1. Vấn đề bản của triết học
Vấn đề bản của triết học mối quan hệ giữa duy tồn tại, giữa tâm vật, giữa ý thức
vật chất. vấn đề bản việc giải quyết sẽ quyết định sở để giải quyết những
vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài phức
tạp của triết học, mặt khác cũng tiêu chuẩn để xác lập trường thế giới quan của các triết
gia học thuyết của họ. Ăngghen cũng đã trả lời cho câu hỏi “Vấn đề bản của triết học
gì?”, theo ông: “Vấn đề bản lớn của mọi triết học, đặc biệt triết học hiện đại, vấn đề quan
hệ giữa duy tồn tại”. việc giải quyết vấn đề này sở điểm xuất phát để giải quyết
các vấn đề khác của triết học. Vấn đề bản của triết học hai mặt:
nào?
- Mặt thứ hai, con người khả năng nhận thức được thế giới hay không? Việc giải hai mặt
bản của triết học xuất phát điểm của các trường phái triết học. Trả lời mặt thứ nhất vấn đề
bản của triết học đã xuất hiện nhất các trường phái khi lấy việc thừa nhận chỉ một trong hai thực
thể (vật chất hoặc ý thức) cái trước quyết định cái kia, nghĩa cho rằng thế giới chỉ
một nguồn gốc duy nhất. hai trường phái lớn chủ nghĩa duy vật (những người cho rằng vật
chất, giới tự nhiên cái trước quyết định ý thức của con người), chủ nghĩa duy tâm
(những người cho rằng ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm giác cái trước giới tự nhiên)
2. Những tích cực hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác quan niệm về vật chất.
Nội dung ý nghĩa phương pháp luận định nghĩa vật chất của Lenin
Chủ nghĩa duy vật trước Mác
- Chủ nghĩa duy vật chất phác chnghĩa duy vật siêu hình đnh nghĩa vt cht là ht nh, là
động vật đầu tiên cấu tạo nên thế giới. Họ đồng nhất vật chất với nước (Talét), lửa (Hêraclit),
không khí (Anaximen), hay nguyên t phân t (Đêmôcrít), ngũ hành (Trung Quc).
+ Ưu điểm: Lấy chính bản thân vật chất đgiải thích khái niệm vật chất.
+ Hn chế: Đng nht vt cht vi nhng vt c th nên:
> d dàng b ch nghĩa duy tâm tn công bng truy nguyên
> đưa thế giới vào fạm vi hẹp
> không th đnh nghĩa vt cht vì thiếu logic
- : Vật chất do thế giới ý niệm sinh ra chỉ là làm phong phú thêm thế giớiCh nghĩa duy tâm
niệm thôi
- : Vật chất không có thật chỉ là sự fức hợp các cảm giác Ch nghĩa duy tâm ch quan
thôi.
Nội dung định luật vật chất của Lenin: “vật chất một phạm trù triết học dung để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác củ
chúng ta chụp lại,chép lại, phản ánh tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
- Định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung bản sau:
+ Vt cht là cái tn ti khách quan bên ngoài ý thc và không ph thuc vào ý thc,
bất kể sự tồn tại y con người nhận thức được hay chưa nhận thức được.
+ Vật chất cái gây nên cảm giác con người khi gián tiếp hay trực tiếp tác động lên
giác quan của con người.
+ Cảm giác, duy, ý thức chỉ sphản ánh vật chất.
Ý nghĩa định luật vật chất của Lenin
- Chng ch nghĩa duy tâm dưi mi hình thc.
- Chống thuyết Bất khả tricho rằng: con người chỉ nhận thức được b ngoài của sự vật
hiện tượng chứ không nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng. Lênin khẳng
định: con người thể nhận thức được bản chất của thế giới.
- Khc phc nhng hn chế ca ch nghĩa duy vt trưc Mác (đó là quan đim siêu hình
máy móc, quy vt cht nói chung v nhng dng c th ca vt cht).
- thế giới quan, phương pháp luận cho c ngành khoa học hiện đại tiếp tục phát triển.
3. Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức mối
quan hệ giữa vật chất ý thức
Nguồn gốc của ý thức Theo quan đim duy vt bin chng, ý thc có ngun gc t
nhiên và ngun gc xã hi.
- Nguồn gốc tự nhiên: Có nhiu yếu t cu thành ngun gc t nhiên ca ý thc, trong
đó, hai yếu tố bản nhất bộ óc người và mối quan hệ giữa con người với thế giới
khách quan to nên hin tưng phn ánh năng đng, sáng to.
Về bộ óc người: ý thức thuộc tính của một dạng vật chất tổ chức cao lả bóc người,
là chc năng ca b óc, là kết qu hot đng sinh lý thn kinh ca b óc. B óc càng hoàn
thin, hot đng sinh lý thn kinh ca b óc càng có hiu qu, ý thc ca con ngưi càng
phong phú sâu sắc. Điều này giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người ng quá
trình phát triển ng lực của nhận thức, của duy tại sao đời sống tinh thần của con
ngưi b ri lon khi sinh lý thn kinh ca con ngưi không bình thưng do b tn thương b
óc.
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra qtrình phản ánh năng
đng, sáng to: Quan h gia con ngưi vi thế gii khách quan là quan h tt yếu ngay t
khi con ngưi xut hin. Trong mi quan h này, thế gii khách quan đưc phn ánh thông
qua hot đng ca các giác quan đã tác đng đến b óc ngưi, hình thành nên ý thc.
- Nguồn gốc hội: Có nhiu yếu t cu thành ngun gc xã hi ca ý thc trong đó, cơ
bn nhát và trc tiếp nht là lao đng và ngôn ng.
Lao đng là quá trình con ngưi tác đng vào gii t nhiên nhm to ra sn phm phc v
cho nhu cầu tồn tại phát triển của mình. Lao động cũng quá trình vừa làm thay đổi
cấu trúc thngười, vừa làm giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những
quy lut vn đng, v.v. ca nó qua nhng hin tưng mà con ngưi có th quan sát đưc.
Nhng hin tưng y, thông qua hot đng ca các giác quan, tác đng đến b óc ngưi
và bng hot đng ca b óc, tri thc nói riêng, ý thc nói chung v thế gii khách quan
hình thành phát triển.
Ngôn ng là h thng tín hiu vt cht cha đng thông tín mang ni dung ý thc. Không
có ngôn ng, ý thc không th tn ti và th hin.
S ra đi ca ngôn ng gn lin vi lao đng. Lao đng ngay t đu đã mang tính xã hi.
Mi quan h gia các thành viên trong quá trình lao đng làm ny sinh h nhu cu phi
phương tiện để giao tiếp, trao đổi tưởng. Nhu cầu này m ngôn ngữ nảy sinh phát
trin ngay trong quá trình lao đng. Nh ngôn ng, con ngưi đã không ch giao tiếp, trao
đi mà còn khái quát, tng kết, đúc kết thc tin, truyn đt kinh nghim, truyn đt tư
tưng t thế h này qua thế h khác.
Như vậy, nguồn gốc bản, trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời phát triển
ca ý thc là lao đng. Sau lao đng và đng thi vi lao đng là ngôn ng; đó là hai sc
kích thích ch yếu đã nh hưng đến b óc ca con vưn, đã làm cho b óc đó dn dn
biến chuyn thành b óc ca con ngưi, khiến cho tâm lý đng vt dn dn chuyn hóa
thành ý thức.
Bản chất của ý thức:
Ý thc là s phn ánh năng đng, sáng to thế gii khách quan vào b óc ngưi; là hình
nh ch quan ca thế gii khách quan.
Tính cht năng đng, sáng to ca s phn ánh đưc th hin kh năng hot đng tâm
sinh lý ca con ngưi trong vic đnh hưng tiếp nhn thông tin, chn lc thông tin, x lý
thông tin, lưu gi thông tin và trên cơ s nhng thông tin đã có, nó có th to ra nhng
thng tin mi và phát hin ý nghĩa ca thông tin đưc tiếp nhn. Tính cht năng đng,
sáng to ca s phn ánh còn đưc th hin quá trình con ngưi to ra nhng ý tưng,
gi thuyết, huyn thoi, v.v. trong đi sng tinh thn ca mình hoc khái quát bn cht, quy
lut khách quan, xây dng các mô hình tư tưng, tri thc trong các hot đng ca con
người.
Ý thc là hình nh ch quan ca thế gii khách quan. Điu đó th hin ch: Ý thc là hình
nh v thế gii khách quan, b thế gii khách quan quy đnh c v ni dung và v hình thc
biu hin, nhưng nó không còn y nguyên như thế gii khách quan mà nó đã ci biến thông
qua lăng kính ch quan (tâm tư, tình cm, nguyn vng, kinh nghim, tri thc, nhu cu, v.v.)
của con người.
Ý thức một hiện tượng hội mang bản chất hội. Sự ra đời và tồn tại của ý thức
gn lin vi hot đng thc tin, chu s chi phi không ch ca các quy lut t nhiên mà
còn (và ch yếu là) ca các quy lut xã hi; đưc quy đnh bi nhu cu giao tiếp xã hi và
các điu kin sinh hot hin thc ca đi sng xã hi. Vi tính năng đng, ý thc đã sáng
tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn hội
Kết cấu của ý thức: Ý thức kết cấu rất phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố quan hệ
mật thiết với nhau; trong đó cơ bản nhất trì thức, tình cảm ý chí.
Tri thức toàn bnhững hiểu biết của con người, kết qucủa quá trình nhận thức, s
tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng c loại ngôn ngữ, phương thức
tồn tại của ý thức và điều kiện đý thức phát triển.
Tình cảm là nhng rung đng biu hin thái đ ca con ngưi trong các quan h. Tình cm
một nh thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ skhái quát những
cm xúc c th ca con ngưi khi nhn s tác đng ca ngoi cnh. Tình cm biu hin và
phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của con người; một yếu tố phát huy sức mạnh,
mt đng lc thúc đy hot đng nhn thc và thc tin.
Ý c sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người nhằm vượt qua những cản trở
trong quá trình thực hiện mục đích. Ý chí được coi mặt năng động của ý thức, một biểu
hin ca ý thc trong thc tin mà đó con ngưi t ý thc đưc mc đích ca hành đng
nên t đâu tranh vi mình và ngoi cnh đ thc hin đên cùng mc đích đã la chn.
Tất cả c yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức
yếu t quan trng nht; là phương thc tn ti ca ý thc, đng thi là nhân t đnh hưng
đối với sphát triển quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.
Mối quan hệ giữa vật chất ý thức
- Vai trò của vật chất đối với ý thức :Ch nghĩa duy vt bin chng khng đnh: Vt cht
có trưc, ý thc có sau, vt cht là ngun gc ca ý thc, quyết đnh ý thc vì:
Ý thức sản phẩm của một dạng vật chất tổ chức cao bộ óc người nên chỉ khi con
ngưi mi có ý thc. Trong mi quan h gia con ngưi vi thế gii vt cht thì con ngưi là
kết quả qtrình phát triển lâu i của thế giới vật chất, sản phẩm của thế giới vật chất.
Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới t
nhiên; nó là mt bng chng khoa hc chng minh quan đim: vt cht có trưc, ý thc có
sau.
Các yếu t to thành ngun gc t nhiên, ngun gc xã hi ca ý thc (b óc ngưi, thế
gii khách quan tác đng đến b óc gây ra các hin tưng phn ánh, lao đng, ngôn ng),
hoc là chính bn thân thế gii vt chât (thế gii khách quan), hoc là nhng dng tn ti
ca vt cht (b óc ngưi, hin tưng phn ánh, lao đng, ngôn ng) đã khng đnh vt
cht là ngun gc ca ý thc.
