










Preview text:
lOMoAR cPSD| 58675420
Đề cương ôn tập: GIÁO DỤC HỌC TIỂU HỌC
CÂU 2: Phân tích đặc điểm của quá trình giáo dục Tiểu học. Cho ví dụ minh họa.
Quá trình giáo dục diễn ra với những tác động giáo dục phức hợp.
- Trong quá trình giáo dục, người được giáo dục luôn chịu tác động từ nhiều
phía gia đình, nhà trường và xã hội. Tất cả các tác động này đan kết với
nhau rất chặt chẽ và cùng tác động lên học sinh.
- Những ảnh hưởng này kết hợp với nhau, tạo thành những ảnh hưởng
tíchcực thống nhất, làm cho hiệu quả của quá trình giáo dục tăng lên; song
chúng có thể tác động đến học sinh ngược chiều nhau, tạo ra những khó
khăn cho nhà giáo dục, thậm chí có thể “vô hiệu hóa” các tác động có mục
đích của nhà giáo dục.
- Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần khai thác và tận dụng những
tác động tự giác, tích cực từ phía khách quan hay chủ quan, trực tiếp hay
gián tiếp. Hạn chế những ảnh hưởng xấu tới quá trình giáo dục. Phải biết
thống nhất các yêu cầu giáo dục để tạo sức mạnh tổng hợp tác động tích cực đến học sinh. - Ví dụ:
ở nhà trường có sự tác động của các thầy cô giáo, của bạn bè, nội quy,
nguyên tắc sinh hoạt tập thể,... trong gia đình có sự tác động của cha mẹ,
anh em, của nếp sống, điều kiện kinh tế chính trị của gia đình,..; trong xã
hội có ảnh hưởng của cộng đồng và tổ chức xã hội, của nhóm bạn và các
phương tiện thông tin đại chúng, phim ảnh, sách báo,...
Quá trình giáo dục có tính lâu dài.
- Quá trình giáo dục diễn ra trong suốt cuộc đời của một con người. Ở các
em luôn có sự đấu tranh động cơ, không dừng ở chỗ nắm được một số tri
thức về các chuẩn mực xã hội mà phải hình thành niềm tin, ý thức, tình
cảm, thói quen tốt tương ứng,.. nên đòi hỏi nhiều thời gian.
- Hơn nữa giáo dục bao gồm cả giáo dục lại, mà giáo dục lại đòi hỏi nhiều
thời gian hơn rất nhiều bởi nó phải trải qua quá trình xóa đi những phẩm
chất xấu đã có rồi mới giáo dục lại.
- Vì vậy, trong quá trình giáo dục cần chú ý:
+ Nhà giáo dục cần bền bỉ, kiên trì, nhẫn nại, không nóng vội, vội vàng;
phải tác động thường xuyên, liên tục, tác động ở mọi nơi, mọi lúc. + Phải
thường xuyên quan tâm, theo dõi, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh cho học
sinh khi em có biểu hiện sai trái. lOMoAR cPSD| 58675420
+ người được giáo dục kiên trì, quyết tâm cao trong việc tự rèn luyện thì mới có kết quả tốt. Ví dụ:
Quá trình hình thành thói quen, hành vi làm bài tập về nhà trước khi lên lớp
của trẻ. Lúc đầu trẻ cần phải có sự nhắc nhở của thầy cô và cha mẹ, sau một
khoảng thời gian lặp lại nhiều lần việc làm bài tập về nhà, trẻ dần có ý thức tự
giác làm bài mà không cần sự nhắc nhở của người lớn.
Quá trình giáo dục có tính cá biệt.
- Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo, là chủ thể giáo
dục có tác dụng định hướng. Người được giáo dục không phải là một thực
thể thụ động mà là một thực thể chủ động – vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của hoạt động.
- Hoạt động của nhà giáo dục chỉ có thể đạt được hiệu quả nếu như kích
thích được hoạt động tự giáo dục của người được giáo dục.
