinh b thay gi là,
Tòng phu nếu đã t gia,
Tha hoan như lúc nhà được đâu.”
Ch khi đưc ba m hết lòng khuyên nh, nàng mi th khuây kha
bt lo.
-Khi xy ra v vic b gia đình chng tr v nhà m, nàng cm thy
cùng li vi cha m, đã khiến cha m mang tai tiếng phin lòng,
mun chết nhưng li nghĩ đến cha m không n đành ng.
“Trách người sao n dày vò,
Để cho Tiu Ngc gin no cũng già.
Nhn hàng phỏng có đôi ba, Thà rng minh mc, n ô danh.
Ti vì phn liu mt cành, Liễu đi thì đ mi tình cậy ai?
Hay
“V chi chút phn hng nhan, Cành hoa n mun thì tàn thôi.
Xót thay tóc bc da mi,
ai nên ni đứng ngi chng khuây.”
S xót xa, thương cho cha m mình đi ly chng không báo đáp cha
m còn phi chu ni oan tày tri này ca Th Kính khiến người
đọc không ngng thương xót cho thân phn nàng ng như than phn
người ph n “thp c bé họng” trong xã hội by gi.
-Thi gian không ngng trôi, thi gian nhà cha m ngày mt già hơn,
nhưng những đàm tiếu ngoài kia tvẫn còn đó, ê cũng đã lâu đành quyết
định nương nh ca Pht mà dành phúc đc đền ơn cha m. S cha m
thương con không n, ch đành để lại lá thư và trốn đi trong đêm.
Độ trì nh đức Thế n.
D dang tha trưc, vuông tròn mai sau.
Nghiêm, t hưởng phúc v lâu, Ho đền nghĩa nng ơn sâu cho bng.
Thưng tha là Phật là Tăng, Xích thng đã i, kim thng hn giai,
Chỉn e thưa gửi rõ bài, Thương con hn chng n hoài cho đi.
Thôi thôi xut cáo làm chi,
Thân này còn qun th phi được nào!
Quyết định y ca ng cũng minh chng cho s bế tc ca
người ph n, đặc bit trong hi c, khi phi chp nhn thc tế mt
cách th động trưc nhng thách thc b ca s phn.
-Trước khi t trn cũng không quên viết thư, dn con trai truyền thư đến
cho gia đình
Đối vi cha m chng.
-Không ch vi thân mu rut , đi vi cha m chồng, nàng cũng hết
mực cung kính như cha mẹ mình.
“Xét nàng nết đủ mi điều,
Đã nim hiếu tho, li chiu đoan trang.
trên hiếu thuận song đường, Lòng qu dám tr, tay khương nào rời.
-Trước c v nhà m, b mang oan không ai giúp đỡ, nàng tr thành
nn nhân ca s tình và đau kh đến tt cùng. Cho b oan c, s v,
đui v nhưng nàng vẫn mt lòng gi vững đc tính by lâu.
“Gọi con đến trước lạy người, Ly lương nhân đã, s ri chân ra.
Lòng nàng xiết ni xót xa, Má đào dt mt hoa âu su.
Đến nơi làm l khu đầu,
Ly công đoạn, ri sau ly chồng.”
Đối vi chng
-T khi đưc g cho nhà h Sùng, Th Kính đã nguyn mt lòng vi chng,
đồng hành cùng chồng mong đi ngày thành danh.
“Đêm về trăng chiếu sáng ngn Chàng nàng k cn gia sân th bi Mong mãn kiếp,
ước sut đi
Mãi cùng đoàn t chng ri xa nhau, Li th như đá khắc sâu
Như đem thếp vàng đâu khác gì.
Hay
“Du tài nàng T đã xơi cho tày. Khuyên chàng kinh s đêm ngày.”
“Hôm mai trong chn thâm khuê,
K đường kim ch, người ngh bút nghiên.
-Nàng làm tròn bn phn, nghĩa v ca mt ngưi v chăm lo cho chng
t nhng th nh nht.
“Canh khuya bn vi sách đèn,
Mi lưng chàng mới ta bên cnh nàng.
Phi khi liếc mt trông chàng, Thy râu mc ngược ngang dưới cm.
tâm xui bng gia tâm,
Dao con sn đấy, mi cm lên tay.”
Qua đó ta th thy đưc Th Kính ngưi ph n biết lo toan
cho gia đình. Cm nhn s hnh phúc thông qua vic quan tâm, chăm c
cho người khác, đó không ch là bn phận, nghĩa v ca người ph n trong
xã hi phong kiến còn là s hy sinh thm lng.
c)
S phn đy bi kch.
người ph n “đc hnh, tiết nghĩa” thế nhưng s phn Th Kính li
không ít nhng bi kch, bt hạnh đến t nhng vic vô cùng nh nht.
B vu oan giết chng
-Ai th ng rng ch mt hành động nh, mun ct râu cho chng
li ngun cơn khiến cho c gia đình chng nghi ng ý đồ xu, làm
tan v hnh phúc v chng.
“Tht thn nào kp hi han, Mt li la li rng toan giết người,
Song thân nghe tiếng rng ri, Rng: “Sao khuya khot li gm thay?”
Thưa rằng: “Giấc bướm va say, Dao con nàng bng cm tay k gn.
Hai vai h qu thn,
Thc đôi l xin phân cho ờng.””
cho Th Kính đã ra sc gii thích để minh oan nhưng vn không
ngng b ph nh, xem thường gi cha m đến đ bôi nh, tr v.
B nghi ng ngoi tình
-Đứng trưc cha m hai bên chng, nàng b nghi ng gian tình
bên ngoài âm mưu giết hi chng b gia đình chng t mt.
“Trách rằng: “S mi l lùng, Sinh con ai d sinh lòng y đâu?
St cm bng d dang nhau, Say đâu vi đứa trong dâu hn hò.
Sông kia còn có k dò, Lòng người ai d đo cho cùng.
S này mười mt đu trông, Thôi đừng tra hi, gn gùng na chi.
Nghe anh nào có bụng gì, Đem lòng dy d sau thì mc anh.”
Không nhn đưc s tin ng t mi người khiến nàng cm thy
cùng đơn, bt lc, mt mình đối mt vi s đau kh, tuyt vng.
B Th Mu vu oan làm mang thai.
ng chng la chn ci nam trang đi xut gia s gii thoát ca Th
Kính trưc những áp đặt trước đó, y vậy ngay ới nơi hiên chùa, nàng
vn b vu oan mt cách trng trn không th giải y ng ai được. Đó
b vu oan khiến cho Th Mu có thai.
“Xưa nay ở chn thâm khuê, Dù ong hay m chưa h biết ai.
Phi khi lên chn thin trai, Kính Tâm tiu y gp ngoài sau bia.