Ý thức sự phản ánh thế giới vật chất, hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nôn nội
dung ca ý thc dưc quyết đnh bi vt cht. S vn đng và phát trin ca ý thc, hình
thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật hội và tác động của
môi trưng sng quyết đnh. Nhng yếu t này thuc lĩnh vc vt cht nên vt cht không
ch quyết đnh ni dung mà còn quyết đnh c hình thc biu hin cũng như mi s biến đi
của ý thức.
- Vai trò của ý thức đối với vật chất Trong mi quan h vi vt cht, ý thc có th tác
đng tr li vt cht thông qua hot đng thc tin ca con ngưi.
Vì ý thc là ý thc ca con ngưi nên nói đến vai trò ca ý thc là nói đến vai trò ca con
ngưi. Bn thân ý thc t nó không trc tiếp thay đi đưc gì trong hin thc. Mun thay
đi hin thc, con ngưi phi tiến hành nhng hot đng vt cht. Song, mi hot đng ca
con ngưi đu do ý thc ch đo, nên vai trò ca ý thc không phi trc tiếp to ra hay
thay đổi thế giới vật chất trang bcho con người tri thức về thực tại khách quan, trên
cơ s y con ngưi xác đnh mc tiêu, đ ra phương hưng, xây dng kế hoch, la chn
phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v. để thực hiện mục tiêu của mình, đây,
ý thc đã th hin s tác đng ca mình đi vi vt cht thông qua hot đng thc tin
của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu
cc. Nếu con ngưi nhn thc đúng, có tri thc khoa hc, có tình cm cách mng, có ngh
lc, có ý chí thì hành đng ca con ngưi phù hp vi các quy lut khách quan, con ngưi
năng lực ợt qua những thách thức trong qtrình thực hiện mục đích của mình, thế
giới được cải tạo - đó sự c động tích cực của ý thức. n nếu ý thức của con người
phn ánh không đúng hin thc khách quan, bn cht, quy lut khách quan thì ngay t
đu, hưng hành đng ca con ngưi đã đi ngưc li các quy lut khách quan, hành đng
ây s có tác dng tiêu cc đi vi hot đng thc tin, đi vi hin thc khách quan.
Như vy, bng vic đnh hưng cho hot đng ca con ngưi, ý thc có th quyết đnh
hành đng ca con ngưi, hot đng thc tin ca con ngưi đúng hay sai, thành công hay
tht bi, hiu qu hay không hiu qu
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức
thể thây: vật chất nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung khả năng sáng tạo
của ý thức; điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ khả ng tác động hở
li vt cht, s tác đng y không phi t thân mà phi thông qua hot đng thc tin
(hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc
vào trình đ phn ánh ca ý thc, mc đ thâm nhp ca ý thc vào nhng ngưi hành
đng, trình đ t chc ca con ngưi và nhng điu kin vt cht, hoàn cnh vt cht,
trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.
4. Nội dung ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí mối liên hệ phổ biến, nguyên
phát triển
Nguyên mối liên hệ phổ biến
o Trong phép biện chứng, mối liên hệ dùng đ ch s quy đnh, s tác đng và chuyn
hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật,
hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm
o Mối liên hệ phbiến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện
tưng ca thế gii, đng thi cũng dùng đ ch các mi liên h tn ti nhiu s vt,
hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất những mối liên hệ
tồn tại mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, thuộc đổi ợng nghiên cứu của phép
biện chứng. Đó c môi liên hệ giữa c mặt đối lập, lượng chất, khẳng định
ph đnh, cái chung và cái riêng, bn cht và hin tưng, v.v..
Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những môi liên hđặc thù,
va tn ti nhng mi liên h ph biến nhng phm vi nht đnh. Đng thi, cũng tn
tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù sthể hiện
nhng mi liên h ph biến trong nhng điu kin nht đnh. Toàn b nhng mi liên
h đc thù và ph biến đó to nên tính thng nht trong tính đa dng và ngưc li, tính
đa dng trong tính thng nht ca các mi liên h trong gii t nhiên, xã hi và tư duy.
o Tính chất của các mối liên hệ: Tính khách quan, tính ph biến và tính đa dng, phong
phú những tính chất bản của các mối liên hệ.
Tính khách quan
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của c sự vật, hiện tượng của thế giới
có tính khách quan. Theo quan đim đó, s quy đnh, tác đng và làm chuyn hóa ln nhau ca
các s vt, hin tưng (hoc trong bn thân chúng) là cái vn có ca nó, tn ti đc lp không
ph thuc vào ý chí ca con ngưi; con ngưi ch có th nhn thc và vn dng các mi liên h
đó trong hot đng thc tin ca mình.
Tính ph biến
Theo quan điểm biện chứng thì không bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại
tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay qtrình khác. Đồng thời, cũng không bất
cứ svật, hiện tượng nào không phải một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố câu
thành với những mối liên hệ n trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào ng một hệ
thng, hơn na là h thng m, tn ti trong mi liên h vi h thng khác, tương tác và làm
biến đi ln nhau.
Tính đa dng, phong phú
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thhiện chỗ: các sự vật, hiện tượng hay
quá trình khác nhau đu có nhng mi liên h c th khác nhau, gi v trí, vai trò khác nhau
đối với stồn tại phát triển của nó; mặt khác, cùng một môi liên hệ nhất định của sự vật,
hin tưng nhưng trong nhng điu kin c th khác nhau, nhng giai đon khác nhau trong
quá trình vn đng, phát trin ca s vt, hin tưng thì cũng có nhng tính cht và vai trò
khác nhau. Như vy, không th đng nht tính cht và v trí, vai trò c th ca các mi liên h
khác nhau đi vi mi s vt, hin tưng nht đnh, trong nhng điu kin xác đnh. Đó là các
mối liên hệ n trong bên ngoài, mối liên hbản chất hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu
thứ yếu, mối liên htrực tiếp gián tiếp, v.v. của mọi sự vật, hiện ợng trong thế giới.
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự th
hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phbiến c mối liên hệ đặc thù trong mỗi s
vt, mi hin tưng, mi quá trình c th, trong nhng điu kin không gian và thi gian c th
o Ý nghĩa
- T tính khách quan và ph biến ca các mi liên h đã cho thy trong hot đng nhn
thức thực tiễn cần phải quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải
xem xét svật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các
yếu tố, giữa c mặt của chính sự vật, hiện ợng trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện
tượng đó với c sự vật, hiện tượng khác. Chỉ trên sở đó mới thể nhận thức đúng vsự
vật, hiện tượng xử hiệu qucác tri đề của đời sống thực tiễn. Như vậy, quan điểm
toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức thực tiễn.
- T tính cht đa dng, phong phú ca các mi liên h đã cho thy trong hot đng nhn
thc và thc tin, khi thc hin quan đim toàn din thì đng thi cũng cn phi kết
hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể.
Quan đim lch s - c th yêu cu trong vic nhn thc và x lý các tình hung trong hot
đng thc tin cn phi xét đến nhng tính cht đc thù ca đi tưng nhn thc và tình
hung phi gii quyết khác nhau trong thc tin. Phi xác đnh rõ v trí, vai trò khác nhau
ca mi mi liên h c th trong nhng tình hung c th đ t đó có đưc nhng gii
pháp đúng đn và có hiu qu trong vic x lý các vn đ thc tin. Như vy, trong nhn
thức thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu
hình mà còn phi tránh và khc phc quan đim chiết trung, ngy bin.
Nguyên phát triển
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chsự tăng, giảm
thun túy v lưng, không có s thay đi v cht ca s vt, hin tưng; đng thi, nó
cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh
co phức tạp.
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng đ ch quá
trình vn đng ca s vt, hin tưng theo khuynh hưng đi lên: t trình đ thp đến trình đ
cao, t kém hoàn thin đến hoàn thin hơn. Như vy, khái nim phát trin không đng nht vi
khái nim vn đng (biến đi) nói chung; đó không phi là s biến đi tăng lên hay gim đi
đơn thuần về ợng hay sbiến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại chất sự biến đổi vchất
theo hưng ngày càng hoàn thin ca s vt nhng trình đ ngày càng cao hơn.
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và gii quyết mâu thun khách quan vn có ca s
vật, hiện tượng; quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực kế thừa, nâng cao
nhân tố ch cực từ sự vật, hiện tượng trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới.
Tính chất của sự phát triển: Các quá trình phát triển đều nh khách quan, tính phổ
biến và tính đa dng, phong phú.
Tính khách quan ca s phát trin biu hin trong ngun gc ca s vn đng và phát
triển. Đó qtrình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; quá trình giải quyết mâu
thun ca s vt, hin tưng đó. Vì vy, phát trin là thuc tính tt yếu, khách quan, không ph
thuc vào ý thc ca con ngưi.
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh
vực tự nhiên, hội duy; trong mọi sự vật, hiện ợng và trong mọi quá trình, mọi giai
đon ca s vt, hin tưng đó. Trong mi quá trình biến đi đã có th bao hàm kh năng dn
đến sự ra đời của i mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện chỗ: phát triển khuynh hướng
chung của mọi svật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện ợng, mỗi nh vực hiện thực lại
có quá trình phát trin không hoàn toàn ging nhau. Tn ti nhng không gian và thi gian
khác nhau sự vật, hiện ợng phát triển sẽ khác nhau. Đồng thời, trong qtrình phát triển của
mình, sự vật, hiện tượng còn chịu nhiều stác động của các sự vật, hiện tượng hay quá trình
khác, ca rt nhiu yếu t và điu kin lch s, c th. S tác đng đó có th làm thay đi chiu
hướng phát triển của sự vật, hiện ợng, thậm chí thể làm cho sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm
thời, thể dẫn tới sự phát triển vmặt này thoái hóa mặt khác... Đó đều những biểu
hiện của tính phong phú, đa dạng của các quá trình phát triển.
Ý nghĩa
Nguyên về sphát triển sluận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới
cải tạo thế giới. Theo nguyên này, trong nhận thức thực tiễn cần phải quan điểm phất
triển. Theo V.I. Lênin, "... Lôgích biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong
s t vn đng.., trong s biến đi ca nó.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự
phát triển.
Theo quan điểm phát triển, để nhận thức giải quyết bất cứ vấn đề trong thực tiễn, một
mặt, cần phải đặt svật, hiện tượng theo khuynh ớng đi lên của nó; mặt khác, con đường
của sự phát triển lại một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn,
vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của svật, hiện ợng trong quá trình
phát triển của nó, tức cần phải quan điểm lịch sử - cụ thể trong nhận thức giải quyết
các vấn đcủa thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó.
Như vậy, với cách khoa học về mối liên hphổ biến sự phát triển, phép biện chứng
duy vật của chnghĩa c - nin giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức và thực
tiễn. Khẳng định vai trò đó của phép biện chứng duy vật, Ph. Ăngghen viết: “... Phép biện
chứng phương pháp điều n bản nó xem xét những sự vật những phản ảnh của
chúng trong tư tưng trong mi liên h qua li ln nhau ca chúng, trong sư rng buc, sư vn
đng, sư phát sinh và sư tiêu vong ca chúng. V.I. Lênin cũng cho rng: Phép bin chng
đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể
ca nhng mi quan h đó.
5. Nội dung ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất đấu tranh giữa
các mặt đối lập
Trong phép biện chứng, khái niệm u thuẫn dùng đ ch môi liên h thng nht, đu
tranh chuyên hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các svật,
hiện tượng với nhau.
Theo quan niệm siêu hình, mâu thuẫn là cái đi lp phn lôgích, không có s thng nht,
không sự chuyên hóa biện chứng giữa c mặt đối lập.
Mt đi lp dùng đ ch nhng mt, nhng thuc tính, nhng khuynh hưng vn đng trái
ngưc nhau nhưng đng thi li là điu kin, tin đ tn ti ca nhau
Quá trình vận động của mâu thuẫn: Trong mi mâu thun, các mt đi lp va thng
nht vi nhau, va đu tranh vi nhau.