- Trong quá trình giáo dục, nhà giáo dục cần nắm bắt được những đặc điểm
tâm sinh lí của tập thể học sinh và từng học sinh để có những biện pháp giáo dục phù hợp. Ví dụ:
Trong lớp học, khi tham gia hoạt động học nhóm sẽ có một số em hoạt động
rất tích cực, bên cạnh đó, có một số em thờ ơ, không tập trung, không có sự
tích cực trong các hoạt động nhóm. Vì vậy, giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ
thể cho cả nhóm để các em tập trung, tích cực hơn.
Quá trình giáo dục thống nhất với quá trình dạy học.
- Quá trình dạy học một mặt giúp học sinh nắm vững hệ thống những tri
thức, kĩ năng kĩ xảo, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, mặt khác hình
thành và phát triển những phẩm chất nhân cách của người công dân.
- Nhờ quá trình giáo dục, người học có động cơ, thái độ học tập đúng đắn và
các phẩm chất nhân cách khác. Kết quả của quá trình giáo dục thúc đẩy quá trình học tập.
- Vì vậy, cần phải kết hợp chặt chẽ hai quá trình này, tránh tình trạng tách
rời, biệt lập hai quá trình này với nhau.
Ví dụ: qua bài học về tính trung thực các em sẽ nhận thức được ý nghĩa của việc
trung thực từ đó có ý thức hơn, luôn xây dựng môi trường học tập trung thực, hiệu quả. lOMoAR cPSD| 58675420
Quá trình giáo dục mang tính biện chứng cao.
- Đó là quá trình vận động và phát triển không ngừng về nội dung, phương
pháp, hình thức cho phù hợp với đối tượng giáo dục và hoàn cảnh thực tế xã hội.
- Là quá trình không ngừng giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong quá
trình phát triển nhân cách con người. Ví dụ:
Trong quá trình giáo dục, nhà trường và thầy cô giáo luôn có những đổi
mới trong các phương pháp giảng dạy nhằm phù hợp với nhu cầu thực tiễn
trong giai đoạn phát triển và hội nhập thế giới, tạo môi trường học tập hiệu
quả và tích cực cho học sinh.
CÂU 3. Phân tích các khâu của quá trình giáo dục ở tiểu học, từ đó chỉ ra mối
quan hệ giữa chúng.
Khâu 1: Tổ chức, điều khiển người được giáo dục nhằm nắm vững tri thức về
các chuẩn mực xã hội đã được quy định.
- Chuẩn mực xã hội xét theo góc độ xã hội là những nội quy, quy định mà
mọi người phải thực hiện.
- Là phương tiện có tính định hướng, điều tiết mọi hành vi của cá nhân
(nhóm) trong những điều kiện nhất định.
- Là điều kiện mà xã hội sử dụng để kiểm soát hành vi của họ và giúp cá
nhân tự kiểm tra hành vi của mình.
- Chuẩn mực xã hội mang các yếu tố cho phép, bắt buộc và cấm đoán.
Để học sinh tự giác thực hiện các chuẩn mực đã được quy định, trong quá trình
giáo dục, nhà giáo dục cần:
- Giúp học sinh hiểu được ý nghĩa xã hội và ý nghĩa cá nhân của chuẩn mực.
- Giúp học sinh hiểu nội dung của chuẩn mực.
- Biết cách thực hiện các yêu cầu của chuẩn mực đó.
Khâu 2: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành niềm tin, tình cảm tích cực
đối với chuẩn mực đã được quy định.
- Quá trình giáo dục làm cho người học nhận thức đúng thì sẽ hình thành thái
độ tình cảm đúng. Tình cảm là động cơ thúc đẩy hành động nên trong quá
trình giáo dục cần bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp, đúng đắn cho họ.
Trong quá trình giáo dục, niềm tin với các chuẩn mực được thể hiện ở người
được giáo dục theo các mức độ tăng dần như sau:
- Người được giáo dục nắm được tri thức về chuẩn mực; lOMoAR cPSD| 58675420
- Có niềm tin về mặt lí luận cũng như thực tiễn đối với tính chân lí và tính
đúng đắn của các chuẩn mực;
- Mong muốn tuân theo các yêu cầu được phản ánh trong các chuẩn mực;
- Có hành vi thể hiện phù hợp với chuẩn mực;
- Hài lòng về hành vi của mình đã phù hợp với các chuẩn mực;
- Tỏ thái độ không đồng tình đối với hành vi ngược với chuẩn mực.
