



















Preview text:
NÔI DUNG ÔN TÂP MÔN TRIT HC MC-LÊNIN
Nô i dung 1: Trit hc v vn đ cơ bn ca trit hc ?
-Theo Mác – Ăngghen: “Vấn đề cơ bản lớn nhất của mọi triết học, đặc biệt là
của triết học hiện đại, là vấn đề quan hện giữa tư duy và tồn tại”. Nội dung của vấn đề này gồm hai mặt:
+ Mặt thứ nhất (mặt bản thể luận) trả lời câu hỏi: trong mối quan hệ giữa tư
duy và tồn tại, giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào
sinh ra cái nào, cái nào quyết định cái nào?
+ Mặt thứ hai (mặt nhận thức luận) trả lời câu hỏi: tư duy con người có khả
năng nhận thức thế giới xung quanh hay không?
Nô i dung 2: Nhng tch cc v hn ch ca ch ngha duy vâ t trưc Mc
quan niê m v! vâ t ch"t. Nô i dung v % ngha phương php luâ n đ*nh ngha
vâ t ch"t ca Lênnin ?
Quan quan niệm về vật chất của các nhà triết học duy vật trước Mác:
“Vật chất” thường được hiểu là một hoặc một số chất hay yếu tố khách quan,
tự có trong giới tự nhiên, đóng vai trò là cơ sở ban đầu (bản nguyên, bản căn) sản
sinh ra và cấu tạo nên mọi tồn tại trong thế giới. Bởi vậy, phương pháp luận chung
của các nhà duy vật này là: muốn hiểu được đúng đắn thế giới thì cần phải nghiên
cứu để hiểu được đúng cấu tạo vật chất đầu tiên đó. Những quan niệm như vậy có
thể nhận thấy rõ khi nghiên cứu nội dung các học thuyết duy vật thời cổ ở Trung
Quốc, Ân Độ và Hy Lạp (Đạo gia, thuyết Âm Dương -Ngũ Hành ở Trung Quốc;
trường phái Lokayata ở Ấn Độ; trường phái nguyên tử luận ở Hy Lạp) hoặc các
học thuyết triết học duy vật thời cận đại ở các nước Anh, Pháp, Đức (triết học của
Ph. Bêcơn, triết học tự nhiên của R. Đềcáctơ, triết học tự nhiên của I. Kantơ,...). 1
-Ưu điểm và hạn chế của những quan niệm đó:
+ Ưu điểm: với quan niệm về vật chất như đã nói ở trên, các nhà duy vật
trước Mác đã xác lập phương pháp luận tích cực cho sự phát triển nhận thức một
cách khoa học về thế giới, đặc biệt là trong việc giải thích về cấu tạo vật chất
khách quan của các hiện tượng tự nhiên, làm tiền đề cho việc giải quyết đúng đắn
nhiều vấn đề trong việc ứng xử tích cực giữa con người và giới tự nhiên, vì sự sinh
tồn và phát triển của con người.
+ Hạn chế lịch sử: một mặt, quan niệm về vật chất của các nhà duy vật
trước Mác chưa bao quát được mọi tồn tại vật chất trong thế giới, mặt khác quan
niệm này chủ yếu mới chỉ được tiếp cận từ giác độ cấu tạo bản thể vật chất của các
sự vật, hiện tượng trong thế giới, giác độ nhận thức luận chưa được nghiên cứu đầy
đủ; tức là chưa giải quyết được triệt để phạm trù vật chất từ góc độ giải quyết hai
mặt vấn đề cơ bản của triết học. Những hạn chế này được khắc phục trong quan
niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
-Định nghĩa vật chất của Lê-nin: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng
để chỉ thực tại khách quan được đem lại con người trong cảm giác, được cảm giác
của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và không phụ thuộc vào cảm giác”.
-Nội dung của định nghĩa:
+ Vật chất là cái khách quan, tồn tại bên ngoài ý thức và không phụ thuộc
vào ý thức, bất kể sự tồn tại ấy đã được con người nhận thức hay chưa.
+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp
tác động lên giác quan của con người.
+ Cảm giác, tư duy, ý thức là sự phản ánh của vật chất.
-Ý nghĩa phương pháp luận: Định nghĩa vật chất của Lê-nin đã: 2
+ Giải quyết triệt để hai mặt trong vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm của CNDVBC.
+ Khắc phục triệt để những sai lầm, hạn chế của CNDV trước Mác về phạm
trù vật chất; bác bỏ, phủ nhận CNDT và tôn giáo về vấn đề vật chất.