Khái nim thng nht ca các mt đi lp dùng đ ch s liên h, ràng buc, không tách ri
nhau, quy định lẫn nhau của c mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia m tiền đề tồn tại. Sự
thông nht ca các mt đi lp cũng bao hàm s đng nht ca nó.
Khái nim đâu tranh ca các mt đi lp dùng đ ch khuynh hưng tác đng qua li, bài tr,
phủ định nhau của c mặt đôi lập. Hình thức đâu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa
dng, tùy thuc vào tính cht, mi quan h và điu kin c th ca s vt, hin tưng. Quá
trình thng nht và đu tranh ca các mt đi lp tt yếu dn đến s chuyn hóa gia chúng. S
chuyn hóa gia các mt đi lp din ra hết sc phong phú, đa dng, tùy thuc vào tính cht
của các mặt đối lập cũng như y thuộc vào những điều kiện lịch sử, cụ thể.
Trong s thng nht và đu tranh gia các mt đi lp, S đu tranh gia chúng là tuyt
đi, còn s thng nht gia chúng là tương đi, có điu kin, tm thi; trong s thông nht
đã có s đâu tranh, đu tranh trong tính thng nht ca chúng. Theo V.I. Lênin: S thng
nht (phù hp, đng nht, tác dng ngang nhau) ca các mt đôi lp là có điu kin, tm
thời, thoáng qua, ơng đối. Sđấu tranh của các mặt đôi lập bài trừ lẫn nhau tuyệt đôi,
cũng như s phát trin, s vn đng là tuyt đi.
S tác đng qua li dn đến chuyên hóa gia các mt đi lp là mt quá trình. Lúc mi
xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập. Khi hai
mt đi lp ca mâu thun xung đt vi nhau gay gt và khi điu kin đã chín mui thì chúng
sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được
hình thành và quá trình tác đng, chuyên hóa gia hai mt đi lp li tiếp
diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động phát triển. Bởi vậy, sự liên hệ, tác
đng và chuyên hóa gia các mt đi lp là ngun gc, đng lc ca s vn đng và phát
triển trong thế giới. V.I. Lênin khẳng định: Sự phát triển một cuộc “đấu tranhgiữa các
mặt đối lập”
Ý nghĩa phương pháp luận
Vì mâu thun có tính khách quan, tính ph biến và là ngun gc, đng lc ca s vn
đng, phát trin, do vy, trong nhn thc và thc tin cn phi tôn trng mâu thun,
phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ c mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc,
khuynh hưng ca sư vn đng và phát trin. V.I. Lénin đã cho rng: S phân đi ca
cái thng nhân và s nhn thc các b phn mâu thun ca nó... đó là thc cht... ca
phép biện chứng”.
Vì mâu thun có tính đa dng, phong phú, do vy trong vic nhn thc và gii quyết
mâu thuẫn cần phải quan điểm lịch sử - cụ thể, tức biết phân tích cụ thể từng loại
mâu thun và có phương pháp gii quyết phù hp. Trong quá trình hot đng nhn thc
thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn
cnh, điu kin nht đnh; nhng đc đim ca mâu thun đó đ tìm ra phương pháp
gii quyết tng loi mâu thun mt cách đúng đn nht
6. Nội dung ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi
về lượng dẫn đến những thay đổi về chất ngược lại
Chất dùng đ ch tính quy đnh khách quan vn có ca s vt, hin tưng; là s thng
nhất hữu các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện ợng.
Lượng dùng đ ch tính quy đnh khách quan vn có ca s vt, hin tưng v các
phương din: s lưng các yếu t cu thành, quy mô ca s tn ti, tc đ, nhp điu
của các qtrình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Quan hệ biện chứng giữa chất ợng
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất lượng. Hai mặt
đó không tách rời nhau tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng tất
yếu s dn ti s chuyên hóa v cht ca s vt, hin tưng. Tuy nhiên, không phi s thay đi
v lưng bt k nào cũng dn đến s thay đi v cht, ơ mt gii hn nht đnh, s thay đi v
lượng chưa dẫn tới sthay đổi về chất. Giới hạn thay đổi về lượng chưa làm chất thay
đi đưc gi là đ.
Đ ch tính quy đnh, mi liên h thng nht gia cht và lưng, là khong gii hn mà trong
đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng. vậy, trong
gii hn ca đ, s vt, hin tưng vn còn là nó, chưa chuyn hóa thành s vt và hin tưng
khác.
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện ợng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Khi
lưng thay đi đến mt gii hn nht đnh s tt yếu dn đến nhng s thay đi v cht. Gii
hn đó chính là đim nút. S thay đi v lưng khi đt ti đim nút, vi nhng điu kin nht
định tất yếu sdẫn đến Sự ra đời của chất mới. Đây chính bước nhảy trong q trình vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Bước nhảy schuyển a tất yếu trong quá trình phát triển của svật, hiện tượng. Sự thay
đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn,
tính chất điều kiện của mỗi sự vật. Đó c ớc nhảy: nhanh và chậm, lớn nhỏ, cục bộ
toàn bộ, tự phát tự giác, v.v..
Bưc nhy là s kết thúc mt giai đon vn đng, phát trin; đng thi, đó cũng là đim
khởi đầu cho một giai đoạn mới, sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục
của sự vật, hiện tượng. Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn
đến bước nhảy về chât, tạo ra một đường nút tận, thể hiện cách thức vận động phát triển
ca s vt t thp đến cao. Ph.Ăngghen khái quát tính tt yếu này: Nhng thay đi đơn thun
v lưng, đến mt mc đ nht đnh, s chuyn hóa thành nhng s khác nhau v cht.
Khi chất mới ra đời lại sự tác động trlại lượng của sự vật chất mới tác động tới lượng của
sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp
điệu của sự vận động phát triển của svật, hiện tượng.
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào củng sự thông nhất biện chứng giữa hai mặt chất
lượng. Sthay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông
qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại ợng, tạo ra những biến đổi mới về
lượng của sự vật, hiện ợng. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức bản,
phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, hội
tư duy
Ý nghĩa.
bất kỳ sự vật, hiện ợng nào cũng phương diện chất lượng tồn tại trong tính quy
đnh ln nhau, tác đng và làm chuyn hóa ln nhau, do đó, trong nhn thc và thc tin
cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu vphương diện chất lượng, tạo nên sự nhận thức
toàn diện về svật, hiện tượng
Vì nhng thay đi v lưng ca s vt, hin tưng có kh năng tt yếu chuyên hóa thành
nhng thay đi v cht ca s vt, hin tưng và ngưc li, do đó, trong hot đng nhn
thức thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng ớc tích lũy về ợng đthể m
thay đi v cht; đng thi, có th phát huy tác đng ca cht mi theo hưng làm thay
đổi về lượng của sự vật, hiện tượng.
sự thay đổi về lượng ch thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng với
điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trong ng tác thực tiễn cần
phi khc phc tư tưng nôn nóng t khuynh; mt khác, theo tính tt yếu quy lut thì khi
lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu khnăng diễn ra bước nhảy về
chất của sự vật, hiện tượng. Vì thế cũng cần phải khắc phục tưởng bảo thủ hữu khuynh
trong công tác thc tin. T khuynh chính là hành đng bt chp quy lut, ch quan, duy ý
chí, không tích lũy về ợng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất.
Hữu khuynh sự biểu hiện tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc
lượng đã tích lũy tới điểm nút quan niệm phát triển chỉ đơn thuần sự tiến hóa v
lượng.
Vì bưc nhy ca s vt, hin tưng là hết sc đa dng, phong phú, do vy, trong nhn
thức thực tiễn cần phải svận dụng linh hoạt các hình thức của ớc nhảy cho phù
hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thê. Đặc biệt, trong đời sống hội, quá trình phát
trin không ch ph thuc vào điu kin khách quan, mà còn ph thuc vào nhân t ch
quan ca con ngưi. Do đó, cn phi nâng cao tính tích cc, ch đng ca ch th đ thúc
đy quá trình chuyên hóa t lưng đến cht mt cách có hiu qu nht.
7. Nội dung ý nghĩa phương pháp luận của các cặp phạm trù: cái chung cái
riêng, nguyên nhân kết quả, nội dung hình thức
Cái chung cái riêng
Cái chung một phạm trù triết học, dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung
không những một kết cấu vật chất nhất định còn được lặp lại trong nhiều sự vật,
hiện tượng riêng lẻ khác
Cái riêng một phạm trù triết học dùng để chỉ sự vật, hiện tượng hay một quá trình
riêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất một phạm trù dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính.. chỉ
tồn tại một sự vật, hiện tượng nào đó không lặp lại các sự vật, hiện tượng khác
Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung cái riêng: Cái chung, cái riêng cái đơn nhất
đều tồn tại khách quan mối quan hệ hữu với nhau. Mối quan hệ đó thể hiện qua
các điểm sau:
- Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua các cái riêng biểu hiện sự tồn tại
của mình. Không cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.
- Thứ 2, cái riêng chỉ tồn tại trong quan hệ với cái chung, không cái riêng nào tồn tại độc lập,
tách rời tuyệt đối cái chung.
- Thứ ba, cái riêng cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, ngoài những điểm chung, i
riêng còn cái đơn nhất.
- Thứ tư, cái chung sâu sắc hơn cái riêng, cái chung phản ánh thuộc nh, những mối liên hệ ổn
định, tất nhiên lặp lại nhiều cái riêng cùng loại. Do vậy, cái chung i gắn liền với bản chất,
quy định phương hướng tồn tại phát triển của cái riêng.
- Cái đơn nhất cái chung thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật:
+ Sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung biểu hiện quá trình cái mới ra đời thay thế
cái cũ.
+ Sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất biểu hiện quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ
định.
Ý nghĩa của phương pháp luận
Muốn biết được cái chung, cái bản chất thì phải xuất phát tcái riêng, từ những sự vật, hiện
tượng riêng lẻ.
Nhiệm vụ của nhận thức phải tìm ra cái chung trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái
chung để cải tạo cái riêng. Mặt khác phải cụ thể hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.
Trong hoạt động thực tiễn, nếu thấy sự chuyển hóa nào lợi thì ta cần chủ động tác động vào
để nhanh chóng trở thành hiện thực.
Nguyên nhân kết quả
Nguyên nhân phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó
Kết quả phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau giữa c sự vật với nhau gây ra
Mi quan h gia nguyên nhân và kết qu là mi quan h khách quan, bao hàm tính tt
yếu: không có nguyên nhân nào không dn ti kết qu nht đnh; và ngưc li, không
có kết qu nào không có nguyên nhân.
Nguyên nhân sinh ra kết qu, do vy nguyên nhân bao gi cũng có trưc kết qu, còn kết qu
bao gi cũng xut hin sau nguyên nhân.
Mt nguyên nhân có th sinh ra mt hoc nhiu kết qu và mt kết qu có thô do mt
hoc nhiu nguyên nhân to nên.
S tác đng ca nhiu nguyên nhân dn đến s hình thành mt kết qu có th din ra-
theo các hưng thun, nghch khác nhau và đu có nh hưng đến s hình thành kết qu,
nhưng v trí, vai trò ca chúng là khác nhau: có nguyên nhăn trc tiep, nguyên nhân gián tiếp,
nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,... Ngưc li, mt nguyên nhân có thô dn đến
nhiu kết qu, trong đó có kết qu chính và ph, cơ bn và không cơ bn, trc tiếp và gián
tiếp,...