Khâu 3: tổ chức điều khiển học sinh rèn luyện hành vi và thói quen hành vi.
- Quá trình giáo dục phải thể hiện nhận thức bằng hành động. Hành vi và thói
quen hành vi của con người được hình thành trong quá trình hoạt động và
được rèn luyện trong các tình huống cụ thể, đa dạng của cuộc sống. Giáo
dục hành vi, thói quen hành vi có văn hóa là kết quả của cả một quá trình
học tập, tu dưỡng và rèn luyện lâu dài của người được giáo dục.
Những hành vi mà học sinh rèn luyện cần thỏa mãn những tiêu chí sau:
- Nội dung chuẩn mực có thể hiện trong hành vi hay không?
- Hành vi đó có thể hiện ở mọi nơi mọi lúc hay không?
- Hành vi có được duy trì bền vững theo thời gian hay không?
- Hành vi đó có động cơ đúng đắn hay không? Có ý nghĩa xã hội và cá nhân như nào?
Các khâu của quá trình giáo dục tác động đồng bộ tới nhận thức, tình cảm, hành
vi, thói quen của người được giáo dục, có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ
nhau, thậm chí thâm nhập vào nhau: nhận thức là cơ sở, là điều kiện cần thiết
cho việc giáo dục tình cảm, hành vi tương ứng ở người được giáo dục. Niềm
tin, tình cảm là động lực thúc đẩy cá nhân hoạt động để biến nhận thức thành
hành động. Việc thể hiện hành vi và rèn luyện hành vi là yếu tố quyết định sự
hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục.
Trong thực tiễn giáo dục, khi vận dụng các khâu của quá trình giáo dục không
nhất thiết phải tuân theo trình tự các khâu nêu trên.
CÂU4: Phân tích nguyên tắc đảm bảo tôn trọng nhân cách của học sinh kết hợp
với những yêu cầu hợp lí đối với họ. Liên hệ việc quán triệt nguyên tắc này trong
thực tiễn giáo dục.
- Tôn trọng nhân cách học sinh là tôn trọng phẩm chất, trí tuệ, tài năng, nhu
cầu, nguyện vọng, thói quen sống của mỗi học sinh, bao gồm cả tôn trọng
thân thể các em. Tôn trọng nhân cách con người đồng nghĩa với tin tưởng
con người, tin vào ý nghĩa tốt đẹp, tinh thần cầu tiến, nghị lực và khả năng tiềm tàng ở mỗi em. lOMoAR cPSD| 58675420
- Trong hoạt động giáo dục, các em học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể
tự giáo dục, cho nên các em luôn có mong muốn người khác tôn trọng mình
và tự khẳng định bản thân
- Ở nguyên tắc này, hoạt động giáo dục thành công khi nhà giáo dục đảm
bảo kết hợp tôn trọng nhân cách người được giáo dục, coi họ là chủ thể
tích cực, tin tưởng, lạc quan đối với họ và đồng thời phải đề ra những yêu
cầu hợp lý để phát huy trí tuệ, tài năng, phẩm giá của người được giáo dục.
- Trong giáo dục, càng tôn trọng nhân cách học sinh bao nhiêu, càng phảiđưa
ra những yêu cầu hợp lí đối với họ bấy nhiêu. Ngược lại, việc đưa ra các
yêu cầu cao và hợp lí là thể hiện sự tôn trọng đối với học sinh. Đó là những
yêu cầu đáp ứng đòi hỏi của mục đích, mục tiêu giáo dục, vừa sức với học
sinh, kích thích học sinh tự giác, tích cực thực hiện với sự cố gắng, nỗ lực cao nhất.
- Kịp thời phát huy ưu điểm, động viên, kích thích học sinh phấn đấu vươn
lên đồng thời nghiêm khắc và kiên quyết với những nhược điểm, sai lầm,
giúp họ phấn đấu trở thành người tốt.