Quá yêu tôi đã nguyn th, Nhu hoa phó mc bướm kia ra vào.
nên cu bc bến nào,
Nh làng ơn y đời nào dám quên.”
-
Nếu trước đây tiếng nói ca nàng Th Kính vốn đã yếu t, không th
minh oan cho mình thì gi đây i than phn c tiu Kính Tâm nàng
li càng không th làm sáng t nhng oan c người gieo cho mình. Ch
th nghe theo li Pht nhn nhn, chu nhng đòn roi, những li
đàm tiếu, khinh thưng của người đời đối vi mình.
“Chữ răn: Nhn nhc nhim hoà, Nhn điu khó nhn mi chân tu.”
-Gi đây ngay c nơi ca Pht nàng cũng không th , ch th lng l
qua ngày ti mái hiên cng chùa.
“Dn mi ng li,
Rng: “Con đã mc tiếng người chê bai.
Tam Quan ra mái ngoài,
Ko e ming thế ma mai đến thy.”
d)
Ngưi tm lòng bao dung nhân hu, t b, trc n.
tri qua rt nhiều điu bi kch là thế, Th Kính vn không h căm phn
cuc đời, nàng nhìn đời dưới cái nhìn của người tu hành đy lòng t bi trc
n.
-Khi Th Mầu mang đứa tr sơ sinh đến đ trưc ca chùa, nàng không ngn
ngại đó đứa con ca k đã vu oan cho nh, b mt nhng li đàm tiếu
ngoài kia mang đứa tr vào nuôi như con
mình.
“Nhưng vì trong d hiếu sinh, Phúc thì làm phúc, đành chu dơ.
trong chu c vơ,
Khi nay chng cu, còn ch khi nao?
Chng sinh cũng chu lao,
Xót tình măng sa, nâng vào trong tay.
- l n cnh lòng t bi ca mt người tu, Kính Tâm lại càng yêu thương
đứa tr bng tt c nhng mình xut phát t tm ng mu t vn
sâu bên trong mỗi người ph n. không ch dng li vic chăm
mm con thơ t git sa đến miếng ăn, qua tng tiếng chuông ru ngủ,….
Nàng nhn ra s hnh phúc đứa tr mang li cho nàng l đa
tr cũng vy nên con ngưi li ging cha nuôi l thưng.
-Đến tn trước khi chết nàng vn luôn lo nghĩ thương đứa con còn q
nh.
th thy đưc đứng trưc nhng khó khăn, th thách nào ca
cuc sng, Th Kính vn luôn đối x vi đời bng tt c nh yêu thương,
tm lòng bao dung t bi ca nh không màng đến nhng thit
thòi, tai tiếng mình đang phi gánh chu.
e)
Th Kính đưc ty oán hóa kiếp.
-Nàng mt ngưi c đi trong sch nhưng li chu oan c hết ln này
đến ln khác cho đến tn khi đã ri xa trn thế mi vic mi đưc sáng t.
Đó khi ph cho người chăm sóc than th chun b mai
táng, s vic nh Tâm n nhi mi đưc t ni oan làm Th
Mầu có thai cũng t đó mà đưc minh bch.
“Kính Tâm chu Pht đi ri
Hãy ra xem xét ngoài thin môn!” Đạo tràng tuân lệnh đi luôn
Sau khi coi t không n h nghi: “Tiu Kính Tâm là n nhi!”
Mi người trình li nghe t ng.
Sư nghe tin thấy l thưng Sai thêm vãi vi vàng ra xem Vãi trình mi chuyn rõ
thêm:
“Tiu là nhi nnh hin chng sai Thế mà b tiếng chê bai
B người đầy đọa rc rài đến nay!””
-Hay s tình b vu oan giết chng ch tht s được m khi thư cui
cùng nàng gi v quê nhà cho cha m đưc đọc và hiu tâm tình ca nàng.
“Thư nàng Thị Kính viết rằng: “Công ơn cha m ln bng núi cao
Xin li, mong lành thay Phn con cõi tnh t đây tìm về!””
-Đến cui, Đức Thích Ca xét Kính Tâm đã tu thành chính qu, bèn cho
siêu thăng làm Quan Âm, tục gi Quan Âm Th Kính.
Nàng đã dùng một kiếp ngưi ca mình, nhn nhc, chu đựng, hy sinh
để th đưc kết qu như vy sau khi chết. Đó l mt cái kết
đẹp nhưng li khiến ngưi ta không khi xót xa, thương cm.
*Liên h nn vt Nương
-
Hoàn cnh Th Kính chẳng khác nào Nương trong truyện:Người con
gái Nam Xương”khi chiếc bóng trên tường mà nàng đùa nghch khiến nàng b
hiu lm là không chung thy.
Ni oan Th Kính nói riêng ph n trong hi phong kiến nói
chung do s bt công,chà đạp ca chế độ nam quyn khiến h
không th giãi bày tâm trong lòng h,b chà đạp s nhục đẩy đến đưng
cùng.
Nhân vt Th Kính như tiêu biu cho bi kch ca ngưi ph n trong
hi vi nhng bt công oan trái. Qua đó tác phm lên án mnh m
hi thối nát ,chà đp lên nhng ước mơ,cuộc sng tốt đẹp ca con ngưi
đó cũng tiếng lòng thương cm, xót xa ca nhân dân cho s phn
hng nhan mà bc mnh.
2.
Nhân vt Th Mu.
Sau khi b ni hàm oan là mang danh giết chng, Th Kính liền lên chùa đi
tu, nhng ng s bình yên tu thành chánh qu thì li gp phi mt kiếp
nn na, đó b nàng Th Mu vu oan giá ha thông cùng nàng.
“Ở trong làng có mt nhà Phú ông tài sn tính ra rt giàu
Có con gái tên Th Mu
Tui va đôi tám khi đầu tình duyên”
a)
Ngưi con gái xut thân danh giá:
Th Mu xut hin vi gia thế là con gái ca mt nhà phú ông rt giàu có,
nm trong giai cấp thượng lưu, tuổi Th Mu thì va tròn 18 trăng tròn, cái
tui v đẹp người con gái đang trên đỉnh cao ca nhan sc. Cái tui
nhiu ngưi trai làng cu mong kết đôi, mun to nên mt mối lương
duyên đẹp đẽ với người con gái y. Chính cái s giàu nhan sc xinh
đẹp động lòng người đã khiến cho nàng Mu mang cho nh mt s kiêu
hãnh s t tin riêng toát ra. Bng chng nhiu nhà không qun ngi
xa đến dm hi, xin i nàng v.
“Nhiều nơi dạm hỏi cưới xin Tiu thư ch thích yên mt mình
Vi cha m, với gia đình Nào đâu chu kết tình la đôi.