+ Tạo cơ sở cho các nhà triết học DVBC xây dựng quan điểm vật chất trong đời sống xã hội.
Nô i dung 3: Quan đi-m DVBC v! ngu2n g3c, b6n ch"t, kt c"u ca % th8c
v m3i quan hê gia vâ t ch"t v % th8c ?
a, Nguồn gốc: Ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên và xã hội.
-Nguồn gốc tự nhiên: bộ óc người và thế giới hiện thực khách quan
+ Ý thức là kết quả của quá trình tiến hóa của thuộc tính phản ánh có ở mọi
dạng vật chất. Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất có
ở mọi dạng vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng, gồm phản
ánh lí hóa và phản ánh sinh học.
+ Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực, ý thức là
hình thức phản ánh chỉ có ở con người. Ý thức là đặc tính riêng của một vật chất có
tổ chức cao là bộ óc người. Bộ óc người là một tổ chức sống đặc biệt, có cấu trúc
tinh vi và phức tạp. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức. Hoạt động ý thức
chỉ diễn ra trong bộ não người, trên cơ sở các quá trình sinh lí – thần kinh của bộ não
+ Bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên nó chính là nguồn
gốc tự nhiên của ý thức.
-Nguồn gốc xã hội: Lao động và ngôn ngữ 3
+ Ý thức người ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người nhờ có lao động và ngôn ngữ.
+ Lao động là quá trình diễn biến giữa con người và tự nhiên, trong đó con
người đóng vai trò là môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vật chất giữa
người và tự nhiên. Đặc điểm của lao động: là hoạt động đặc thù của con người, lao
động luôn mang tính tập thể.
+ Vai trò của lao động: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người, nhờ có
lao động mà con người tách khỏi thế giới động vật; lao động làm cho cơ thể con
người ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là bộ óc và các giác quan; thế giới khách
quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động của mình
trong quá trình lao động; trong lao động, đồng thời với lao động là ngôn ngữ (ngôn
ngữ xuất hiện từ lao động).
+ Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư
tưởng. Vai trò của ngôn ngữ: là phương tiện giao tiếp trong xã hội, để trao đổi tri
thức, kinh nghiệm…; là phương tiện để tổ kết thực tiễn, đồng thời là công cụ của
tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực.
+ Không có ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành, tồn tại và phát triển.
Ý thức là nội dung thì ngôn ngữ là hình thức biểu hiện của nó.
(Trong 2 nguồn gốc thì nguồn gốc xã hội quyết định bản chất ý thức. Tách ra
khỏi môi trường xã hội, con người sẽ mất ý thức. Người nào mắc khiếm khuyết về
ngôn ngữ thì ý thức kém phát triển hơn. Học thức kém thì ý thức cũng kém phát triển.)
b, Bản chất của ý thức:
-Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người một cách
năng động và sáng tạo. Điều này được thể hiện ở: 4
+ Ý thức cũng là “hiện thực”, nhưng đó là hiện thực trong tư tưởng. Đó là
sự thống nhất giữa vật chất và ý thức. Trong đó, vật chất là cái được phản ánh, còn
ý thức là cái phản ánh.
+ Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, bởi vì ý thức con
người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn.
+ Phản ánh ý thức là sự phản ánh sáng tạo. Tính sáng tạo của ý thức rất đa
dạng, phong phú. Tuy nhiên, đó là sự sáng tạo dựa trên sự phản ánh.
-Quá trình ý thức được thống nhất bởi các mặt sau:
+ Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đồi tượng phản ánh. Sự trao đổi này
mang tính chất hai chiều, có chọn lọc các thông tin cần thiết.
+ Mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.
+ Chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan (hiện thực hóa tư
tưởng thông qua hoạt động thực tiễn)
+ Ý thức không phải là một hiện tượng tự nhiên thuần túy mà là một hiện
tượng xã hội. Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động, trong hoạt động cải tạo thế
giới của con người. (Ý thức mang bản chất là có tính xã hội).
c, Kết cấu của ý thức: Ý thức là một hiện tượng xã hội – tâm lí có kết cấu
hết sức phức tạp. Tùy theo cách tiếp cận mà có nhiều cách phân chia khác nhau.
-Theo chiều ngang, ý thức gồm:
+ Tri thức: là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới hiện
thực, làm tái hiện trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy
và diễn đạt chúng dưới những hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.
+ Tình cảm: là sự cảm động của con người trong mối quan hệ với thực tại
xung quanh và với chính mình. 5
+ Các yếu tố khác như niềm tin, lí trí, ý chí,… Trong tất cả các yếu tố này
thì tri thức là yếu tố quan trọng nhất.