- Để thực hiện nguyên tắc này nhà giáo dục cần:
+ tôn trọng phẩm giá, danh dự, thân thể của học sinh, đồng thời kích thích
lòng tự trọng của các em. + Giáo viên phải biết tự kiềm chế.
+ Nghiêm khắc nhưng chân tình giúp các em ấy hiểu rõ sai sot và quyết tâm sửa chữa.
+ không có lời nói, hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, thân thể, danh dự của các em.
+ Đề xuất những yêu cầu hợp lí, yêu cầu ngày càng cao cho học sinh để
các em theo đó mà phấn đấu rèn luyện.
+ luôn có thái độ lạc quan, tin tưởng vào sự tiến bộ, vào kết quả phấn đấu
rèn luyện của học sinh, nhờ đó các em sẽ tự tin, nỗ lực đáp ứng yêu cầu giáo viên đề ra.
+ Phát huy ưu điểm ở các em dù ưu điểm đó chỉ là bước đầu, nhỏ bé, trên
cơ sở đó kích thích các em phát huy ưu điểm.
+ tuyệt đối không có thành kiến với các em, ngay cả những học sinh có khuyết điểm nặng.
+ đánh giá khách quan công bằng dựa trên chuẩn mực hành vi đã được quy
định, không đánh giá hình thức, không thiên lệch, không thành kiến. + giúp
các em tự đánh giá lẫn nhau và đánh giá mình một cách vô tư.
CÂU 5: Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình
và xã hội. Liên hệ việc quán triệt nguyên tắc này trong thực tiễn giáo dục. lOMoAR cPSD| 58675420
- Nhà trường, gia đình và xã hội là môi trường giáo dục không thể thiếu
trong sự phát triển nhân cách. Sự thống nhất ba môi trường giáo dục tạo
nên một môi trường hoàn chỉnh với những tác động đồng bộ tới sự hình
thành, phát triển nhân cách. Trong đó nhấn mạnh vai trò của nhà trường là
môi trường giáo dục rất quan trọng, giữ vai trò chủ đạo.
- Mỗi môi trường đều có vai trò nhất định trong việc giáo dục học sinh: +
giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng, dẫn dắt,
điều chỉnh quá trình phát triển nhân cách.
+ giáo dục gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng, tất cả các tác động của
gia đình đều ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách người được giáo dục.
+ giáo dục xã hội có vai trò quan trọng trong việc phối hợp với gia đình
và nhà trường để giáo dục học sinh.
- Để thực hiện nguyên tắc này, trong giáo dục nhà giáo dục cần:
+ Nhà giáo dục cần hiểu rõ đặc điểm giáo dục của từng lực lượng giáo dục
ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách người được giáo dục.
+ Gia đình, nhà trường và xã hội cùng phối hợp để giáo dục trẻ mọi lúc,
mọi nơi, để cùng thống nhất các ảnh hưởng giáo dục, nhằm hỗ trợ lẫn nhau
trong quá trình giáo dục.
+ nhà trường luôn thấy được và thực hiện vai trò chủ đạo của mình trong
việc phối hợp các lực lượng giáo dục.
+ Gia đình và xã hội cũng cần chủ động phối hợp với nhà trường trong
giáo dục học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục nhà trường và hạn
chế tối đa những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh.
CÂU 6: Trình bày khái niệm và phân loại các phương pháp giáo dục. Phân tích
phương pháp nêu gương trong giáo dục Tiểu học. Cho ví dụ minh họa.
Phương pháp giáo dục là hệ thống cách thức hoạt động của nhà giáo dục và
người được giáo dục thực hiện trong sự thống nhất với nhau nhằm thực hiện
tốt các nhiệm vụ giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục đặt ra.
Phân loại các phương pháp giáo dục:
- Dựa trên cơ sở quy trình các khâu của quá trình giáo dục ta có các nhóm phương pháp giáo dục:
+) Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân của người được giáo
dục về các chuẩn mực xã hội quy định (phương pháp đàm thoại, phương
pháp giảng giải, phương pháp kể chuyện, phương pháp thảo luận, phương pháp nêu gương)
+) Nhóm các phương pháp tổ chức hoạt động hình thành hành vi và thói
quen hành vi cho người được giáo dục phù hợp với các chuẩn mực xã hội lOMoAR cPSD| 58675420
đã được quy định (phương pháp giao việc, phương pháp tập luyện, phương pháp rèn luyện).