Thói nhà n nếp lâu đời
Lên chùa l Pht nàng thi rt chăm C mng mt ln ngày rm
Nàng thưng mang các món ăn cúng ờng,
Nàng tơng yêu m cha, không n rời xa gia đình mà tm gác li chuyn
hôn nhân ca bn thân, mun bên báo hiếu cho cha m trước đã. Li
thêm nhà nàng n nếp gia giáo đã lâu, nên mng mt ngày rằm đu lên
chùa cu Phật, ng thưng mang nhiu món ăn để cúng dường. Dăm ba câu
thơ mở đầu đã khiến người đọc toan lầm ng nghĩ rng Th Mu người
con gái nết na thùy m, phm hnh l tiết đều có đủ.
Nhưng thật ra, Th Mu li một ngưi ph n lẳng lơ, phn qphóng
khoáng không hp vi thi thế, đặc bit khi nàng không ngn ngi nói ra
nhng lời “yêu” đi vi tiu Thnh.
b)
Ngưi con gái tính cách lng lơ, phóng khoáng, tính
“đc bit”:
Tính cách Th Mầu đã được khc ha nên là mt cô gái có phần ngang ngưc,
lẳng lơ không tuân theo l giáo tam cương ngũ thưng lúc by gi:
“Th Mu ngó thy trong lòng say mê Lân la gp mt kiếm b
Nhưng nào thưa gi chút gì được đâu Tiểu kia đã vội cúi đầu
Chân thi ro bước đi mau mt ri.
Th Mu lòng d bi hi
minh xui khiến ct li u mê:
“Cầu xin đức Phật độ trì
Cho con gn gũi tiu kia thân tình Dù duyên chng v chng thành
Ly nhau không được cũng đành vy thôi Xin cho dan díu nht thi
Ái ân ít ba tha li ước mơ!””
Hay như khi không đưc tình yêu ca chú tiu, s đơn” ca bn
thân:
“Gối chăn mơ tưởng mãi thôi, Trong nhà sn mt người làm công
Đầy t trai cũng dễ trông Th Mu tình t tho lòng ái ân
Khi không t ch bn thân
Nghĩ rng phút chc thông dâm trong nhà D gì l vic này ra
Ai hay đâu chuyn nguyt hoa ca mình.”
Suy nghĩ phn o bo, nàng không ngn ngi bày t tình cm ham mun
nhc dc th xác ca mình cho Th Kính biết. Trong hi đề cao s
công-dung-ngôn-hnh, triệt tiêu đi chữ dâm, vic Mu th hin cm c ca
mình mt cách không e ngi phn rt táo bạo, ngang ngưc nhưng cũng
to nên mt tính nhân vt rt “riêng”, mt li suy ng rt hin đại, đó
dám sng tht vi cm c dc vng ca bn thân. Cái cht riêng
ca nàng cũng đưc th hin qua khi nàng không ngn ngi trách c luôn
c Pht dám ngăn cm mình đến với người tình.
“Trách ông nguyệt lão kia luôn Biết nhà Pht cm chng còn ch m
Chc ông ra sc cn nn
Đâu cho nàng d được gn tiu kia.”
c)
Ngưi con gái va đáng thương va đáng trách:
Th Mu mt nhân vật đa chiu, chúng ta có th thy bên ngoài ca nàng
mt gái mang danh lẳng lơ, dâm dc khi không ngn ngi quyến rũ chú
tiu, ri li thông dâm vi thng nhà mình đ ri có mang cha hoang.
Sau đó, s ích k nhân vu oan Th Kính, phá hoi thanh danh
ca chú tiu hòng nhm ly ngưi y làm chng. Nhưng nếu đặt theo mt
góc nhìn khác nàng cũng mt gái đáng thương, Th Mu không có
đưc mt nh yêu chân chính t Th nh ngưi mà nàng ái m. Mu vn
xut thân danh giá, con nhà giàu li nhan sc xinh đp, nàng s
kiêu ngo ca riêng mình nhưng li mt phút yếu lòng li thông dâm
vi n ngưi
-
người địa v thp hơn mình rt nhiu.
+ Người con gái đáng thương:
-Xét phương din yêu thì Th Mu đúng mt gái hin đại. Th đã
dám yêu, dám bày tỏ, dám vượt qua l giáo ca hi phong kiến, nhng
mong đưc tình yêu ca nh. bao nhiêu gái thời đại ấy đã dám
làm thế như Thị Mu.
-
Nếu nhìn trên phương din tích cc thì Mu li mt gái kt
vng tình yêu cao c. Tht hiếm ngưi ph n nào trong hi xưa th
bc l tình cm ca mình mt ch thng thn như Mu. H thưng s im
lng, âm thm chu đựng hoc du dàng, n ý trong tình yêu ca mình.
Nhân vt Th Mu biu hin cho mt phm cht khác ca ngưi ph n
Vit Nam đó khát khao u đương. Đây quyền bn ca người ph
n i riêng con ngưi nói chung. Th Mu điển hình v s phá
phách, chng li nhng trói buc ca chế đ phong kiến khc, khát
khao ng ti hnh phúc ca người ph n thi by giờ. Ngưi ph n
này dám bc l hết mình, biết sng, biết khao khát tn ng vi đời. Dám
yêu, dám lên tiếng tình u - gia hi phong kiến ch duy nht mt
Th Mu. Th ct lên tiếng nói n quyền để lật đ thành tl giáo kĩ đã
tr thành giáo điều, đạp đổ
nhng l làng, nhng đạo đức gi, nhng quan nim c h chà đạp lên
thân phận và tước đoạt hạnh phúc con ngưi. Mu đây tht mi.
+ Người con i đáng trách:
-Nói như vậy, không nghĩa chúng ta “tán thưởng” Th Mu v cách
hành x trong nh yêu, ch để thy hơn do li lm ca Th để
tha th phn nào cho mt gái mang cái “án lng lơ” theo sut chiu
dài văn hóa dân tộc. Li lm ca Th Mu ch yêu say đắm nhưng không
hiu rng tình yêu cn phi t hai phía. thế, Th đã biến tình yêu ca
mình thành s si quáng, dẫn đến bi kịch cho mình người mình
yêu.