(Tri thức là yếu tố quan trọng nhất, thiếu tri thức thì mọi thứ đều là ý thức
vô hồn, ý thức trống rỗng. Tri thức quan trọng vì thiếu tri thức thì mọi lí tưởng của
con người đều là hão huyền, ước mơ vô vọng. Muốn có ý thức thì phải học (trường học và trường đời).
-Theo chiều dọc, ý thức bao gồm:
+ Tự ý thức: là ý thức về bản thân mình trong quan hệ với thế giới bên ngoài.
+ Tiềm thức: là những tri thức mà con người đã có được từ trước nhưng gần
như trở thành bản năng , thành kĩ năng trong tầng sâu ý thức.
+ Vô thức: là trạng thái tâm lí ở chiều sâu, điều chỉnh suy nghĩ, hành vi,
thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự truyền
thông tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lí trí…
d, Mối quan hê t giữa vâ tt chất và ý thức:
- Phép biê tn duy vâ tt cho rằng vâ tt chất và ý thức có quan hê t biên chứng với nhau trong đó :
+ Vâ tt chất quyết định ý thức
+ Vất chất quyết định nguồn gốc của ý thức
+ Vâ tt chất quyết định nô ti dung tri thức phản ánh trong ý thức
+ Trong lĩnh vực đời sống xã hô ti quyết định ý thức xã hô ti
- Tính đô tc lâ tp tương đối
+ Tuy nhiên chủ nghĩa duy vâ tt biê tn chứng cũng thừa nhâ tn rằng ý thức có
tính đô tc lâ tp tương đối nghĩa là sau khi xuất hiê tn nó tác đô tng ngược với vâ tt chất 6
+ Ý thức giúp con người xác định được mục đích trước khi thực hiê tn
+ Ý thức giúp con người tổ chức hoạt đô tng để sao cho mang lại hiê tu quả cao nhất
+ Trong những hoàn cảnh cụ thể và điều kiê tn xác định thì nhân tố tinh
thần có thể quyết định sự thành bại của công viê tc
Nô i dung 4: Nội dung v % ngha phương php luận ca nguyên l v!
m3i liên hệ phổ bin v nguyên l pht tri-n
* Khái niệm mối liên hệ phổ biến:
+ Quan điểm siêu hình cho rằng sự vật, hiện tượng tồn tại độc lập, tách biệt
nhau, giữa chúng không có sự liên hệ hoặc nếu có thì đó chỉ là liên hệ bề ngoài, thụ
động, một chiều, giữa các hình thức liên hệ không có chuyển hóa lẫn nhau.
+ Quan điểm DVBC cho rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ
sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện
tượng, hay giữa các mặt của một sự vật hiện tượng trong thế giới.
* Tính chất của mối liên hệ:
-Mối liên hệ phổ biến mang tính khách quan, nó là cái vốn có của sự vật, hiện tượng.
-Mối liên hệ mang tính phổ biến, thể hiện ở chỗ:
+ Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác,
không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.
+ Mối liên hệ biểu hiện dưới nhiều hình thức riêng biệt, cụ thể tùy theo
từng điều kiện nhất định. Song, dù dưới hình thức nào chúng cũng chỉ là biểu hiện
của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. 7
-Mối liên hệ mang tính đa dạng, phong phú, vì thế hình thức liên hệ giữa
chúng cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể căn cứ vào vị trí, phạm vi, vai trò, tính
chất mà phân chia ra thành những mối liên hệ khác nhau như: mối liên hệ bên
trong, bên ngoài; mối liên hệ bản chất – không bản chất; trực tiếp – gián tiếp;…
Nhưng sự phân chia này cũng chỉ là tương đối.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
-Khi xem xét sự vật, hiện tượng cần phải có quan điểm toàn diện. Quan
điểm này yêu cầu: phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của sự vật và các
khâu trung gian của nó; phải nắm bắt và đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt,
từng mối liên hệ trong quá trình cấu thành sự vật.
-Trong quan điểm toàn diện bao hàm cả quan điểm lịch sử cụ thể. Vì vậy,
khi xem xét sự vật, hiện tượng phải đặt sự vật, hiện tượng vào không gian, thời gian cụ thể…
b, Nguyên lí về sự phát triển:
* Khái niệm “phát triển”:
+ Quan điểm siêu hình cho rằng phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về
mặt số lượng hay khối lượng mà không có sự thay đổi về chất. Phát triển cũng như
quá trình chuyển lên liên tục, không có bước quanh co, thăng trầm phức tạp.