Trong s vn đng ca thế gii vt cht, không có nguyên nhân đu tiên và kết qu cui
cùng. Ph.Ăngghen viết Chúng ta cũng thy rng nguyên nhân và kết qu là nhng khái
nim ch có ý nghĩa là nguyên nhân và kết qu khi đưc áp dng vào mt trưng hp riêng bit
nhất định; nhưng một khi chứng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ây trong mối liên h
chung ca nó vi toàn b thế gii thì nhng khái nim y li vn gn vi nhau và xon xuýt
vi nhau trong mt khái nim v s tác đng qua li ln nhau mt cách ph biến, trong đó
nguyên nhân và kết qu luôn luôn thay đi v trí cho nhau; cái đây hoc trong lúc này là
nguyên nhân thì ch khác hoc lúc khác li là kết qu, và ngưc li.
Ý nghĩa
Vì mi liên h nhân qu là mi quan h có tính khách quan, tt yếu nên trong nhn thc và
thc tin không th ph nhn quan h nhân - qu. Trong thế gii hin thc không th tn ti
nguyên nhân nào không dn ti nhng kết qu nht đnh.
mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên
nhân đ có phương pháp gii quyết đúng đn, phù hp vi mi trưng hp c th trong nhn
thức thực tiễn.
Vì mt nguyên nhân có th dn đến nhiu kết qu và ngưc li, mt kết qu có th do nhiu
nguyên nhân nên trong nhn thc và thc tin cn phi có cách nhìn mang tính toàn din và
lch s - c th trong phân tích, gii quyết và vn dng quan h nhân - qu.
Nội dung hình thức
Nội dung dùng đ ch s tng hp tt c nhng mt, nhng yếu t, nhng quá trình to
nên sự vật, hiện tượng
Hình thức ng để chỉ phương thức tồn tại phát triển của sự vật, hiện ợng đó, hệ
thng các mi liên h tương đi bn vng gia các yếu t ca nó.
Mi quan h gia ni dung và hình thc:
Ni dung và hình thc gn bó cht ch, thông nht bin chng vi nhau. Vì vy, không có mt
hình thc nào không cha đng ni dung, đng thi không có ni dung nào li không tn ti
trong mt hình thc nht đnh. Cùng mt ni dung có th biu hin trong nhiu hình thc và
cùng mt hình thc có th cha đng nhiu ni dung.
Mi quan h gia ni dung và hình thc là mi quan h bin chng, trong đó ni dung
quyết đnh hình thc và hình thc tác đng tr li ni dung. Khuynh hưng ch đo ca ni
dung là khuynh hưng biến đi, còn hình thc là mt tương đi n đnh trong mi s vt, hin
tưng. Ni dung thay đi bt buc hình thc phi thay đi theo cho phù hp. Tuy nhiên, không
phi bt c lúc nào cũng có s phù hp tuyt đi gia ni dung và hình thc. Ni dung quyết
đnh hình thc nhưng hình thc có tính đc lp tương đi và tác đng tr li ni dung. Hình
thc phù hp vi ni dung thì s thúc đy ni dung phát trin. Nếu hình thc không phù hp
thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung.
Ý nghĩa
Ni dung và hình thc luôn luôn thng nht hu cơ vi nhau. Vì vy, trong hot đng nhn
thc và thc tin, không đưc tách ri gia ni dung và hình thc, hoc tuyt đi hóa mt
trong hai mt đó.
Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trước hết phải căn cứ vào
ni dung. Muôn thay đi s vt, hin tưng thì trưc hết phi thay đi ni dung ca nó.
Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với nội dung trên sở tạo ra
tính phù hp ca hình thc vi ni dung; mt khác, cũng cn phi thc hin nhng thay đi đi
vi nhng hĩnh thc không còn phù hp vi ni dung, cn tr s phát trin ca ni dung.
8. Phần luận nhận thức
Thực tiễn là toàn b hot đng vt cht có mc đích, mang tính lch s - xã hi ca con
người nhằm cải biến tự nhiên hội.
Khác vi các hot đng khác, hot đng thc tin là loi hot đng mà con ngưi s dng
nhng công c vt cht tác đng vào nhng đi tưng vt cht nht đnh, làm biến đi
chúng theo mc đích ca mình. Đó là nhng hot đng đc trưng và bn cht ca con
người. được thực hiện một cách tất yếu khách quan không ngừng phát triển bởi con
ngưi qua các thi k lch s. Chính vì vy, hot đng thc tin bao gi cũng l hot đng
vật chất mang tính chất sáng tạo tính mục đích, tính lịch sử - hội.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song ba hình
thc cơ bn là: hot đng sn xut vt cht, hot đng chính tr - xã hi và hot đng thc
nghim khoa hc.
Mi hình thc hot đng cơ bn ca thc tin có mt chc năng quan trng khác nhau,
không thc thay thế cho nhau, song chúng có mi quan h cht ch, tác đng qua li ln
nhau. Trong mi quan h đó, hot đng sn xut vt cht là loi hot đng có vai trò quan
trng nht, đóng vai trò quyết đnh đi vi các hot đng thc tin khác. Bi vì, nó là hot
đng nguyên thy nht và tn ti mt cách khách quan, thưng xuyên nht trong đi sng
ca con ngưi và nó to ra nhng điu kin, ca ci thiết yếu nht, có tính quyết đnh đi
vi s sinh tn và phát trin ca con ngưi. Không có hot đng sn xut vt cht thì
không thể các hình thức thực tiễn khác. Các hình thức thực tiễn khác, suy đến ng ng
xuất phát từ thực tiễn sản xuất vật chất nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất.
Nhận thức một qtrình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan
vào
bộ óc con người trên sthực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách
quan. Đó là quan đim duy vt bin chng v nhn thc. Quan đim này xut phát t
các nguyên tắc bản sau đây:
Mt là, tha nhn thế gii vt cht tn ti khách quan, đc lp vi ý thc ca con ngưi.
Hai là, tha nhn con ngưi có kh năng nhn thc đưc thế gii khách quan; coi nhn
thc là s phn ánh thế gii khách quan vào trong b óc ca con ngưi, là hot đng
tìm hiu khách th ca ch th; tha nhn không có cái gì là không th nhn thc đưc
mà ch có nhng cái con ngưi chưa nhn thc đưc.
Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng
tạo. Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đêh nhiều,
từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc và toàn diện hơn,...
Bn là, coi thc tin là cơ s ch yếu và trc tiếp nht ca nhn thc; là đng lc, mc
đích của nhận thức tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Theo quan đim duy vt bin chng, nhn thc là mt quá trình. Đó là quá trình đi t trình
đ nhn thc kinh nghim đến trình đ nhn thc lý lun; t trình đ nhn thc thông
thưng đến trình đ nhn thc khoa hc; v.v..
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn đóng vai trò sở, động lực, mục đích của nhận thức tiêu chuẩn của chân
lý, kim tra tính chân lý ca quá trình nhn thc.Sở dĩ như vậy thực tiễn điểm xuất phát
trc tiếp ca nhn thc; nó đ ra nhu cu, nhim v, cách thc, khuynh hưng vn đng và
phát triển của nhận thức. Chính con người nhu cầu tất yếu khách quan phải giải thích thế
giới cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng
hoạt động thực tiễn của nh. Sự c động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những
thuc tính, nhng mi liên h và quan h khác nhau gia chúng, đem li nhng tài liu cho
nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động phát triển của
thc tin, không nhm vào vic phc v, hưng dn thc tin. Do đó, nếu thoát ly thc tin,
không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời sở hiện thực nuôi dưỡng sphát sinh, tồn
ti và phát trin ca mình. Cũng vì thế, ch th nhn thc không th có đưc nhng tri thc
đúng đắn sâu sắc về thế giới nếu xa rời thực tiễn
Thực tiễn sở, động lực mục đích của nhận thức còn là vì nh có hot đng thc tin
mà các giác quan ca con ngưi ngày càng đưc hoàn thin; năng lc tư duy lôgích không
ngừng được củng cố phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, tác
dng "ni dài" các giác quan ca con ngưi trong vic nhn thc thế gii.
Thc tin chng nhng là cơ s, đng lc, mc đích ca nhn thc mà còn đóng vai trò là
tiêu chuẩn của chân lý, kiêm tra tính chân của qtrình nhận thức. Điều này nghĩa
thực tiễn thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời, thực
tin không ngng b sung, điu chnh, sa cha, phát trin và hoàn thin nhn thc.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hi chúng ta phi luôn luôn quán trit quan đim
thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên sở
thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu
luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm
ca bnh ch quan, duy ý chí, giáo điu, máy móc, quan liêu. Ngưc li, nếu tuyt đi hóa
vai trò ca thc tin s rơi vào ch nghĩa thc dng và kinh nghim ch nghĩa. Như vy,
nguyên tc thng nht gia thc tin và lý lun phi là nguyên tc cơ bn trong hot đng
thực tiễn hoạt động luận; luận mà không thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để
xác đnh tính chân lý ca nó thì đó ch là lý lun suông. Ngưc li, thc tin mà không có lý
lun khoa hc, cách mng soi sáng thì nht đnh s biên thành thc tin mù quáng.
9. Nội dung, ý nghĩa quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất
Quan hsản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất
tái sx hội).Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt: quan hệ về shữu đối với liệu sản
xuất, quan htrong c tổ chức quản lí sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm
sản xuất ra.
Lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ
thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự
nhiên của con người. Bao gồm liệu sản xuất (trong đó, công cụ sản xuất yếu tố phản
ánh ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) người lao động (trong đó
năng lực sáng tạo của yếu tố đặc biệt quan trọng).
Mối quan hệ giữa QHSX LLSX Lực lượng sản xuất quan hệ sản xuất hai mặt
của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau
một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất quy luật bản nhất của sự vận động, phát triển
hội.
- Tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất là:
+ Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định làm thay đổi quan hệ sản xuất
cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ
chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Yêu cầu khách
quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất bằng quan
hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng
sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất bằng quan hệ sản xuất mới cũng
nghĩa phương thức sản xuất mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế.
- Bên cạnh đó, quan hệ sản xuất lại tác động trở lại lực lượng sản xuất như sau:
+ Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng tính độc lập
tương đối tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối. Do đó trực tiếp ảnh
hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất
cải tiến công cụ lao động.Sự tác động của quan hệ sản xuất lực lượng sản xuất diễn ra theo hai
hướng, hoặc tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi phù hợp hoặc tiêu cực, kìm
hãm lực lượng sản xuất khi không phù hợp
Ý nghĩa
Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của hội, cần phải căn cứ vào thực trạng (tình
hình thực tế) phát triển của lực lượng sản xuất hiện để xác lập cho phù hợp chứ không phải
căn cứ vào ý muốn chủ quan. Chỉ như vậy mới thể tạo ra được hình thức kinh tế thích hợp
cho việc bảo tồn, khai thác - sử dụng, tái tạo phát triển lực ợng sản xuất của hội.
Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải những cuộc cải biến (cải cách, đổi mới,...) cao
hơn một cuộc cách mạng chính trị để thể giải quyết được mâu thuẫn này.
10. Quan hệ biện chứng giữa sở hạ tầng kiến trúc thượng tầng của hội. Ý nghĩa
phương pháp luận
CSHT: toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành cấu kinh tế của một hình thái
kinh tế xã hi nht đnh. Đc trưng cho tính cht ca CSHT ca xã hi là do quan h
sn xut thng tr quyết đnh.
KTTT: Là toàn b tư tưng xã hi nhng thiết chế tương ng và nhng quan h ni ti
của KTTT được hình thành trên shạ tầng quyết định, KTTT bao gồm: Những
tưng xã hi (chính tr, pháp lut, đo đc tôn giáo, ngh thut...) và nhng t chc
thiết chế khác nhau (Nhà nưc, giáo hi chính Đng, các đoàn th..).
Quan hệ biện chứng giữa CSHT KTTT
- CSHT quyết định KTTT.
+ CSHT o thì KTTT ấy tức KTTT phản ánh CSHT.
+ CSHT thay đổi thì KTTT cũng thay đổi theo sthay đổi của KTTT rõ rệt khi CSHT
này được thay thế bằng CSHT khác.