-
Việc “không chng chửa” ca Th Mu (của người ph nữ) đối vi
đạo đức nghit ngã ca hi thu y mt ti trng quá c. Hình pht
th gt tóc bôi vôi ri th trôi sông. vy chúng ta th hiu
thêm, vic Th Mu đổ ti cho Kính Tâm, không đơn thun ch mt
hành động vu oan giá ha cho k tu hành, đó tht ra còn là s kêu
cu lòng t cu kh nơi ca Pht. Và đây điều cao c ch nh Tâm:
một người xut gia, li vn n gii, s kết tinh ca t bi, trí tu
chất hai con người y do đ Kính Tâm sn sàng chu oan để Th Mu
bt kh. Như thế nhẫn sanh nhn” đây hoàn toàn đâu phải thái độ
phn kháng tiêu cc th động. Nhn đây nhn nhc nhim hòa,
nhn điu khó nhn, hy sinh chính mình, chu oan chu kh thay ngưi
khi cuc đời đang còn tràn đy bt công nghit ngã.
III.
Ni dung ngh thut.
1.
Giá tr ni dung:
-Thông qua nhng bi kch ca Th Kính để th hin s bế tc,bi thm ca
người ph n, cùng với đó là sự xung cp ca xã hội đương thi.
-Ca ngi nhng giá tr tt đẹp ca ngưi ph n cũng như phê phán ngưi
ph n dâm dc, không chính chuyên, thành tht trong xã hi.
-Ca ngi nhng phm cht tt đẹp ca bc tu hành chân tht, không b tác
động bi nhng yếu t xung quanh.
-Truyn Quan Âm Th Kính chính mt li cnh báo cho những ngưi chn
con đường thanh nhàn khi đi tìm tới đo Phật. Để đắc đạo, người ta phi ch
chu kh hnh, còn phi chu nhng oan c bt công na... Như Th Kính,
oan uổng đến vy mà không h oán trách tri và s phn, ch ly t tâm
chiến thng cnh ng...
2.
Giá tr ngh thut:
- Ngôn ng nhân vt đc sắc, độc thoi kết hợp đối thoi th hin tài xây
dng ct truyn ca tác gi.
-S dng ca dao tu t sôi ni, tác gi làm cho câu chuyn tr nên sng
động và gần gũi với người đc.
-S dng các yếu t o.
-Miêu t nhân vt độc đáo, phong phú.
-Các tình hung trong truyn thơ đầy kch nh, hp dn, đưa người đọc
đến nhiu trng thái cm xúc khác nhau.
-Tác phm còn bo lưu khuôn dng ca truyn c ch, motip quen thuc
ca truyện dân gian như motip gi trai.

Preview text:

PHÂN TÍCH NHÂN VẬT THỊ KÍNH, THỊ MẦU TRONG TRUYỆN
THƠ NÔM “QUAN ÂM THỊ KÍNH”.
I. Tìm hiểu chung.
1. Đôi nét về truyện (thơ) nôm:
-Truyện thơ Nôm hay Truyện Nôm thể thơ tiếng Việt viết bằng chữ Nôm
(thường là thơ lục bát) để kể chuyện (trần thuật). Đây là một loại hình tự sự
có khả năng phản ánh về hiện thực của xã hội và con người với một phạm vi tương đối rộng.
-Nội dung của truyện thơ Nôm thường phản ánh đời sống xã hội cũng như
thể hiện quan niệm, lí tưởng nhân sinh của tác giả thông qua việc miêu tả và
thường là miêu tả chi tiết, tường thuật lại một cách tương đối trọn vẹn cuộc
đời, tính cách nhân vật bằng một cốt truyện với chuỗi các biến cố, sự kiện nổi bật.
-Truyện thơ Nôm tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế
kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt dùng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm.
2. Truyện thơ “Quân Âm Thị Kính”.
-Truyện “Quan Âm Thị Kính” không rõ xuất hiện từ thời nào và do ai sáng
tác ra. Thoạt tiên truyện là một khúc hát chèo gồm nhiều đoạn, với ngôn
từ rất bình dị và tự nhiên, rõ ràng là một khúc hát của dân quê, của đại
chúng. Về sau mới có truyện thơ “Quan Âm Thị Kính” xuất hiện, được
viết bằng thể thơ “lục bát”, mang nhiều ý nghĩa thâm thúy của cả đạo Nho lẫn đạo Phật.
-Truyện “Quan Âm Thị Kính” thấy có bản in năm 1868 mang tiêu đề là
“Quán Âm Chú Giải Tân Truyện”, bằng chữ Nôm. Tất cả gồm 788 câu thơ
“lục bát” và một lá thư của tiểu Kính Tâm gửi về cha mẹ được viết theo lối văn “biền ngẫu”. 3. Tóm tắt:
Có một người nam tu hành qua chín kiếp đến khi gần thanh Phật chỉ vì
một thoáng tà tâm mà bị đầu thai xuống trần thế làm con gái. Tên Thị
Kính sau lấy chồng là Thiện Sĩ. Bị nghi oan là muốn giết
chồng. Cô trở về nhà cha mẹ. Vì không thể minh oan được lại bị tai tiếng
ảnh hưởng đến cha mẹ nàng cải trang thành người nam, tìm đến chùa Vân
xin đi tu. Được gọi là chú tiểu Kính Tâm. Trong làng có ả Thị Mầu lẳng
lơ, mang thai, đổ tội cho tiểu là cha đứa trẻ. Tiểu không nhận tội, bị làng
tra khảo và mọi người chê bai. Sư chùa Vân phải lãnh tiểu về cho ở nơi
hiên chùa. Đến khi Thị Mầu sinh con đem đến bỏ cho tiểu. Tiểu nhẫn nhục
nuôi trẻ. Lúc tiểu qua đời mọi người mới biết Kính Tâm là người nữ. Gia
đình Thị Mầu phải lo việc tang ma nàng, còn Thị Mầu xấu hổ mà tự tử
chết. Trong đám tang Kính Tâm có sự hiện diện của cha mẹ nàng cùng
chàng Thiện Sĩ và đứa trẻ con Thị Mầu. Kính Tâm siêu thăng thành Phật
Quan Âm. Cha mẹ và đứa trẻ cũng được siêu thăng. Riêng Thiện Sĩ thời
làm con vẹt đứng nhờ một bên.
II. Phân tích 2 nhân vật Thị Kính và Thị Mầu. 1. Nhân vật Thị Kính:
Sống trong xã hội với chi chi phối giữa các tôn giáo khác nhau, sự đánh
giá của xã hội đối với người phụ nữ vô cùng khắc khe. Tuy vậy, Thị Kính là
một trong những hình mẫu người phụ nữ trong xã hội lúc bấy giờ bởi nàng có
đầy dủ thậm chí là có hơn những tiêu chí xã hội đương thời đặt ra cho người
phụ nữ. Nhưng số phận của nàng lại đầy rẫy bi kịch, bất hạnh.
a) Người phụ nữ tài sắc vẹn toàn, đoan trang dịu dàng.
-Thị Kính là con gái duy nhất trong nhà, được cha mẹ hết lòng dạy bảo.
