







Preview text:
CẢM THỨC THỜI GIAN TRONG THƠ LƯU TRỌNG LƯ Trần Nhật Thu 1.Dẫn nhập
Từ góc độ nhận thức chung nhất, thời gian là hình thức tồn tại với những đặc điểm
mặc định là tính liên tục, có độ dài, có hướng, có nhịp độ, có ba chiều quá khứ, hiện tại,
tương lai và có tính chất không thể đảo ngược. Các phương tiện đo thời gian phổ biến là
lịch, đồng hồ, từ đó, con người định ra các đơn vị thời gian: giây, phút, ngày, giờ, năm,
tháng, thế kỷ vv… Hiển nhiên, không một vật chất nào có thể tồn tại ngoài thời gian.
Nghệ thuật là một dạng tồn tại đặc thù, có thời gian riêng. Thời gian nghệ thuật ngoài những
đặc điểm thuộc về thời gian khách quan như độ dài, quảng tính, nhịp độ, tốc độ, ba chiều
quá khứ, hiện tại, tương lai và hướng vận động không đảo ngược, theo một trật tự trước sau
liên tục thì còn là hình thức tái hiện thời gian một cách đặc biệt. Bởi văn học không thể hiện
đời sống theo kiểu thời gian lịch, thời gian đồng hồ, thời gian cơ học đồng chất, đều đặn mà
tuỳ biến theo đối tượng chiếm lĩnh của nó là đời sống con người. Sự cảm thụ thời gian gắn
liền với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm về thế giới và lịch sử, với ước mơ,
lý tưởng và năng lực hoạt động của chủ thể. Chính vì lẽ đó, sẽ chẳng ai chất vấn vì sao một
cuộc đời có thể trôi nhanh như giấc mộng, một phút chờ đợi có thể dài như trăm năm, có kẻ
say sưa quên năm tháng, có người mãi mãi thiếu thời gian, lịch sử có khi hàng trăm năm
giẫm chân tại chỗ, có khi vùn vụt một ngày bằng hai mươi năm,…Nói một cách khác, nghệ
thuật có thể kéo dài hay ngưng tụ trong giây phút, để người ta nhận thức được những mối
liên hệ, những mảnh màu vạn hoa của một thứ của thực tại xảy ra trong khoảnh khắc, nghệ
thuật cũng có thể gom trăm năm, nghìn năm vào một giờ để hiển lộ những chu chuyển tinh
tế, chậm chạp mà người đời không cảm thấy được. Nghệ thuật có thể đưa ta vào chuỗi các
sự kiện dồn dập để ta thấy cái nhịp bão táp của cuộc đời, cũng có thể trong cùng một thời
điểm cho ta sống giữa cả ba chiều thời gian: hôm qua, hôm nay và ngày mai.
Hiểu theo nghĩa này, “thời gian nghệ thuật trong văn học không phải giản đơn chỉ là
quan điểm của tác giả về thời gian mà là một biểu tượng, một tượng trưng, thể hiện một
quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người. Cuộc đời có thể như chớp mắt, như giấc
mộng. Cuộc đời có thể chỉ là cuộc đày ải vô tận. Cuộc đời có thể chỉ như con thoi đưa mà
không có sợi chỉ, hoàn toàn vô nghĩa. Cuộc đời có thể là cuộc hành quân đi tới tương lai
hoặc dẫm chân tại chỗ…Như vậy ý thức về thời gian là ý thức về sự tồn tại của con người,
phát hiện về thời gian giúp người ta nhận thức sâu hơn về cuộc sống” [2, tr.67].
Là một trong những chủ tướng của phong trào Thơ mới, ngay từ buổi đầu của Thơ
mới (1932 - 1933), Lưu Trọng Lư đã là người cổ động tích cực cho Thơ mới trên thi đàn.
Trước Cách mạng, hầu hết các thi phẩm của Lưu Trọng Lư tập trung trong tập Tiếng thu.
Ông đã đến với thơ bằng tất cả tâm hồn sầu mộng của mình, kiến tạo nên cõi riêng của mình
với mênh mang “tình và mộng”. Những bạn bè nghệ sĩ thân quen đều nhất trí gọi ông là thi
sĩ của những vần thơ sầu rụng.