+) Nhóm các phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi ứng xử của
người được giáo dục phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã được quy định
( phương pháp thi đua, phương pháp khen thưởng, phương pháp trách phạt) Phương pháp nêu gương:
- Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương điển hình, cụ thể, sống
động để kích thích học sinh bắt chước làm theo. Pp nêu gương có thể dùng
những tấm gương tốt để người được giáo dục học tập và dùng những tấm
gương xấu để tránh những hành vi tương tự.
• Các bước tiến hành. - Bước chuẩn bị:
+ Lựa chọn những tấm gương điển hình;
+ Chuẩn bị tranh, ảnh,... có liên quan đến tấm gương; - Bước nêu gương:
Thông qua biện pháp kể chuyện, đàm thoại, giảng giải, trình bày trực
quan,... giúp học sinh hiểu các tấm gương một cách sinh động, sâu sắc có
xúc cảm, tình cảm để rút ra những bài học cần bắt trước hoặc né tránh. - Bước tổng kết:
Tác động, khuyến khích học sinh thực hiện theo tấm gương tốt, né tránh tấm gương xấu.
• Ý nghĩa của phương pháp nêu gương:
- Qua nêu gương, nhà giáo dục sẽ giúp người được giáo dục phát triển năng
lực phê phán, đánh giá được hành vi của người khác và từ đó rút ra kết luận.
- Người được giáo dục biết học những gương tốt, đồng thời biết tránh gương
xấu trong cuộc sống và hoạt động thực tiễn.
- Qua việc phân tích, đánh giá của nhà giáo dục về những tấm gương sẽ giúp
hình thành niềm tin vể các chuẩn mực xã hội và mong muốn có những
hành vi phù hợp với các chuẩn mực xã hội quy định.
• Yêu cầu khi thực hiện nêu gương:
- Lựa chọn những tấm gương phù hợp với mục tiêu, nội dung, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh.
- Những tấm gương đó phải gần gũi với đời sống của học sinh, có tính điển
hình cụ thể, chứa đựng những giá trị phong phú,..
- Nêu gương cần cho học sinh liên hệ với thực tiễn cuộc sống, phân tích đánh
giá bài học để rút ra bài học bổ ích. lOMoAR cPSD| 58675420
- Nhà giáo dục phải trở thành tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Ví dụ
khi dạy bài : “Gọn gàng, ngăn nắp” (bài 3-Lớp 2). Giáo viên có thể đưa ra
hình ảnh về một bạn học sinh đang thu dọn đồ đạc ngăn nắp cho mình để
củng cố nội dung bài học. Học sinh sẽ xem xét, phân tích hành động, việc
làm của bạn qua bức tranh để từ đó xác định ngay việc làm cho mình khi về nhà.
CÂU 8: Phân tích phương pháp khen thưởng và phương pháp trách phạt. Cho ví
dụ minh họa.
1. Phương pháp khen thưởng.
Khen thưởng là phương pháp biểu thị sự hài lòng và đánh giá tích cực của
nhà giáo dục đối với hành vi tốt của cá nhân hay tập thể. Khen thưởng
không những nhằm vào những thành công, kết quả công việc mà còn nhằm
vào động cơ của hoạt động.
Tác dụng của khen thưởng:
- Khẳng định hành vi đã có tính đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực xã hội đã quy định.
- Giúp cho cá nhân và tập thể có thể tự khẳng định những hành vi tốt của
mình, củng cố và phát triển được niềm tin về các chuẩn mực xã hội có liên
quan đến hành vi được thực hiện.
- Kích thích được việc tiếp tục duy trì và phát triển hành vi tích cực, đồng
thời tránh được những hành vi tiêu cực, không phù hợp.
Các hình thức khen thưởng:
- Tỏ thái độ đồng tình, ủng hộ những hành vi tốt một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
- Tỏ lời khen đối với hành vi đó.
- Biểu dương những hành vi tốt.