Nàng là niềm tự hào của cha mẹ bởi vừa có tài sắc lại nết na, nhan sắc
xinh đẹp lại thêm “công, dung, ngôn, hạnh” vẹn toàn.
“Nghi gia hai chữ thơ Đào,
Nhận ra trăm nết, nết nào còn chê.”
b) Người con hiếu thảo, người vợ tốt.
❖ Đối với cha mẹ ruột.
-Khi biết tin cha mẹ muốn gả con gái, nàng vô cùng lo lắng, băn khoăn
không thôi. Mặc dù hỷ sự là chuyện vui, nhưng Thị Kính lại vô cùng buồn
rầu, không ngừng nghĩ đến tình cảnh gia đình mình, lo cho cha mẹ già
không ai chăm sóc mà xót xa.
“Nàng nghe nghĩ ngợi đã xong,
Năm canh thắc mắc, trong lòng cảm thương.

Linh Xuân một khóm hầu vang, Quế non Yên đã nở nang chồi nào?
Có ta một chút má đào,
Thần hôn cũng đã ra vào làm khuây.
Áo Lai chưa múa sân này, Thì đem kinh bố mà thay gọi là,
Tòng phu nếu đã từ gia,
Thừa hoan như lúc ở nhà được đâu.”
Chỉ khi được ba mẹ hết lòng khuyên nhủ, nàng mới có thể khuây khỏa mà bớt lo.
-Khi xảy ra vụ việc bị gia đình chồng trả về nhà mẹ, nàng cảm thấy vô
cùng có lỗi với cha mẹ, đã khiến cha mẹ mang tai tiếng mà phiền lòng,
muốn chết nhưng lại nghĩ đến cha mẹ mà không nỡ đành lòng.
“Trách người sao nỡ dày vò,
Để cho Tiểu Ngọc giận no cũng già.

Nhạn hàng phỏng có đôi ba, Thà rằng minh mục, hơn là ô danh.
Tủi vì phận liễu một cành, Liễu đi thì để mối tình cậy ai?” Hay
“Vẻ chi chút phận hồng nhan, Cành hoa nở muộn thì tàn mà thôi.
Xót thay tóc bạc da mồi,
Vì ai nên nỗi đứng ngồi chẳng khuây.”
Sự xót xa, thương cho cha mẹ mình đi lấy chồng không báo đáp cha
mẹ mà còn phải chịu nỗi oan tày trời này của Thị Kính khiến người
đọc không ngừng thương xót cho thân phận nàng cũng như than phận
người phụ nữ “thấp cổ bé họng” trong xã hội bấy giờ.
-Thời gian không ngừng trôi, thời gian ở nhà cha mẹ ngày một già hơn,
nhưng những đàm tiếu ngoài kia thì vẫn còn đó, ủ ê cũng đã lâu đành quyết
định nương nhờ cửa Phật mà dành phúc đức đền ơn cha mẹ. Sợ cha mẹ
thương con không nỡ, chỉ đành để lại lá thư và trốn đi trong đêm.
“ Độ trì nhờ đức Thế Tôn.
Dở dang thủa trước, vuông tròn mai sau.
Nghiêm, từ hưởng phúc về lâu, Hoạ đền nghĩa nặng ơn sâu cho bằng.
Thượng thừa là Phật là Tăng, Xích thằng đã ủi, kim thằng hẳn giai,
Chỉn e thưa gửi rõ bài, Thương con hẳn chẳng nỡ hoài cho đi.
Thôi thôi xuất cáo làm chi,
Thân này còn quản thị phi được nào!”
Quyết định này của nàng cũng là minh chứng cho sự bế tắc của
người phụ nữ, đặc biệt trong xã hội cổ, khi phải chấp nhận thực tế một
cách thụ động trước những thách thức và xô bồ của số phận.
-Trước khi từ trần cũng không quên viết thư, dặn dò con trai truyền thư đến cho gia đình
❖ Đối với cha mẹ chồng.
-Không chỉ với thân mẫu ruột rà, đối với cha mẹ chồng, nàng cũng hết
mực cung kính như cha mẹ mình.
“Xét nàng nết đủ mọi điều,
Đã niềm hiếu thảo, lại chiều đoan trang.

Ở trên hiếu thuận song đường, Lòng quỳ dám trễ, tay khương nào rời.”
-Trước lúc về nhà mẹ, bị mang oan và không ai giúp đỡ, nàng trở thành
nạn nhân của sự vô tình và đau khổ đến tột cùng. Cho dù bị oan ức, sỉ vả,
đuổi về nhưng nàng vẫn một lòng giữ vững đức tính bấy lâu.
“Gọi con đến trước lạy người, Lạy lương nhân đã, sẽ rời chân ra.
Lòng nàng xiết nỗi xót xa, Má đào ủ dột mặt hoa âu sầu.
Đến nơi làm lễ khấu đầu,
Lạy công cô đoạn, rồi sau lạy chồng.” ❖ Đối với chồng
-Từ khi được gả cho nhà họ Sùng, Thị Kính đã nguyện một lòng với chồng,
đồng hành cùng chồng mong đợi ngày thành danh.
“Đêm về trăng chiếu sáng ngần Chàng nàng kề cận giữa sân thề bồi Mong mãn kiếp, ước suốt đời
Mãi cùng đoàn tụ chẳng rời xa nhau, Lời thề như đá khắc sâu
Như là đem thếp vàng đâu khác gì.” Hay
“Dẫu tài nàng Tạ đã xơi cho tày. Khuyên chàng kinh sử đêm ngày.”
“Hôm mai trong chốn thâm khuê,
Kẻ đường kim chỉ, người nghề bút nghiên.”
-Nàng làm tròn bổn phận, nghĩa vụ của một người vợ chăm lo cho chồng
từ những thứ nhỏ nhất.
“Canh khuya bạn với sách đèn,
Mỏi lưng chàng mới tựa bên cạnh nàng.
Phải khi liếc mắt trông chàng, Thấy râu mọc ngược ở ngang dưới cằm.
Vô tâm xui bỗng gia tâm,
Dao con sẵn đấy, mới cầm lên tay.”
Qua đó ta có thể thấy được Thị Kính là người phụ nữ biết lo toan
cho gia đình. Cảm nhận sự hạnh phúc thông qua việc quan tâm, chăm sóc
cho người khác, đó không chỉ là bổn phận, nghĩa vụ của người phụ nữ trong
xã hội phong kiến mà còn là sự hy sinh thầm lặng.
c) Số phận đầy bi kịch.
Là người phụ nữ “đức hạnh, tiết nghĩa” là thế nhưng số phận Thị Kính lại có
không ít những bi kịch, bất hạnh đến từ những việc vô cùng nhỏ nhặt.