- Sự tác động trlại của KTTT đối với CSHT.
+ KTTT thể tác động trlại đối với CSHT, vì chức năng của KTTT bảo vệ duy
trì, củng cố và phát triển CSHT đã sinh ra .
+ c bộ phận khác nhau của KTTT đều tác động đến CSHT bằng nhiều nh thức khác
nhau trong đó Nhà nưc gi vai trò to ln và quan trng đi vi CSHT.
+ Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT được thhiện hai điểm sau:
Thứ nhất: Trong mỗi hình thái kinh tế hội KTTT có quá trình biến đổi nhất định qua trình
độ càng phợp với CSHT thì nó càng thúc đẩy CSHT phát triển.
Thứ hai: Khi KTTT tác động ngược chiều với CSHT thì sgây cản trở cho sphát triển của
CSHT.
Ý nghĩa
Nghiên cứu mối qh giữa CSHT KTTT cho ta thấy phải đề phòng 2 khuynh hướng sai lầm
sau:
+ Tuyệt đối a vai trò của yếu tố kinh tế, coi nhẹ vai trò của yếu tố tưởng, chính trị, pháp
+ Tuyệt đối a vai trò của yếu tố chính trị, tưởng, pháp biến các yếu tố đó thành tính thứ
nht so vi kinh tế
Nghiên cứu mối quan hệ giữa CSHT KTTT cho ta một cái nhìn đúng đắn, đra chiến lược
phát triển hài hòa giữa kinh tế chính trị, đổi mới kinh tế phải đi đôi với đổi mới chính trị,
lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính tr
Nắm được mqh giữa CSHT KTTT giúp cho sự nh thành CSHT KTTT xhcn diễn ra
đúng theo quy lut mà CNDV lch s đã khái quát.
11. Tồn tại hội, ý thức hội, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại hội ý thức
hội, tính độc lập tương đối của ý thức hội
Tồn tại hội là khái nim triết hc dùng đ ch sinh hot vt cht và nhng điu kin
sinh hot vt cht ca xã hi trong tng giai đon lch s xã hi.Bao gm các yếu t,
trong đó có các yếu t chính là phương thc sn xut vt cht, điu kin t nhiên - hoàn
cnh đa lý, dân s và mt đ dân cư, trong đó phương thc sn xut là yếu t cơ
bản nhất.
Ý thức hội khái niệm triết học ng để chỉ các mặt, c bộ phận khác nhau của
lĩnh vực tinh thần xã hội như quan điểm, tưởng, tình cảm, m trạng, truyền thống
ca cng đng xã hi; mà nhng b phn này ny sinh t tn ti xã hi và phn ánh tn
ti xã hi trong nhng giai đon phát trin nht đnh.
Mối quan hệ biện chứng giữa TTXH YTXH: TTXH quyết định YTXH, YTXH
sự phản ánh của TTXH, phụ thuộc vào TTXH. Được thể hiện cụ thể :
- Tồn tại hội nào thì sinh ra ý thức hội ấy. Tức người ta không thể tìm nguồn gốc
tưởng trong đầu óc con người, phải tìm trong chính tồn tại hội. Do đó phải
tồn tại hội để giải cho ý thức hội.
- Khi tồn tại hội thay đổi một cách căn bản, nhất khi phương thức SX đã thay đổi thì
sớm hay muộn thì ý thức hội cũng phải thay đổi theo.
Tính độc lập tương đối của ý thức hội Sự lệ thuộc của ý thức hội vào tồn tại
hội không phải lúc nào cũng diễn ra trực tiếp cần phải xét đến cùng qua nhiều khâu
trung gian mới thấy được, bởi ý thức hội tính độc lập của mình. Tính độc lập
tương đối của ý thức hội được thể hiện dưới các hình thức sau:
- Ý thức hội thường lạc hậu so với tồn tại hội do những nguyên nhân sau đây
Sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ, thường xuyên trực tiếp của những hoạt
động thực tiễn của con người, thường diễn ra với tốc đnhanh ý thức hội có thkhông
phản ánh kịp trở n lạc hậu
Do sc mnh ca thói quen, truyn thng, tp quán cũng như do tính lc hu, bo th ca mt
s hình thái ý thc xã hi.
Ý thức hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai cấp
nhất định trong hội. Vì vậy, những tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực ợng hội
phản tiến bộ lưu givà truyền nhằm chống lại c lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ
truyền nhằm chống lại các lực ợng hội tiến b
- Ý thức hội có thvượt trước tồn tại hội Trong những điều kiện nhất định tư
tưởng của con người, đặc biệt những tưởng khoa học tiên tiến có thvượt trước sự
phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo
hoạt động thực tiễn của con người. Sở có thể vượt trước được do đặc điểm của tư
tưởng khoa học quy định. tưởng khoa học thường khái quát tồn tại xã hội đã có và
hiện có đrút ra những quy luật phát triển chung của xã hội, quy luật đó không những
phản ánh đúng q khứ, hiện tại mà n dự báo đúng tồn tại hội mai sau.
- Ý thức hội tính kế thừa trong sự phát triển của mình.
Lịch sử phát triển của đời sống tinh thần hội cho thấy rằng, những quan điểm lý luận của
mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không được tạo ra trên sở kế thừa
những tài liệu luận của các thời đại trước.
Trong xã hi có giai cp, tính cht kế tha ca ý thc xã hi gn vi tính cht giai cp ca nó.
Nhng giai cp khác nhau kế tha nhng ni dung ý thc khác nhau ca các thi đi trưc, các
giai cấp tiên tiến thường kế thừa những di sản ởng tiến bcủa hội để lại.
vậy, khi tiến hành cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ tkhông những phải vạch ra tính
chất phản khoa học của những trào u tưởng phản động trong điều kiện tại, còn phải chỉ
ra nhng ngun gc lý lun ca chúng trong lch s.
Do ý thc xã hi có tính kế tha, nên khi nghiên cu mt tư tưng nào đó phi da và quan h
kinh tế hiện tại phải chú ý đến các giai đoạn phát triển ởng trước đó. Có như vậy mới
hiểu vì sao một nước trình độ phát triển tương đối m về kinh tế nhưng tưởng lại
trình đ cao.
- Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức hội
Lịch sử phát triển của ý thức hội cho thấy, thông thường mỗi thời đại, tùy theo những
hoàn cnh lch s c th có nhng hình thái ý thc nào đó ni lên hàng đu và tác đng mnh
đến các hình thái ý thức khác.
Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức, ý thức chính trị vai trò đặc biệt quan
trọng, ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo chiều hướng
tiến bộ của các hình thái ý thức khác
- Ý thức hội tác động trlại tồn tại hội
S tác đng ca ý thc xã hi ti tn ti xã hi biu hin qua hai chiu hưng. Nếu ý thc xã
hội tiến bộ thì tác động thúc đẩy tồn tại hội phát triển, nếu ý thức hội lạc hậu sẽ cảm trở
sự phát triển của tồn tại hội.
Ví d : Nhưng ý thc xã hi có tác đng tr li tn ti xã hi. Đó là cuc đu tranh cách mng
xóa bỏ cái (XH đương thời) xây dựng i mới (xã hội mới). Khi con người ý thức được quy
luật phát triển của hội loài người, ý thức được chính mình....Nên đã vùng dậy phá bỏ xiềng
xích.....Đu tranh gii phóng bn thân cũng như đu tranh gii phóng toàn xã hi.

Preview text:

1. Vấn đề cơ bản của triết học
Vấn đề cơ bản của triết học là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tâm và vật, giữa ý thức
và vật chất
. Nó là vấn đề cơ bản vì việc giải quyết nó sẽ quyết định cơ sở để giải quyết những
vấn đề khác của triết học, điều đó đã được chứng minh trong lịch sử phát triển lâu dài và phức
tạp của triết học, mặt khác nó cũng là là tiêu chuẩn để xác lập trường thế giới quan của các triết
gia và học thuyết của họ. Ăngghen cũng đã trả lời cho câu hỏi “Vấn đề cơ bản của triết học là
gì?”, theo ông: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan
hệ giữa tư duy và tồn tại”. Vì việc giải quyết vấn đề này là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết
các vấn đề khác của triết học. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:
- Mặt thứ nhất, giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau? Cái nào quyết định cái nào?
- Mặt thứ hai, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Việc giải hai mặt cơ
bản của triết học là xuất phát điểm của các trường phái triết học. Trả lời mặt thứ nhất vấn đề cơ
bản của triết học đã xuất hiện nhất các trường phái khi lấy việc thừa nhận chỉ một trong hai thực
thể (vật chất hoặc ý thức) là cái có trước và quyết định cái kia, nghĩa là cho rằng thế giới chỉ có
một nguồn gốc duy nhất. Có hai trường phái lớn là chủ nghĩa duy vật (những người cho rằng vật
chất, giới tự nhiên là cái có trước và quyết định ý thức của con người), chủ nghĩa duy tâm
(những người cho rằng ý thức, tinh thần, ý niệm, cảm giác là cái có trước giới tự nhiên)
2. Những tích cực và hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác quan niệm về vật chất.
Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận định nghĩa vật chất của Lenin
Chủ nghĩa duy vật trước Mác

- Chủ nghĩa duy vật chất phác và chủ nghĩa duy vật siêu hình định nghĩa vật chất là hạt nhỏ, là
động vật đầu tiên cấu tạo nên thế giới. Họ đồng nhất vật chất với nước (Talét), lửa (Hêraclit),
không khí (Anaximen), hay nguyên tử phân tử (Đêmôcrít), ngũ hành (Trung Quốc).
+ Ưu điểm: Lấy chính bản thân vật chất để giải thích khái niệm vật chất.
+ Hạn chế: Đồng nhất vật chất với những vật cụ thể nên:
> dễ dàng bị chủ nghĩa duy tâm tấn công bằng truy nguyên
> đưa thế giới vào fạm vi hẹp
> không thể định nghĩa vật chất vì thiếu logic
- Chủ nghĩa duy tâm: Vật chất do thế giới ý niệm sinh ra và chỉ là làm phong phú thêm thế giới niệm mà thôi
- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: Vật chất không có thật mà chỉ là sự fức hợp các cảm giác mà thôi. 
Nội dung định luật vật chất của Lenin: “vật chất là một phạm trù triết học dung để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác củ
chúng ta chụp lại,chép lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” -
Định nghĩa phạm trù vật chất của Lênin bao gồm những nội dung cơ bản sau:
+ Vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức,
bất kể sự tồn tại ấy con người nhận thức được hay chưa nhận thức được.
+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi gián tiếp hay trực tiếp tác động lên giác quan của con người.
+ Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh vật chất.
Ý nghĩa định luật vật chất của Lenin -
Chống chủ nghĩa duy tâm dưới mọi hình thức. -
Chống thuyết “Bất khả tri” cho rằng: con người chỉ nhận thức được bề ngoài của sự vật
hiện tượng chứ không nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng. Lênin khẳng
định: con người có thể nhận thức được bản chất của thế giới. -
Khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác (đó là quan điểm siêu hình
máy móc, quy vật chất nói chung về những dạng cụ thể của vật chất). -
Là thế giới quan, phương pháp luận cho các ngành khoa học hiện đại tiếp tục phát triển.
3. Quan điểm duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức và mối
quan hệ giữa vật chất và ý thức
Nguồn gốc của ý thức Theo quan điểm duy vật biện chứng, ý thức có nguồn gốc tự
nhiên và nguồn gốc xã hội. -
Nguồn gốc tự nhiên: Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc tự nhiên của ý thức, trong
đó, hai yếu tố cơ bản nhất là bộ óc người và mối quan hệ giữa con người với thế giới
khách quan tạo nên hiện tượng phản ánh năng động, sáng tạo.