Thơ tình của Lưu Trọng Lư có nhiều dư vị của đời thi nhân. Niềm vui, nỗi buồn, niềm
mong ước và sự thất vọng đều như chất chứa từ bên trong và trôi chảy theo dòng thời gian,
theo năm tháng, bốn mùa. Thơ Lưu Trọng Lư đượm buồn, buồn vì sự trôi chảy, vì sự tiếc
nuối. Để rồi, đến cuối đời khi mái tóc đã điểm bạc, ông cầu viện đến "em thời gian" và
mong được sự thông cảm. Tuổi càng cao Lưu Trọng Lư càng thấy cái đẹp của đời, lại càng
tiếc nuối như đi ngược với dòng thời gian.
Thời gian trong thơ Lưu Trọng Lư có thể được cảm nhận từ sự vận động trên trục vận
động thực – mộng, từ các toạ độ cảm xúc và từ các thủ pháp nghệ thuật nhằm tuỳ biến thời gian khách quan.
2. Thời gian trong thơ Lưu Trọng Lư từ những điểm nhìn tham chiếu
2.1.1. Thời gian trên trục vận động thực - mộng
Lưu Trọng Lư là người có những cảm nhận sâu sắc về thời gian. Hầu như bài thơ nào
của ông cũng hoặc mờ hoặc tỏ nhắc đến yếu tố thời gian. Hình thức phổ biến của thời gian
thực (vật lí) trong thơ ông chính là thời gian thiên nhiên. Thời gian thiên nhiên được hiểu
là những chiều kích liên quan đến cuộc vận hành của vũ trụ như bốn mùa, xuân hạ thu đông,
mùa mưa, mùa khô, sớm, trưa, chiều, tối, đêm khuya, trăng tròn trăng khuyết vv…Trong
thơ Lưu Trọng Lư, bốn mùa hiện diện khá đầy đủ:
Ngày tháng em đan chiếc áo len
Hững hờ để lạnh với tình duyên
Mùa đông đến tự hôm nào nhỉ
Lá rụng bay đầy dưới mái hiên (Đan áo)
Mùa thu đến đón ở bên sông
Vội vã cô em đi lấy chồng
Em có nhớ chăng ngày hạ thắm
Tình anh lưu luyến một bên lòng (Khi thu rụng lá)
Lác đác ngày xuân rụng trước thềm
Lạnh lùng ta dõi bước chân em
Âm thầm ấp mối xa xa vọng
Đường thế đâu tìm bóng áo xiêm? (Một chút tình)
Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật
được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời
sống được ý thức: sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác,… tạo nên nhịp
điệu trong tác phẩm. Theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, “độ đo thời gian thể hiện mức độ
ý thức về thời gian. Các nhà vật lý xác nhận: Thời gian không chỉ là độ đo của độ dài của
một sự tồn tại, mà còn là độ đo của một sự thực hiện, thời gian là một sự xác nhận đặc điểm
được gắn liền tất yếu với vật thể đo mà nó liên quan….Do đó độ do, đơn vị của vật thể đo,
có ý nghĩa không thể thiếu để ý thức về thời gian. Con người ta bắt đầu biết đo thời gian
theo ngày (từ mặt trời mọc đến mặt trời lặn), rồi sau theo mùa, theo năm. Với công nghiệp
phát triển, phát minh ra đồng hồ, người ta mới biết đo thời gian theo giờ, tuần làm việc. ý
thức lịch sử phát triển, người ta mới đo thời gian của nó. Mỗi tôn giáo có thời gian của họ
trong năm. Mỗi địa phương có thời gian của họ trong các lễ hội, phiên chợ. Mỗi nghề cũng
có thời gian của họ. Tùy theo mức độ ý thức về đời sống mà thước đo nào đó của thời gian
được đưa lên đầu” [2, tr.183]
Với Lưu Trọng Lư, thời gian thực tại trước hết được đo bằng những đại lượng tính
thời gian đã được quy ước như năm, tháng, đêm, ngày…Nhà thơ đếm nhịp thời gian chỉ để
hoảng hốt nhận ra dòng miên viễn ấy trôi nhanh đến ngỡ ngàng. Những con số được gắn
kết với các đại lượng thời gian thường không mang ý niệm chính xác, chỉ là để biểu thị một
nỗi ngóng trông, đợi chờ, tượng hình qua nhịp đếm:
Vừng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ …
Năm năm tiếng lụa xe đều
Những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây (Thơ sầu rụng)
Lời em nói chốc ba mươi năm rồi đó
Tóc em chừ nở trắng một vài hoa
Vẫn như sớm hôm nào em nhỉ?