Nguồn gốc phát triển là do bên ngoài quy định.
+ Quan điểm DVBC cho rằng phát triển là quá trình vận động tiến lên từ
thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hòa thiện đến hoàn thiện hơn.
* Tính chất của sự phát triển:
-Phát triển mang tính khách quan, nó là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng. 8
-Phát triển không chỉ là sự thay đổi về mặt số lượng hay khối lượng mà nó
còn là sự thay đổi về chất.
-Phát triển mang tính kế thừa nhưng trên cơ sở có sự phê phán, lọc bỏ, cải
tạo và phát triển, không kế thừa nguyên xi hay lắp ghép từ cái cũ sang cái mới một cách máy móc, hình thức.
-Tùy vào sự vật, hiện tượng, quá trình cụ thể, phát triển còn bao gồm cả sự
thụt lùi đi xuống nhưng khuynh hướng chung là đi lên, là tiến bộ. Theo quan điểm
DVBC thì khuynh hướng của sự phát triển xảy ra theo hình đường xoáy ốc.
-Nguồn gốc của sự phát triển là ở trong bản thân sự vật hiện tượng, do mâu
thuẫn của sự vật hiện tượng quy định.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
-Khi xem xét sự vật hiện tượng cần phải có quan điểm phát triển. Yêu cầu:
+ Xem xét sự vật hiện tượng phải đặt chúng trong sự vận động phát triển
không ngừng, vạch ra xu hướng biến đổi chuyển hóa của chúng.
+ Phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật thành nhiều giai đoạn,
trên cơ sở đó tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc
đẩy sự vật phát triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó.
Nô i dung 5: Nô i dung v % ngha phương php luâ n ca quy luâ t th3ng nh"t
v đ"u tranh gia cc mă t đ3i lâ p
Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép BCDV. Nó nói lên nguồn gốc,
động lực của sự phát triển. Lênin gọi quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng. a, Nội dung 9
-Khái niệm mặt đối lập: Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh
hướng vận động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhưng tồn tại
và gắn bó với nhau trong một thể thống nhất hợp thành một mâu thuẫn.
-Đặc điểm của mâu thuẫn:
+ Tính khách quan: Mâu thuẫn nằm ngoài ý thức con người, không có sinh
vật nào tồn tại mà không có mâu thuẫn.
+ Tính phổ biến trong tự nhiên: Có mâu thuẫn giữa cực bắc và cực nam của
nam châm, mâu thuẫn giữa cộng trừ, nhân chia,…
Trong tư duy có mâu thuẫn đúng sai, sướng khổ,..
-Khái niệm thống nhất giữa các mặt đối lập:
*Được hiểu theo 2 nghĩa:
+ Nghĩa 1: Là sự liên hệ, nương tựa, rang buộc, cấu kết hữu cơ với nhau
đến mức không có cái này sẽ không có cái kia, cái này mất đi cái kia cũng mất
theo, caí này xuất hiện cái kia xuất hiện theo. (Ví dụ: không có sai thì không có đúng)
+ Nghĩa 2: bao hàm sự khác biệt giữa những cái tưởng như không thể thống
nhất nhưng vẫn thống nhất với nhau.
-Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập: Đấu tranh không hiểu là đánh
nhau, đấu tranh được hiểu là sự bài trừ, gạt bỏ đi đến phủ định lẫn nhau, khi đủ
điều kiê tn thì chuyển hóa các mặt đối lập. Có thể mặt này chuyển thành mặt kia, có
thể cả 2 mặt đều biến thành thứ khác.
-Quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh: Thống nhất ứng với quan điểm cho
rằng đứng im của vật chất là tương đối, tạm thời. Đấu tranh của các mặt đối lập
ứng với quan điểm vận động là tuyệt đối, đấu tranh cũng được hiểu là tuyệt đối và 10
nó diễn ra cho đến khi sự vật hết mâu thuẫn. Khi đó cái chết xảy ra đối với sinh
vật, đối với sự vật nói chung � không còn lí do để tồn tại vì mất hết động lực.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
-Nghiên cứu quy luật mâu thuẫn giúp ta hiểu được nguồn gốc, động lực của
sự tự thân vận động, tự thân phát triển của sự vật, hiện tượng. Chống quan điểm
duy tâm, siêu hình tìm nguồn gốc vận động, phát triển từ bên ngoài, từ những nguyên nhân thần bí.
