21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Đề cảnhhỏi tự luận môn cơ
sở hữu văn bản
Câu 1: Bối cảnh và đặc điểm văn hóa thời gian Lý - Trần:
* Cảnh quan:
- Thời tự chủ của quốc gia Đại Việt kéo dài cứng rắn gần một thiên niên kỷ, từ
năm 938 cho đến năm 1858. Các vương triều liên tục thay thế lẫn nhau
xây dựng một chủ nhà quốc gia nhưng vẫn không làm được giai đoạn lịch sử
tạo lịch sử là một dòng liên tục.
- Đồng thời ở giai đoạn này, nhân dân và vương triều phải liên tục
bảo vệ mình và bảo vệ cộng đồng, quốc gia khỏi bị xâm chiếm bởi âm mưu
và hủy bỏ nền văn hóa dân tộc của quân đội phương Bắc. Với tinh thần
nồng nàn yêu nước, nhân dân không chỉ bảo vệ được nền văn hóa Việt
mà còn làm cho nó tỉnh dậy, tăng đến đỉnh cao mà mở đầu giai đoạn
đoạn này là sự hưng phấn văn hóa lần thứ nhất vào thời Lý-Trần. Sự kiện
hưng này diễn ra sau khi đất nước được giải phóng khỏi ách Bắc thuộc.
* Đặc điểm: Sau khi giải phóng khỏi ách Kẹp của Bắc thuộc cùng nghề
đặt đô về Đại La đổi tên thành Thăng Long , nhà Lý đã mở đầu cho giai đoạn
hưng phấn của văn hóa Đại Việt. Nhà Trần tiếp tục sự nghiệp của nhà Lý, đưa ra
đất nước phát triển về mọi mặt.
- Về văn hóa bảo tàng:
+ Sau khi nhà Lý xây dựng nhiều điện, bão hoàng, thành lũy.
Tiêu biểu như Hoàng thành Thăng Long là một công cụ xây dựng
xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong kiến.
+ Kiến trúc thời sự Lý phát triển rất mạnh và là các công trình có quy định
lớn hơn. Nói đến mỹ thuật thời nay chủ yếu là kiến trúc ở các ngôi
chùa và tượng phật, bởi các công trình đều có sự hòa hợp với cảnh quan
thiên nhiên xung quanh. Tiêu thụ các biểu tượng của nhà lý lịch còn lại
thời nay như chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Dạm,...
+ Hình tượng con rồng thời Lý cũng khá độc đáo, phải kể đến như
Rồng ngọc tại Hoàng thành Thăng Long. điêu khắc nghệ thuật
khắc trên đá, trên gốm có thể tạo ra một phong cách đặc biệt và motj
tay nghề khá thuần thục. Bố trí địa tượng gọn gàng, đẹp và cân bằng nhưng
không lặp lại vòng lặp và đơn điệu. Từ chi tiết được chạm nhẹ nhàng, những
đường cong mềm, mẹo miêu tả vẫn thanh thoát, nhẹ nhàng.
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
+ Cùng với kiến trúc, các nghề thủ công rất phát triển ở thời Lý,
như nghề dệt, gốm, thủ công mỹ nghệ,... Nghề dệt có nhiều
thành phần: các loại vải, lụa hay gấm được các thợ thủ công làm ra
đủ màu sắc và họa tiết trang trí đặc biệt. Nghề thủ công cũng có bước
phát triển khá dài và đạt được tiến độ cao : loại gạch ngói
bằng sứ trắng, tráng men, khổ lớn có trang trí và niên hiệu
Thời Lý.
+ Còn lại về nghệ thuật điêu khắc ở thời Trần lại mang tính chất phóng xạ
khoáng, khỏe và thực sự hơn. Nghề thủ công đã có những bước phát triển
phát triển mới, hình thành những làng nghề chuyên sản xuất một mặt
hàng nhất định, không có chợ duy nhất mà còn có phường thủ công hay
phố xá bán.
- Về phía trước: đặc trưng nổi trội thời Lý- Trần là sự dung hòa tam giáo
(Nho - Phật - Đạo) hay còn được gọi là chính sách tam giáo đồng nguyên.
+ Trước kia nói về đến thế kỷ X, tôn giáo này đã cóPhật giáo,
những bước phát triển lớn, nhiều chùa chiền xuất hiện. Nhà vua và
các tầng quý tộc rất quý đạo Phật. Bằng chứng là năm
1031, triều đình nhà Lý bỏ tiền ra xây dựng 950 chùa. Năm 1129,
mở lễ khánh thành 84000 bảo tháp. Đồng thời, các nhà phát triển và
tín dụng lập kế hoạch phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Với
những người trí thức Phật giáo, Phật giáo đã bỏ bỏ những nhân tốt
thụ động để tham gia vào giải phóng doanh nghiệp và xây dựng đất
nước. Phật giáo giai đoạn này còn tác động đến tư tưởng, tâm lý,
phong tục và nếp sống của đông đảo nhân dân các làng xã, ảnh
ảnh hưởng lớn đến kiến trúc, điêu khắc, thơ văn và nghệ thuật.
+ Kế thừa và tiếp thu thêm những nhân tố từ bi, bác ái của nhà Phật
phù hợp với tâm tư nguyện vọng của đời sống người Việt, Nho
văn thời kỳ tự chủ chưa đủ mạnh nhưng nó có cùng chữ
Hán tồn tại trong xã hội Việt Nam như một hiện tượngnải.
Chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần Nho giáo mới bắt đầu. Để
đào tạo nhân tài và tuyển nữ quan lại cho bộ máy hành chính, nhà
Lý do bắt đầu chăm lo cho việc học tập và thi cử:
- Năm 1070, nhà dựng Văn Miếu, mở Quốc Tử Giám.
- Năm 1075, triều đình ở khoa thi đầu để lựa chọn nhân tài.
Từ đây Nho giáo bắt đầu có vị trí trong xã hội.
+ Đến nhà Trần, vương triều đã chính quy hóa, tạo ra quy củ cho việc
học hành, thi cử, lập quốc học viện cho con em quan lại quý tộc
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
vào học và các trường học ở xóm làng. Năm 1247, nhà Trần
danh hiệu tam khôi phục cho 3 người đỗ xuất sắc trong các kỳ
thị Đình. Thể loại kỳ thi, học vị trí được định nghĩa, tầng lớp xuất lại
thân từ Nho sĩ ngày càng đông đảo. Nho giáo dục phát triển lấn át
trời giáo.
- Nền tảng văn hóa hóa học hình thành và phát triển:
+ Nền văn học chữ viết được hình thành với một đội ngũ giả hùng
hậu,phát triển cả về số lượng và chất lượng ở cả hai hình thức chữ
Hán và chữ Nôm. Đáng lưu ý nhất là bài thơ quốc sơn hà của Lý
Thường Kiệt và Chiếu đô của Lý Công Uẩn. Ở Trần thời gian, đa số
các nhân đa phần này là các nho sĩ,nổi tiếng với các tên tuổi như
Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khánh,…
+ Cùng với các môn học, các ngành nghệ thuật như ca, múa, nhạc, chèo,
tuồng cũng ra đời và phát triển trên cơ sở khai thác những giá trị
của kho văn hóa dân gian, thu hóa những thành phẩm văn hóa
bác học Trung Hòa, Ấn Độ.
Câu 2: Tín ngưỡng: khái niệmm, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng
thờ tổ tiên, tín hiệu thờ Thành Hoàng Làng
* là niềm tin của con người được hiện thông quaKhái niệm tín ngưỡng:
những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thông để mang lại sự bình yên
an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng . Niềm tin này được gắn với siêu nhiên liệu
nhưng lưu trữ chỉ trong một vùng lãnh thổ hoặc trong một cộng đồng dân cư
chúng tôi định nghĩa nhất. Có thể coi ngưỡng tín hiệu là dạng thấp hơn tôn giáo, hay có
có thể gọi tín ngưỡng là cơ sở dẫn đến mọi tôn giáo.
Việt Nam ta là đất nước có tín ngưỡng tôn giáo vô cùng đa dạng, người
dân có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng lâu đời. Ngưỡng tín hiệu
dân gian của người Việt luôn gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh, trong số
nổi bật phải kể đến là tín hiệu của Thành Hoàng làng.
Trước đây ta đã biết tín ngưỡng là thần thánh hóa, thiêng hóa của
con người đối với một hay nhiều hiện tượng, nhân vật nào đó. Ngưỡng tín hiệu
dân gian Việt Nam đều bắt nguồn từ các quan niệm dân gian, ví dụ: “Cây Bình
có ma, cây đa có thần”, từ nỗi sợ hãi, con người tăng tin tưởng và sùng bái các sự sự
vật tự nhiên. Trong nền văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng dân gian có một vị trí
quan trọng và được xem như một loại hình tôn giáo không có tổ chức tốt nhất
định nghĩa. Bằng tín ngưỡng tín hiệu, người Việt luôn hướng dẫn những điều tốt đẹp,
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
thể tôn kính, biết ơn đối với ông bà, tổ tiên, những người có công với
làng quê, đất nước.
Và một trong số những tín hiệu quan trọng nhất, tồn tại lâu đời nhất
là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, tín ngưỡng này là tiêu chuẩn cho sự linh thiêng
hoạt động, tổng hợp trong văn hóa của người Việt Nam ta. Ngưỡng tín hiệu
Thành hoàng làng vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, trong đó từ “thành” là
thành trì, hoàngg là hào để bảo vệ thành trì. Ngay từ nhà Chu, người ta
đã xây dựng miếu để thờ thần bảo vệ cho thành trì của mình, vị thần được gọi là
Thành hoàng. Cho đến thời Tùy – Đường,Tiếp tục tôn vinh Thành hoàng nên phổ biến
biến và phát triển hơn, cũng trong thời gian đó, tín hiệu này được đưa vào
Việt Nam đầu tiên được tạo bởi quan nhà Đường là Lí Viên Cát. Sau đó, vua Lí
Công Uẩn cũng lập đền thờ Bạch Mã thờ Hoàng đế để bảo vệ kinh đô.
Từ đô thị, tín ngưỡng tôn giáo Thành hoàng đã len lỏi và được truyền về
nông thôn, tạo lập hệ thống các Thành hoàng làng. Khi đặt ngưỡng tín hiệu
Thành hoàng về đến nông thôn, nó hòa hòa với tín ngưỡng thờ thần vốn
có làng để tạo ra các Thành hoàng làng, làm nên một làng có thể thờ nhiều vị trí
thần nhưng chỉ có một vị trí thần duy nhất được thờ ở đình và mỗi làng thờ
một Thành hoàng riêng: “Trống làng nào làng đánh đánh, thánh làng nào làng ấy
thờ”. Thành hoàng làng có thể có nhiều thân như Thiên thần, Nhiên thần
và Nhân thần. Và Nhân thần là những vị thần sử dụng đông lạnh, là người thường
được thiêng hóa lên, trong đó có Chính thần là các vị anh hùng có công với đất
nước. Tiêu biểu như đình đình Phú Điền – Thanh Hóa tôn giáo Bà Triệu là
Thành Hoàng làng. Còn một số làng thờ các tổ nghề như cụ tổ nghề thợ thủ công
Bát Tràng là Hứa Vĩnh Kiều.
Đi cùng tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là xã hội, lễ hội ở làng xã là
môi trường để thực hiện ngưỡng tín hiệu ở làng xã. Tiêu dùng trong đó có thể kể đến
là hội làng Diềm ở làng Viêm Xá, thành phố Bắc Ninh nhắm tưởng tượng công
ơn tạo ra làn sóng mưa quan họ Bắc Ninh của Thành hoàng Vua Bà. Trong các ngày
hội, nhân dân thường có lễ “mật” (bí mật) và tục “hèm”) gắn
một
với vị trí thần thoại của làng đó. Mặc dù triều đình chỉ cho phép nhân dân thờ Chính
thần làm bấy giờ Nho giáo là quốc giáo, nhưng việc thực hiện nghi lễ này chính
là ví dụ tiêu biểu cho tính tự trị của làng xã, là minh chứng cho câu thơ “Phép
vua thua cuộc”.
Như vậy, ta có thể nói, ngưỡng tín hiệu của Thành hoàng là sự kết hợp đỉnh cao của
tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng bái thần linh. Thư mục
Thành hoàng làng là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc, nó
thể hiện thức thức biết ơn đối với những người có công xã xã, cùng với
đó là ý thức tập trung truyền bá xã hội và tập đoàn của nhân dân.
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng chính là tinh hoa chắt lọc qua suốt chiều dài
lịch sử biểu tượng cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vinh quang và tinh thần
hạnh phúc.
Câu 3: Đặc trưng giao tiếp văn hóa của người Việt
Bản chất con người được hiển thị rõ ràng trong giao tiếp tiếp theo, trong hệ thống nhất
giữa con người với con người.
Trước đó, bình luận về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, có
đặc điểm của người Việt Nam có thể được tìm thấy vừa phải , vừa phi
Đèn.
Như đã nói, người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và
rất quan trọng việc giữ các loài mối quan hệ tốt với mọi thành viên
trong cộng đồng, là nguyên nhân tạotính cộng đồng chính này
người Việt Nam đặc biệt Tạo giao tiếp tiếp theocoi trọng công việc giao tiếp.
ra mối quan hệ, củng cố tình thân, năng lực giao tiếp được người
Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người. Vì coi
giao tiếp quan trọng cho người Việt Nam rất Jobthích giao tiếp.
thích giao tiếp này có thể hiện chủ yếu ở hai điểm:
- Từ góc của mình, chủ thể giao tiếp , thì người Việt Nam có
tính . Người đã là người Việt Nam, đồng thời,thích thăm viếng
thì cho dù hàng ngày có gặp nhau ở đâu, bao nhiêu lần đi nữa,
những lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm nhau. Thăm hỏi nhau ở đây
không còn là nhu cầu công việc mà là biểu hiện của tình cảm, tình cảm
nghĩa là có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.
- Với giao tiếp đối tượng thì người Việt Nam có . Cótính khách
khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo
Khó đến đâu, cũng cố gắng tiếp tục đón nhận một cách chug và tiếp đãi
một cách tăng cường, dành cho các tiện ích tốt nhất, các đồ họa
ăn ngon nhất.
Đồng thời với công việc thích tiếp theo, người Việt Nam lại có một đặc tính gần giống như
ngược lại là . Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách này chính là bắt
Nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự động
trị.
Đúng là người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao ttiếp, nhưng đó là khi mình tìm thấy
đang ở nơi trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, tính cộng đồng ngự trị.
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Trong khi đó, out of range of cộng đồng, before những người lạ, nơi tkính
tự phát huy tác dụng thì người Việt Nam, ngược lại, bao giờ cũng tỏ ra rất tỉnh táo
nốt Rê. Đó là biểu hiện cho cách của người Việt Nam.xử lý hoạt động linh hoạt
Tiếp theo, chú ý về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc sản
điểm quan trọng đã dẫn người Việt Nam tới phòng lấy tình cảm – lấy sự yêu thích
Ghét – làm nguyên tắc xử lý trong giao tiếp tiếp theo . Người Việt Nam luôn nhắc nhở
nhắc nhau coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời. Trong gia đình thì “ Vợ chồng là
nghĩa ở đời, Ai ơi đừng nói những lời thiệt hơn” ai giúp(ca dao). Ngoài xã hội,
mình một chút gì cũng phải nhớ ơn; ai bảo ban mình một chút gì cũng đều tôn làm
thầy.
Với giao tiếp đối tượng, người Việt Nam có thói quen tìm hiểu, quan sát,
đánh giá… Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia
đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/chồng chưa, có con chưa, vài trai mấy
gái…) là những vấn đề mà người Việt Nam thường quan tâm. Đặc tính này chính là
một sản phẩm nữa của tính cộng đồng làng xã. Tính cộng đồng, user Việt
Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác mà muốn quan tâm
thì cần phải biết hoàn cảnh. làm phân biệt các quan hệ xã hội, mỗiMặt khác,
cặp giao tiếp đều có những cách tự hào riêng, bạn muốn chọn được từ Ngọc hô
để hợp lý thì cần phải có đủ thông tin cần thiết về cá nhân đối thoại
Conversation. Tính hay quan sát người Việt Nam có được một kho kinh nghiệm
xem tướng hết sức phong phú: chỉ cần nhìn vào cái mặt, cái mũi, con mắt… là
con người đã được biết cách tính toán.
Tính cộng đồng còn làm cho người Việt Nam, dưới góc máy chủ
tiếp, có đặc điểm là : Như đã nói, danh dự được người Việt Namdanh dự
Gắn với năng lượng giao tiếp: Lời nói ra để lấy lại dấu vết, tạo thành tăm, nó
được truyền tải tới nhiều người, tạo nên tiếng vang. Chính vì quá quan trọng
dự phòng người Việt Nam mắc . Ở làng quê, tu sĩ có thể hiện diệnbệnh bác sĩ
trầm trọng ở nơi lệ nơi đình trung là tiếp tục chia phần. Các cụ già bảy tám
tam, tuy ăn không ăn được, nhưng vì danh dự (sĩ diện), vẫn có thể giao tiếp
nhau vì miếng ăn. Lực lượng sát thủ quen thuộc ta phải sống và hành động khác
mình, nhiều khi giả dối với chính mình. Lối vào dự án, tr2, 1
dẫn đến cơ chế tin đồng, tạo nên dư luận như một vũ khí lợi hại bậc nhất của
cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã. “Người ta chỉ thước theo dư luận
mà sống chứ ai thưởng lên dư luận mà đi theo ý mình”.
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng hòa hòa
thuận . Lối đi tiếp tế nhị, ý tứ suy Người Việt Nam có thói quen giao tiếp
“vòng vo tam quốc”, không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề.
Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải xác nhận yêu cầu điền, hỏi thăm
nhà cửa ruộng vườn. Lối đi tiếp “vòng vo tam quốc” kết hợp với nhu cầu tìm
Hiểu về giao tiếp tạo đối tượng ở người Việt Nam quen thuc với câu hỏi
“chào” đi liền với “hỏi” : Ban“Bác đi đâu đấy?”, “Cụ đang làm gì đấy?”…
đầu, hỏi là để có thông tin, tăng dần trở thành một thói quen, người ta hỏi mà
không cần nghe trả lời và hoàn toàn hài lòng với những câu “trả lời” kiểu: “Tôi
đi đằng sau một cái” hoặc trả lời bằng cách hỏi lại, đưa ra giới hạn, với câu hỏi: Cụ
đang làm gì đấy?, có thể trả lời: Vâng, bác đi đâu đấy? Lối đi tiếp theo có ý nghĩa nguy hiểm
tứ sản phẩm lối sống tình tình và lối tư duy coi quan của mối mối quan hệ
hệ (tư duy tổng hợp, chứng minh). Nó tạo ra một thói quen cân đo nhắc nh
kỹ năng nói . Chính sự cân đo cân nhắc này tạo ra cho người Việt
Nam có nhược điểm là .thiếu tính toán
Để tránh phải quyết định, và đồng thời để không làm mất lòng ai, để giữ được
sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất . Nụ cười là một bộ phậnhay cười
quan trọng trong giao tiếp quen thuộc của người Việt; người ta có thể mỉm cười
Việt Nam vào cả những lúc chờ đợi nhất. Tâm lý quan trọng hòa thuận
người Việt Nam luôn tài khoản rảnh .ri nhau
Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức nói rất phong phú.
- Trước hết, đó là sự phong phú trong hệ thống hò hô tiếng Việt: Trong
khi các ngôn ngữ khác chỉ sử dụng đại từ nhân vật thì tiếng Việt,
ngoài các đại từ nhân ngựa (mà số lượng cũng rất phong phú do có nhiều
biến thể), nhưng sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng
(anh, chị - em; ông, bà, bác, cô, dì, chú - cháu, con…) và một số danh từ
chỉ nghề nghiệp, chức vụ (thầy, cô, bác sĩ, ông cai, ông lý, ông huyện,
ông hoàng…) để thay thế cho đại từ, chúng ta trở thành thành viên của đại từ hóa,
những từ đại từ hóa này có xu hướng lấn át các đại từ nhân vật Kiểm.
- Tiếng Việt có tổng cộng trên 60 từ Ngọc hô. Hệ thống tiền cực
bất kỳ phong phú này có thể hiện rõ các đặc tính của văn hóa nông nghiệp
Việt Nam: Có tính chất thân mật hóa cao, có tính chất cụ thể hóa cao, có
tính xã hội hóa cao , có tính đa nghĩa cao, có tính tôn ti, nhưng đồng thời
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
lại vẫn rất dân chủ, thể hiện tâm lý thoải mái, tỉnh hòa hòa thuận
(Hòa).
Liên hệ:
- Tính khách, khách nước ngoài đến Việt Nam
- Trông mặt mà bắt hình đồng
- Sự phân biệt đẳng cấp xã hội vô cùng sâu sắc ở Hàn Quốc
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu

Preview text:

21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Đề cảnhhỏi tự luận môn cơ sở hữu văn bản
Câu 1: Bối cảnh và đặc điểm văn hóa thời gian Lý - Trần: * Cảnh quan:
- Thời tự chủ của quốc gia Đại Việt kéo dài cứng rắn gần một thiên niên kỷ, từ
năm 938 cho đến năm 1858. Các vương triều liên tục thay thế lẫn nhau
xây dựng một chủ nhà quốc gia nhưng vẫn không làm được giai đoạn lịch sử
tạo lịch sử là một dòng liên tục.
- Đồng thời ở giai đoạn này, nhân dân và vương triều phải liên tục
bảo vệ mình và bảo vệ cộng đồng, quốc gia khỏi bị xâm chiếm bởi âm mưu
và hủy bỏ nền văn hóa dân tộc của quân đội phương Bắc. Với tinh thần
nồng nàn yêu nước, nhân dân không chỉ bảo vệ được nền văn hóa Việt
mà còn làm cho nó tỉnh dậy, tăng đến đỉnh cao mà mở đầu giai đoạn
đoạn này là sự hưng phấn văn hóa lần thứ nhất vào thời Lý-Trần. Sự kiện
hưng này diễn ra sau khi đất nước được giải phóng khỏi ách Bắc thuộc.
* Đặc điểm: Sau khi giải phóng khỏi ách Kẹp của Bắc thuộc cùng nghề
đặt đô về Đại La đổi tên thành Thăng Long , nhà Lý đã mở đầu cho giai đoạn
hưng phấn của văn hóa Đại Việt. Nhà Trần tiếp tục sự nghiệp của nhà Lý, đưa ra
đất nước phát triển về mọi mặt.
- Về văn hóa bảo tàng:
+ Sau khi nhà Lý xây dựng nhiều điện, bão hoàng, thành lũy.
Tiêu biểu như Hoàng thành Thăng Long là một công cụ xây dựng
xây dựng thành lũy lớn nhất trong các triều đại phong kiến.
+ Kiến trúc thời sự Lý phát triển rất mạnh và là các công trình có quy định
lớn hơn. Nói đến mỹ thuật thời nay chủ yếu là kiến trúc ở các ngôi
chùa và tượng phật, bởi các công trình đều có sự hòa hợp với cảnh quan
thiên nhiên xung quanh. Tiêu thụ các biểu tượng của nhà lý lịch còn lại
thời nay như chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Dạm,...
+ Hình tượng con rồng thời Lý cũng khá độc đáo, phải kể đến như
Rồng ngọc tại Hoàng thành Thăng Long. điêu khắc nghệ thuật
khắc trên đá, trên gốm có thể tạo ra một phong cách đặc biệt và motj
tay nghề khá thuần thục. Bố trí địa tượng gọn gàng, đẹp và cân bằng nhưng
không lặp lại vòng lặp và đơn điệu. Từ chi tiết được chạm nhẹ nhàng, những
đường cong mềm, mẹo miêu tả vẫn thanh thoát, nhẹ nhàng. 21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
+ Cùng với kiến trúc, các nghề thủ công rất phát triển ở thời Lý,
như nghề dệt, gốm, thủ công mỹ nghệ,... Nghề dệt có nhiều
thành phần: các loại vải, lụa hay gấm được các thợ thủ công làm ra
đủ màu sắc và họa tiết trang trí đặc biệt. Nghề thủ công cũng có bước
phát triển khá dài và đạt được tiến độ cao : loại gạch ngói
bằng sứ trắng, tráng men, khổ lớn có trang trí và niên hiệu Thời Lý.
+ Còn lại về nghệ thuật điêu khắc ở thời Trần lại mang tính chất phóng xạ
khoáng, khỏe và thực sự hơn. Nghề thủ công đã có những bước phát triển
phát triển mới, hình thành những làng nghề chuyên sản xuất một mặt
hàng nhất định, không có chợ duy nhất mà còn có phường thủ công hay phố xá bán. - Về phía trước:
đặc trưng nổi trội thời Lý- Trần là sự dung hòa tam giáo
(Nho - Phật - Đạo) hay còn được gọi là chính sách tam giáo đồng nguyên.
+ Trước kia nói về Phật giáo, đến thế kỷ X, tôn giáo này đã có
những bước phát triển lớn, nhiều chùa chiền xuất hiện. Nhà vua và
các tầng quý tộc rất quý đạo Phật. Bằng chứng là năm
1031, triều đình nhà Lý bỏ tiền ra xây dựng 950 chùa. Năm 1129,
mở lễ khánh thành 84000 bảo tháp. Đồng thời, các nhà phát triển và
tín dụng lập kế hoạch phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Với
những người trí thức Phật giáo, Phật giáo đã bỏ bỏ những nhân tốt
thụ động để tham gia vào giải phóng doanh nghiệp và xây dựng đất
nước. Phật giáo giai đoạn này còn tác động đến tư tưởng, tâm lý,
phong tục và nếp sống của đông đảo nhân dân các làng xã, ảnh
ảnh hưởng lớn đến kiến trúc, điêu khắc, thơ văn và nghệ thuật.
+ Kế thừa và tiếp thu thêm những nhân tố từ bi, bác ái của nhà Phật
phù hợp với tâm tư nguyện vọng của đời sống người Việt, Nho
văn
thời kỳ tự chủ chưa đủ mạnh nhưng nó có cùng chữ
Hán tồn tại trong xã hội Việt Nam như một hiện tượngnải.
Chế độ giáo dục và thi cử theo tinh thần Nho giáo mới bắt đầu. Để
đào tạo nhân tài và tuyển nữ quan lại cho bộ máy hành chính, nhà
Lý do bắt đầu chăm lo cho việc học tập và thi cử:
- Năm 1070, nhà dựng Văn Miếu, mở Quốc Tử Giám.
- Năm 1075, triều đình ở khoa thi đầu để lựa chọn nhân tài.
Từ đây Nho giáo bắt đầu có vị trí trong xã hội.
+ Đến nhà Trần, vương triều đã chính quy hóa, tạo ra quy củ cho việc
học hành, thi cử, lập quốc học viện cho con em quan lại quý tộc 21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
vào học và các trường học ở xóm làng. Năm 1247, nhà Trần
danh hiệu tam khôi phục cho 3 người đỗ xuất sắc trong các kỳ
thị Đình. Thể loại kỳ thi, học vị trí được định nghĩa, tầng lớp xuất lại
thân từ Nho sĩ ngày càng đông đảo. Nho giáo dục phát triển lấn át trời giáo.
- Nền tảng văn hóa hóa học hình thành và phát triển:
+ Nền văn học chữ viết được hình thành với một đội ngũ giả hùng
hậu,phát triển cả về số lượng và chất lượng ở cả hai hình thức chữ
Hán và chữ Nôm. Đáng lưu ý nhất là bài thơ quốc sơn hà của Lý
Thường Kiệt và Chiếu đô của Lý Công Uẩn. Ở Trần thời gian, đa số
các nhân đa phần này là các nho sĩ,nổi tiếng với các tên tuổi như
Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Nguyễn Phi Khánh,…
+ Cùng với các môn học, các ngành nghệ thuật như ca, múa, nhạc, chèo,
tuồng cũng ra đời và phát triển trên cơ sở khai thác những giá trị
của kho văn hóa dân gian, thu hóa những thành phẩm văn hóa
bác học Trung Hòa, Ấn Độ.
Câu 2: Tín ngưỡng: khái niệmm, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng
thờ tổ tiên, tín hiệu thờ Thành Hoàng Làng

* Khái niệm tín ngưỡng: là niềm tin của con người được hiện thông qua
những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thông để mang lại sự bình yên
an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng . Niềm tin này được gắn với siêu nhiên liệu
nhưng lưu trữ chỉ trong một vùng lãnh thổ hoặc trong một cộng đồng dân cư
chúng tôi định nghĩa nhất. Có thể coi ngưỡng tín hiệu là dạng thấp hơn tôn giáo, hay có
có thể gọi tín ngưỡng là cơ sở dẫn đến mọi tôn giáo.
Việt Nam ta là đất nước có tín ngưỡng tôn giáo vô cùng đa dạng, người
dân có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng lâu đời. Ngưỡng tín hiệu
dân gian của người Việt luôn gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh, trong số
nổi bật phải kể đến là tín hiệu của Thành Hoàng làng.
Trước đây ta đã biết tín ngưỡng là thần thánh hóa, thiêng hóa của
con người đối với một hay nhiều hiện tượng, nhân vật nào đó. Ngưỡng tín hiệu
dân gian Việt Nam đều bắt nguồn từ các quan niệm dân gian, ví dụ: “Cây Bình
có ma, cây đa có thần”, từ nỗi sợ hãi, con người tăng tin tưởng và sùng bái các sự sự
vật tự nhiên. Trong nền văn hóa Việt Nam, tín ngưỡng dân gian có một vị trí
quan trọng và được xem như một loại hình tôn giáo không có tổ chức tốt nhất
định nghĩa. Bằng tín ngưỡng tín hiệu, người Việt luôn hướng dẫn những điều tốt đẹp, 21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
thể tôn kính, biết ơn đối với ông bà, tổ tiên, những người có công với làng quê, đất nước.
Và một trong số những tín hiệu quan trọng nhất, tồn tại lâu đời nhất
là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, tín ngưỡng này là tiêu chuẩn cho sự linh thiêng
hoạt động, tổng hợp trong văn hóa của người Việt Nam ta. Ngưỡng tín hiệu
Thành hoàng làng vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, trong đó từ “thành” là
thành trì, hoàngg là hào để bảo vệ thành trì. Ngay từ nhà Chu, người ta
đã xây dựng miếu để thờ thần bảo vệ cho thành trì của mình, vị thần được gọi là
Thành hoàng. Cho đến thời Tùy – Đường,Tiếp tục tôn vinh Thành hoàng nên phổ biến
biến và phát triển hơn, cũng trong thời gian đó, tín hiệu này được đưa vào
Việt Nam đầu tiên được tạo bởi quan nhà Đường là Lí Viên Cát. Sau đó, vua Lí
Công Uẩn cũng lập đền thờ Bạch Mã thờ Hoàng đế để bảo vệ kinh đô.
Từ đô thị, tín ngưỡng tôn giáo Thành hoàng đã len lỏi và được truyền về
nông thôn, tạo lập hệ thống các Thành hoàng làng. Khi đặt ngưỡng tín hiệu
Thành hoàng về đến nông thôn, nó hòa hòa với tín ngưỡng thờ thần vốn
có làng để tạo ra các Thành hoàng làng, làm nên một làng có thể thờ nhiều vị trí
thần nhưng chỉ có một vị trí thần duy nhất được thờ ở đình và mỗi làng thờ
một Thành hoàng riêng: “Trống làng nào làng đánh đánh, thánh làng nào làng ấy
thờ”. Thành hoàng làng có thể có nhiều thân như Thiên thần, Nhiên thần
và Nhân thần. Và Nhân thần là những vị thần sử dụng đông lạnh, là người thường
được thiêng hóa lên, trong đó có Chính thần là các vị anh hùng có công với đất
nước. Tiêu biểu như đình đình Phú Điền – Thanh Hóa tôn giáo Bà Triệu là
Thành Hoàng làng. Còn một số làng thờ các tổ nghề như cụ tổ nghề thợ thủ công
Bát Tràng là Hứa Vĩnh Kiều.
Đi cùng tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là xã hội, lễ hội ở làng xã là
môi trường để thực hiện ngưỡng tín hiệu ở làng xã. Tiêu dùng trong đó có thể kể đến
là hội làng Diềm ở làng Viêm Xá, thành phố Bắc Ninh nhắm tưởng tượng
công
ơn tạo ra làn sóng mưa quan họ Bắc Ninh của Thành hoàng Vua Bà. Trong các ngày
hội, nhân dân thường có lễ “mật” (bí mật) và tục “hèm”) gắn một
với vị trí thần thoại của làng đó. Mặc dù triều đình chỉ cho phép nhân dân thờ Chính
thần làm bấy giờ Nho giáo là quốc giáo, nhưng việc thực hiện nghi lễ này chính
là ví dụ tiêu biểu cho tính tự trị của làng xã, là minh chứng cho câu thơ “Phép vua thua cuộc”.
Như vậy, ta có thể nói, ngưỡng tín hiệu của Thành hoàng là sự kết hợp đỉnh cao của
tín ngưỡng sùng bái con người và tín ngưỡng sùng bái thần linh. Thư mục
Thành hoàng làng là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc, nó
thể hiện thức thức biết ơn đối với những người có công xã xã, cùng với
đó là ý thức tập trung truyền bá xã hội và tập đoàn của nhân dân.
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng chính là tinh hoa chắt lọc qua suốt chiều dài
lịch sử biểu tượng cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vinh quang và tinh thần hạnh phúc.

Câu 3: Đặc trưng giao tiếp văn hóa của người Việt
Bản chất con người được hiển thị rõ ràng trong giao tiếp tiếp theo, trong hệ thống nhất
giữa con người với con người.
Trước đó, bình luận về thái độ của người Việt Nam đối với việc giao tiếp, có
đặc điểm của người Việt Nam có thể được tìm thấy vừa phải , vừa phi Đèn.
Như đã nói, người Việt Nam nông nghiệp sống phụ thuộc lẫn nhau và
rất quan trọng việc giữ các loài mối quan hệ tốt với mọi thành viên
trong cộng đồng, tính cộng đồng chính này là nguyên nhân tạo
người Việt Nam đặc biệt coi trọng công việc giao tiếp. Tạo giao tiếp tiếp theo
ra mối quan hệ, củng cố tình thân, năng lực giao tiếp được người
Việt Nam xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người. Vì coi
giao tiếp quan trọng cho người Việt Nam rất thích giao tiếp. Job
thích giao tiếp này có thể hiện chủ yếu ở hai điểm:
- Từ góc của mình, chủ thể giao tiếp , thì người Việt Nam có
tính thích thăm viếng . Người đã là người Việt Nam, đồng thời,
thì cho dù hàng ngày có gặp nhau ở đâu, bao nhiêu lần đi nữa,
những lúc rảnh rỗi họ vẫn tới thăm nhau. Thăm hỏi nhau ở đây
không còn là nhu cầu công việc mà là biểu hiện của tình cảm, tình cảm
nghĩa là có tác dụng thắt chặt thêm quan hệ.
- Với giao tiếp đối tượng thì người Việt Nam có tính khách . Có
khách đến nhà, dù quen hay lạ, thân hay sơ, người Việt dù nghèo
Khó đến đâu, cũng cố gắng tiếp tục đón nhận một cách chug và tiếp đãi
một cách tăng cường, dành cho các tiện ích tốt nhất, các đồ họa ăn ngon nhất.
Đồng thời với công việc thích tiếp theo, người Việt Nam lại có một đặc tính gần giống như
ngược lại là . Sự tồn tại đồng thời của hai tính cách này chính là bắt
Nguồn từ hai đặc tính cơ bản của làng xã Việt Nam là tính cộng đồng và tính tự động trị.
Đúng là người Việt Nam xởi lởi, rất thích giao ttiếp, nhưng đó là khi mình tìm thấy
đang ở trong phạm vi của cộng đồng quen thuộc, nơi tính cộng đồng ngự trị. 21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Trong khi đó, out of range of cộng đồng, before những người lạ, nơi tkính
tự phát huy tác dụng thì người Việt Nam, ngược lại, bao giờ cũng tỏ ra rất tỉnh táo
nốt Rê. Đó là biểu hiện cho cách xử lý hoạt động linh hoạt của người Việt Nam.
Tiếp theo, chú ý về quan hệ giao tiếp, nguồn gốc văn hóa nông nghiệp với đặc sản
điểm quan trọng đã dẫn người Việt Nam tới phòng lấy tình cảm – lấy sự yêu thích
Ghét – làm nguyên tắc xử lý trong giao tiếp tiếp theo . Người Việt Nam luôn nhắc nhở
nhắc nhau coi trọng tình cảm hơn mọi thứ ở đời. Trong gia đình thì “ Vợ chồng là
nghĩa ở đời, Ai ơi đừng nói những lời thiệt hơn”
(ca dao). Ngoài xã hội, ai giúp
mình một chút gì cũng phải nhớ ơn; ai bảo ban mình một chút gì cũng đều tôn làm thầy.
Với giao tiếp đối tượng, người Việt Nam có thói quen tìm hiểu, quan sát,
đánh giá…
Tuổi tác, quê quán, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng gia
đình (bố mẹ còn hay mất, đã có vợ/chồng chưa, có con chưa, vài trai mấy
gái…) là những vấn đề mà người Việt Nam thường quan tâm. Đặc tính này chính là
một sản phẩm nữa của tính cộng đồng làng xã. Tính cộng đồng, user Việt
Nam tự thấy có trách nhiệm phải quan tâm đến người khác mà muốn quan tâm
thì cần phải biết hoàn cảnh. Mặt khác, làm phân biệt các quan hệ xã hội, mỗi
cặp giao tiếp đều có những cách tự hào riêng, bạn muốn chọn được từ Ngọc hô
để hợp lý thì cần phải có đủ thông tin cần thiết về cá nhân đối thoại
Conversation. Tính hay quan sát người Việt Nam có được một kho kinh nghiệm
xem tướng hết sức phong phú: chỉ cần nhìn vào cái mặt, cái mũi, con mắt… là
con người đã được biết cách tính toán.
Tính cộng đồng còn làm cho người Việt Nam, dưới góc máy chủ
tiếp,
có đặc điểm là danh dự : Như đã nói, danh dự được người Việt Nam
Gắn với năng lượng giao tiếp: Lời nói ra để lấy lại dấu vết, tạo thành tăm, nó
được truyền tải tới nhiều người, tạo nên tiếng vang. Chính vì quá quan trọng
dự
phòng người Việt Nam mắc bệnh bác sĩ . Ở làng quê, tu sĩ có thể hiện diện
trầm trọng ở nơi lệ nơi đình trung là tiếp tục chia phần. Các cụ già bảy tám
tam, tuy ăn không ăn được, nhưng vì danh dự (sĩ diện), vẫn có thể giao tiếp
nhau vì miếng ăn. Lực lượng sát thủ quen thuộc ta phải sống và hành động khác
mình, nhiều khi giả dối với chính mình. Lối vào dự án, tr2, 1
dẫn đến cơ chế tin đồng, tạo nên dư luận như một vũ khí lợi hại bậc nhất của
cộng đồng để duy trì sự ổn định của làng xã. “Người ta chỉ thước theo dư luận
mà sống chứ ai thưởng lên dư luận mà đi theo ý mình”. 21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
Về cách thức giao tiếp, người Việt Nam ưa sự tế nhị, ý tứ và trọng hòa hòa
thuận
. Lối đi tiếp tế nhị, ý tứ suy Người Việt Nam có thói quen giao tiếp
“vòng vo tam quốc”,
không bao giờ mở đầu trực tiếp, nói thẳng vào vấn đề.
Truyền thống Việt Nam khi bắt đầu giao tiếp là phải xác nhận yêu cầu điền, hỏi thăm
nhà cửa ruộng vườn. Lối đi tiếp “vòng vo tam quốc” kết hợp với nhu cầu tìm
Hiểu về giao tiếp tạo đối tượng ở người Việt Nam quen thuc với câu hỏi
“chào” đi liền với “hỏi”
: “Bác đi đâu đấy?”, “Cụ đang làm gì đấy?”… Ban
đầu, hỏi là để có thông tin, tăng dần trở thành một thói quen, người ta hỏi mà
không cần nghe trả lời và hoàn toàn hài lòng với những câu “trả lời” kiểu: “Tôi
đi đằng sau một cái” hoặc trả lời bằng cách hỏi lại, đưa ra giới hạn, với câu hỏi: Cụ
đang làm gì đấy?, có thể trả lời: Vâng, bác đi đâu đấy? Lối đi tiếp theo có ý nghĩa nguy hiểm
tứ
sản phẩm của lối sống tình tình và lối tư duy coi quan mối mối quan hệ
hệ (tư duy tổng hợp, chứng minh). Nó tạo ra một thói quen cân đo nhắc nh
kỹ năng nói . Chính sự cân đo cân nhắc này tạo ra cho người Việt
Nam có nhược điểm là thiếu tính toán .
Để tránh phải quyết định, và đồng thời để không làm mất lòng ai, để giữ được
sự hòa thuận cần thiết, người Việt Nam rất hay cười . Nụ cười là một bộ phận
quan trọng trong giao tiếp quen thuộc của người Việt; người ta có thể mỉm cười
Việt Nam vào cả những lúc chờ đợi nhất. Tâm lý quan trọng hòa thuận
người Việt Nam luôn tài khoản rảnh ri nhau .
Người Việt Nam có một hệ thống nghi thức nói rất phong phú.
- Trước hết, đó là sự phong phú trong hệ thống hò hô tiếng Việt: Trong
khi các ngôn ngữ khác chỉ sử dụng đại từ nhân vật thì tiếng Việt,
ngoài các đại từ nhân ngựa (mà số lượng cũng rất phong phú do có nhiều
biến thể), nhưng sử dụng một số lượng lớn các danh từ chỉ quan hệ họ hàng
(anh, chị - em; ông, bà, bác, cô, dì, chú - cháu, con…) và một số danh từ
chỉ nghề nghiệp, chức vụ (thầy, cô, bác sĩ, ông cai, ông lý, ông huyện,
ông hoàng…) để thay thế cho đại từ, chúng ta trở thành thành viên của đại từ hóa,
những từ đại từ hóa này có xu hướng lấn át các đại từ nhân vật Kiểm.
- Tiếng Việt có tổng cộng trên 60 từ Ngọc hô. Hệ thống tiền cực
bất kỳ phong phú này có thể hiện rõ các đặc tính của văn hóa nông nghiệp
Việt Nam: Có tính chất thân mật hóa cao, có tính chất cụ thể hóa cao, có
tính xã hội hóa cao , có tính đa nghĩa cao, có tính tôn ti, nhưng đồng thời
21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu
lại vẫn rất dân chủ, thể hiện tâm lý thoải mái, tỉnh hòa hòa thuận (Hòa). Liên hệ:
- Tính khách, khách nước ngoài đến Việt Nam
- Trông mặt mà bắt hình đồng
- Sự phân biệt đẳng cấp xã hội vô cùng sâu sắc ở Hàn Quốc 21:24, 07/01/2026
Đề cương môn Cơ sở văn hóa: Phân tích văn hóa Lý-Trần - Studocu