09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
Lê Nguyễn Phương Anh – 02 CSVH_ST5
ĐỀ CƯƠNG
Câu 1: Tín ngưỡng trong đời sống người Việt
Giải thích từ tín ngưỡng, GS. Đào Duy Anh viết là: “Lòng ngưỡng mộ, tín
đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa”. Trong khi đó, giải thích từ tôn giáo, ông
lại viết: “Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến
người ta tín ngưỡng.” Trong đời sống ngôn ngữ, hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo,
tín ngưỡng đều tồn tại. Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếumức độ niềm tin
cấu tổ chức của hai hiện tượng hội. Nói đến tín ngưỡng nói đến quá
trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người.
Quá trình ấy thể quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ.
Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều
có nhiều lớp văn hóa lắng đọng.
Trước hết, tín ngưỡng xuất phát từ thực tế cuộc sống, con người đặt ra những
lực lượng thần bí để tôn vinh, tôn thờ cho phù hợp với cuộc sống của mình. Và thế
Mẹ Cây, Mẹ Đất, Mẹ Trời,... ra đời. Tín ngưỡng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi trước
các hiện tượng tự nhiên không thể lí giải ( động đất, núi lửa,... ) của con người thời
tiền sử. Nỗi sợ ấy đã khiến họ dần dần tin rằng thần linh, những sức mạnh
huyền đằng sau các hiện tượng đó. họ cũng tin rằng thể liên lạc, “mua
chuộc” thần linh để đổi lấy sự bình an bằng cách tôn thờ, dâng cúng lễ vật. Những
niềm tin này đã trở thành nền tảng của tín ngưỡng, tôn giáo của nhân loại ngày
nay. Tín ngưỡng của người Việt mang tính tổng hợp, hỗn dung cao độ. vị thần
vừa thuộc tín ngưỡng này lại vừa có mặt ở tín ngưỡng khác.
1. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU:
Việt Nam một cộng đồng dân nhiều dân tộc sinh sống với nhiều loại
hình kinh tế khác nhau. nguyên nhân này, đời sống tâm linh tục lệ thờ cúng
của người Việt tương đối đa dạng. Ngoài sự tồn tại của các tôn giáo lớn, phần lớn
nhân dân còn duy trì các tín ngưỡng dân gian, lễ nghi dân tộc. Nổi bật nhất tín
ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng này sức mạnh đến nỗi khi Phật giáo vào Giao
Châu đã phải chấp nhận đan xen với nó. Huyền thoại về Man nương nhà
Khâu đà la chứng tích cho việc đan xen này. Việt Nam một nước theo chế độ
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
phụ hệ, tức người đàn ông làm chủ gia đình. Tuy nhiên, vị trí người phụ nữ
không vì thế mà bị hạ thấp. Tín ngưỡng thờ cúng các nữ thần đã xuất hiện từ nghìn
năm trước đây. Tín ngưỡng này thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh thờ
phụng những vị nữ thần gắn liền với các hiện tượng tự nhiên trong trụ, được
người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, sản sinh, che chở cho cuộc sống của con
người như: Trời, đất, sông, nước,... Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ Mẫu còn lịch sử
hóa hệ thống thần linh - hầu hết là những người có công trong quá trình dựng nước
giữ nước được nhân dân suy tônthánh, Đạo Mẫu đề cao chủ nghĩa yêu nước,
đặc biệt sự trân trọng với người phụ nữ. Các nhân vật của tín ngưỡng này được
thờ ở các phủ, đền, điện. Điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu là một hệ thống có lớp
lang tương đối nhất quán gồm: Ngọc Hoàng Tam tòa thánh mẫu Ngũ vị vương
quan Tứ vị chầu Ngũ vị hoàng tử - Thập nhị nương Thập nhị vương
cậu Quan ngũ hổ - Ông Lốt (rắn). Hệ thống điện thần ấy gồm các nhiên thần
nhân thần. Đáng chú ý là nhân vật lịch sử Trần Hưng Đạo, người anh hùng dân tộc
này đã được hội nhập vào tín ngưỡng thờ Mẫu, trở thành vua cha như một câu
ngạn ngữ: “tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ.” Các nhà nghiên cứu đã thống
nhất rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể. Gắn
bó với tín ngưỡng thờ Mẫu là hệ thống các huyền thoại, thần tích, các bài văn chầu,
truyện thơ nôm, các hình thái diễn xướng như hát bóng, múa bóng, hát chầu văn,...