-Xác định mâu thuẫn là hiện tượng tất yếu khách quan (chấp nhận mâu
thuẫn để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, thúc đẩy sự vật phát triển tiến lên).
-Nắm vững mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu để xác định nhiệm vụ
chiến lược cũng như nhiệm vụ trung tâm trước mắt cho từng thời kì cách mạng.
-Có cách giải quyết thích hợp với bản chất của từng mâu thuẫn, trình đô t
chín muồi và điều kiê tn tồn tại của mâu thuẫn Nô
i dung 6 : Nội dung v % ngha phương php luận ca quy luật chuy-n
hóa từ nhng s thay đổi v! lượng thnh nhng s thay đổi v! ch"t v ngược li.
Đây l một trong 3 quy luật ca phép BCDV. Nó nói lên hình th8c ca s pht tri-n. a. Nội dung: -Khái niệm:
+ Chất là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật đó là
cái phân biệt nó với sự vật, hiện tượng khác. (Chất xuất phát từ cấu trúc bên trong
của sự vật và biểu hiện ra thông qua các thuộc tính của sự vật. Chất là tổng hợp các 11
thuộc tính, trong đó có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản. Chỉ thuộc
tính cơ bản mới phân biệt chất).
+ Lượng là tính quy định của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, cường độ,
trình độ, tốc độ, vv.. (Lượng có thể đo được bằng con số. Tuy nhiên, sự vật phức
tạp thì thông số về lượng của nó cũng phức tạp; do đó để nhận thưc được lượng
của nó, phải sử dụng nhiều con số thống kê và phải thông qua sự phán đoán, đánh giá của tư duy).
-Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
+ Tính thống nhất giữa chất và lượng trong một sự vật: Chất và lượng là hai
mặt thống nhất hữu cơ với nhau. Chất nào có lượng đó; lượng nào có chất đó. Chất
và lượng có sự phù hợp với nhau. Sự phù hợp này diễn ra trong một phạm vi, giới
hạn nhất định gọi là “độ”. Độ là phạm vi, giới hạn trong đó lượng đổi chưa làm chất thay đổi.
+ Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay
đổi về chất: Sự phát triển bắt đầu từ sự thay đổi về lượng. Lượng biến đổi trong
phạm vi “độ” chưa làm chất thay đổi. Vượt quá độ, sự biến đổi về lượng dẫn đến
sự thay đổi về chất. Chất cũ mất đi, chất mới ra đời. Sự thay đổi về chất gọi là
bước nhảy. Điểm diễn ra bước nhảy gọi là điểm nút.
+ Quá trình chuyển hóa từ những thay đổi về chất thành những sự thay đổi
về lượng: Chất mới ra đời thúc đẩy quá trình biến đổi về lượng với quy mô và tốc
độ cao hơn. Bởi vì trong phạm vi chất cũ, lượng biến đổi đến một giới hạn nhất
định thì bị chất cũ kìm hãm. Do đó, thay chất cũ bằng chất mới là phá bỏ sự kìm
hãm đó. Mặt khác, chất mới cần được kết hợp với lượng mới.
+ Bước nhảy và các hình thức của bước nhảy: Bước nhảy là sự thay đổi về
chất từ chất cũ sang chất mới. Bước nhảy có nhiều hình thức đa dạng phong phú 12
tùy theo bản chất của sự vật và điều kiện tồn tại của sự vật. Người ta chia bước
nhảy thành: Bước nhảy đột biến & Bước nhảy dần dần; Bước nhảy toàn bộ & Bước nhảy bộ phận.
b. Ý nghĩa phương pháp luận:
-Giúp ta hiểu được cách thức của sự phát triển. Chống lại các quan điểm
duy tâm, siêu hình. (Quan điểm siêu hình chỉ thừa nhận sự thay đổi về lượng, phủ
nhận sự thay đổi về chất; không thừa nhận cái mới, cái tiến bộ tất yếu thay thế cái
cũ, lạc hậu và cho rằng cái mới ra đời là ngẫu nhiên hoặc do nguyên nhân bên ngoài).
-Trong hoạt động thực tiễn muốn có chất mới, cần phải có quá trình tích lũy
về lượng. Cần chống khuynh hướng bảo thủ, trì trệ, tranh thủ tạo ra những bước
nhảy để thúc đẩy sự vật phát triển tiến lên. Đồng thời, phải chống lại bệnh chủ
quan nóng vội, duy ý chí, thực hiện bước nhảy khi chưa có sự chín muồi về lượng
và bất chấp những điều kiện tồn tại cụ thể của sự vật, hiện tượng.