- Tặng giấy khen, bằng khen có kèm theo phần thưởng.
Khi thực hiện phương pháp này cần chú ý:
- Khen thưởng phải dựa trên cơ sở hành vi thực tế của học sinh.
- Cần khuyến khích không chỉ kết quả đạt được mà cả thái độ, động cơ, ý
thức vươn lên của học sinh.
- Khen thưởng phải công bằng, đúng lúc, đúng chỗ, kịp thời tránh thiên vị.
- Cần khuyến khích những em nhút nhát, rụt rè, những em chậm tiến.
- Tạo dư luận lành mạnh khi khuyến khích.
- Không nên quá lạm dụng khuyến khích. lOMoAR cPSD| 58675420
- Cần tạo cho học sinh tâm lí đúng đắn khi được khen ngợi, tạo được nhu
cầu vươn lên, tránh tâm lí chủ quan, thỏa mãn, kiêu ngạo khi được khen.
Ví dụ: nhà trường trao bằng khen cho các em học sinh có thành tích học tập tốt vào cuối năm học.
2. Phương pháp trách phạt.
Trách phạt là phương pháp biểu thị sự không đồng tình, sự lên án của người
lãnh đạo, nhà giáo dục hay tập thể đối với những hành vi sai lầm của đối
tượng để gây cho họ sự hối hận, từ đó thành khẩn nhận lỗi và quyết tâm
sửa chữa sai lầm. Tạo cơ hội nhắc nhở những người khác không vi phạm
vào các chuẩn mực xã hội, không rơi vào những hành vi sai trái như người bị trách phạt.
Các hình thức trách phạt:
- Nhà giáo dục tỏ thái độ không hài lòng với hành vi; - Nhắc nhở học sinh;
- Mời phụ huynh đến trao đổi;
- Phê bình trước tập thể;
- Cảnh cáo, ghi vào học bạ;
- Chuyển sang lớp/trường khác; -
Buộc thôi học, đuổi học.
Nhà giáo dục cần chú ý:
- Nguyên nhân, hoàn cảnh dẫn đến sai lầm, quá trình diễn biến và mức độ
hậu quả của sai lầm đó.
- Trách phạt khách quan, công bằng, đúng mức, có căn cứ và được tập thể ủng hộ;
- Phải làm cho người bị trách phạt thấy rõ sai lầm của mình, tự nguyện chấp
nhận hình thức và mức độ trách phạt.
- Tránh trách phạt tập thể, nhưng nếu cần thiết, phải nói rõ lỗi của từng
người, đúng người, đúng tội;
- Tôn trọng nhân cách học sinh, không gây ra sự đau khổ về tâm hồn và thể xác;
- Có thể hoãn hoặc bãi bỏ khi học sinh tỏ ra ăn năn, sửa chữa; - Tạo
dư luận lành mạnh khi trách phạt.
Lạm dụng trách phạt hay trách phạt quá nặng, thiếu khách quan, không
công bằng đôi khi lại là nguyên nhân đưa con người đến những sai lầm tiếp theo.
Ví dụ: giáo viên yêu cầu em A viết bản kiểm điểm sau khi đã nhắc nhở
nhiều lần việc em mất trật tự và gây rối với các bạn trong lớp.
CÂU 9: Phân tích các giai đoạn phát triển của tập thể học sinh. lOMoAR cPSD| 58675420
Giai đoạn 1: Tập thể học sinh mới thành lập.
- Giai đoạn này học sinh chưa quen biết nhau nhiều, các mối quan hệ giữa
các thành viên còn rời rạc, chưa có đội ngũ cán bộ tự quản chính thức, tính
tổ chức kỷ luật còn yếu, tập thể chưa có truyền thống tốt. Các thành viên
trong tập thể chưa tự nguyện, tự giác, chủ động thực hiện yêu cầu.
- Mục đích của nhà sư phạm trong giai đoạn này là xây dựng tập thể học
sinh thành môi trường, phương tiện giáo dục.