Trên đầu mây trắng vẫn bay qua. (Mây)
Một đơn vị đo thời gian khác cũng được nhà thơ sử dụng là những chỉ dấu cụ thể của
tự nhiên như lá rụng, hoa nở, sim chín, sếu sang sông, chim dư cư…Nói theo cách khác, đó
chính là những hiện tượng tự nhiên được lặp lại đều đặn, trở thành tín hiệu của sự dịch
chuyển thời gian trong nhận thức của con người.
Ngày tháng trôi xuôi với ái ân
Bên cầu lá rụng đã bao lần (Tình điên)
Từ buổi chàng xa non nước này
Em buồn ngày có tới đêm nay
Xoan tây trước bến hai lần đỏ
Lệ nhỏ hai lần chàng có hay? (Hoa xoan)
Mời em lên ngựa với anh
Nương theo bãi sậy qua ghềnh suối Mây. Em ăn hộ quả sim này,
Năm sau sim chín nhớ ngày lại lên. (Suối mây)
Trời hết một mùa đông Gió bên thềm thổi mãi, Qua rồi mùa ân ái: Đàn sếu đã sang sông (Một mùa đông)
Nhà thơ còn cảm nhận thời gian qua đại lượng đo gián tiếp là tuổi đời, thường được
ông trực tiếp gắn với mùa xuân hoặc nét xuân:
Mười bảy xuân em chửa biết sầu
Mối tình đưa lại tự đâu đâu
Em xinh, em đẹp, lòng anh trẻ
Dan díu cùng nhau giấc mộng đầu (Tình điên) Đêm ấy xuân vừa sang Em vừa hai mươi tuổi (Còn chi nữa)
Từ những đong đếm của đời thực, thời gian vận động tiến về phía mộng ảo, nói như
lời của tác giả thì mộng và đời ví như hai sợi chỉ ngang dọc trên khung cửi, đời đẻ ra mộng
và mộng dệt nên đời. Lưu Trọng Lư thường để thời gian trôi từ thực lạc vào mộng. Thời
gian chảy trôi trong mộng thường đi liền với trạng thái nuối tiếc, mờ mịt, hoang mang vì hoài nghi. Giờ đây hoa hoang dại Bên sông rụng tơi bời Đã qua rồi cơn mộng,
Đừng vỗ nữa, tình ơi! (Còn chi nữa)
Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau
Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau
Chờ anh dưới gốc sim già nhé
Em hái đưa anh đoá mộng đầu (Một chút tình)
Giật mình ta thấy bồ hôi lạnh
Mộng đẹp bên chăn đã biến rồi!
Muốn gọi tên nàng nhưng ái ngại
Ngoài thềm lác đác bóng hoa rơi. (Hôm qua)
Mộng thường hư ảo nên thời gian trong mộng cũng mất đi những đặc tính khách quan
vốn có. Người đọc không thể xác định được điểm đầu, điểm cuối, không thể nắm được
những quy luật vận hành của nó, bởi tác giả đã cố ý lấp đầy khoảng trôi của thời gian bằng
đầy chặt cảm xúc. Ngay cả nhân vật trữ tình cũng có khi mơ hồ:
Anh ạ! Nàng không còn đấy nữa.
Dưới nước, sau cây, chẳng thấy nàng.