-Kết hợp tinh thần cách mạng với khoa học nghiêm túc.
Nôi dung 7: Nô i dung v % ngha phương php luâ n ca cc că p phm trG:
Ci chung v ci riêng, Nguyên nhân v kt qu6, Nô i dung v hình th8c a. Cái chung và cái riêng Khái niệm
+ Cái chung là những đặc điểm được lặp lại ở nhiều sự vật riêng
+ Cái riêng là khái niệm chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình độc lập 13
+ Cái đơn nhất là cái chỉ có ở một cái riêng cuả nó mà không lặp lại ở nơi
khác. Đây là nét độc đáo tạo ra bản sắc riêng của từng người làm cho không ai giống ai.
Quan điểm duy vật biện chứng về cái chung và cái r iêng:
+ Cho rằng cả cái chung và cái riêng đều có thật, trong đó cái chung chỉ tồn
tại trong từng cái riêng, không có cái chung nào nằm ngoài cái riêng.
+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn đến cái chung. Không có cái
riêng nào tồn tại quá độc lập với cái riêng khác.
+ Cái riêng không gia nhập hết vào cái chung, cái chung không bao quát hết
cái riêng. Cái riêng là cái toàn bộ, cái chung là cái bộ phận. Cái riêng phong phú
hơn cái chung, cái chung sâu sắc hơn cái riêng. Cái riêng là cái chung.
Ý nghĩa phương pháp luận của cặp p hạm trù:
+ Vì cái chung chỉ tồn tại trong từng cái riêng nên khi áp dụng cái chung
vào cái riêng cần tránh các sai lầm:
Đề cao cái chung thì mắc bệnh sách vở, giáo điều, máy móc, lí thuyết suông.
Đề cao cái riêng sẽ mắc bệnh cá nhân, địa phương, kinh nghiệm.
+ Lê-nin dạy: Trước khi bắt tay vào giải quyết việc riêng thì con người phải
giải quyết việc chung trước, nếu không chắc chắn sẽ thất bại.
b. Cặp phạm trù nguyên nhân và kết quả: Khái niệm
+ Nguyên nhân là sự tương tác giữa các mặt, các yếu tố bên trong sự vật và
gây ra một biến đổi nào đó. 14
+ Kết quả là biểu hiện của sự tương tác đó ra bên ngoài
Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kế t quả:
+ Nguyên nhân là cái có trước, kết quả là cái có sau, nhưng không phải cái
có trước nào cũng là nguyên nhân, mà phải gắn với điều kiện, các có trước sản sinh
ra kết quả trong một điều kiện xác định. Thiếu điều kiện đó thì không thể xác định
cái nào là nguyên nhâ, cái nào là kết quả.
+ Nguyên nhân giống nhau trong điều kiện giống nhau sẽ cho kết quả giống
nhau một cách tất yếu. Nhờ tính tất yếu này ta có thể dự kiến việc mình sắp làm
trong tương lai một cách khá chắc chắn để tránh bị động theo nguyên tắc “nhân
nào quả nấy”, “ gieo gió gặp bão”
+ 1 nguyên nhân có thể cho nhiều kết quả khác nhau. 1 kết quả có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra.
+ Kết quả sau khi ra đời tác động tích cực trở lại tới nguyên nhân, vì thế
con người cần tính toán sự tác động này.
Ý nghĩa phương pháp luận
+ Nhiệm vụ của khoa học là phải tìm ra nguyên nhân. Chỉ có một dấu hiệu
để phân biệt nguyên nhân là nguyên nhân có trước, kết quả có sau.
+ Muốn có một sự kiện sớm ra đời cần tạo ra nguyên nhân và điều kiện
tương ứng. Muốn nó không ra đời thì không tạo ra nguyên nhân và điều kiện tương ứng.
+ Đối với các hiện tượng xã hội thì ngoài nguyên nhân khách quan còn cần
phải có nguyên nhân chủ quan cùng với điều kiện tương ứng thì kết quả mới ra đời.
c. Cặp phạm trù nội dung và hình thức Khái niệm 15
+ Nội dung là tổng hợp tất cả các mặt, các yếu tố, bộ phận để tạo ra sự vật
+ Hình thức là phương thức liên kết các mặt, các yếu tố, bộ phận đó lại, làm
cho sự vật tồn tại và phát triển.
Mối liên hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
+ Nội dung và hình thức là 2 mặt đối lập để tạo nên 1 sự vật, trong mối
quan hệ này nội dung quyết định hình. Biểu hiện nội dung nào ứng với hình thức
ấy, nội dung biến đổi hình thức biến đổi theo, nội dung mất đi hình thức mất theo,
nội dung mới ra đời kéo theo hình thức mới ra đời.