❖ Bị vu oan giết chồng
-Ai có thể ngờ rằng chỉ một hành động nhỏ, vì muốn cắt râu cho chồng
lại là nguồn cơn khiến cho cả gia đình chồng nghi ngờ có ý đồ xấu, làm
tan vỡ hạnh phúc vợ chồng.
“Thất thần nào kịp hỏi han, Một lời la lối rằng toan giết người,
Song thân nghe tiếng rụng rời, Rằng: “Sao khuya khoắt mà lời gớm thay?”
Thưa rằng: “Giấc bướm vừa say, Dao con nàng bỗng cầm tay kề gần.
Hai vai hộ có quỷ thần,
Thực hư đôi lẽ xin phân cho tường.””
Dù cho Thị Kính đã ra sức giải thích để minh oan nhưng vẫn không
ngừng bị phỉ nhổ, xem thường mà gọi cha mẹ đến để bôi nhọ, trả về.
❖ Bị nghi ngờ ngoại tình
-Đứng trước cha mẹ hai bên và chồng, nàng bị nghi ngờ vì có gian tình
bên ngoài mà âm mưu giết hại chồng và bị gia đình chồng từ mặt.
“Trách rằng: “Sự mới lạ lùng, Sinh con ai dễ sinh lòng ấy đâu?
Sắt cầm bỗng dở dang nhau, Say đâu với đứa trong dâu hẹn hò.
Sông kia còn có kẻ dò, Lòng người ai dễ mà đo cho cùng.
Sự này mười mắt đều trông, Thôi đừng tra hỏi, gạn gùng nữa chi.
Nghe anh nào có bụng gì, Đem lòng dạy dỗ sau thì mặc anh.”
⇨ Không nhận được sự tin tưởng từ mọi người khiến nàng cảm thấy
vô cùng cô đơn, bất lực, một mình đối mặt với sự đau khổ, tuyệt vọng.
❖ Bị Thị Mầu vu oan làm mang thai.
Tưởng chừng lựa chọn cải nam trang đi xuất gia là sự giải thoát của Thị
Kính trước những áp đặt trước đó, ấy vậy mà ngay dưới nơi hiên chùa, nàng
vẫn bị vu oan một cách trắng trợn mà không thể giải bày cùng ai được. Đó là
bị vu oan khiến cho Thị Mầu có thai.
“Xưa nay ở chốn thâm khuê, Dù ong hay bướm chưa hề biết ai.
Phải khi lên chốn thiền trai, Kính Tâm tiểu ấy gặp ngoài sau bia.
Quá yêu tôi đã nguyền thề, Nhuỵ hoa phó mặc bướm kia ra vào.
Dù nên cầu bắc bến nào,
Nhờ làng ơn ấy đời nào dám quên.” -
Nếu trước đây tiếng nói của nàng Thị Kính vốn đã yếu ớt, không thể
minh oan cho mình thì giờ đây dưới than phận chú tiểu Kính Tâm nàng
lại càng không thể làm sáng tỏ những oan ức mà người gieo cho mình. Chỉ
có thể nghe theo lời Phật mà nhẫn nhịn, chịu những đòn roi, những lời
đàm tiếu, khinh thường của người đời đối với mình.
“Chữ răn: Nhẫn nhục nhiệm hoà, Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.”
-Giờ đây ngay cả nơi cửa Phật nàng cũng không thể ở, chỉ có thể lạng lẽ
qua ngày tại mái hiên cổng chùa.
“Dần dà sư mới ngỏ lời,
Rằng: “Con đã mắc tiếng người chê bai.
Tam Quan ra ở mái ngoài,
Kẻo e miệng thế mỉa mai đến thầy.”
d) Người có tấm lòng bao dung nhân hậu, từ bị, trắc ẩn.
Dù trải qua rất nhiều điều bi kịch là thế, Thị Kính vẫn không hề căm phẫn
cuộc đời, nàng nhìn đời dưới cái nhìn của người tu hành đầy lòng từ bi trắc ẩn.
-Khi Thị Mầu mang đứa trẻ sơ sinh đến để trước cửa chùa, nàng không ngần
ngại đó là đứa con của kẻ đã vu oan cho mình, bỏ mặt những lời đàm tiếu
ngoài kia mà mang đứa trẻ vào nuôi như con mình.
“Nhưng vì trong dạ hiếu sinh, Phúc thì làm phúc, dơ đành chịu dơ.
Cá trong chậu nước bơ vơ,
Khi nay chẳng cứu, còn chờ khi nao?
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa, nâng vào trong tay.”
-Có lẽ bên cạnh lòng từ bi của một người tu, Kính Tâm lại càng yêu thương
đứa trẻ bằng tất cả những gì mình có xuất phát từ tấm lòng mẫu tử vốn
có sâu bên trong mỗi người phụ nữ. Nó không chỉ dừng lại ở việc chăm
mớm con thơ từ giọt sữa đến miếng ăn, qua từng tiếng chuông ru ngủ,….
Nàng nhận ra sự hạnh phúc mà đứa trẻ mang lại cho nàng và có lẽ đứa
trẻ cũng vậy nên dù là con người lại giống cha nuôi lạ thường.
-Đến tận trước khi chết nàng vẫn luôn lo nghĩ mà thương đứa con còn quá nhỏ. ⇨
Có thể thấy được dù đứng trước những khó khăn, thử thách nào của
cuộc sống, Thị Kính vẫn luôn đối xử với đời bằng tất cả tình yêu thương,
tấm lòng bao dung và từ bi của mình mà không màng đến những thiệt
thòi, tai tiếng mà mình đang phải gánh chịu.
e) Thị Kính được tẩy oán và hóa kiếp.
-Nàng là một người cả đời trong sạch nhưng lại chịu oan ức hết lần này
đến lần khác cho đến tận khi đã rời xa trần thế mọi việc mới được sáng tỏ.
Đó là khi sư phụ cho người chăm sóc than thể chuẩn bị mai
táng, sự việc Kính Tâm là nữ nhi mới được tỏ rõ và nỗi oan làm Thị
Mầu có thai cũng từ đó mà được minh bạch.
“Kính Tâm chầu Phật đi rồi
Hãy ra xem xét mé ngoài thiền môn!” Đạo tràng tuân lệnh đi luôn
Sau khi coi tỏ không còn hồ nghi: “Tiểu Kính Tâm là nữ nhi!”
Mọi người trình lại sư nghe tỏ tường.
Sư nghe tin thấy lạ thường Sai thêm bà vãi vội vàng ra xem Vãi trình mọi chuyện rõ thêm:
“Tiểu là nhi nữ lành hiền chẳng sai Thế mà bị tiếng chê bai
Bị người đầy đọa rạc rài đến nay!””