Không biết ta mơ hay đã tỉnh:
Cảnh trời hôm ấy mờ mờ sương. (Mộng chiều hè)
Đồng thời, thời gian thiên nhiên đã dần chuyển sang thời gian của nhân vật. Theo nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử, “thời gian nhân vật bao gồm thời gian tiểu sử và thời gian được
nếm trải qua tâm hồn nhân vật. Thời gian tiểu sử tính từ ngày sinh, ngày đỗ đạt, lấy vợ, đẻ
con, làm quan, xa nhà, lập nghiệp, ốm đau và chết … Thời gian sinh mệnh cũng thuộc thời
gian con người. Hoạt động tâm lý, ký ức dòng ý thức tạo thành thời gian nhân vật. Có những
sự kiện cứ bám lấy kí ức con người làm cho thời gian tâm lý dừng lại. Nếu nhân vật thiếu
đời sống nội tâm thì thời gian của nó chỉ tồn tại trên cấp độ sự kiện nhân quả, hoặc trên cấp
độ thời gian đồng hồ và lịch. Thời gian nhân vật gắn với các thời điểm có ý nghĩa riêng của
nhân vật đó đồng thời thể hiện trong tương quan với các nhân vật khác” [2, tr.174]. Thời
gian “hôm xưa” vĩnh viễn dừng lại khi nhân vật trữ tình nhìn thấy nụ cười say lòng của “em”:
Hôm xưa ta đứng bên hồ Kiếm
Quanh ta rộn rịp biết bao người
Mà ta chỉ thấy người hôm ấy
In giữa không gian một nụ cười (Mộng chiều hè)
Cũng có khi, những lời nói vô cớ, không đầu không cuối lại là lí do để đêm trăng sáng
hôm ấy trở thành nỗi niềm vương vít mãi trong tâm của nhân vật trữ tình:
Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu,
Em cười, em nói suốt trăng thâu;
Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi,
Tình đến muôn năm chửa bạc đầu... (Tình điên)
Trên trục thực - mộng, thời gian trong thơ Lưu Trọng Lư vừa là những chiêm nghiệm
về sự trôi chảy của thời gian, vừa là sự ra sức khoả lấp những vết dấu khuyết thiếu, không
vẹn tròn của đời sống cảm xúc. Ở phương diện nào, thời gian cũng là nơi nhân vật trữ tình
thể hiện sự tự nhận thức và cảm nhận chính mình trong thế giới, biểu lộ những trạng thái
chuyển biến muôn mặt của bản thể.
2.1.2. Thời gian nhìn từ các thủ pháp sắp xếp, hoà phối
Trong thơ Lưu Trọng Lư, người đọc rất dễ dàng nhận thấy dấu vết của sự sắp xếp, hoà
phối thời gian sự kiện, cũng tức là thời gian thực. Phổ biến nhất chính là hình thức đối sánh
mốc thời gian, đặt chúng trong tương quan sóng đối, từ đó nhấn mạnh điểm khác biệt.
Những cụm từ chỉ thời gian được sử dụng trong kiểu kết cấu này là “hôm xưa” - “hôm nay”;
“hôm ấy” - “hôm nay”, “hôm nào” - “hôm nay”.
Trong Xuân về, “xuân vừa rồi” và “xuân năm nay” là hai không - thời gian như hai
mảnh đối lập đen trắng. Xuân cũ có hình ảnh “chàng cùng tôi” trong không gian rộn ràng
hương sắc, xuân năm nay lại chỉ là sự tuần hoàn vô cảm của thời gian, bởi “người xưa không
thấy tới”. Ở Mộng chiều hè, nụ cười rực sáng cả một vùng kí ức cuối cùng chỉ để lại dư vị
là “mộng tan trên gối lệ hoen rơi”; trong Tình điên là hình ảnh đôi trẻ “dan díu cùng nhau
giấc mộng đầu” để rồi vỡ vụn khi “hôm nay ngồi ngóng ở bên song/ta được tin ai mới lấy
chồng”. Ở bài Đan áo, chiếc áo như là minh chứng cho chuỗi ngày tháng miệt mài dệt mộng
thương yêu bất thành. Cho dẫu các cụm từ chỉ thời gian hiển minh hay ngầm ẩn thì người
đọc vẫn thẩm thấu được sự phai màu của kí ức, cái còn lại chỉ là thực tại bạc phếch cùng
nỗi tiếc nuối, xót xa. Hiển nhiên, dụng ý rõ nhất của lối kết cấu đối lập này chính là để nhấn
mạnh sự tương phản rõ rệt giữa thực tại của hôm nay và “thực tại” đã hoàn kết của ngày
hôm qua. Ở thơ Lưu Trọng Lư, sự tương phản này gần như đồng nghĩa với sự tương phản
giữa niềm vui và nỗi buồn, gắn kết và chia li, hi vọng và thất vọng, mà những gì mang hàm
nghĩa tiêu cực lại đều thuộc về quá khứ. Cho nên, sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thơ
ông là cõi sầu mộng, mà người thơ là người khóc thương cho một quá khứ đẹp đẽ bất toàn.