Về bộ óc người: ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao lả bộ óc người,
là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc. Bộ óc càng hoàn
thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con người càng
phong phú và sâu sắc. Điều này lý giải tại sao quá trình tiến hóa của loài người cũng là quá
trình phát triển năng lực của nhận thức, của tư duy và tại sao đời sống tinh thần của con
người bị rối loạn khi sinh lý thần kinh của con người không bình thường do bị tổn thương bộ óc.
Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng
động, sáng tạo: Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ
khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan được phản ánh thông
qua hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên ý thức. -
Nguồn gốc xã hội: Có nhiều yếu tố cấu thành nguồn gốc xã hội của ý thức trong đó, cơ
bản nhát và trực tiếp nhất là lao động và ngôn ngữ.
Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ
cho nhu cầu tồn tại và phát triển của mình. Lao động cũng là quá trình vừa làm thay đổi
cấu trúc cơ thể người, vừa làm giới tự nhiên bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những
quy luật vận động, v.v. của nó qua những hiện tượng mà con người có thể quan sát được.
Những hiện tượng ấy, thông qua hoạt động của các giác quan, tác động đến bộ óc người
và bằng hoạt động của bộ óc, tri thức nói riêng, ý thức nói chung về thế giới khách quan
hình thành và phát triển.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tín mang nội dung ý thức. Không
có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện.
Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã mang tính xã hội.
Mối quan hệ giữa các thành viên trong quá trình lao động làm nảy sinh ở họ nhu cầu phải
có phương tiện để giao tiếp, trao đổi tư tưởng. Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và phát
triển ngay trong quá trình lao động. Nhờ ngôn ngừ, con người đã không chỉ giao tiếp, trao
đổi mà còn khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh nghiệm, truyền đạt tư
tưởng từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Như vậy, nguồn gốc cơ bản, trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển
của ý thức là lao động. Sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức
kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, đã làm cho bộ óc đó dần dần
biến chuyển thành bộ óc của con người, khiến cho tâm lý động vật dần dần chuyển hóa thành ý thức.

Bản chất của ý thức:
Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc người; là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tính chất năng động, sáng tạo của sự phản ánh được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm
sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin, xử lý
thông tin, lưu giữ thông tin và trên cơ sở những thông tin đã có, nó có thể tạo ra những
thống tin mới và phát hiện ý nghĩa của thông tin được tiếp nhận. Tính chất năng động,
sáng tạo của sự phản ánh còn được thể hiện ở quá trình con người tạo ra những ý tưởng,
giả thuyết, huyền thoại, v.v. trong đời sống tinh thần của mình hoặc khái quát bản chất, quy
luật khách quan, xây dựng các mô hình tư tưởng, tri thức trong các hoạt động của con người.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Điều đó thể hiện ở chỗ: Ý thức là hình
ảnh về thế giới khách quan, bị thế giới khách quan quy định cả về nội dung và về hình thức
biểu hiện, nhưng nó không còn y nguyên như thế giới khách quan mà nó đã cải biến thông
qua lăng kính chủ quan (tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, kinh nghiệm, tri thức, nhu cầu, v.v.) của con người.
Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của ý thức
gắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên mà
còn (và chủ yếu là) của các quy luật xã hội; được quy định bởi nhu cầu giao tiếp xã hội và
các điều kiện sinh hoạt hiện thực của đời sống xã hội. Với tính năng động, ý thức đã sáng
tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội 
Kết cấu của ý thức: Ý thức có kết cấu rất phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ
mật thiết với nhau; trong đó cơ bản nhất là trì thức, tình cảm và ý chí.
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức, là sự
tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ, là phương thức
tồn tại của ý thức và là điều kiện để ý thức phát triển.
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan hệ. Tình cảm
là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình thành từ sự khái quát những
cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh. Tình cảm biểu hiện và
phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của con người; là một yếu tố phát huy sức mạnh,
một động lực thúc đẩy hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Ý chí là sự biểu hiện sức mạnh của bản thân mỗi con người nhằm vượt qua những cản trở
trong quá trình thực hiện mục đích. Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu
hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự ý thức được mục đích của hành động
nên tự đâu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đên cùng mục đích đã lựa chọn.
Tất cả các yếu tố tạo thành ý thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là
yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng
đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức -
Vai trò của vật chất đối với ý thức :Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất
có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:
Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con
người mới có ý thức. Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là
kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất.
Kết luận này đã được chứng minh bởi sự phát triển hết sức lâu dài của khoa học về giới tự
nhiên; nó là một bằng chứng khoa học chứng minh quan điểm: vật chất có trước, ý thức có sau.
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc người, thế
giới khách quan tác động đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ),
hoặc là chính bản thân thế giới vật chât (thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại
của vật chất (bộ óc người, hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) đã khẳng định vật
chất là nguồn gốc của ý thức.
Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nôn nội
dung của ý thức dược quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý thức, hình
thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội và sư tác động của
môi trường sống quyết định. Những yếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không
chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức. -
Vai trò của ý thức đối với vật chất Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác
động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiền của con người.
Vì ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con
người. Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. Muốn thay
đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song, mọi hoạt động của
con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay
thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên
cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn
phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện, v.v. để thực hiện mục tiêu của mình, ở đây,
ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu
cực. Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị
lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người
có năng lực vượt qua những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế
giới được cải tạo - đó là sự tác động tích cực của ý thức. Còn nếu ý thức của con người
phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luật khách quan thì ngay từ
đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy luật khách quan, hành động
ây sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực khách quan.
Như vậy, bằng việc định hướng cho hoạt động của con người, ý thức có thể quyết định
hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay
thất bại, hiệu quả hay không hiệu quả
Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, của ý thức
có thể thây: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo
của ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động hở
lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn
(hoạt động vật chất) của con người. Sức mạnh của ý thức trong sự tác động này phụ thuộc
vào trình độ phản ánh của ý thức, mức độ thâm nhập của ý thức vào những người hành
động, trình độ tổ chức của con người và những điều kiện vật chất, hoàn cảnh vật chất,
trong đó con người hành động theo định hướng của ý thức.

4. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lí mối liên hệ phổ biến, nguyên lí phát triển
Nguyên lí mối liên hệ phổ biến
o
Trong phép biện chứng, mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển
hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật,
hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm o
Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện
tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật,
hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ
tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đổi tượng nghiên cứu của phép
biện chứng. Đó là các môi liên hệ giữa các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và
phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, v.v..
 Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những môi liên hệ đặc thù,
vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định. Đồng thời, cũng tồn
tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện
những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định. Toàn bộ những mối liên
hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính
đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy. o
Tính chất của các mối liên hệ: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong
phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ. • Tính khách quan
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là
có tính khách quan. Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của
các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không
phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ
đó trong hoạt động thực tiễn của mình. • Tính phổ biến
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại
tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Đồng thời, cũng không có bất
cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố câu
thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ
thống, hơn nửa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau.
• Tính đa dạng, phong phú
Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay
quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau
đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một môi liên hệ nhất định của sự vật,
hiện tượng nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong
quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì cũng có những tính chất và vai trò
khác nhau. Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ
khác nhau đối với mỗi sự vật, hiện tượng nhất định, trong những điều kiện xác định. Đó là các
mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, mối liên hệ chủ yếu và
thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp, v.v. của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Quan điểm về tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể
hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự
vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể o Ý nghĩa -
Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện.
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải
xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các
yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật, hiện tượng và trong sự tác động qua lại giữa sự vật, hiện
tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự
vật, hiện tượng và xử lý có hiệu quả các vô tri đề của đời sống thực tiễn. Như vậy, quan điểm
toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn. -
Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn, khi thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết
hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể.
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt
động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình
huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau
của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải
pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn. Như vậy, trong nhận
thức và thực tiễn không những cần phải tránh và khắc phục quan điểm phiến diện, siêu
hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện.
Nguyên lí phát triển
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm
thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; đồng thời, nó
cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp.
Đối lập với quan điểm siêu hình, trong phép biện chứng khái niệm phát triển dùng để chỉ quá
trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ trình độ thấp đến trình độ
cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Như vậy, khái niệm phát triển không đồng nhất với
khái niệm “vận động” (biến đổi) nói chung; đó không phải là sự biến đổi tăng lên hay giảm đi
đơn thuần về lượng hay sự biến đổi tuần hoàn lặp đi lặp lại ở chất cũ mà là sự biến đổi về chất
theo hướng ngày càng hoàn thiện của sự vật ở những trình độ ngày càng cao hơn.
Phát triển cũng là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao
nhân tố tích cực từ sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới. 
Tính chất của sự phát triển: Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ
biến và tính đa dạng, phong phú.
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc cửa sự vận động và phát
triển. Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu
thuẫn của sự vật, hiện tượng đó. Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ
thuộc vào ý thức của con người.
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh
vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong mọi sự vật, hiện tượng và trong mọi quá trình, mọi giai
đoạn của sự vật, hiện tượng đó. Trong mỗi quá trình biến đổi đã có thể bao hàm khả năng dẫn
đến sự ra đời của cái mới, phù hợp với quy luật khách quan.
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng
chung của mọi sự vật, hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi lĩnh vực hiện thực lại
có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau. Tồn tại ở những không gian và thời gian
khác nhau sự vật, hiện tượng phát triển sẽ khác nhau. Đồng thời, trong quá trình phát triển của
mình, sự vật, hiện tượng còn chịu nhiều sự tác động của các sự vật, hiện tượng hay quá trình
khác, của rất nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử, cụ thể. Sự tác động đó có thể làm thay đổi chiều
hướng phát triển của sự vật, hiện tượng, thậm chí có thể làm cho sự vật, hiện tượng thụt lùi tạm
thời, có thể dẫn tới sự phát triển về mặt này và thoái hóa ở mặt khác... Đó đều là những biểu
hiện của tính phong phú, đa dạng của các quá trình phát triển.  Ý nghĩa
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức thế giới và
cải tạo thế giới. Theo nguyên lý này, trong nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phất
triển. Theo V.I. Lênin, "... Lôgích biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong
“sự tự vận động”.., trong sự biến đổi của nó”.
Quan điểm phát triển đòi hỏi phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển.
Theo quan điểm phát triển, để nhận thức và giải quyết bất cứ vấn đề gì trong thực tiễn, một
mặt, cần phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó; mặt khác, con đường
của sự phát triển lại là một quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận nghịch, đầy mâu thuẫn, vì
vậy, đòi hỏi phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình
phát triển của nó, tức là cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể trong nhận thức và giải quyết
các vấn đề của thực tiễn, phù hợp với tính chất phong phú, đa dạng, phức tạp của nó.
Như vậy, với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng
duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức và thực
tiễn. Khẳng định vai trò đó của phép biện chứng duy vật, Ph. Ăngghen viết: “... Phép biện
chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ảnh của
chúng trong tư tưởng trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sư rằng buộc, sư vận
động, sư phát sinh và sư tiêu vong của chúng”. V.I. Lênin cũng cho rằng: “Phép biện chứng
đòi hỏi người ta phải chú ý đến tất cả các mặt của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể
của những mối quan hệ đó.
5. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ môi liên hệ thống nhất, đấu
tranh và chuyên hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Theo quan niệm siêu hình, mâu thuẫn là cái đối lập phản lôgích, không có sự thống nhất,
không có sự chuyên hóa biện chứng giữa các mặt đối lập.
Mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái
ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau
Quá trình vận động của mâu thuẫn: Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống
nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.
Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời
nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề tồn tại. Sự
thông nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất của nó.
Khái niệm đâu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ,
phủ định nhau của các mặt đôi lập. Hình thức đâu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa
dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng. Quá
trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng. Sự
chuyển hóa giữa các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất
của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, cụ thể.
Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, Sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt
đối, còn sự thống nhất giữa chúng là tương đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự thông nhất
đã có sự đâu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất của chúng. Theo V.I. Lênin: “Sự thống
nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đôi lập là có điều kiện, tạm
thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đôi lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đôi,
cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.
Sự tác động qua lại dẫn đến chuyên hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình. Lúc mới
xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập. Khi hai
mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng
sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được
hình thành và quá trình tác động, chuyên hóa giữa hai mặt đổi lập lại tiếp
diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển. Bởi vậy, sự liên hệ, tác
động và chuyên hóa giữa các mặt đổi lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát
triển trong thế giới. V.I. Lênin khẳng định: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”
Ý nghĩa phương pháp luận
• Vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận
động, phát triển, do vậy, trong nhận thức và thực tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn,
phát hiện mâu thuẫn, phân tích đầy đủ các mặt đối lập, nắm được bản chất, nguồn gốc,
khuynh hướng của sư vận động và phát triển. V.I. Lénin đã cho rằng: “Sự phân đối của
cái thống nhân và sự nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó... đó là thực chất... của phép biện chứng”.
• Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyết
mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại
mâu thuẫn và có phương pháp giải quyết phù hợp. Trong quá trình hoạt động nhận thức
và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn
cảnh, điều kiện nhất định; những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp
giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất
6. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi
về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại
Chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống
nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với sự vật, hiện tượng. 
Lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các
phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu
của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. Hai mặt
đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng tất
yếu sẽ dẫn tới sự chuyên hóa về chất của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, không phải sự thay đổi
về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất, ơ một giới hạn nhất định, sự thay đổi về
lượng chưa dẫn tới sự thay đổi về chất. Giới hạn mà sư thay đổi về lượng chưa làm chất thay
đổi được gọi là độ.
Độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong
đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng. Vì vậy, trong
giới hạn của độ, sự vật, hiện tượng vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật và hiện tượng khác.
Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Khi
lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu dẫn đến những sự thay đổi về chất. Giới
hạn đó chính là điểm nút. Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất
định tất yếu sẽ dẫn đến Sự ra đời của chất mới. Đây chính là bước nhảy trong quá trình vận
động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự thay
đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn,
tính chất và điều kiện của mỗi sự vật. Đó là các bước nhảy: nhanh và chậm, lớn và nhỏ, cục bộ
và toàn bộ, tự phát và tự giác, v.v..
Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng là điểm
khởi đầu cho một giai đoạn mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục
của sự vật, hiện tượng. Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn
đến bước nhảy về chât, tạo ra một đường nút vô tận, thể hiện cách thức vận động và phát triển
của sự vật từ thấp đến cao. Ph.Ăngghen khái quát tính tất yếu này: “Những thay đổi đơn thuần
về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những sự khác nhau về chất”.
Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật chất mới tác động tới lượng của
sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp
điệu của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào củng có sự thông nhất biện chứng giữa hai mặt chất và
lượng. Sự thay đổi dần dần về lượng tới điểm nút tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông
qua bước nhảy; đồng thời, chất mới sẽ tác động trở lại lượng, tạo ra những biến đổi mới về
lượng của sự vật, hiện tượng. Quá trình đó liên tục diễn ra, tạo thành phương thức cơ bản,
phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Ý nghĩa.
Vì bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính quy
định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận thức và thực tiễn
cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng, tạo nên sự nhận thức
toàn diện về sự vật, hiện tượng
Vì những thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyên hóa thành
những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và ngược lại, do đó, trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm
thay đổi về chất; đồng thời, có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay
đổi về lượng của sự vật, hiện tượng.
Vì sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những biến đổi về chất của sự vật, hiện tượng với
điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trong công tác thực tiễn cần
phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu quy luật thì khi
lượng đã được tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về
chất của sự vật, hiện tượng. Vì thế cũng cần phải khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh
trong công tác thực tiễn. Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý
chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất.
Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy mặc
dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng.
Vì bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, trong nhận
thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù
hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thê. Đặc biệt, trong đời sống xã hội, quá trình phát
triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ
quan của con người. Do đó, cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc
đẩy quá trình chuyên hóa từ lượng đến chất một cách có hiệu quả nhất.
7. Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của các cặp phạm trù: cái chung và cái
riêng, nguyên nhân và kết quả, nội dung và hình thức
Cái chung và cái riêng

Cái chung là một phạm trù triết học, dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung
không những có ở một kết cấu vật chất nhất định mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật,
hiện tượng riêng lẻ khác
Cái riêng là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự vật, hiện tượng hay một quá trình riêng lẻ nhất định
Cái đơn nhất là một phạm trù dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính.. chỉ
tồn tại ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại ở các sự vật, hiện tượng khác
Mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng: Cái chung, cái riêng và cái đơn nhất
đều tồn tại khách quan và có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Mối quan hệ đó thể hiện qua các điểm sau:
- Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua các cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại
của mình. Không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng.
- Thứ 2, cái riêng chỉ tồn tại trong quan hệ với cái chung, không có cái riêng nào tồn tại độc lập,
tách rời tuyệt đối cái chung.
- Thứ ba, cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, vì ngoài những điểm chung, cái
riêng còn có cái đơn nhất.
- Thứ tư, cái chung sâu sắc hơn cái riêng, vì cái chung phản ánh thuộc tính, những mối liên hệ ổn
định, tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại. Do vậy, cái chung là cái gắn liền với bản chất,
quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng.
- Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật:
+ Sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ.
+ Sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định.
Ý nghĩa của phương pháp luận
Muốn biết được cái chung, cái bản chất thì phải xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ.
Nhiệm vụ của nhận thức là phải tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái
chung để cải tạo cái riêng. Mặt khác phải cụ thể hóa cái chung trong mỗi hoàn cảnh cụ thể.
Trong hoạt động thực tiễn, nếu thấy sự chuyển hóa nào có lợi thì ta cần chủ động tác động vào
để nó nhanh chóng trở thành hiện thực.
Nguyên nhân và kết quả
Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc
giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất định nào đó
Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do tác động lẫn nhau giữa các mặt trong
một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau giữa các sự vật với nhau gây ra
Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất
yếu: không có nguyên nhân nào không dẫn tới kết quả nhất định; và ngược lại, không
có kết quả nào không có nguyên nhân.
Nguyên nhân sinh ra kết quả, do vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả
bao giờ cũng xuất hiện sau nguyên nhân.
Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thô do một
hoặc nhiều nguyên nhân tạo nên.
Sự tác động của nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một kết quả có thể diễn ra-
theo các hướng thuận, nghịch khác nhau và đều có ảnh hưởng đến sự hình thành kết quả,
nhưng vị trí, vai trò của chúng là khác nhau: có nguyên nhăn trực tiep, nguyên nhân gián tiếp,
nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài,... Ngược lại, một nguyên nhân có thô dẫn đến
nhiều kết quả, trong đó có kết quả chính và phụ, cơ bản và không cơ bản, trực tiếp và gián tiếp,...
Trong sự vận động của thế giới vật chất, không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối
cùng. Ph.Ăngghen viết “Chúng ta cũng thẩy rằng nguyên nhân và kết quả là những khái
niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vào một trường hợp riêng biệt
nhất định; nhưng một khi chứng ta nghiên cứu trường hợp riêng biệt ây trong mối liên hệ
chung của nó với toàn bộ thế giới thì những khái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt
với nhau trong một khái niệm về sự tác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó
nguyên nhân và kết quả luôn luôn thay đổi vị trí cho nhau; cái ở đây hoặc trong lúc này là
nguyên nhân thì ở chỗ khác hoặc ở lúc khác lại là kết quả, và ngược lại”.  Ý nghĩa
Vì mối liên hệ nhân quả là mối quan hệ có tính khách quan, tất yếu nên trong nhận thức và
thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân - quả. Trong thế giới hiện thực không thể tồn tại
những sự vật, hiện tượng hay quá trình biến đôi không có nguyên nhân; và ngược lại, không có
nguyên nhân nào không dẫn tới những kết quả nhất định.
Vì mối liên hệ nhân quả rất phức tạp, đa dạng nên phải phân biệt chính xác các loại nguyên
nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể trong nhận thức và thực tiễn.
Vì một nguyên nhân có thể dẫn đến nhiều kết quả và ngược lại, một kết quả có thể do nhiều
nguyên nhân nên trong nhận thức và thực tiễn cần phải có cách nhìn mang tính toàn diện và
lịch sử - cụ thể trong phân tích, giải quyết và vận dụng quan hệ nhân - quả.
Nội dung và hình thức
Nội dung dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo
nên sự vật, hiện tượng
Hình thức dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng đó, là hệ
thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó.
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức:
Nội dung và hình thức gắn bó chặt chẽ, thông nhất biện chứng với nhau. Vì vậy, không có một
hình thức nào không chứa đựng nội dung, đồng thời không có nội dung nào lại không tồn tại
trong một hình thức nhất định. Cùng một nội dung có thể biểu hiện trong nhiều hình thức và
cùng một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung.
Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung
quyết định hình thức và hình thức tác động trỏ lại nội dung. Khuynh hướng chủ đạo của nội
dung là khuynh hướng biến đổi, còn hình thức là mặt tương đối ổn định trong mỗi sự vật, hiện
tượng. Nội dung thay đổi bắt buộc hình thức phải thay đổi theo cho phù hợp. Tuy nhiên, không
phải bất cứ lúc nào cũng có sự phù hợp tuyệt đối giữa nội dung và hình thức. Nội dung quyết
định hình thức nhưng hình thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại nội dung. Hình
thức phù hợp với nội dung thì sẽ thúc đẩy nội dung phát triển. Nếu hình thức không phù hợp
thì sẽ kìm hãm sự phát triển của nội dung.  Ý nghĩa
Nội dung và hình thức luôn luôn thống nhất hữu cơ với nhau. Vì vậy, trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn, không được tách rời giữa nội dung và hình thức, hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó.
Nội dung quyết định hình thức nên khi xem xét sự vật, hiện tượng thì trước hết phải căn cứ vào
nội dung. Muôn thay đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải thay đổi nội dung của nó.
Trong thực tiễn cần phát huy tác động tích cực của hình thức đối với nội dung trên cơ sở tạo ra
tính phù hợp của hình thức với nội dung; mặt khác, cũng cần phải thực hiện những thay đổi đối
với những hĩnh thức không còn phù hợp với nội dung, cản trở sự phát triển của nội dung.
8. Phần lí luận nhận thức
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Khác với các hoạt động khác, hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà con người sử dụng
những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất nhất định, làm biến đổi
chúng theo mục đích của mình. Đó là những hoạt động đặc trưng và bản chất của con
người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và không ngừng phát triển bởi con
người qua các thời kỳ lịch sử. Chính vì vậy, hoạt động thực tiễn bao giờ cũng lả hoạt động
vật chất mang tính chất sáng tạo và có tính mục đích, tính lịch sử - xã hội.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình
thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau,
không thc thay thế cho nhau, song chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn
nhau. Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất là loại hoạt động có vai trò quan
trọng nhất, đóng vai trò quyết định đổi với các hoạt động thực tiễn khác. Bởi vì, nó là hoạt
động nguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống
của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu nhất, có tính quyết định đối
với sự sinh tồn và phát triển của con người. Không có hoạt động sản xuất vật chất thì
không thể có các hình thức thực tiễn khác. Các hình thức thực tiễn khác, suy đến cùng cũng
xuất phát từ thực tiễn sản xuất vật chất và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất. 
Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào
bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách
quan. Đó là quan điểm duy vật biện chứng về nhận thức. Quan điểm này xuất phát từ
các nguyên tắc cơ bản sau đây:
• Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người.
• Hai là, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan; coi nhận
thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động
tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được
mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được.