-Hay sự tình bị vu oan giết chồng chỉ thật sự được làm rõ khi lá thư cuối
cùng nàng gửi về quê nhà cho cha mẹ được đọc và hiểu tâm tình của nàng.
“Thư nàng Thị Kính viết rằng: “Công ơn cha mẹ lớn bằng núi cao
Xin ở lại, mong lành thay Phần con cõi tịnh từ đây tìm về!””
-Đến cuối, Đức Thích Ca xét Kính Tâm đã tu thành chính quả, bèn cho
siêu thăng làm Quan Âm, tục gọi Quan Âm Thị Kính. ⇨
Nàng đã dùng một kiếp người của mình, nhẫn nhục, chịu đựng, hy sinh
để có thể có được kết quả như vậy sau khi chết. Đó có lẽ là một cái kết
đẹp nhưng lại khiến người ta không khỏi xót xa, thương cảm.
*Liên hệ nhân vật Vũ Nương -
Hoàn cảnh Thị Kính chẳng khác nào Vũ Nương trong truyện:Người con
gái Nam Xương”khi chiếc bóng trên tường mà nàng đùa nghịch khiến nàng bị
hiểu lầm là không chung thủy. ⇨
Nỗi oan Thị Kính nói riêng và phụ nữ trong xã hội phong kiến nói
chung là do sự bất công,chà đạp của chế độ nam quyền khiến họ
không thể giãi bày tâm tư trong lòng họ,bị chà đạp sỉ nhục đẩy đến đường cùng. ⇨
Nhân vật Thị Kính như tiêu biểu cho bi kịch của người phụ nữ trong
xã hội cũ với những bất công oan trái. Qua đó tác phẩm lên án mạnh mẽ
xã hội thối nát ,chà đạp lên những ước mơ,cuộc sống tốt đẹp của con người
và đó cũng là tiếng lòng thương cảm, xót xa của nhân dân cho số phận hồng nhan mà bạc mệnh. 2. Nhân vật Thị Mầu.
Sau khi bị nỗi hàm oan là mang danh giết chồng, Thị Kính liền lên chùa đi
tu, những tưởng sẽ bình yên tu thành chánh quả thì lại gặp phải một kiếp
nạn nữa, đó là bị nàng Thị Mầu vu oan giá họa tư thông cùng nàng.
“Ở trong làng có một nhà Phú ông tài sản tính ra rất giàu
Có con gái tên Thị Mầu
Tuổi vừa đôi tám khởi đầu tình duyên”
a) Người con gái có xuất thân danh giá:
Thị Mầu xuất hiện với gia thế là con gái của một nhà phú ông rất giàu có,
nằm trong giai cấp thượng lưu, tuổi Thị Mầu thì vừa tròn 18 trăng tròn, cái
tuổi mà vẻ đẹp người con gái đang trên đỉnh cao của nhan sắc. Cái tuổi
mà nhiều người trai làng cầu mong kết đôi, muốn tạo nên một mối lương
duyên đẹp đẽ với người con gái ấy. Chính cái sự giàu có và nhan sắc xinh
đẹp động lòng người đã khiến cho nàng Mầu mang cho mình một sự kiêu
hãnh và sự tự tin riêng toát ra. Bằng chứng là nhiều nhà không quản ngại
xa mà đến dặm hỏi, xin cưới nàng về.
“Nhiều nơi dạm hỏi cưới xin Tiểu thư chỉ thích ở yên một mình
Với cha mẹ, với gia đình Nào đâu có chịu kết tình lứa đôi.
Thói nhà nề nếp lâu đời
Lên chùa lễ Phật nàng thời rất chăm Cả mồng một lẫn ngày rằm
Nàng thường mang các món ăn cúng dường,”
Nàng thương yêu mẹ cha, không nỡ rời xa gia đình mà tạm gác lại chuyện
hôn nhân của bản thân, muốn ở bên báo hiếu cho cha mẹ trước đã. Lại
thêm nhà nàng nề nếp gia giáo đã lâu, nên mồng một ngày rằm đều lên
chùa cầu Phật, nàng thường mang nhiều món ăn để cúng dường. Dăm ba câu
thơ mở đầu đã khiến người đọc toan lầm tưởng nghĩ rằng Thị Mầu là người
con gái nết na thùy mị, phẩm hạnh lễ tiết đều có đủ.
Nhưng thật ra, Thị Mầu lại là một người phụ nữ lẳng lơ, có phần quá phóng
khoáng không hợp với thời thế, đặc biệt khi nàng không ngần ngại nói ra
những lời “yêu” đối với tiểu Thị Kính. b)
Người con gái có tính cách lẳng lơ, phóng khoáng, cá tính “đặc biệt”:
Tính cách Thị Mầu đã được khắc họa nên là một cô gái có phần ngang ngược,
lẳng lơ không tuân theo lễ giáo tam cương ngũ thường lúc bấy giờ:
“Thị Mầu ngó thấy trong lòng say mê Lân la gặp mặt kiếm bề
Nhưng nào thưa gửi chút gì được đâu Tiểu kia đã vội cúi đầu

Chân thời rảo bước đi mau mất rồi.
Thị Mầu lòng dạ bồi hồi
Vô minh xui khiến cất lời u mê: “Cầu xin đức Phật độ trì
Cho con gần gũi tiểu kia thân tình Dù duyên chồng vợ chẳng thành
Lấy nhau không được cũng đành vậy thôi Xin cho dan díu nhất thời
Ái ân ít bữa thỏa lời ước mơ!””
Hay như khi không có được tình yêu của chú tiểu, vì sự “cô đơn” của bản thân:
“Gối chăn mơ tưởng mãi thôi, Trong nhà sẵn có một người làm công
Đầy tớ trai cũng dễ trông Thị Mầu tình tự thoả lòng ái ân
Khi không tự chủ bản thân
Nghĩ rằng phút chốc thông dâm trong nhà Dễ gì lộ việc này ra
Ai hay đâu chuyện nguyệt hoa của mình.”
Suy nghĩ có phần táo bạo, nàng không ngần ngại bày tỏ tình cảm ham muốn
nhục dục thể xác của mình cho Thị Kính biết. Trong xã hội đề cao sự
công-dung-ngôn-hạnh, triệt tiêu đi chữ dâm, việc Mầu thể hiện cảm xúc của
mình một cách không e ngại có phần rất táo bạo, ngang ngược nhưng cũng
tạo nên một cá tính nhân vật rất “riêng”, một lối suy nghĩ rất hiện đại, đó
là dám sống thật với cảm xúc và dục vọng của bản thân. Cái chất riêng
của nàng cũng được thể hiện qua khi nàng không ngần ngại trách cứ luôn
cả Phật vì dám ngăn cấm mình đến với người tình.
