






Preview text:
ĐỀ BÀI:
“Nếu như Chính Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì
Quang Dũng đã tái hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến men
say cho thi tứ, sự bay bổng của hình tượng... Nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, “Tây
Tiến” cơ hồ sẽ mất đi vẻ đẹp toàn bích của nó.” (Nguyễn Đăng Điệp)
Hãy phân tích khổ thơ sau để làm rõ bút pháp hiện thực và “đôi cánh lãng mạn”
trong hình tượng người lính của Quang Dũng.
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành” (Trích “Tây Tiến”) BÀI LÀM:
Từng nhớ Hàn Mặc Tử năm xưa đã từng tâm niệm “Máu đã khô rồi, thơ cũng
khô - Tình ta chết yểu tự bao giờ”. Nếu với thi sĩ đau thương, máu là sự sống của
thơ ca, của văn chương thì tôi tin những trang viết của Quang Dũng trong “Tây
Tiến” sẽ mãi bất tử với thời gian. Bởi đó là những trang viết với những vần thơ thật
tình được thể hiện tài tình qua bút pháp hiện thực và “đôi cánh lãng mạn” từ hình
tượng người lính của Quang Dũng. Nói như Nguyễn Đăng Điệp: “Nếu như Chính
Hữu viết về những chàng vệ quốc bằng bút pháp hiện thực thì Quang Dũng đã tái
hiện vẻ đẹp người lính bằng đôi cánh lãng mạn đem đến men say cho thi tứ, sự bay
bổng của hình tượng… Nếu thiếu đi cái chất lãng mạn, “Tây Tiến” cơ hồ sẽ mất đi
vẻ đẹp toàn bích của nó”. Những điều đó được minh chứng rõ nét qua:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc ….
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
(Trích “Tây Tiến”)
Palaton đã nói: “Thơ là thần hứng” - thơ chỉ ra đời trong những giây phút thăng
hoa của người nghệ sĩ. Quang Dũng đã có được giây phút ấy khi viết Tây Tiến. Từ
xa xưa đến nay, thơ phải là tiếng hát thật sự của tâm hồn, khi tâm hồn lên tiếng thì
nhà thơ không cần lý luận. Có lẽ vì thế mà Nguyễn Đăng Điệp mới đưa ra lời nhận
xét như vậy. Cái chất lãng mạn trong bài thơ được thể hiện thông qua nỗi nhớ da
diết của tác giả, của khung cảnh thiên nhiên Tây Bắc nên thơ, hùng vĩ và cảnh sinh
hoạt của người dân qua con mắt nghệ sĩ của người lính. Hay trong bút pháp hiện
thực, cái khó khăn, cái khắc nghiệt, chông gai luôn hiện hữu thế nhưng trong cái
khó khăn, gian khổ, khắc nghiệt, những người lính Tây Tiến vẫn hưởng đến những
điều tốt đẹp. Và ta bắt gặp hình tượng người chiến sĩ bất khuất, oai phong, lẫm liệt,
những điều trên không hề bi lụy mà lại mang tinh thần bi tráng vô cùng.
Có lẽ khi nhắc đến một nhà thơ trẻ ở miền Bắc, trưởng thành trong kháng chiến
chống Pháp mang Hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn, tài hoa và “đứng riêng một
cõi” thì chắc chắn ai cũng sẽ nghĩ đến Quang Dũng. Quả thực đúng như vậy,
Quang Dũng một nghệ sĩ rất đa tài, ngoài là một nhà thơ, nhà văn xuất sắc ông còn
là một họa sĩ, nhạc sĩ rất nổi tiếng. Từ xưa đến nay, vạn vật trong ký ức vốn chỉ
như những tĩnh vật trong bảo tàng, dù là ký ức của một thời chưa xa. Nếu không có
thần sắc của cảm xúc thổi vào vạn vật dù có mỹ lệ trữ tình đến mấy cũng chỉ là hóa
thạch. Và ký ức “Tây Tiến” trong Quang Dũng cũng thế, nó được xây đắp nên từ
sự chân thành trong xúc cảm của tác giả vào năm 1948 khi nhà thơ rời xa đơn vị
Tây Tiến, nhớ về một thời chiến đấu gian khổ trong đoàn quân. Trong lúc ấy, ông
đã “xuất thần trên đầu ngón bút”, một mạch viết nên bài thơ này từ những nỗi nhớ
cuốn trào như thác lũ trong tâm trí. Đó là “thần hứng”, một niềm cảm hứng sâu sắc
và dồn dập, cho ra đời những vần thơ bồi hồi trở thành bất tử. Thế mới biết, dù là
một bài thơ chỉ được làm vỏn vẹn trong vài mươi phút, nhưng nó đủ sức gợi, đủ
sức ngân vang trong suốt vài mươi năm, hay thậm chí vài mươi thế kỷ. Đó là sự
bất diệt của thi hứng, của thơ ca, những “nguyên liệu” góp vào sự vĩnh cửu của Tây Tiến không gì khác.