Lại có khi, sự chuyển dời của thời gian được thể hiện qua chuỗi hình ảnh hàm ý sự
đứt gãy, tàn úa, rơi rụng: “mồng tơi ứa đỏ đôi tay nõn - giỏ mồng tơi bên giậu vắng - cây
trơ giậu đổ mồng tơi héo” (Lá mồng tơi); Rồi ngày lại ngày - Sắc màu: phai - Lá cành: rụng - Ba gian: trống
Có khi, nhà thơ lắp ghép thời gian một cách hỗn độn hoặc dồn nén, tỉnh lược thời gian.
Mộng và thực nhập vào nhau, đến nỗi trong Tình điên, nhà thơ ngơ ngác tự hỏi “Ta mơ
trong đời hay trong mộng?”.
Với Mây, nhà thơ mải miết không theo kịp bước chân thời gian. Mùa vừa đến, mùa
đã lại đi. Xuân vừa kịp bừng lên thì hè đã chớm. Tốc độ của thời gian được nhà thơ ép vào
khoảng trắng chật hẹp giữa hai câu thơ, từ đó, người đọc nhận ra được sự trôi chảy nhanh
như một cái chớp mắt hờ hững, vô tình trước lòng người níu kéo:
Hôm ấy xuân vừa bừng hương sứ
Hồ Tịnh Tâm vội ngắt sen hè
"Rồi một ngày kia anh nhỉ
Trên làn tóc chung thuỷ xuân đi" (Mây) Còn đâu ánh trăng vàng Mơ trên làn tóc rối?
Chân nâng trên đường sỏi,
Sương lá đổ rộn ràng. Trăng nội vẫn mơ màng
Trên những vòng tóc rối? (Còn chi nữa)
Thời gian có khi, chỉ là một vòng tròn, mà người thơ là người đi lạc trong cõi mờ mịt
ấy. Ánh trăng lung linh mê ảo, thời gian như ngừng lại, những vòng tóc rối như vòng xoáy
thời gian mãi mãi không ngừng.
Với những lối tuỳ biến thời gian thực tại, Lưu Trọng Lư không đơn thuần cảm nhận
thời gian mà còn khuôn thời gian theo mạch cảm xúc của mình, biến nó thành một thực thể
có hình hài, dáng vẻ, có thể co giãn, biến ảo để tương thích với những trạng huống cảm xúc
đa dạng của nhân vật trữ tình.
2.1.3.Thời gian từ toạ độ cảm xúc của nhân vật trữ tình
Viết về thời gian, không nhà thơ nào có thể giữ cho mình sự tĩnh lặng tuyệt đối, Lưu
Trọng Lư cũng không phải là ngoại lệ. Cho dẫu là người từng trải, nhà thơ vẫn không ngăn
được những xúc cảm thường tình khi trở thành chứng nhân của dòng thời gian vô thuỷ vô
chung. Nét cảm xúc in rõ nhất trên từng câu thơ chính là sự nuối tiếc, xót xa, mà hầu hết
đều là hệ quả của những tình duyên phai nhạt, những hẹn ước dang dở không thành.
Có lúc, đó là sự ngỡ ngàng khi mộng cảnh tan biến:
Than ôi! Ngoảnh lại, biến đâu rồi!
Còn vẳng trên đồi giọng hát thôi.
Sao chẳng, em ôi! Chầm chậm lại
Cho tình duyên ấy gửi đôi lời... (Hôm qua)
Anh ạ! Nàng không còn đấy nữa.
Dưới nước, sau cây, chẳng thấy nàng.