Khi nhìn nhận tín ngưỡng thờ Mẫu, không thể không chú ý đến hiện tượng lên
đồng. Về bản chất, lên đồng hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các thần linh
trong điện thần, của đạo mẫu các ông đồng, đồng để cầu sức khỏe, cầu may
mắn, cầu tài lộc. Tuy nhiên, có một bộ phận người lợi dụng Đạo Mẫu và Hầu đồng
để mưu cầu lợi ích nhân làm giàu bất chính. Tính phân tán tản mạn, tùy tiện
trong thực hành nghi lễ đang thực tế nhức nhối của Đạo Mẫu trong hội hiện
nay. một thực tế tình trạng thương mại hóa, sân khấu hóa, làm sai lệch nghi
lễ hầu đồng đã diễn ra.
2. TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC:
Bên cạnh đó còn tín ngưỡng phồn thực. Thực chất của tín ngưỡng phồn thực
khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người tạo vật, lấy các biểu
tượng về sinh thực khí và hành vi giao phối làm đối tượng. Tín ngưỡng này có mặt
rất sớm trong tầng văn hóa Đông Nam Á cổ đại nhưng sự biến thiên khác
nhau giữa các vùng, do sự ảnh hưởng của văn hóa Hán nhiều hay ít. Tín ngưỡng
phồn thực Việt Nam được thể hiện hai dạng: thờ quan sinh dục của cả nam
lẫn nữ (như linga, yoni) thờ hành vi giao phối. Sau này, một số vương triều, do
ảnh hưởng của văn hóa Hán đã đàn áp các dâm từ dâm thần. Tuy nhiên, tín
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
ngưỡng này chỉ tự giải thể mà không hề mất đi, nó hội nhập và đan xen với các loại
hình văn hóa nghệ thuật khác. Trong nghệ thuật, tranh dân gian Đông Hồ hai
bức tranh phảng phất hình bóng của tín ngưỡng này. Đó bức tranh Hứng dừa
Đánh ghen. Trong văn học dân gian, số lượng câu đố người ta cho đố thanh
giảng tục, đố tục giảng thanh chính lưu thanh sót lại của tín ngưỡng phồn thực
thời xa xưa. Trong văn học thành văn, từ Nguyễn Du đến Hồ Xuân Hương đã
những tác phẩm tràn đầy tinh thần nhân văn, khi vẽ lên những dáng vẻ đẹp đẽ,
khoẻ mạnh của thể con người. Đáng lưu ý sự tồn tại của tín ngưỡng phồn
thực trong lễ hội cổ truyền. Nhân vật phụng thờ của lễ hội cổ truyền một số làng
quê chính các biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực như ông thánh Bôn một
số làng quê Thanh Hóa thờ phụng, như Phật Thạch Quang theo truyền thuyết
con Man nương nhà Khâu đà la gửi vào cây dâu, cũng một linga bằng đá.
Tín ngưỡng phồn thực tồn tại đậm đặc nhất là ở các trò diễn, trò chơi của một số lễ
hội cổ truyền ( trò chen của lễ hội làng Nga Hoàng, trò bắt chạch trong chum của
làng Văn Trung,... ). Qua biến thiên lịch sử, dâu bể cuộc đời, tín ngưỡng phồn thực
đã trở thành một thứ trầm tích văn hóa trong văn hóa Việt Nam.
3. TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:
Ngọc hoàng
Một tín ngưỡng phổ biến không kém đó tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng.