Đoàn quân Tây Tiến được thành lập vào đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp
với bộ đội Lào tiêu hao sinh lực địch và bảo vệ biên giới Tây Bắc của tổ quốc. Các
anh chủ yếu là thanh niên Hà Nội, những chàng trai hào hoa phong nhã, vừa gác
bút nghiên tiếng gọi của kháng chiến. Họ ra đi với một quyết tâm cao độ: “Tây
Tiến người đi không hẹn ước ước”. Nếu như ở các đoạn thơ trước đó nhà thơ tập
trung bút lực khắc họa lại chặng đường hành quân đầy kỷ niệm vừa thơ mộng, lại
vừa thấm đẫm vết hằn tháng năm. Thì ở đoạn thơ này, Quang Dũng đưa ta trở lại
với lăng kính hiện thực nhằm tôn vinh vẻ đẹp của người lính kiêu hùng. Đoạn thơ
đã trở thành một bức tượng đài về hình ảnh người chiến sĩ với vẻ đẹp hào hùng của
lý tưởng cao cả, của ý chí kiên cường, của sự gan góc, hy sinh dũng cảm cùng với
vẻ đẹp hào hoa lãng mạn của tâm hồn đằm thắm mộng mơ:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Những tháng năm “hoa lửa”, những cuộc chiến khắc nghiệt, những thiếu thốn vất
vả đều là những sự thật không thể chối bỏ. Quang Dũng không những không trốn
tránh những vất vả, những gian lao ấy, ngược lại ông đã tái hiện cuộc sống chiến
đấu gian khổ, hào hùng của chiến sĩ Tây Tiến bằng bút pháp hiện thực đậm nét qua
bốn câu đầu của khổ ba. Thế nhưng không vì vậy mà ông khiến cho bài thơ ám
đảm một màu đau đớn, chính chất lãng mạn của những chàng trai Hà Thành năm
ấy đã thực sự khiến cho sức mạnh niềm tin trở nên mãnh liệt đến phi thường, vượt
qua cả những gian khó chồng chất trước mặt, để lý tưởng một thời hoa lửa cứ rực
cháy trên bầu trời mong mỏi màu xanh hòa bình. Quả thực, nó không khiến cho bài
thơ ủy mị hay khiến con người ta nản chí, nhụt lòng mà trái lại, nó trở thành đôi
cánh nâng đỡ người lính vững bước bảo vệ Tổ Quốc.
Ngay từ những dòng đầu, người đọc đã ấn tượng bởi hình ảnh “đoàn binh
không mọc tóc”, hình ảnh đó phản ánh trận sốt rét rừng trong hoàn cảnh chiến đấu
gian khổ, thiếu thốn. Những cơn sốt rét đã làm tóc canh rụng nhiều, nên có người
gọi người lính thời kì này là những anh “vệ trọc”. Không chỉ vậy, nhà thơ còn sử
dụng phép đảo ngữ, đảo “Tây Tiến đoàn binh” lên đầu đã góp phần tô đậm chân
dung hình ảnh những người chiến sĩ. Tiếp đến câu thơ sau với ý đối lập nhau: hình
ảnh “quân xanh màu lá” vừa gợi lại trang phục người lính, đó là màu xanh của lá
ngụy trang. Nhưng có lẽ ấn tượng sâu sắc hơn vẫn là màu da xanh xao vì bệnh tật,
mặc dù vậy người lính vẫn tràn đầy dũng khí vẫn “dữ oai hùm”. Với hình ảnh đối
lập đó, tác giả đã tạo sự tương phản giữa ngoại hình và tính chất, giữa hình thức
bên ngoài có phần xanh xao với phẩm chất kiên cường đầy dũng khí của người lính Tây Tiến.
Nỗi nhớ của nhà thơ Quang Dũng mỗi lúc một cao vút lên, nhớ một dáng hình,
một ánh mắt kiên quyết, căm thù. Đồng thời nhớ lại cả tâm tư, tình cảm của người
lính. Có lẽ đặc điểm của người lính Tây Tiến được tập trung thể hiện rõ nhất ở hai câu thơ:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.
Hình ảnh mắt trừng gửi mộng biểu hiện ý chí quyết tâm, một lòng căm thù cao độ,
một hoài bão lớn sẵn sàng tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ biên cương tổ quốc. Nhưng nếu
như biết về một người lính mà chỉ có được cái hào hùng dũng cảm, cái quyết tâm
chiến đấu thì hình ảnh người lính đó chưa sinh động, chưa chân thực. Bởi ở họ còn
có tình cảm nhớ thương, biểu hiện một nét đẹp trong tâm hồn người lính. Điều đó
cũng được nhiều nhà thơ phản ánh, trong thi ca kháng chiến chống Pháp, người
lính trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu ra đi từ những miền quê nghèo khó
thì nỗi nhớ của họ cũng thật chân thực, mộc mạc. Đó là nhớ quê nhà, nhớ về những
miền quê “nước mặn đồng chua” hay đất cày lên sỏi đá hoặc có lãng mạn hơn một
chút là nhớ về giếng nước gốc đa - nơi đã từng hẹn hò, tâm sự. Còn người lính
trong bài “nhớ” của Hồng Nguyên là những người tứ xứ: “gặp nhau hồi chưa biết
chữ, quen nhau từ thuở một hai”. Nỗi nhớ của họ vẫn là nhớ quê nhà:
“ Ít nhiều người vợ trẻ
Mòn chân bên cối gạo canh khuya”.
Con người lính Tây Tiến ra đi từ Hà Nội, dĩ nhiên nỗi nhớ của họ là nhớ về Hà Nội
thân yêu yêu. Nhưng nỗi nhớ của họ không chỉ là “hương cốm mới”, hay “những
phố dài xao xác hơi may” mà rất lãng mạn trong giấc mơ về những cô gái Hà
Thành: “đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Quang Dũng đã thật sự khái quát lên
được chất lính của người lính Tây Tiến: đó là người lính thật hào hùng, dũng cảm
nhưng rất hào hoa lãng mạn, cái lãng mạn đó không hề hạn chế hay làm giảm đi
nhiệt tình của tuổi trẻ mà trái lại đó là biểu hiện của tâm hồn mang nặng tình nghĩa
tình cảm. Đó sẽ là động lực để người lính Tây Tiến nói riêng và người lính thời kì
kháng chiến chống Pháp nói chung vượt lên trên mọi thử thách để chiến thắng kẻ thù.
Quang Dũng như dõi theo từng bước chân của người lính Tây Tiến, nhớ lại
những cảnh của rùng rợn, những tâm sự, những nỗi niềm xót xa của đồng đội trước
những nấm mồ viễn xứ. Nhưng cảm hứng chung của bài thơ là cảm hứng chung
mạnh mẽ, bi tráng. Họ sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ cho sự nghiệp đấu tranh của đất
nước: “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Câu thơ nổi lên một phương châm,
một triết lí sống đẹp của tuổi trẻ. Đã nhiều lần Quang Dũng không dấu diếm sự
thật, thậm chí là sự mất mát hy sinh. Chính vì vậy, khi nhắc đến điều này nhà thơ
đã thể hiện được sự bi tráng, thiêng liêng:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Hình ảnh áo bào thay chiếu một lần nữa gợi lên sự thiếu thốn của người lính nhưng
nhà thơ đã dùng từ áo bào rất trân trọng để nâng cao giá trị, nâng cao ý nghĩa của
sự hi sinh. Người lính nằm xuống: “anh về đất” là về với đất mẹ, về với non sông
tổ quốc, về với sự trường tồn, sự mất mát của người lính nơi biên cương, chẳng
những làm xúc động đồng đội mà dường như còn làm động dán cả đất trời, tiếng
thác dữ gầm lên như tiếng kẻ bi tráng, tiễn đưa người lính về nơi vĩnh cửu với bao tiếc thương.
Có thể thấy cảm hứng lãng mạn và bi tráng luôn đi liền với nhau trong suốt tác
phẩm. Nhờ có hai nguồn cảm hứng, Quang Dũng đã có thể tạc nên bức tượng đài
bất tử về người lính trên nền thiên nhiên với nhiều màu sắc đẹp đẽ. Cả nội dung và
nghệ thuật của bài thơ một lần nữa lại được in đậm.
Quả thật bài thơ “Tây Tiến” đã ghi lại một cách chân thực và cảm động về hình
ảnh người lính Tây Tiến. Với “Tây Tiến”, Quang Dũng đã thật sự gửi vào thơ ca
kháng chiến chống Pháp một bức tranh chung về người lính trong những năm đầu
kháng chiến chống Pháp. Gương mặt người lính thủ đô dũng cảm, hào hoa thật sự
chiếm được cảm tình người đọc. Hình ảnh đó sẽ mãi mãi đẹp trong lòng mọi người
và: Để nhớ mãi quân Tây Tiến, Khúc độc hành ca của một thời. Quả thật, nhận xét
trên của Nguyễn Đăng Điệp là vô cùng xác đáng nếu như “Tây Tiến” - Quang
Dũng thiếu đi cái chất lãng mạn thì nó thật sự đánh mất đi vẻ đẹp toàn bích và
những giá trị nhân văn, nhân bản mà nó đã và luôn đem lại, khích lệ tinh thần người chiến sĩ.