- ở giai đoạn này, giáo viên chủ nhiệm lớp phải trực tiếp giải quyết mọi công
việc của lớp (chỉ định đội ngũ cán bộ lớp lâm thời, tổ chức cơ cấu, thiết lập
các mối quan hệ trong tập thể, triển khai các hoạt động tập thể theo mục
đích chung). Giáo viên chủ nhiệm vừa là người trực tiếp đưa ra yêu cầu,
vừa là người giám sát việc thực hiện yêu cầu đó.
- Cuối giai đoạn này, công việc của tập thể dần đi vào nề nếp, các thành viên
hiểu nhau hơn, trong tập thể xuất hiện các phần tử tích cực, chủ động xung
phong trong việc thực hiện công việc chung.
Giai đoạn 2: Giai đoạn tập thể học sinh đang hoàn thiện.
- Giai đoạn này, tập thể đã được xây dựng, trong tập thể đã xuất hiện nhiều
thành viên tích cực, gương mẫu. Ban cán sự lớp chính thức được bầu ra,
họ chủ động đề xuất công việc được thành viên khác ủng hộ, các mối quan
hệ tốt đẹp được thiết lập, các thành viên bắt đầu có những yêu cầu cao với
nhau trong việc thực hiện những công việc chung, trong tập thể xuất hiện những sáng kiến mới.
- Học sinh trong tập thể có sự phân hóa thành 4 nhóm: nhóm tích cực, nhóm
thụ động, nhóm dửng dưng, nhóm cá biệt.
- Tập thể bắt đầu sử dụng tốt khả năng giáo dục của mình với từng nhóm,
từng cá nhân. Động cơ hành vi của mỗi thành viên chuyển dần từ động cơ
cá nhân sang động cơ vì tập thể.
- Giáo viên chủ nhiệm lớp chuyển dần từ chỗ trực tiếp giải quyết mọi công
việc sang vai trò tham mưu, cố vấn cho đội ngũ cán bộ lớp, giáo dục, hướng
dẫn họ đề ra yêu cầu đối với tập thể, tổ chức phân công thực hiện và kiểm
tra việc thực hiện các yêu cầu đó
+) xây dựng uy tín, tăng cường ảnh hưởng, bồi dưỡng cho các phần tử tích
cực phương pháp công tác lãnh đạo, quản lí, điều hành tập thể; +) Hoàn
thiện hệ thống các mối quan hệ tốt đẹp trong tập thể, giữa tập thể với các
nhóm, giữa tập thể với các tập thể khác.
+) Sử dụng tối đa khả năng giáo dục của tập thể, chú ý phân hóa và lôi kéo
những nhóm, những phần tử trung gian, những học sinh chậm tiến, dửng lOMoAR cPSD| 58675420
dưng với công việc chung về phía các phần tử tích cực; đồng thời có biện
pháp giáo dục nghiêm khắc nhưng vị tha với những phần tử cá biệt.
Giai đoạn 3:Giai đoạn tập thể ổn định và phát triển.
- Ở giai đoạn này, tập thể đã có phong trào thi đua, hình thành những nét
truyền thống tốt đẹp. Mỗi thành viên tự đặt ra những yêu cầu và phương
hướng tự rèn luyện tu dưỡng đối với mình và lôi cuốn các bạn học sinh
khác cùng phấn đấu rèn luyện. Ban cán sự lớp thực sự gương mẫu, có năng
lực được tập thể tín nhiệm.
- Kỷ luật của tập thể được giữ vững, trật tự được đảm bảo, mỗi thành viên
đều có ý thức phấn đấu vươn lên vì lợi ích chung, động cơ hoạt động mang
tính xã hội nhiều hơn. Dư luận lành mạnh chiếm ưu thế, có tác dụng điều
chỉnh mọi hoạt động của lớp.
- Tập thể ngày càng tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích và đòi hỏi các cá
nhân phát triển năng lực vốn có của mình. Quan hệ giữa giáo viên và học
sinh trở nên thân thiết. Tập thể trở thành nhân tố giáo dục và tự giáo dục.
- Người giáo viên trong giai đoạn này hầu như ở “hậu trường” để điều khiển
từ xa với tư cách là người cố vấn, người bạn cao tuổi giàu kinh nghiệm, có
uy tín được tập thể học sinh quý trọng và tin tưởng.