“Trách ông nguyệt lão kia luôn Biết nhà Phật cấm chẳng còn chữ dâm
Chắc ông ra sức cản ngăn
Đâu cho nàng dễ được gần tiểu kia.”
c) Người con gái vừa đáng thương vừa đáng trách:
Thị Mầu là một nhân vật đa chiều, chúng ta có thể thấy bên ngoài của nàng là
một cô gái mang danh lẳng lơ, dâm dục khi không ngần ngại quyến rũ chú
tiểu, rồi lại thông dâm với thằng ở nhà mình để rồi có mang mà chửa hoang.
Sau đó, vì sự ích kỷ cá nhân mà vu oan Thị Kính, phá hoại thanh danh
của chú tiểu hòng nhằm lấy người ấy làm chồng. Nhưng nếu đặt theo một
góc nhìn khác nàng cũng là một cô gái đáng thương, Thị Mầu không có
được một tình yêu chân chính từ Thị Kính – người mà nàng ái mộ. Mầu vốn
xuất thân danh giá, con nhà giàu có và lại có nhan sắc xinh đẹp, nàng có sự
kiêu ngạo của riêng mình nhưng lại vì một phút yếu lòng mà lại thông dâm với tên người ở
- người có địa vị thấp hơn mình rất nhiều.
+ Người con gái đáng thương:
-Xét ở phương diện yêu thì Thị Mầu đúng là một cô gái hiện đại. Thị đã
dám yêu, dám bày tỏ, dám vượt qua lễ giáo của xã hội phong kiến, những
mong có được tình yêu của mình. Có bao nhiêu cô gái thời đại ấy đã dám làm thế như Thị Mầu. -
Nếu nhìn trên phương diện tích cực thì Mầu lại là một cô gái có khát
vọng tình yêu cao cả. Thật hiếm người phụ nữ nào trong xã hội xưa có thể
bộc lộ tình cảm của mình một cách thẳng thắn như Mầu. Họ thường sẽ im
lặng, âm thầm chịu đựng hoặc dịu dàng, ẩn ý trong tình yêu của mình.
Nhân vật Thị Mầu biểu hiện cho một phẩm chất khác của người phụ nữ
Việt Nam đó là khát khao yêu đương. Đây là quyền cơ bản của người phụ
nữ nói riêng và con người nói chung. Thị Mầu là điển hình về sự phá
phách, chống lại những trói buộc của chế độ phong kiến hà khắc, khát
khao hướng tới hạnh phúc của người phụ nữ thời bấy giờ. Người phụ nữ
này dám bộc lộ hết mình, biết sống, biết khao khát tận hưởng với đời. Dám
yêu, dám lên tiếng vì tình yêu - giữa xã hội phong kiến chỉ duy nhất một
Thị Mầu. Thị cất lên tiếng nói nữ quyền để lật đổ thành trì lễ giáo cũ kĩ đã
trở thành giáo điều, đạp đổ
những lệ làng, những đạo đức giả, những quan niệm cổ hủ chà đạp lên
thân phận và tước đoạt hạnh phúc con người. Mầu ở đây thật mới.
+ Người con gái đáng trách:
-Nói như vậy, không có nghĩa là chúng ta “tán thưởng” Thị Mầu về cách
hành xử trong tình yêu, mà chỉ để thấy rõ hơn lý do lỗi lầm của Thị để
tha thứ phần nào cho một cô gái mang cái “án lẳng lơ” theo suốt chiều
dài văn hóa dân tộc. Lỗi lầm của Thị Mầu là ở chỗ yêu say đắm nhưng không
hiểu rằng tình yêu cần phải có từ hai phía. Vì thế, Thị đã biến tình yêu của
mình thành sự si mê mù quáng, dẫn đến bi kịch cho mình và người mình yêu. -
Việc “không chồng mà chửa” của Thị Mầu (của người phụ nữ) đối với
đạo đức nghiệt ngã của xã hội thuở ấy là một tội trạng quá cỡ. Hình phạt có
thể là gọt tóc bôi vôi rồi thả bè trôi sông. Vì vậy chúng ta có thể hiểu
thêm, việc Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm, không đơn thuần chỉ là một
hành động vu oan giá họa cho kẻ tu hành, mà đó thật ra còn là sự kêu
cứu lòng từ cứu khổ nơi cửa Phật. Và đây là điều cao cả chỉ có ở Kính Tâm:
là một người xuất gia, lại vốn là nữ giới, sự kết tinh của từ bi, trí tuệ và tư
chất hai con người ấy là lý do để Kính Tâm sẵn sàng chịu oan để Thị Mầu
bớt khổ. Như thế “nhẫn vô sanh nhẫn” ở đây hoàn toàn đâu phải là thái độ
phản kháng tiêu cực và thụ động. Nhẫn ở đây là nhẫn nhục nhiệm hòa, là
nhẫn điều khó nhẫn, là hy sinh chính mình, chịu oan chịu khổ thay người
khi cuộc đời đang còn tràn đầy bất công nghiệt ngã.
III. Nội dung và nghệ thuật. 1. Giá trị nội dung:
-Thông qua những bi kịch của Thị Kính để thể hiện sự bế tắc,bi thảm của
người phụ nữ, cùng với đó là sự xuống cấp của xã hội đương thời.
-Ca ngời những giá trị tốt đẹp của người phụ nữ cũng như phê phán người
phụ nữ dâm dục, không chính chuyên, thành thật trong xã hội.
-Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của bậc tu hành chân thật, không bị tác
động bởi những yếu tố xung quanh.
-Truyện Quan Âm Thị Kính chính là một lời cảnh báo cho những người chọn
con đường thanh nhàn khi đi tìm tới đạo Phật. Để đắc đạo, người ta phải chỉ
chịu khổ hạnh, mà còn phải chịu những oan ức bất công nữa... Như Thị Kính,
oan uổng đến vậy mà không hề oán trách trời và số phận, chỉ lấy từ tâm mà
chiến thắng cảnh ngộ... 2. Giá trị nghệ thuật:
- Ngôn ngữ nhân vật đặc sắc, độc thoại kết hợp đối thoại thể hiện tài xây
dựng cốt truyện của tác giả.
-Sử dụng ca dao và tu từ sôi nổi, tác giả làm cho câu chuyện trở nên sống
động và gần gũi với người đọc.
-Sử dụng các yếu tố kì ảo.
-Miêu tả nhân vật độc đáo, phong phú.
-Các tình huống trong truyện thơ đầy kịch tính, hấp dẫn, đưa người đọc
đến nhiều trạng thái cảm xúc khác nhau.
-Tác phẩm còn bảo lưu khuôn dạng của truyện cổ tích, có motip quen thuộc
của truyện dân gian như motip giả trai.