Là một từ Hán, thành hoàng có nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành, nếu hào
nước sẽ gọi trì (thành trì). Thành hoàng làng vị thần bảo trợ một thành
quách cụ thể. Thờ Thành hoàng làng là tục thờ cúng của dân nông nghiệp Việt
Nam từ lâu. Vốn, tín ngưỡng này có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau này du nhập tới
Việt Nam đã kết hợp với văn hóa bản địa cho ra đời tín ngưỡng. kỉ nguyên
độc lập, các vương triều như Lý, Trần, Lê vẫn duy trì tục thờ thần thành hoàng của
thành Thăng Long. Trong khi đó, thành hoàng được phụng thờ ở các làng quê lại là
một dòng chảy khác của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng. “Người Việt phổ biến
nhất, nổi bật nhất thờ thần làng, không làng nào không đình, đền, miếu
thờ thần.” Tín ngưỡng thờ Thành hoàng sự kết hợp của tín ngưỡng sùng bái con
người tín ngưỡng sùng bái thần linh. Thành hoàng làng thể nhiên thần
hoặc nhân thần. Nhiên thần thể Thần Cây, Thần Sông, Thần Núi, thậm chí
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
con vật.... Trong khi nhân thần lại thể các tổ nghề, anh hùng công với dân
hay các linh hồn chết thiêng. Đình là nơi thờ Thành hoàng làng. Đình vừa là không
gian văn hóa, vừa không gian tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời đơn vị quan
hành chính của làng của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ. Thần ngự trị tại đình làng
phù hộ cho nhân dân được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, xóm làng thịnh
vượng. Việc thờ cúng Thành hoàng được diễn ra thường xuyên thông qua việc thắp
đèn, hương hằng ngày, ngoài ra việc cúng lễ được thực hiện vào các ngày Sóc,
Vọng hằng tháng, những ngày Tết Nguyên đán, giao thừa hay những ngày trong
làng có ma chay, cưới hỏi,…dân làng vẫn ra đình cúng lễ để báo cáo, tạ ơn hay kêu
cầu sự chở che của Thành hoàng cho cuộc sống. Thành hoàng nhân vật trung
tâm của một sinh hoạt văn hóa dân các làng quê cũng như các nhà nghiên cứu
văn hóa dân gian gọi lễ hội. Đó ngày tưởng niệm vị thánh của làng. Nói cách
khác, thành hoàng như một thanh nam châm hút tất cả các sinh hoạt văn hóa các
làng quê để trình diễn trong một ngày hay vài ngày tùy theo diễn trình ngày hội.
Trong sự phát triển của tín ngưỡng thờ thành hoàng đáng chú ý sự kiện năm
1572 nhà Lê sai Nguyễn Bính san định lại thần tích các vị thần các làng quê, do
dân quê khai báo nộp về cho triều đình. Như thế, dưới ảnh hưởng của tưởng
Nho giáo, Nguyễn Bính đã biên soạn lại các thần tích cho thành hệ thống.
4. TÍN NGƯỠNG THỜ TỨ BẤT TỬ:
“Tứ bất tử” một huyền thoại về việc nhân dân ta tôn vinh thờ phụng “bốn vị
thánh không bao giờ chết” (Tứ bất tử). Việc phụng thờ Tứ bất tử là một tín ngưỡng
thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ một bộ phận
không thể tách rời trong di sản tôn giáo tinh thần của đất nước. Trong duy
của người Việt, con số bốn mang tính ước lệ ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) một
hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. dụ: Tứ trấn, An Nam
tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương…
thể thấy rằng, mọi cơ cấu giá trị vật chất tinh thần nhiều khi được bắt đầu bằng “bộ
tứ”. Việc chọn lấy 4 trong toàn thể của một tập hợp chọn lấy những tiêu biểu
nhất, độc đáo nhất tính thời đại. Tứ bất tử cũng một tập hợp như vậy. Tứ
bất tử của Việt Nam gồm: Thánh Tản Viên (Thánh Tản), Thánh Gióng (Phù Đổng
Thiên Vương), Thánh Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Bà Chúa Liễu).
“Tứ bất tử” thứ nhất; Thánh Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự
nhiên, chiến thắng thiên tai. Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam nhận
định: “Thánh Tản Viên là vị thánh đầu tiên được nhắc đến trong tâm thức dân gian
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
của người Việt, vị thánh biểu đạt cho khả năng sáng tạo to lớn của dân tộc Việt
Nam trong chiến đấu chống thiên tai, lụt để bảo vệ mùa màng cuộc sống cho
nhân dân”. Truyền thuyết đồng bằng Bắc bộ kể rằng, Tản Viên vốn một nông
dân dũng cảm, nhân hậu, thiên phú hùng tài, trở thành Sơn thần, thủ lĩnh của muôn
loài, gọi là (Sơn Tinh), thường dạy dân làm ruộng, săn bắn, kéo vó, luyện võ và mở
hội. Cuộc chiến đấu chống Thủy Tinh của Sơn Tinh và muôn loài phản ánh lịch sử
tự nhiên của một đất nước lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển, quanh năm chống
chọi với thiên tai địch họa. Với ý nghĩa giá trị tín ngưỡng tâm linh sâu sắc, tục lệ
thờ Đức Thánh Tản từ rất lâu, khoảng 250 năm trước Công Nguyên, An Dương
Vương cho lập đền thờ đức Thánh trên núi Tản Viên, gọi Đền Thượng, nay
thuộc Ba Vì, Sơn Tây, ngoại thành Hà Nội. Đến thời nhà Lý đã phong Tản Viên
“Thượng đẳng tối linh thần” và “Đệ nhất phúc thần”. Đền thờ chính của Thánh Tản
Viên chính là Đền Thượng núi Ba Vì. Để tưởng nhớ công đức ngài, cứ ba năm một
lần vào ngày 15 tháng giêng Âm lịch, tại đây diễn ra lễ hội lớn, với hàng vạn người
tham dự, lễ tắm ngai, đánh cá thờ, tục thờ làm cỗ thờ 99 đuôi cá, làm tiệc gỏi, múa
Rô, Cướp Kén, múa Gà phủ, rước Chúa gái (Mỵ Nương), trò Tản Viên đánh Thục.