Không biết ta mơ hay đã tỉnh:
Cảnh trời hôm ấy mờ mờ sương. (Mộng chiều hè)
Từ mộng cảnh huy hoàng, thực tại ập đến như một vết đau. Cho dẫu luyến tiếc những
ái ân, những cười nói, những quấn quýt ngây thơ ngày cũ thì thực tại vẫn là trọng yếu. Các
nhà hiện tượng học cho rằng, trước khi con người có suy nghĩ,cảm xúc thì nó phải có một
cơ thể trong không gian và có quan hệ với thời gian. Nói cách khác, thân thể là tâm điểm
để xét không gian và thời gian. Thân thể luôn luôn là hiện tại, cảm xúc tri giác cũng luôn
luôn là hiện tại. Trong tác phẩm văn học nói chung, thời hiện tại đóng vai trò chủ đạo, bởi
đó là thời gian cảm nhận. Hồi tưởng là quay về quá khứ, nhưng cũng đồng thời là sống lại
cái “hiện tại” của quá khứ, mơ ước tương lai, cũng là sống với cái “hiện tại” của tương lai.
Hiển nhiên, Likhacchev đã đúng khi cho rằng thực chất thời gian nghệ thuậ là thời hiện tại
ước lệ và sự phát triển của thời gian nghệ thuật chủ yếu là phát triển của các hình thức thời
gian hiện tại. Bởi vì, thời gian hiện tại là thời của sự sống, nghệ thuật đem thời hiện tại ước
lệ mà làm sống vĩnh viễn các giá trị, tức là khắc phục cái thời gian thực tại một đi không trở lại [tr.181].
Thơ Lưu Trọng Lư, vì thế, đầy ắp những thực tại như mảnh vỡ. Đó là một thực tại “buồn
tênh”, “lệ hoen rơi”, “rượi buồn”, “quạnh quẽ”:
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng,
Thời gian lặng rớt một dòng buồn tênh. (Thơ sầu rụng)
Nàng với ta chỉ có thế thôi.
Theo dõi tơ duyên bốn góc trời:
Lúc mộng nhìn nhau cười ngặt nghẽo.
Mộng tan, trên gối lệ hoen rơi. (Mộng chiều hè)
Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không (Nắng mới)
Lòng anh như nước hồ thu lạnh,
Quạnh quẽ đêm soi bóng nguyệt tà...
Ngày tháng anh mong chầm chậm lại,
Hững hờ em mặc tháng ngày qua... (Khi thu rụng lá)
Nhưng thơ Lư không phải chỉ có những khoảng buồn, bởi đôi khi trong mạch cảm
nhận về thời gian vẫn có những niềm vui nhỏ bé, những lời nguyện cầu chân thành: Hoạ sĩ hãy ngừng tay Và nghe tự lòng này Một lời tha thiết.
Người em nhỏ của tôi ơi! Cho anh thêm một ngày, Cho thêm nghìn ngày nữa,
Cho trọn cùng cả thế kỉ hai mươi! Sống thêm một ngày, Trồng thêm một cây
Cây chuối nhỏ bên đường Cây chuối hương: Một trăm buồng, Chuối trổ!
(Em thời gian, ngừng tay)
Trên hết thảy, mặc cho những sầu mộng triền miên, nhà thơ vẫn một lòng muốn thời
gian cho mình thêm một cơ hội, để sống, để tiếp tục cống hiến, để góp thêm hương sắc cho cuộc đời. 3.Lời kết
Là người hưởng ứng Phan Khôi bằng diễn thuyết sáng tạo (bước đầu là hai bài Trên
đường đời và Vắng khách thơ) và bằng cả giọng điệu nhịp nhàng, nhẩn nha, nhiều lời diễn
giải [1, tr.111], Lưu Trọng Lư được xem là một trong những chủ soái đầu tiên của phong
trào Thơ mới. Vị chủ soái ấy đã dành tâm huyết cả đời mình cho cõi sầu mộng phiêu dạt
trong thời gian, dõi theo bước chuyển của thời gian, xem thời gian như một đối tượng để tự
tình, để hoài nhớ, để chiêm nghiệm. Từ đó, trong thơ ông, thời gian trôi chảy, thời gian
ngưng tụ và kì diệu thay, có cả những khoảnh khắc tồn tại “bên ngoài thời gian”. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mã Giang Lân (2004), Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, Nxb giáo dục, Hà Nội
2. Trần Đình Sử (2017), Dẫn luận thi pháp học văn học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội