
1
KHOA LÝ LUẬN CƠ SỞ
*
HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
ĐỀ CƯƠNG MÔN THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ
Người soạn: Hoàng Đình Huy
***
CÂU 1: Phân tích lý thuyết thể chế trưng cầu ý dân? Giá trị, hạn chế của trưng
cầu ý dân? Các nguy cơ sai lệch giá trị khi thực hiện thể chế trưng cầu ý dân
trong đời sống chính trị?
Trong xã hội có nền dân chủ phát triển, quyền làm chủ của người dân được
phát huy một cách rõ rệt. Người dân có quyền quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước cũng như được thảo luận, góp ý đến nhà nước trước những vấn đề có
sự ảnh hưởng to lớn đến vận mệnh quốc gia, dân tộc. Và quyền dân chủ đó của
nhân dân được thực hiện thông qua 02 hình thức cơ bản là:
Và Nhà nước là một hình thức dân chủ đại diện, được xem như
là một kênh để thực hiện dân chủ của người dân. Còn đối với hình thức dân chủ
trực tiếp, việc là một hình thức điển hình.
Trưng cầu ý dân được hiểu là việc Nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực
tiếp biểu quyết bằng hình thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của
đất nước. Trưng cầu ý dân được xem là một hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp
điển hình, người dân thể hiện ý chí của mình thông qua lá phiếu một cách trực tiếp
và trong đa số trường hợp nhà nước có nghĩa vụ phải thực hiện theo ý chí của nhân
dân.
Thông thường trưng cầu ý dân thường được áp dụng vào thủ tục lập pháp,
được coi như là một khâu quan trọng của quy trình lập pháp. Sau khi Quốc hội ban
hành Hiến pháp, thì hiến pháp chỉ có hiệu lực khi được sự chấp nhận của toàn thể
quốc dân thông qua trưng cầu ý dân. Ngoài ra, trưng cầu ý dân còn được sử dụng
trong việc sửa đổi hiến pháp, thành lập chế độ chính trị hay các vấn đề trọng đại
khác của quốc gia, dân tộc. Những công việc đó đều mang tính trọng đại, ảnh

2
hưởng đến quyền lợi của hàng triệu triệu con người, của cả quốc gia, dân tộc cho
nên việc tổ chức trưng cầu ý dân là điều tất yếu.
Có 02 hình hình thức chủ yếu để thực hiện trưng cầu ý dân bao gồm:
Trong đó, trưng cầu cách tùy ý là do cơ
quan nhà nước lựa chọn, nếu nhận thấy những vấn đề cấp thiết cần phải trưng cầu
ý dân thì Nhà nước sẽ tiến hành tổ chức trưng cầu. Còn hình thức trưng cầu cách
bắt buộc thì ngược lại, được Hiến định cụ thể trong Hiến pháp, quy định rõ ràng
trong luật là trường hợp nào, vấn đề nào thì được tổ chức trưng cầu ý dân; nếu
không quy định thì thì không cần thực hiện. Ví dụ ở một số quốc gia như Thụy Sỹ,
Hiến pháp liên bang cần phải trưng cầu ý dân. Hay ở Liên Xô, Hiến pháp quy định
Quốc hội liên bang có quyền quyết định trưng cầu dân ý. Và ở Pháp, trưng cầu ý
dân được thực hiện rộng rãi, cụ thể trong lịch sử nước này vào năm 1946 đã trưng
cầu dân ý để bác Hiến pháp lần I, đến năm 1961 thì thông qua trưng cầu để chấp
thuận một đạo luật và nguyên tắc tự trị xứ Algene. Tuy nhiên, hình thức trưng cầu
bắt buộc có thể xảy ra việc khi hiến pháp quy định nhưng lại không thực hiện trưng
cầu dẫn đến vi hiến.
Để đảm bảo thực hiện việc trưng cầu ý dân đạt hiệu quả tốt nhất cần đảm bảo
những yêu cầu cơ bản. Trước hết, cần phải có văn bản cụ thể các quy định của
Hiến pháp về quyền trưng cầu dân ý. Việc cụ thể hóa như vậy để tránh sự tùy tiện,
không trưng cầu ý dân một cách bừa bãi. Xác định chủ đề để thực hiện trưng cầu,
không phải chủ đề nào cũng tiến hành trưng cầu ý dân. Đồng thời cần xác định
được các chủ thể của trưng cầu ý dân. Và để kết quả của việc trưng cầu ý dân đạt
hiệu quả cao thì cần đòi hỏi trình độ dân trí phải được nâng cao, người dân phải có
những hiểu biết, tri thức nhất định về việc trưng cầu. Và yêu cầu then chốt là trưng
cầu ý dân chỉ nên thực hiện vì lợi ích toàn dân.
Thông qua việc trưng cầu ý dân đã đem lại những giá trị tích cực trong hoạt
động chính trị. Thứ nhất việc trưng cầu ý dân giúp Nhà nước phát huy được trí tuệ
của toàn thể nhân dân, nếu như nhà nước chịu tiếp thu ý kiến của nhân dân từ đó
góp phần đưa ra những quyết định mang tính khách quan và đúng đắn hơn. Thứ
hai, thông qua trưng cầu ý dân Nhà nước biết lắng nghe nhân dân, đó là cơ hội để
người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời cũng là cơ hội cho nhà
nước lắng nghe ý kiến, thái độ của người dân đối với vấn đề trưng cầu, trên cơ sở
đó có phản hồi lại sao cho phù hợp. Thứ tư, trưng cầu dân ý là nhà nước biết học
hỏi nhân dân. Thứ năm, trưng cầu dân ý góp phần để nhà nước bồi dưỡng và nâng
cao dân trí. Dân trí cao thì trưng cầu ý dân sẽ đạt được kết quả đúng đắn nhất, vì
khi đó người dân mới có đủ trình độ, kiến thức để đưa ra quyết định đối với vấn đề

3
trưng cầu. Và ngược lại, nếu như dân trí thấp việc trưng cầu ý dân rất dễ dàng bị
lợi dụng, mị dân, các thế lực lôi kéo nhằm làm sai đi kết quả theo ý chúng. Thứ
sáu, từ việc trưng cầu ý dân đã gợi ý cần có luật lệ gì và nội dung luật ấy cần
những nội dung gì. Và cuối cùng thông qua trưng cầu ý dân chỉ ra cho nhà nước
thầy rằng cần phải thực hiện quốc kế, dân sinh như thế nào cho phù hợp.
Song cạnh với những giá trị tích cực mà trưng cầu ý dân đem lại, thì vẫn tồn
tại những hạn chế và những nguy cơ sai lệch tiềm ẩn trong việc thực hiện trưng cầu
ý dân trong họat động của đời sống chính trị.
!", trưng cầu ý dân có thể bị lợi dụng vì mục đích của các nhân vật
chính trị, các giai cấp. Thông qua trưng cầu ý dân, giai cấp lãnh đạo lợi dụng và
mượn danh nghĩa là dân chủ để hợp pháp hóa ý chí, mong muốn chủ quan của giai
cấp đó. Ví dụ thực tiễn tại Việt Nam, cuộc tổng tuyển cử năm 1955 tại miền Nam
Việt Nam là một cuộc trưng cầu ý dân nhằm xác định lãnh đạo tương lai của Quốc
gia Việt Nam. Được sự ủng hộ của người Mỹ, cuộc bỏ phiếu đã diễn ra với kết quả
Thủ tướng Ngô Đình Diệm đắc cử với hơn 98,2% phiếu bầu, được cho là có sự góp
sức của việc gian lận bầu cử, chính thức phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, trở thành
lãnh đạo tối cao, thiết lập chính quyền Việt Nam Cộng hòa, cuộc trưng cầu dân ý
này thường được nhắc đến với tên gọi #$%&''
Thứ hai, có thể vì mục đích độc quyền. Bởi vì thông qua trưng cầu ý dân,
người ta đã nhân danh cái “ý chí chung” đó của người dân mà bắt buộc tất cả mọi
người phải ngoan ngoãn thực hiện và phục tùng nó như là lẽ dĩ nhiên. Ví dụ trong
lịch sử, trùm phát xít Đức Adolf Hitler cũng rất thích trưng cầu ý dân. Kẻ độc tài
này đã tổ chức không ít hơn 4 cuộc trưng cầu trong quãng thời gian 5 năm cầm
quyền của mình – tất cả chỉ nhằm bao biện cho vai trò của một kẻ đầu sỏ chiến
tranh và giết người tàn bạo. Và không cần phải nói, trong tất cả các cuộc trưng cầu
dân ý nói trên, những người bỏ phiếu “đồng ý” hay “tán thành” đều vượt qua con
số 90%.
Thứ ba, đôi khi trưng cầu ý dân lại trở thành mị dân – nịnh dân, hay trở thành
chủ nghĩa dân túy.
CÂU 2: Phân tích thể chế bầu cử ở Việt Nam? Ưu điểm, hạn chế và định hướng
hoàn thiện?

4
Trong chính thể dân chủ đại diện, nhà nước chỉ có thể được thiết lập và thực
thi quyền lực quản lý xã hội khi có sự nhất trí của người dân – chủ thể duy nhất và
đích thực của quyền lực nhà nước. Nói cách khác, bầu cử là () *
+,-.$"/0Và không nằm ngoài nguyên lý đó, Nhà nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng chỉ được thiết lập và thực thi quyền lực nhà nước
thông qua sự trao quyền của nhân dân bằng con đường bầu cử. Và bầu cử có thể
được xem như là “trái tim”, là “yếu tố then chốt”, là “chìa khoá” và một trong
những tiêu chí nền tảng để đánh giá mức độ của một nền dân chủ.
Bầu cử được hiểu là việc chọn lựa người nắm giữ chức vụ trong bộ máy nhà
nước được thực hiện bởi người dân thông qua con đường bỏ phiếu tập thể. Như
vậy khi nói đến thể chế bầu của Việt Nam là nói đến một chỉnh thể bao gồm các
nguyên tắc, các quy định của pháp luật về bầu cử, cùng các mối quan hệ xã hội
được hình thành trong quá trình bầu cử.
Trước hết, bầu cử ở Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc “phổ thông –
bình đẳng – trực tiếp – bỏ phiếu kín”, những nguyên tắc này đã được minh định cụ
thể trong luật bầu cử của nước ta. Trong đó, nguyên tắc phổ thông được hiểu là tất
cả mọi công dân Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính....và đảm
bảo đủ yêu cầu theo quy định đều có quyền bầu cử. Nguyên tắc bình đẳng là mỗi
cá nhân đều được phát một lá phiếu bầu và phiếu đó có giá trị ngang nhau. Trực
tiếp có nghĩa là chính cá nhân mỗi người thực hiện việc bỏ phiếu mà không cần
thông qua một người nào khác bỏ dùm. Và bỏ phiếu kín để đảm bảo sự tự do đầy
đủ sự thể hiện ý chí của cử tri mà không bị chi phối bởi cá nhân, quan điểm nào
khác.
Về độ tuổi bầu cử: phải đảm bảo đủ 18 tuổi trở lên (đủ ngày, tháng tính đến
ngày bầu cử) có quyền tham gia bầu cử. Còn đối với những người tham gia ứng cử
phải đủ 21 tuổi trở lên và các tiêu chuẩn dành cho ứng cử viên được quy định cụ
thể trong luật.
Về tiêu chuẩn của người bầu cử: trước hết phải là công dân nước CH
XHCNVN, đủ tuổi theo quy định, đảm bảo đủ nhận thức, không mất năng lực hành
vi dân sự hay bị mất quyền công dân. Riêng đối với những cá nhân tham gia ứng
cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định
tại Luật tổ chức Quốc hội. Hay những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân
phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Luật tổ
chức chính quyền địa phương

5
Về ngày bầu cử: được quy định là ngày Chủ nhật và được công bố chậm nhất
115 ngày trước ngày bầu cử.
Về kinh phí bầu cử: do ngân sách nhà nước bảo đảm. Điểm này của thể chế
bầu cử nước ta khác với các nước Tư bản, bởi họ có 3 nguồn tài chính cho bầu cử
gồm:ntaif chính cá nhân, ngân sách nhà nước và do các nhà tài trợ
Quy định về trách nhiệm cơ quan tổ chức trong công tác bầu cử: được quy
định chi tiết tại điều 4, Luật bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân
dân.
123425,/,62.,7
Bầu cử Việt Nam – thể hiện sự dân chủ và tiến bộ. Mục đích bầu cử ở Việt
Nam là nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân - quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong suốt
tiến trình cách mạng.
Thứ hai, hoạt động bầu cử ở Việt Nam tiến hành dựa trên nguyên tắc dân chủ
và tiến bộ thể hiện qua nguyên tắc (-89:;99<
=*0như phân tích ở trên.
Thứ ba, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và phát huy sức mạnh của cả hệ thống
chính trị, toàn thể nhân dân trong tiến hành công tác nhân sự cho bầu cử. Quy trình
đó đã thể hiện rõ dân chủ và bầu cử gắn bó mật thiết như hình với bóng; bầu cử là
tự do và trung thực, vì một chế độ dân chủ ngày càng hoàn thiện và phát triển.
Thứ tư, bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được sự
hưởng ứng nhiệt thành của mọi tầng lớp nhân dân, thực sự là Ngày hội của toàn
dân. Trong mỗi cuộc bầu cử, mọi tầng lớp nhân dân đều phấn khởi, tin tưởng, tự do
thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu.
Và ngày bầu cử đã trở thành Ngày hội của toàn dân tộc Việt Nam. Đó là minh
chứng sống động khẳng định sự dân chủ và tiến bộ trong bầu cử ở Việt Nam.
>?233325@A,36BC#DE
B=23F=GH2H7
Thứ nhất là, quá nhấn mạnh tính tập trung, thống nhất. Điều này thể hiện
được sự thống nhất, bảo đảm cơ cấu, nhưng ảnh hưởng đến chất lượng đại biểu,
không phát huy được tính tích cực của quần chúng nhân dân. Vì cơ cấu, nên có
nhiều đại biểu được bầu có thể vẫn đủ phẩm chất, tư cách nhưng lại không hẳn là
đại biểu xứng đáng nhất của nhân dân; có người được cấp uỷ giới thiệu nhưng cử

6
tri không bầu; đại biểu có thể được cử tri bầu thì không được giới thiệu hoặc công
nhận.
Thứ hai là, quá trình hiệp thương vẫn còn nặng nề, chưa mở rộng quyền ứng
cử, đặc biệt là quyền tự ứng cử. Do đó, cử tri không giới thiệu được người mình tín
nhiệm cũng như không trực tiếp loại bỏ sơ bộ các ứng cử viên (công việc này được
thực hiện bởi đại diện Mặt trận và Hội đồng nhân dân, dưới sự chỉ đạo của Đảng)...
Như vậy, trong thể chế bầu cử của Việt Nam, đầu vào do Đảng giới thiệu, cử tri chỉ
được thể hiện ý nguyện của mình qua thao tác bỏ phiếu (đầu ra), chỉ được bày tỏ
tín nhiệm đối với những người đã có sẵn trong danh sách.
Thứ ba là, Những quy định về người tự ứng cử chưa bảo đảm công bằng, bình
đẳng. Cơ cấu đại biểu tự ứng cử rất thấp (khoảng 10%), chưa tạo điều kiện cho
người được đề cử và cả người tự ứng cử có cơ hội bình đẳng như nhau
Thứ tư là, chưa có một cơ quan chuyên trách thực hiện bầu cử, chưa xác định
rõ nhiệm vụ, quyền hạn của hội đồng bầu cử; cũng như là còn hạn chế trong cơ cấu
thành viên của Hội đồng bầu cử.
@2425@A,3B3I+J/6$
,;34B,4.F,45K@A,37
L"B$.$5B.$ 5,8Hiện nay, xu thế chung
của các nước trên thế giới là hướng tới hoàn thiện chế độ bầu cử phổ thông, bình
đẳng, dễ tiếp cận. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam cần theo
hướng mở rộng phạm vi lựa chọn của cử tri bằng việc tăng đáng kể số người ứng
cử cho mỗi đơn vị bầu cử so với hiện nay. Cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục tự
ứng cử để tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền này một cách tự do, bình
đẳng là phù hợp với xu thế chung của các nước trên thế giới trong điều kiện hội
nhập và tăng cường dân chủ ở Việt Nam. Đây là bước đột phá trong chế độ bầu cử,
góp phần bảo đảm trên thực tế các điều kiện để công dân có thể thực hiện tốt hơn
quyền về chính trị đã được Hiến pháp quy định.
M,"B$?NB)!2O+Trong những năm gần đây,
Quốc hội thực sự là nơi để cử tri và nhân dân cả nước gửi gắm niềm tin và nguyện
vọng của mình. Vì vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Quốc hội,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân thì việc lựa chọn những đại biểu thực sự có
đức, có tài, có tâm, có tầm được coi là điều kiện tiên quyết góp phần làm trong
sạch bộ máy nhà nước, tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và
các cơ quan của Quốc hội. Vì vậy, vấn đề tiêu chuẩn và cơ cấu đại biểu Quốc hội

7
cần được đặc biệt quan tâm trong các cuộc bầu cử để họ có đủ năng lực và điều
kiện thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đại biểu của mình.
>,"B$)",PB/ 5?QMặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể nhân dân cần phải vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện
quyền làm chủ xây dựng nhà nước, trước hết là bầu ra cơ quan dân cử (Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp) một cách thực sự dân chủ, thông qua việc giới thiệu
người ứng cử, tổ chức hiệp thương dân chủ, tuyên truyền vận động bầu cử; kiên
quyết khắc phục lối dân chủ hình thức, làm thay nhân dân.
>+"B$)J5QCách thức tổ chức đơn vị bầu cử theo đơn vị hành
chính như hiện nay chỉ phù hợp với việc cử tri ở nơi đó bầu ra người đại diện của
mình là những người cư trú và làm việc tại địa phương. Vì vậy, cùng với việc tổ
chức đơn vị bầu cử theo đơn vị hành chính như hiện nay cần kết hợp tổ chức đơn
vị bầu cử một cách đa dạng hơn theo tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp sao cho cử tri thực sự
nắm rõ về ứng cử viên và khi được bầu, các ửng cử viên phải thực sự là tiêu biểu
cho các cơ quan, tổ chức đó, các ngành, các giới, các hiệp hội... và gắn bó chặt chẽ
với cử tri, nhân dân.
Qua phân tích trên đã làm rõ về thể chế bầu cử của Việt Nam, cũng như chỉ ra
được điểm ưu, điểm khuyết của thể chế bầu cử nước ta đồng thời đề ra các phương
hướng cho sự hoàn thiện thể chế bầu cử ngày càng hiệu quả, dân chủ và tiến bộ
CÂU 3: Phân tích các nguyên tắc và trình tự của thể chế bầu cử? Liên hệ thực
tiễn ở Việt Nam?
Sự phát triển thăng trầm của nền dân chủ trong từng giai đoạn lịch sử xã hội,
từ dân chủ trực tiếp cho đến dân chủ đại diện. Và trong đó bầu cử như là một định
chế trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện. Không thể có chính thể đại diện
nếu không có bầu cử. Trong chính thể dân chủ đại diện, nhà nước chỉ có thể được
thiết lập và thực thi quyền lực quản lý xã hội khi có sự nhất trí của người dân – chủ
thể duy nhất và đích thực của quyền lực nhà nước. Một chế độ chỉ được coi là dân
chủ khi và chỉ khi có các cuộc bầu cử. Đó là bởi bầu cử cho phép người dân không
chỉ trao quyền cho những đại diện thay mặt mình quản lý xã hội mà còn kiểm soát
hoạt động của họ.

8
Bầu cử là quyền, hoạt động của mỗi cá nhân, được hiểu là quá trình chọn ra
một hoặc nhiều người cho một chức vụ công hoặc tư từ nhiều ứng cử viên khác
nhau. Còn thể chế bầu cử là một chỉnh thể bao gồm các nguyên tắc, các quy định
của pháp luật về bầu cử, cùng các mối quan hệ xã hội được hình thành trong quá
trình bầu cử. Ngày nay bầu cử trở thành xu thế phổ biến nhất trong quá trình
chuyển giao quyền lực trong các hoạt động chính trị ở các nước. Bởi việc bầu cử
đã thể hiện nhiều ưu điểm cũng như các giá trị tích cực trong hoạt động của đời
sống chính trị. Cụ thể, là ít gây ra thiệt hại trong quá trình chuyển giao quyền lực.
Các cử tri có thể chọn người mà họ mong muốn. Đồng thời thể hiện tính công
bằng, dân chủ, tạo cơ hội cho mọi người có thể tham gia vào hoạt động chính trị,
tạo một thế cạnh tranh phát triển...
Và hiện nay, đa phần các quốc gia trên thế giới đều tiến hành bầu cử trong
việc hình thành hay chuyển giao quyền lực trong bộ máy công quyền. Và để quá
trình bầu cử diễn ra thật sự hiệu quả và thật sự dân chủ, một số nguyên tắc chủ yếu
được các nước áp dụng như: nguyên tắc phổ thông, nguyên tắc bình đẳng, nguyên
tắc bầu cử tự do và bầu cử bắt buộc, nguyên tắc bầu cử trực tiếp và bầu cử gián
tiếp, và nguyên tắc bỏ phiếu kín.
Trong đó, ?-8 được hiểu là mọi công dân của quốc gia đó,
khi đủ 18 tuổi thì được quyền bầu cử. Không có sự phân biệt về sắc tộc, chủng tộc,
tôn giáo, giới tính hay địa vị, giai tầng... Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp
không được thực hiện bầu cử khi bị tước quyền công dân, hay mất năng lực trong
hành vi nhận thức.
Thứ hai là, ?:R là mỗi cử tri được phát một phiếu bầu và
không có sự phân biệt trong việc sở hữu số lượng phiếu bầu nghĩa là ai cũng có 01
lá phiếu. Và là phiếu bầu đó có giá trị ngang nhau, phiếu bầu của người giàu cũng
như người nghèo, của nông dân cũng giống của tri thức....
Thứ ba là, ?545. Trước hết là nguyên
tắc tự do là công dân có quyền quyết định tham gia bầu cử hoặc không tham gia
bầu cử, việc tham gia là do sự tự nguyện của người dân, không bắt buộc. Chính
phủ là đại diện thật sự của người dân thì tỷ lệ cử tri tham gia cần sự đông đảo
(thường trên 50%). Nguyên tắc tự do này có điểm ưu vì nó đảm bảo quyền dân
chủ, tự do tuyệt đối của người dân. Song lại có hạn chế là tính đại diện của nhà
nước không cao; chưa thấy được trách nhiệm của người dân trong việc làm chủ đất
nước. Còn trong nguyên tắc bắt buộc thì công dân phải tham gia bầu cử, đó không
chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ phải thực hiện. Ưu điểm là nâng cao tính đại diện

9
của chính quyền, nâng cao sự tôn nghiêm của sự lượng chọn, và chất lượng của
bầu cử, đồng thời cho thấy trách nhiệm của người dân trong việc đi bầu. Người
làm chủ đất nước là nhân dân thì nhân dân phải có trách nhiệm của người làm chủ.
Tuy nhiên cũng tồn tại một vài hạn chế như chưa hướng đến sự dân chủ tuyệt đối,
tình trạng bầu cử đối phó (bầu cho có nhưng không tìm hiểu).
Thứ tư là, ?5. Bầu cử trực tiếp là việc cử
tri trực tiếp lựa chọn ứng viên vào cơ quan nhà nước không thông qua cơ qua một
trung gian nào. (VD: bầu cử đoàn, ...). Và đây thường được dùng trong phạm vi
hẹp, khi muốn đề cao vai trò cử tri, ở các nước Tây phương thường dùng hình thức
này để bầu ra nghị viện (các nghị sĩ). Còn trong bầu cử gián tiếp thì cử tri không
bầu trực tiếp người đại diện mà bầu ra các cử tri đoàn sau đó cử tri đoàn thay mặt
cho cử tri bầu ra các cơ quan quyền lực hay các chức danh của nhà nước. Hình
thức này thường được áp dụng ở phạm vi lớn, có thiên hướng đề cao tính đại diện,
(vd bầu tổng thống Mỹ, thượng nghị sĩ Pháp...)
Thứ năm là nguyên tắc bỏ phiếu kín. Các cử tri được mời đến một phòng kín
để bỏ phiếu, hoặc phiếu được dán kín bỏ vào thùng giấy. Nhằm giảm áp lực từ bên
ngoài, việc bỏ phiếu phải đảm bảo bí mật (chỉ người bỏ phiếu mới biết), phiếu đó
không thể phân biệt được của người nay hay người khác. Tuy nhiên vẫn có thể xảy
ra các sự sai lệch như việc: phiếu có thể bị điều chỉnh khi được đưa vào lưu trữ.
Hay khi áp dụng khoa học kĩ thuật thì chỉ có thể so sánh được kết quả đầu vào và
kết quả đầu ra, không thể tính được kết quả đầu ra ( vì đây là những dự trù mang
tính duy lý của con người).
@2.:5S,T"6H3:=B/G
2BU3,*VW;3,4!"6B.F,
57
Đầu tiên là thực hiện việc lập danh sách cử tri. Có 2 cách lập danh sách gồm
bắt buộc và tự nguyện. Trong đó, lập danh sách bắt buộc là các nhân viên cơ quan
phụ trách bầu cử hoặc cơ quan hành chính địa phương sẽ phải lập danh sách cử tri
của từng khu vực trước khi bầu cử. Còn đối với lập danh sách tự nguyện là cử tri
cần đem giấy tờ tùy thân đến cơ quan thẩm quyền để đăng ký đi bầu, chủ yếu áp
dụng ở các nước TBCN.
Bước thứ hai là thực hiện công tác giới thiệu ứng cử viên. Có những cách
thức cơ bản trong việc giới thiệu ứng viên như sau: giới thiệu kép kín, giới thiệu
bán mở rộng, giới thiệu mở rộng và tự ứng cử. Việc giới thiệu ứng viên là để xác

10
định ai có thể có tên trên lá phiếu để cử tri lựa chọn. Và thông thường thì việc giới
thiệu ứng viên đa phần do các Đảng chính trị đóng vai trò chính trị hoạt động này.
Tiếp đến là công việc phân chia các đơn vị bầu cử. Là đơn vị phân chia theo
lãnh thổ, có dân số nhất định, được bầu số lượng đại biểu nhất định (thường là đơn
vị hành chính nhà nước)
Quy định về cơ quan phụ trách bầu cử. Thường được quy định trong Hiến
pháp hoặc luật nào đó. Với ý nghĩa để tránh khuyết chủ thể tổ chức trong bầu cử,
và để xác định đúng quyền lực của chủ thể trong bầu cầu.
Tổ chức các chiến dịch vận động tranh cử. Là các hoạt động của tổ chức, cá
nhân nhằm tác động đến nhận thức và hành vi của cử tri. Chủ yếu do các đảng
chính trị tiến hành, vì mục đích tối thượng của các đảng chính trị là giành chính
quyền, đạt được QLNN nên phải đi vận động tranh cử.
Quy định thời gian và không gian bầu cử. Sẽ do cơ quan có thẩm quyền ấn
định (thông thường các đảng chọn vào các ngày nghỉ hoặc lễ). Cũng có một số
nước cố định ngày bầu cử vào một ngày nhất định trong năm.
Và cuối cùng là công đoạn bỏ phiếu và kiểm phiếu. Chỉ có những người có
tên trong danh sách mới được bỏ phiếu. Khi đi bỏ phiếu phải xuất trình giấy tờ tùy
thân, một số nước cho phép bỏ phiếu qua bưu điện. Có thể bỏ phiếu theo cơ chế ủy
quyền trong trường hợp người bỏ phiếu không thể đến điểm bỏ phiếu. Công tác
kiểm phiếu được thực hiện công khai, do cơ quan thẩm quyền thực hiện, được
kiểm soát bởi đại diện các đảng, các phiếu được kiểm khách quan.
X?S@A,3
Không nằm ngoài những nguyên lý và giá trị chung về bầu của của thế giới.
Việt Nam cũng đã và đang áp dụng và hoàn thiện thể chế bầu cử theo hướng ngày
càng dân chủ, tiến bộ. Các giá trị đó được Việt Nam vận dụng trong bầu cử thông
qua:
Trong nguyên tắc bầu cử, thực hiện nhất quán trên nguyên tắc “-89
:R99<=*0. (phân tích cụ thể ở câu 2). Tuy vẫn có một
vài hạn chế trong việc chưa đưa ra cơ chế, tạo điều kiện cho việc tự ứng cử....
Còn trong trình tự tổ chức bầu cử, được tổ chức theo các bước chính như sau:
Thứ nhất là thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, đơn vị bầu cử, khu vực bỏ
phiếu. Bước hai, tiến hành lập danh sách cử tri và quyền bầu cử cùng với việc lập
danh sách ứng cử viên và quyền ứng cử. Bước ba là vận động bầu cử. Và cuối

11
cùng là thực hiện bỏ phiếu, kiểm phiếu, công bố kết quả và thẩm tra tư cách đại
biểu trúng cử
CÂU 4: Phân tích các giá trị thể chế trong Hiến pháp 2013 của Việt Nam?
Trong lịch sử xã hội, sự ra đời của Hiến pháp mang một ý nghĩa vô cùng quan
trọng. Hiến pháp ra đời là để tuyên bố quyền con người, quyền công dân, đấu tranh
cho sự ra đời của quyền con dân. Quy định về quyền, lợi ích của Nhà nước. Thực
chất hiến pháp ra đời để giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân, để
bảo vệ chế độ dân chủ. Hiến pháp ra đời đầu tiên trên thế giới là bản Hiến pháp của
Hoa Kỳ năm 1787.
Đối với Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam cũng không nằm ngoài những giá trị
chung đó, cũng quy định những giá trị cơ bản về quyền con người, quyền công
dân, quy định về chế độ chính trị, bộ máy nhà nước và các vấn đề then chốt có ý
nghĩa quan trọng đối với quốc gia. Hiến pháp Việt Nam được ban hành đầu tiên
vào năm 1946, và trải qua nhiều lần sửa đổi qua các năm 1954, 1976, 1992 và năm
2013 – và đây là bản Hiến pháp hiện hành duy nhất ở Việt Nam ngày nay. Nội
dung Hiến pháp Việt Nam quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng.
Đầu tiên, Hiến pháp quy định về chế độ chính trị, những vấn đề cơ bản của
chính trị được quy định ngay tại chương I của Hiến pháp. Quy định về chế độ
chính trị của nước ta là chế độ Xã hội chủ nghĩa. Quy định về bản chất của Nhà
nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Quy
định về việc phân công, thực hiện, phối hợp và kiểm soát trong việc thực hiện
quyền lực nhà nước.
Thứ hai, quy định về lực lượng lãnh đạo đó là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng ta được Hiến định cụ thể tại điều 4 Hiến pháp, thể hiện rõ vai trò và vị trí của
Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội: ("?4,",4
,F@A,3B2"6*,,!8
B",4,FB"!Y,LZX?K
MD[*L"3$FKB"""6"\4A/]\0
Tiếp đến, Hiến pháp quy định cụ thể vai trò của Nhà nước, được hiến định tại
điều 3 của Hiến pháp. Qua đó thể hiện, Nhà nước phải đảm bảo và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân; thực hiện mục tiêu tối thượng là xây dựng một nước Việt nam dân

12
giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; tất cả mọi người đều có cuộc sống
tự do, ấm no, hạnh phúc và có đầy đủ điều kiện để phát triển toàn diện
Quy định về chế độ kinh tế của đất nước là nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, được hiến định tại điều 51 của Hiến pháp. Từ cơ sở nền tảng kinh
tế mới có những quy định ra các thể chế khác.
Nội dung quan trọng trong Hiến pháp là quy định về quyền con người, quyền
và nghĩa vụ của công dân. Quy định những quyền cơ bản vốn có của con người
cùng với quy định những quyền và nghĩa vụ mà công dân Việt Nam phải đảm bảo
thực hiện. Các quyền ấy được Hiến pháp quy định cụ thể, rõ ràng trong chương 2
của Hiến pháp.
Quy định về quyền của các chủ thể quyền lực Nhà nước như quyền của Quốc
hội, chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, chính quyền địa phương.
Đối với Quốc hội được quy định cụ thể tại chương V của Hiến pháp. Còn quyền
hạn và trách nhiệm của Chủ tịch nước được hiến định tại chương VI. Ở chưởng
VII, Hiến pháp thể hiện các quy định về Chính phủ. Và các quy định về Viện kiểm
sát, Tòa án được hiến định tại chương VIII. Chính quyền địa phương được quy
định tại chương IX. Những quy định của hiến pháp được xem như nền tảng, khuôn
thước cho việc xây dựng, ban hành ra các văn bản pháp luật, luật cụ thể để quy
định một cách rõ ràng, chi tiết về vai trò, chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của
các cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Ngoài ra, Hiến pháp còn quy định những biểu tượng của đất nước như về
quốc ca, quốc kỳ, quốc huy, quốc khánh và thủ đô của nước Việt Nam; được kiểu
định cụ thể tại điều 13 của Hiến pháp.
Giá trị hiến pháp:
!7M^_%`2H,IIKB
F4F3.$"/$A Hiến pháp năm 2013 đánh dấu
một bước phát triển mới trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, Hiến pháp tiếp tục
nhất quán thể hiện tư tưởng phát huy dân chủ, bảo đảm chủ quyền nhân dân, quyền
lực nhà nước thuộc về Nhân dân nhưng ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn với các
hình thức thực hiện đầy đủ hơn, biện pháp bảo đảm toàn diện hơn và xuyên suốt
toàn bộ nội dung của Hiến pháp. Điều đó được thể hiện qua việc Hiến pháp là kết
tinh trí tuệ, ý chí của toàn dân tộc; quy định rõ nguồn gốc, bản chất quyền lực nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cũng trong Hiến pháp năm 2013, lần

13
đầu tiên trong các văn bản Hiến pháp của nước ta, chữ “Nhân dân” được viết hoa;
quy định nguyên tắc để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước và cơ chế nhân dân
kiểm soát quyền lực nhà nước.
,7Ma3^_%`$,4J,4.B8PBF4BF4
F3.$4bB.$8 Quyền con người là một giá trị mang tính
chất nhân loại, nhân văn. Quyền con người, quyền công dân là hình thức pháp lý
của mối liên hệ cá nhân với nhà nước và xã hội. Hiến pháp 2013 đã có nhiều điểm
mới về quyền con người. Cùng với việc ghi nhận các quyền con người, quyền công
dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, Hiến pháp 2013 còn khẳng định sự tôn
trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người và quyền công dân. Đây là một
trong những bước phát triển mới của Hiến pháp 2013 về quyền con người, quyền
công dân, và cũng là bước phát triển mới về chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Việc ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân
là nguyên tắc hiến định đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho các cơ quan nhà nước
trong triển khai thi hành quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công
dân.
Những quy định của Hiến pháp 2013 cho thấy những thay đổi quan trọng
trong nhận thức của chúng ta về ý nghĩa, vai trò của quyền con người, quyền công
dân thể hiện nhất quán chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về quyền con người, coi con người là chủ thể, là động lực quan trọng của sự phát
triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nhằm hướng đến mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
,7Ma3^_%`4$F")F4]
$=JbJ/]\Y,c"$2=/
]2$aH,@A,3?BT3FIB
F4F38;]\F438bXây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan giúp nước ta chủ động hội
nhập sâu rộng với kinh tế thế giới nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế.
Quy định của Hiến pháp 2013 đã đặt ra cho Nhà nước nhiệm vụ tiếp tục
hoàn thiện thể chế kinh tế, thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm bảo đảm tăng
trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Đây cũng chính là các mục tiêu của phát triển bền vững.

14
7Ma3^_%`4)IK"42H,b
"+.+#B,B+4BF4-.+@A,3]\Y,
4,43/Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang
diễn biến nhanh chóng, phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định. Các thế
lực thù địch vẫn ráo riết chống phá sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta. Hiến
pháp 2013 tiếp tục khẳng định nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân;
nhiệm vụ hàng đầu của Nhà nước là cũng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn
dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức
mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Quy định của Hiến
pháp đã tạo cơ sở pháp lý cho việc tăng cường quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự và an toàn xã hội.
Cùng với việc xác định đường lối quốc phòng, an ninh của nhà nước, Hiến
pháp năm 2013 tiếp tục thể chế hóa đường lối đối ngoại của Đảng, khẳng định tính
chất nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa; đa dạng hóa
quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập…
a37M^_%`V$F")F4G]
4A/.$]\Y,@A,3,A
B4AB:A Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng
ta xây dựng là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Với tư cách là
trụ cột của Hệ thống chính trị, Nhà nước là trung tâm quyền lực chính trị của hệ
thống chính trị, là biểu hiện tập trung nhất của quyền lực Nhân dân, là công cụ hữu
hiệu thực hiện quyền lực của Nhân dân.
Cơ chế giám sát mà Hiến pháp thiết lập theo hướng đảm bảo sao cho trong
hoạt động của mình các cơ quan nhà nước phải lắng nghe ý kiến của Nhân dân.
Khi người dân ngày càng nhận thức và phát huy quyền làm của mình đối với nhà
nước và xã hội, khi tính tích cực chính trị trong Nhân dân ngày càng được nuôi
dưỡng và phát huy thì Nhà nước càng vững mạnh.
Hiến pháp 2013 đã tiếp tục làm rõ cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước.
Khác với mô hình tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước tư bản là tổ chức và thực
hiện theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”. Ở nước ta, quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các quan quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

15
Như vây có thể thấy Hiến pháp là văn bản quy định chính thể mà nội dung cụ
thể là xác định phương thức thành lập, cơ cấu tổ chức, tương quan giữa các đại
công quyền nhà nước cũng như mức độ tham gia của nhân dân vào việc tổ chức
quyền lực nhà nước. Đó cũng là nội dung cơ bản, tọng yếu của thể chế chính trị,
nhìn chung có thể thấy sự quy định của Hiến pháp về thể chế chính trị là quy định
những nội dung cơ bản đó.
Câu 5: Phân tích các ưu điểm, hạn chế của thể chế bầu cử? Liên hệ thực tiễn hệ
hệ thống bầu cử ở các nước Phương tây hoặc Việt Nam?
Sự ra đời của thể chế bầu cử đã đem lại nhiều giá trị tích cực trong hoạt động
chính trị, nó thể hiện được sự phát triển của nền dân chủ, được xem là “trái tim”, là
“yếu tố then chốt”, là “chìa khoá” và một trong những tiêu chí nền tảng để đánh giá
mức độ của một nền dân chủ. Trong đời sống chính trị, bầu cử được sử dụng khá
phổ biến ở các quốc gia trên thế giới và được coi như một xu thế chung của nhân
loại. Bởi vì nó thể hiện được nhiều điểm mạnh tiêu biểu là phát huy được quyền
làm chủ của nhân dân, tăng tính hợp của các chủ thể quyền lực..v..v.. Tuy nhiên,
bên cạnh những ưu điểm nổi bật thì nó vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập.
Thể chế bầu cử là là một chỉnh thể bao gồm các nguyên tắc, các quy định của
pháp luật về bầu cử, cùng các mối quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình
bầu cử.
Sự ra đời của thể chế bầu cử đã đem lại nhiều giá trị trong hoạt động chính trị.
Trước hết, là giảm các thiệt hại trong quá trình chuyển giao quyền lực. Tạo sự
chính đáng quyền lực của các cơ quan trong Nhà nước, vì những cơ quan này được
nhân dân tin tưởng trao quyền, được sự chấp thuận, công nhận của đông đảo mọi
người trong xã hội điều đó làm tăng tính chính đáng, hợp pháp của các cá nhân, tổ
chức được người dân trao quyền. Và có thể nói ở hình thức dân chủ đại diện, với
Nhà nước là một kênh đại diện của người dân trên lãnh thổ đó, Nhà nước chỉ có thể
được thiết lập và thực thi quyền quản lý xã hội khi và chỉ khi được sự chấp thuận
của người dân trong xã hội, và để biết được mức độ chấp thuận đó cần đến thể chế
bầu cử. Và trong thực tế chính trị, khi tính chính đáng càng cao thì tính cưỡng chế
càng giảm và hiệu quả được nâng lên.
Thứ hai, thể chế bầu cử thể hiện sự dân chủ ở một chế độ xã hội, bầu cử tạo
cơ hội cho người dân có thể chọn người mà họ mong muốn. Phát huy quyền làm
chủ của người dân, làm cho họ thật sự là “người chủ” và “làm chủ” đúng nghĩa khi
có quyền quyết định các vấn đề quan trọng đất nước, đặc biệt là bầu cử.

16
Thứ ba, thể chế bầu cử còn thể hiện được tính công bằng trong hoạt động
chính trị. Bởi được tất cả thành viên trong xã hội lựa chọn ra nên quyết định ấy
mang tính khách quan, đại diện cho đa số sẽ mang tính công bằng hơn. Bên cạnh
đó, sự ra đời của thể chế bầu cử còn thể hiện điểm ưu trong việc tạo cơ hội cho mọi
người có quyền tham gia vào chính trị với cơ chế cạnh tranh, phát triển. Trong
những chế độ xã hội trước đây, điều này gần như là không tưởng, trong xã hội
phong kiến thì quyền lực chỉ chảy trong dòng máu của hoàng tộc, “con vua rồi lại
làm vua”, không có sự việc dân thường hay tầng lớp khác được tham gia vào
quyền lực nhà nước. Sự ra đời của thể chế bầu cử đã thay đổi điều đó, mọi người
đều có cơ hội tham gia chính trị khi người đó có năng lực, trình độ cũng như thu
hút được sự quan tâm, ủng hộ của người dân thông qua các cuộc vận động tranh
cử.
Và thể chế bầu cử còn giúp chống lại sự lộng hành của chính quyền, đó là khả
năng phế truất chính quyền của công dân, chính quyền do người dân tin tưởng mà
trao quyền để thay mặt người dân thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, nếu
như chính quyền ấy hành động đi ngược lại với những lợi ích chung của xã hội thì
người dân có quyền phế truất chính quyền đó. Bởi người dân là người trao quyền
cho nên người dân có quyền kiểm soát quyền cũng như phế truất.
>?EJ*325d3"BI4C#E
42
Thứ nhất là trong hoạt động tranh cử, việc giới thiệu ứng viên thông thường
do các đảng chính trị giới thiệu, thực chất quá trình tranh cử đó là sự cạnh tranh
giữa các đảng trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước (nắm chính
quyền). Nói là sự ra đời của thế chế bầu cử đã tạo cơ hội rộng mở cho mọi người
có thể tham gia vào hoạt động chính trị nhưng trên thực tế những ứng viên phi
đảng phái rất ít khả năng trúng cử.
Thứ hai là, để bầu cử đạt kết quả cao thì yêu cần trình độ dân trí phải được
nâng cao. Trong một đất nước, nếu như trình độ dân trí thấp, người dân không
quan tâm đến chính trị, họ không đủ tri thức về chính trị để có thể phân tích, đánh
giá và đưa ra những quyết định đúng đắn cho lá phiếu của mình thì họ rất dễ bị lợi
dụng, dẫn dắt bởi những nhân vật chính trị. Hoặc cũng có thể người dân đi bầu để
đối phó, bỏ phiếu đại theo cảm tính, không ý thức trách nhiệm chính trị của mình
đối với đất nước. Có thể nói thể chế bầu cử là một biểu hiện của nền dân chủ, tuy
nhiên dân chủ nhưng không kèm theo sự phát triển của trình độ dân trí thì dễ gây ra
những hậu quả khó lường.

17
Thứ ba, quá trình bầu cử rất tốn kém. Để tổ chức vận hành được quá trình bầu
cử diễn ra suôn sẻ thì cần phải chi một khoản tài chính rất lớn. Đặc biệt trong các
cuộc vận động tranh cử, ở các nước Tư bản điển hình như Mỹ, mỗi cuộc vận động
tranh cử của họ phải chi ra rất nhiều tiền, ngoài nguồn tiền từ Nhà nước thì còn có
nguồn tiền từ các nhà tài trợ và chính nguồn tài chính cá nhân ứng viên.
eX?+5,@A,37dựa trên ý câu 2.
CÂU 6: Phân tích thể chế vận động bầu cử ở các nước tư bản chủ nghĩa? Ý
nghĩa của hoạt động này trong đời sống chính trị? Giá trị tham khảo cho Việt
Nam?
Trong xu hướng hiện nay của các quốc gia trên thế giới, bầu cử được xem là
một phương thức chủ yếu trong việc chuyển giao quyền lực, bầu ra các vị trí quyền
lực trong bộ máy nhà nước. Để nâng cao chất lượng quá trình bầu cử cũng như để
cử tri được hiểu rõ hơn về thông tin, năng lực của những cử tri mà mình sẽ bỏ
phiếu thì hoạt động vận động tranh cử đóng một vai trò quan trọng trong quá trình
bầu cử.
Vận động bầu cử được hiểu là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc của người ứng cử
với cử tri và các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm tạo điều kiện cho người
ứng cử gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri để báo cáo với cử tri dự kiến chương trình hành
động của mình nếu được bầu làm đại biểu. Và các hoạt động vận động tranh cử
được thực hiện hầu hết ở các quốc gia, nhưng điển hình nhất có thể thấy ở các
nước Tư bản, đặc biệt như Mỹ. Những cuộc vận động tranh cử của các ứng viên
của các đảng được diễn ra rất quy mô và dành được nhiều sự quan tâm của mọi
người trong nước cũng như quốc tế.
Vận động tranh cử là hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia ứng cử
nhằm tác động lên nhận thức, hành vi của các cử tri, lôi kéo họ ủng hộ theo đảng,
tổ chức của mình. Thông thường hoạt động này chủ yếu được tiến hành bởi các
đảng phái chính trị, bởi mục đích tối thượng của các đảng là hướng tới giành chính
quyền, đạt được quyền lực nhà nước cho nên phải đi vận động tranh cử, để người
dân, cử tri hiểu rõ về quan điểm, chủ trương của đảng mình.

18
Để vận hành vận động tranh cử một cách hiệu quả nhất thì đằng sau đó là một
tổ chức vận động tranh cử chuyên nghiệp được thành lập để hỗ trợ cho hoạt động
này. Hệ thống tổ chức đó bao gồm các nhà quản lý chuyên nghiệp, họ là những con
người tài năng trong quản lý, quản lý về con người và vật chất. Là những nhà thiết
kế cho cuộc vận động tranh cử. Tiếp đến là một đội ngũ luật sư tư vấn cho cuộc
vận động nhằm đảm bảo tính pháp lý cũng như đảm bảo tất cả mọi hoạt động đều
nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Và đóng một vai trò quan trọng với sự thành
công của mỗi cuộc tranh cử đó là đội ngũ cố vấn, họ giúp ứng cử viên, tổ chức của
mình đưa ra định hướng, đường lối, các vấn đề trong tranh cử. Để cho hình ảnh của
cá nhân, tổ chức ứng cử được lan truyền rộng rãi thì không thể thiếu đội ngũ truyền
thông, việc sử dụng truyền thông đóng vai trò trong việc cung cấp thông tin; truyền
tải thông điệp tranh cử hoặc có thể làm suy yếu đối thủ hay là gia tăng sức mạnh
ứng viên. Cuối cùng là ban tham mưu, có nhiệm vụ đảm bảo hình ảnh ứng viên
thật đẹp, dễ nhìn nhất trước mắt công chúng mỗi khi tranh cử, họ đảm nhiệm việc
trau chuốt về trang phục, phong thái, lời văn, trang bị tri thức kĩ năng cho ứng viên.
Để thu hút được sự quan tâm của đông đảo mọi người trong xã hội thì ngoài
những chuẩn bị kĩ lượng trong khâu tổ chức chuẩn bị thì ứng viên phải biết lựa
chọn những chủ đề phù hợp, hút được người theo dõi. Những vấn đề thường được
chọn là các sự kiện nổi cộm của đất nước, mang tính thời sự, có tác động sâu sắc
đến đất nước và phải được dân chúng quan tâm. Ngoài việc chọn được chủ đề
tranh cử phù hợp thì cần phải biết chọn thời gian phù hợp để tranh cử, vào những
ngày lễ, ngày nghỉ và phải vào những khung thời gian hợp lý trong ngày; không
thể vận động tranh cử từ sáng sớm, giữa trưa hay chập tối, lại càng không thể tranh
cử trong ngày mọi người đều đi làm. Như vậy sẽ không đạt hiệu quả trong việc vận
động tranh cử. Bên cạnh đó cần phải xác định được đối tượng mà mình hướng tới
trong tranh cử để có những bài diễn thuyết phù hợp với đối tượng đó, ví dụ đối
tượng hướng tới là công nhân nhưng lại lựa chọn chủ đề về phát triển giáo dục, cải
cách sách vở như vậy là không phù hợp với đối tượng và họ sẽ không quan tâm
những gì mình nói. Ngoài ra cần phải chú ý đến việc sử dụng nguồn tài chính một
cách phù hợp và hiệu quả.
Trong thực chính trị, vấn đề được các đảng chính trị quan tâm trong vận động
bầu cử là việc xây dựng hình ảnh ứng viên, bởi ứng viên là người đại diện cho
đảng đó, nếu ứng viên đó trúng cử thì các mục tiêu chính trị của đảng mình sẽ
được thực hiện. Và hình ảnh ứng viên được xây dựng theo hai hướng chính: 3"
]:F*4 ?,3:B,"!8+Xây
dựng hình ảnh tích cực cho ứng viên là tạo cho ứng viên đó những hình ảnh đẹp

19
nhất, đẹp trong cả đời tư, tri thức, kĩ năng, ngoại hình và các mối quan hệ xã hội.
Là một con người đẹp đẽ trong mắt công chúng mỗi khi bước ra tranh cử. Đây là
con đường đạt đến quyền lực một cách chính đáng tuy nhiên lại khó có thể đạt kết
quả như mong muốn. Ngược lại, việc tấn công đối thủ hay xây dựng hình ảnh tiêu
cực cho đối thủ là việc tìm ra được những khuyết điểm , những điểm tối tỏng đời
sống của ứng viên và công kích chúng. Và đôi lúc cần đến sử dụng những thủ đoạn
chính trị có khi là hèn hạ để đạt được quyền lực, đẩy đối phương vào thế bất lợi và
hướng lợi ích về phía mình. Biện pháp này dễ thực hiện nhưng mang lại kết quả
một cách dễ dàng trong vài trường hợp. Tuy nhiên nó như một con dao hai lưỡi,
phải trả giá rất đắt, và phải áp dụng nhiều thủ đoạn chính trị cùng lúc. Và trong
thực tiễn, các đảng chính trị thường sử dụng linh hoạt cả hai phương thức trên.
Ý nghĩa của hoạt động này trong đời sống chính trị. Trước hết là giúp các
đảng chính trị thể hiện được các quan điểm, đường lối, chính sách của mình với cử
tri thông qua ứng viên tranh cử của mình. Thứ hai là vận động tranh cử tạo ra một
sự cạnh tranh trong chính trị, giữa các đảng sẽ cạnh tranh với nhau tìm ra các biện
pháp hiệu quả nhất để thể hiện hết những ưu điểm, trình bày các việc làm có lợi
của đảng mình cho đất nước xã hội trong tranh cử, hay tìm mọi cách để thu hút
được sự đồng tình, ủng hộ của cử tri. Cuối cùng, các cuộc vận đông tranh cử vô
hình trung đã khơi gợi sự quan tâm đối với chính trị ở trong người dân.
Trên đây là những phân tích về thể chế vận động bầu cử ở các nước Tư bản
chủ nghĩa. Thể chế vận động bầu cử này đã thể hiện một số giá trị ưu việt nhất định
trong hoạt động bầu cử, là nguồn tham khảo có giá trị cho thực tiễn ở Việt Nam. Ở
Việt Nam, theo quy định của pháp luật về bầu cử, sau khi Hội đồng Bầu cử quốc
gia công bố danh sách chính thức những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử
trong cả nước, thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có người ứng cử thông báo cho người
ứng cử của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình sắp xếp thời gian về địa phương nơi ứng
cử để thực hiện quyền vận động bầu cử. Thời gian tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri,
được tiến hành từ ngày công bố danh sách chính thức những người ứng cử và kết
thúc trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ. Một số giá trị tham khảo dành Việt
Nam:
L", cụ thể hóa quy định số lượng buổi tiếp xúc cử tri của các ứng cử viên
mỗi đơn vị bầu cử, hiện nay có tình trạng chênh lệch về số lượng buổi tiếp xúc cử
tri của các địa phương, có địa phương 4 5 lần, có địa phương đến hơn chục lần.

20
M,", nghiên cứu xây dựng khung chi phí tối đa thực hiện vận động bầu cử
của các ứng cử viên theo hướng tiết kiệm, hiệu quả, hiện nay các chi phí liên quan
đến vận động bầu cử và thực hiện bầu cử do nhà nước chi tiêu.
>,", nghiên cứu xây dựng bộ quy tắc ứng xử giữa ứng cử viên với cử tri khi
tiếp xúc và giữ những ứng cử viên với nhau nhằm xây dựng văn hóa trong bầu cử
của hệ thống vận động bầu cử ở Việt Nam.
>+", đa dạng hơn nữa, mở rộng các kênh thông tin, các hình thức thực hiện
tuyên truyền về những quan điểm của ứng cử viên. Hiện nay luật của nước ta chỉ
quy định chung chung về hình thức thực hiện vận động bầu cử thông qua hội nghị
tiếp xúc cử tri và các phương tiện truyền thông, cần tiếp tục mở rộng hình thức
tuyên truyền, không chỉ trong trả lời phỏng vấn hay trong buổi tiếp xúc cử tri mà
còn trong các hình thức khác nhằm đảm bảo cao nhất hiệu quả vận động tranh cử.
CÂU 7: Đối tượng điều chỉnh, nội dung hiến pháp gồm những gì? Từ những
phân tích đối tượng điều chỉnh, nội dung của hiến pháp Anh/Chị hãy trình bày
quan điểm của Anh/Chị về quan điểm “hiến pháp không quy định vai trò lãnh
đạo của đảng chính trị”?
Trong chế độ phong kiến, xã hội được cai trị bởi nhà vua, vua là người nắm
giữ mọi quyền lực trong tay, với vai trò là “thiên tử” nên có quyền sinh, quyền sát
bất cứ ai và làm mọi thứ theo ý chí của mình, nhà vua ban hành ra các đạo luật và
cũng ngồi trên các đạo luật ấy, lúc đó chưa có sự xuất hiện của hiến pháp. Khi sự
đấu tranh nhằm hạn chế quyền lực của nhà vua diễn ra mạnh mẽ, các cuộc Cách
mạng tư sản bùng nổ thì hiến pháp được ra đời. Có thể nói sự xuất hiện của hiến
pháp gắn liền với các cuộc cách mạng tư sản, khi chế độ đại nghị ra đời thay thế
cho chế độ quân chủ chuyên chế trước đó, đó là sự phát triển tiến bộ mang tính tất
yếu của lịch sử. Sự ra đời của Hiến pháp đã tạo lập hình thức thể chế chính trị mới,
Bấm Tải xuống để xem toàn bộ.