+ Nội dung và hình thức có sự thống nhất mật thiết với nhau. Nôi dung nào
cũng được chchuwstrong hình thức nào đó, hình thức nào cũng chứa đựng nội
dung nào đó, không có hình thức trống rỗng cũng như không có hình thức chết.
+ Nội dung là cái bên trong, cái thường xuyên biến đổi. Hình thức là cái
bên ngoài, chậm biến đổi hơn. Do mâu thuẫn này dẫn đến 1 nội dung có thể được
chứa trong nhiều hình thức, vì vậy để phục vụ cho nội dung phát triển, ta cần sử
dụng linh hoạt nhiều hình thức khác nhau.
+ 1 hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung.
Ý nghĩa phương pháp luận
+ Để phục vụ cho sự vật phát triển cần tạo nên sự thống nhất hài hòa giữa
nội dung và hình thức, nếu đề cao một trong hai mặt đó sẽ mắc lỗi siêu hình máy
móc. Đề cao hình thức sẽ mắc bệnh hình thức qua loa đại khái, làm cho có, đặc
biệt là người của công chúng, người làm việc nghiêm túc phải chú ý hài hòa nội
dung và hình thức, nói đi đôi với làm, phải làm gương cho người khác noi theo. 16
+ Nếu đề cao nội dung mà quên mất hình thức thì hiệu quả công việc rất
kém, mặc dù nội dung quyết định hình thức nhưng hình thức cũng tác động tích
cực trở lại với nội dung làm tăng ưu điểm, giảm bớt nhược điểm của nội dung.
Nô i dung 8: Thc tiJn v vai trK ca thc tiJn đ3i vi nhâ n th8c Khái niệm thực tiễn:
Thực tiễn là toàn bộ các hoạt động mang tính vật chất khách quan của con
người nhằm tác động đến đối tượng để thỏa mãn nhu cầu con người.
Các hình thức của thực tiễn: có 3 hình thức
+ Lao động sản xuất: Là hình thức cơ bản nhất của thực tiễn vì từ đây nảy
sinh ra các hình thức khác, có thực mới vực được đạo, điều đó đã được Mác nói: “
Trước khi làm chính trị, làm pháp luật, làm đạo đức thì con người phải làm ra cái
ăn, mặc, ở, phương tiện đi lại. Muốn có thì phải lao động sản xuất. Đó là chân lí
đơn giản để tạo ra xã hội. Không có xã hội nào được xây dựng mà không có sản xuất.
+ Hoạt động chính trị-xã hội: Đây được coi là hình thức cao nhất của thực
tiễn vì nó có thể biến đổi từ hình thức xã hội này sang hình thức xã hội khác.
+ Thực nghiệm khoa học: Đây là hình thức đặc biệt của thực tiễn với mục
đích rút ngắn khoảng thời gian chinh phục thế giới.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
+ Thực tiễn là điểm xuất phát của nhận thức, mọi hoạt động của con người
đều xuất phát từ thực tiễn. Thực tiễn đề ra nhiệm vụ, yêu cầu, phương hướng để
nhận thức khoa học. Khi thực tiễn có nhu cầu, nó thúc đẩy khoa học phát triển
nhanh hơn hang nghìn trường đại học. 17
+ Theo Ang-ghen, ngay cả Toán học cũng ra đời từ nhu cầu thực tiễn( cân,
đo, đong, đếm). Khi thực tiễn có nhu cầu thì bằng cách nào đó con người cũng đáp
ứng được nhu cầu. điều đó cho thấy trí tuệ con người là cao siêu và tri thức có 1
tính chất đặc biệt là lấy không bao giờ hết. Ngày nay tri thức trở thành nguồn
nguyên liệu đặc biệt của nền kinh tế mới ( nền kinh tế tri thức)
+ Thực tiễn là mục đích của nhận thức. Mọi hoạt động của con người đều
hướng đến thực tiễn, thỏa mãn nhu cầu, mục đích con người. Vì con người hành
động theo lợi ích, ở đâu có lợi ích thì ở đó có con người. Thực tiễn trở thành điểm
đến và mục đích để con người hoạt động.
+ Thực tiễn là điểm cuối cùng làm nhiệm vụ kiểm tra nhận thức của con
người là đúng hay sai. Nếu đúng nó là chân lí, niềm tin; nếu sai nó buộc con người
phải nhận thức lại từ đầu. Tuy nhiên không phải thực tiễn nào cũng đủ sức kiểm tra
chân lí. Thực tiễn đang hoạt động mới có khả năng kiểm tra chân lí.