• Ba là, khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng
tạo. Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đêh nhiều,
từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc và toàn diện hơn,...
• Bốn là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục
đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, nhận thức là một quá trình. Đó là quá trình đi từ trình
độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận; từ trình độ nhận thức thông
thường đến trình độ nhận thức khoa học; v.v.. 
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân
lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình nhận thức
.Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát
trực tiếp của nhận thức; nó đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh hướng vận động và
phát triển của nhận thức. Chính con người có nhu cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế
giới và cải tạo thế giới nên con người tất yếu phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng
hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó làm cho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những
thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng, đem lại những tài liệu cho
nhận thức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển của
thế giới. Có thể nói, suy cho cùng không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ
thực tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn. Do đó, nếu thoát ly thực tiễn,
không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn
tại và phát triển của mình. Cũng vì thế, chủ thể nhận thức không thể có được những tri thức
đúng đắn và sâu sắc về thế giới nếu nó xa rời thực tiễn
Thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực tiễn
mà các giác quan của con người ngày càng được hoàn thiện; năng lực tư duy lôgích không
ngừng được củng cố và phát triển; các phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác
dụng "nối dài" các giác quan của con người trong việc nhận thức thế giới.
Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà còn đóng vai trò là
tiêu chuẩn của chân lý, kiêm tra tính chân lý của quá trình nhận thức. Điều này có nghĩa
thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời, thực
tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm
thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở
thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Việc nghiên cứu lý
luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành. Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sai lầm
của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc, quan liêu. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa
vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng và kinh nghiệm chủ nghĩa. Như vậy,
nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận phải là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động
thực tiễn và hoạt động lý luận; lý luận mà không có thực tiễn làm cơ sở và tiêu chuẩn để
xác định tính chân lý của nó thì đó chỉ là lý luận suông. Ngược lại, thực tiễn mà không có lý
luận khoa học, cách mạng soi sáng thì nhất định sẽ biên thành thực tiễn mù quáng.
9. Nội dung, ý nghĩa quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất
và tái sx xã hội).Quan hệ sản xuất gồm 3 mặt: quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản
xuất, quan hệ trong các tổ chức và quản lí sản xuất, quan hệ trong phân phối sản phẩm sản xuất ra. 
Lực lượng sản xuất dùng để chỉ tổng thể các yếu tố cấu thành nội dung vật chất, kỹ
thuật, công nghệ,... của quá trình sản xuất, tạo thành năng lực thực tiễn cải biến giới tự
nhiên của con người. Bao gồm tư liệu sản xuất (trong đó, công cụ sản xuất là yếu tố phản
ánh rõ ràng nhất trình độ chinh phục tự nhiên của con người) và người lao động (trong đó
năng lực sáng tạo của nó là yếu tố đặc biệt quan trọng). 
Mối quan hệ giữa QHSX và LLSX Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt
của phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau
một cách biện chứng, tạo thành quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất – quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội. -
Tác động của lực lượng sản xuất đến quan hệ sản xuất là:
+ Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất
cho phù hợp với nó. Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sản xuất từ
chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Yêu cầu khách
quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan
hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng
sản xuất tiếp tục phát triển. Thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có
nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phương thức sản xuất mới ra đời thay thế. -
Bên cạnh đó, quan hệ sản xuất lại tác động trở lại lực lượng sản xuất như sau:
+ Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập
tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
+ Quan hệ sản xuất quy định mục đích, cách thức của sản xuất, phân phối. Do đó nó trực tiếp ảnh
hưởng đến thái độ của người lao động, năng suất, chất lượng, hiệu quả của quá trình sản xuất và
cải tiến công cụ lao động.Sự tác động của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất diễn ra theo hai
hướng, hoặc là tích cực, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển khi nó phù hợp hoặc tiêu cực, kìm
hãm lực lượng sản xuất khi nó không phù hợp  Ý nghĩa
Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội, cần phải căn cứ vào thực trạng (tình
hình thực tế) phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác lập nó cho phù hợp chứ không phải
căn cứ vào ý muốn chủ quan. Chỉ có như vậy mới có thể tạo ra được hình thức kinh tế thích hợp
cho việc bảo tồn, khai thác - sử dụng, tái tạo và phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.
Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất
đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cải cách, đổi mới,...) mà cao
hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn này.
10. Quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội. Ý nghĩa phương pháp luận
CSHT: Là toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một mô hình thái
kinh tế xã hội nhất định. Đặc trưng cho tính chất của CSHT của xã hội là do quan hệ
sản xuất thống trị quyết định. 
KTTT: Là toàn bộ tư tưởng xã hội những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại
của KTTT được hình thành trên cơ sở hạ tầng quyết định, KTTT bao gồm: Những tư
tưởng xã hội (chính trị, pháp luật, đạo đức tôn giáo, nghệ thuật...) và những tổ chức
thiết chế khác nhau (Nhà nước, giáo hội chính Đảng, các đoàn thể..). 
Quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT - CSHT quyết định KTTT.
+ CSHT nào thì KTTT ấy tức là KTTT phản ánh CSHT.
+ CSHT thay đổi thì KTTT cũng thay đổi theo sự thay đổi của KTTT rõ rệt khi CSHT
này được thay thế bằng CSHT khác. -
Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT.
+ KTTT có thể tác động trở lại đối với CSHT, vì chức năng của KTTT là bảo vệ duy
trì, củng cố và phát triển CSHT đã sinh ra nó.
+ Các bộ phận khác nhau của KTTT đều tác động đến CSHT bằng nhiều hình thức khác
nhau trong đó Nhà nước giữ vai trò to lớn và quan trọng đối với CSHT.
+ Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT được thể hiện ở hai điểm sau:
Thứ nhất: Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội KTTT có quá trình biến đổi nhất định qua trình
độ càng phù hợp với CSHT thì nó càng thúc đẩy CSHT phát triển.
Thứ hai: Khi KTTT tác động ngược chiều với CSHT thì nó sẽ gây cản trở cho sự phát triển của CSHT.  Ý nghĩa
Nghiên cứu mối qh giữa CSHT và KTTT cho ta thấy phải đề phòng 2 khuynh hướng sai lầm sau:
+ Tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố kinh tế, coi nhẹ vai trò của yếu tố tư tưởng, chính trị, pháp lí
+ Tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố chính trị, tư tưởng, pháp lí biến các yếu tố đó thành tính thứ nhất so với kinh tế
Nghiên cứu mối quan hệ giữa CSHT và KTTT cho ta một cái nhìn đúng đắn, đề ra chiến lược
phát triển hài hòa giữa kinh tế và chính trị, đổi mới kinh tế phải đi đôi với đổi mới chính trị,
lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, từng bước đổi mới chính trị
Nắm được mqh giữa CSHT và KTTT giúp cho sự hình thành CSHT và KTTT xhcn diễn ra
đúng theo quy luật mà CNDV lịch sử đã khái quát.
11. Tồn tại xã hội, ý thức xã hội, mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức
xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Tồn tại xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ sinh hoạt vật chất và những điều kiện
sinh hoạt vật chất của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử xã hội.Bao gồm các yếu tố,
trong đó có các yếu tố chính là phương thức sản xuất vật chất, điều kiện tự nhiên - hoàn
cảnh địa lý, dân số và mật độ dân cư, trong đó phương thức sản xuất là yếu tố cơ bản nhất. 
Ý thức xã hội là khái niệm triết học dùng để chỉ các mặt, các bộ phận khác nhau của
lĩnh vực tinh thần xã hội như quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống…
của cộng đồng xã hội; mà những bộ phận này nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn
tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định. 
Mối quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH: TTXH quyết định YTXH, YTXH là
sự phản ánh của TTXH, phụ thuộc vào TTXH. Được thể hiện cụ thể : -
Tồn tại xã hội nào thì sinh ra ý thức xã hội ấy. Tức là người ta không thể tìm nguồn gốc
tư tưởng trong đầu óc con người, mà phải tìm nó trong chính tồn tại xã hội. Do đó phải
tồn tại xã hội để lý giải cho ý thức xã hội. -
Khi tồn tại xã hội thay đổi một cách căn bản, nhất là khi phương thức SX đã thay đổi thì
sớm hay muộn thì ý thức xã hội cũng phải thay đổi theo.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội Sự lệ thuộc của ý thức xã hội vào tồn tại xã
hội không phải lúc nào cũng diễn ra trực tiếp mà cần phải xét đến cùng qua nhiều khâu
trung gian mới thấy được, bởi vì ý thức xã hội có tính độc lập của mình. Tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội được thể hiện dưới các hình thức sau: -
Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội là do những nguyên nhân sau đây
Sự biến đổi của tồn tại xã hội do tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp của những hoạt
động thực tiễn của con người, thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã hội có thể không
phản ánh kịp và trở nên lạc hậu
Do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo thủ của một
số hình thái ý thức xã hội.
Ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những giai cấp
nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã hội
phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và
truyền bá nhằm chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ -
Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội Trong những điều kiện nhất định tư
tưởng của con người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước sự
phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ chức, chỉ đạo
hoạt động thực tiễn của con người. Sở dĩ có thể vượt trước được là do đặc điểm của tư
tưởng khoa học quy định. Tư tưởng khoa học thường khái quát tồn tại xã hội đã có và
hiện có để rút ra những quy luật phát triển chung của xã hội, quy luật đó không những
phản ánh đúng quá khứ, hiện tại mà còn dự báo đúng tồn tại xã hội mai sau. -
Ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình.
Lịch sử phát triển của đời sống tinh thần xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lý luận của
mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa
những tài liệu lý luận của các thời đại trước.
Trong xã hội có giai cấp, tính chất kế thừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấp của nó.
Những giai cấp khác nhau kế thừa những nội dung ý thức khác nhau của các thời đại trước, các
giai cấp tiên tiến thường kế thừa những di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại.
Vì vậy, khi tiến hành cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ thì không những phải vạch ra tính
chất phản khoa học của những trào lưu tư tưởng phản động trong điều kiện tại, mà còn phải chỉ
ra những nguồn gốc lý luận của chúng trong lịch sử.
Do ý thức xã hội có tính kế thừa, nên khi nghiên cứu một tư tưởng nào đó phải dựa và quan hệ
kinh tế hiện tại và phải chú ý đến các giai đoạn phát triển tư tưởng trước đó. Có như vậy mới
hiểu rõ vì sao một nước có trình độ phát triển tương đối kém về kinh tế nhưng tư tưởng lại ở trình độ cao. -
Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội
Lịch sử phát triển của ý thức xã hội cho thấy, thông thường ở mỗi thời đại, tùy theo những
hoàn cảnh lịch sử cụ thể có những hình thái ý thức nào đó nổi lên hàng đầu và tác động mạnh
đến các hình thái ý thức khác.
Trong sự tác động lẫn nhau giữa các hình thái ý thức, ý thức chính trị có vai trò đặc biệt quan
trọng, ý thức chính trị của giai cấp cách mạng định hướng cho sự phát triển theo chiều hướng
tiến bộ của các hình thái ý thức khác -
Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Sự tác động của ý thức xã hội tới tồn tại xã hội biểu hiện qua hai chiều hướng. Nếu ý thức xã
hội tiến bộ thì tác động thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển, nếu ý thức xã hội lạc hậu sẽ cảm trở
sự phát triển của tồn tại xã hội.
Ví dụ : Nhưng ý thức xã hội có tác động trở lại tồn tại xã hội. Đó là cuộc đấu tranh cách mạng
xóa bỏ cái cũ (XH đương thời) xây dựng cái mới (xã hội mới). Khi con người ý thức được quy
luật phát triển của xã hội loài người, ý thức được chính mình....Nên đã vùng dậy phá bỏ xiềng
xích.....Đấu tranh giải phóng bản thân cũng như đấu tranh giải phóng toàn xã hội.