Nô i dung 9: Nô i dung, % ngha quy luâ t v! s phG hợp ca quan hê s6n xu"t
vi trình đô pht tri-n ca lc lượng s6n xu"t Các khái niệm
+ Lực lượng sản xuất là lực lượng mà xã hội dùng để tác động đến đối
tượng thỏa mãn nhu cầu con người.
+ Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất, được biểu hiện ở 3 quan hệ:
QH trong việc sở hữu tư liệu sản xuất
QH tổ chức phân công lao động
QH phân phối sản xuất 18 a. Nội dung
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là 2 mặt đối lập vừa thống nhất
vừa mâu thuẫn nhau. Quan hệ sản xuất được ví như hình thức, lực lượng sản xuất
được ví như nội dung. Vì vậy lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Lực
lượng sản xuất nào quan hệ sản xuất ấy, lực lượng sản xuất mất đi thì quan hệ sản
xuất mất theo, Lực lượng sản xuất mới ra đời thì quan hệ sản xuất mới cũng ra đời theo.
Quan hệ sản xuất chỉ phù hợp với trình độ của một lực lượng sản xuất
nhất định. Khi có sự phù hợp nó tạo ra 1 phương thức sản xuất của xã hội, lực
lượng sản xuất đại diện cho giai cấp lao động, quan hệ sản xuất đại diện cho giai
cấp bóc lột. Lực lượng sản xuất là mặt năng động, biến đổi thường xuyên, quan hệ
sản xuất chậm biến đổi hơn. Mâu thuẫn trên chính là mâu thuẫn giai cấp, muốn giải
quyết được phải đấu tranh giai cấp, đỉnh cao là cách mạng xã hội. Cuộc cách mạng
xóa bỏ quan hệ, phương thức sản xuất cũ để mở đường cho xã hội đi lên.
Tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất: theo 2 hướng
+ Khi QHSX phù hợp với trình độ sản xuất của lực lượng lao đông thì nó
thúc đẩy xã hội phát triển
+ Khi QHSX không phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm xã hội
b. Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật này là biểu hiện của quy luật mâu thuẫn trong xã hội, nó chỉ ra
nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển loài người. Dưới sự tác động của
quy luật này loài người đi qua 5 phương thức sản xuất ứng với 5 hình thái kinh tế 19
xã hội: nguyên thủy – chiếm hữu nô lệ -phong kiến – tư bản chủ nghĩa – xã hội chủ
nghĩa như 1 quá trình lịch sử tự nhiên
Nô i dung 10: Quan hê biê n ch8ng gia cơ sM h tNng v kin trOc thượng
tNng ca xP hô i. Q ngha phương php luâ n Khái niệm
+ Cơ sở hạ tầng là toàn bộ các quan hệ sản xuất hợp thành 1 cơ cấu kinh tế
của 1 xã hội nhất định. Cấu trúc gồm 3 quan hệ sản xuất: quan hệ sản xuất thống
trị, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mới tồn tại dưới hình thái mầm
mống, đại biểu cho sự phát triển của xã hội tương lai.
+ Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ các hiện tương bên trên của xã hội bao
gồm: các tư tưởng xã hội, các thể chế tương ứng, các quan hệ giữa các bộ phận
trong kiến trúc thượng tầng được dựng lên trên 1 cơ sở hạ tầng nhất định.
Quan hệ giữa CSHT và KTTT
+ CSHT quyết định KTTT, CSHT nào KTTT ấy, CSHT cũ mất đi thì
KTTT cũ cũng mất theo, CSHT mới xuất hiện thì KTTT mới cũng xuất hiện theo.
Nếu CSHT có mâu thuẫn, nó phản ánh lên KTTT và KTTT phải tìm cách giải
quyết để tránh mất ổn định xã hội.
+ Tác động trở lại của KTTT đến CSHT theo 2 hướng: Nếu các cách từ
trung ương đưa xuống phản ánh đúng quy luật khách quan có lợi cho dân từ đó
thúc đẩy xã hội. Ngược lại chính sách đó trái quy luật, không có lợi cho dân sẽ kìm
hãm sự phát triển của xã hội, thậm chí kéo lùi lịch sử.
CSHT ở Việt Nam hiện nay: Chủ trương giải phóng sức lao động, khuyến
khích làm giàu đúng pháp luật, tạo sân chơi bình đẳng cho các thành phần kinh tế
để giải phóng năng lực sản xuất. 20