“Tứ bất tử” thứ hai; Đức Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) tượng trưng cho
tinh thần đoàn kết, chống ngoại xâm. Theo truyền thuyết, Đức Thánh Gióng sinh ra
tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội thời Vua Hùng thứ 6, trong một gia đình
nông dân nghèo. Sau khi dẹp yên giặc ngoại xâm, giúp quê hương được thái bình,
Thánh Gióng cởi bỏ giáp trụ, lặng lẽ lên đỉnh núi Vệ Linh (núi Sài tại Sóc Sơn, Hà
Nội) bay về trời. Vua Hùng ghi nhận công lao của Ngài, phong danh hiệu Phù
Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại Vệ Linh. Làng Gióng được đổi tên thành
làng Phù Đổng. Hàng năm vào ngày 9 tháng 4 Âm lịch, làng tổ chức lễ hội rất long
trọng, tái hiện truyền thuyết Thánh Gióng với các hoạt động như tập trận, đấu cờ
người… Những nơi mang dấu tích chiến công của Thánh Gióng đều được nhân
dân lập đền thờ, gìn giữ. Ngoài đền thờ chính làng Phù Đổng, còn đền thờ
Sóc Sơn núi Vệ Linh, nơi Thánh Gióng đánh giặc xong cởi áo giáp sắt treo lên
cây để về trời. Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là niềm tự hào
của dân tộc Việt Nam, là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân.
“Tứ bất tử” thứ ba; Thánh Chử Đạo Tổ (Chử đồng tử) tượng trưng cho tình yêu,
hôn nhân sự sung túc, giàu sang. Truyền thuyết về Chử Đồng Tử lan truyền từ
khoảng thế kỷ (XV). Đây câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín
ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta. Cốt lõi tín ngưỡng Chử Đạo Tổ
tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Với tấm lòng
biết ơn, tri ân Chử Đồng Tử nhân dân tôn thờ Ngài như ông tổ của Đạo thờ tiên
(Chử Đạo Tổ). Đền thờ của Ngài được nhân dân lập tại Dạ Trạch, huyện Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên, hàng năm tế lễ cầu mong một cuộc sống hạnh phúc, phồn
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
vinh. Lễ hội chính mở vào trung tuần tháng 2 âm lịch với các hoạt động dân gian
đặc sắc như múa rồng, hát, đấu cờ người… tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử đã đi vào
tâm thức dân gian không chỉ người con hiếu thảo, nhân ái còn biểu tượng
của một chí hướng phát triển cộng đồng mở mang khai phá đồng bằng trũng lầy
thành cánh đồng tốt tươi, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vảiphát triển các ngành nghề
khác; đặc biệt nghề buôn bán. Chử Đồng Tử Tiên Dung đã mở một hướng mới
cho sự phát triển dân tộc, tạo nên sự giao lưu giữa dân tộc và cộng đồng bên ngoài.
Người Việt tôn thờ Chử Đồng Tử như ông tổ của đạo thờ tiên (Chử Đạo Tổ). Theo
thống kê, tới 72 làng lập điện thờ Chử Đồng Tử, rải rác hai bờ tả ngạn sông
Hồng. Trong đó, Đền thờ chính của Ngài được nhân dân lập tại Dạ Trạch,
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
“Tứ bất tử” thứ tư; Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Mẫu Thượng Thiên), tượng trưng cho
cuộc sống tinh thần, phúc đức, văn thơ. Trong tâm thức của nhân dân, Chúa
Liễu Hạnhmột vị thần, một biểu tượng của khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ
nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng
vươn tới đạt được những ước vọng của hạnh phúc gia đình. Đó cũng ý thức hệ
nhân sinh của người dân Việt Nam đã đượcthác niềm tin vào biểu tượng người
Mẹ qua câu thành ngữ (Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ). Bà được thờ phụng ở rất
nhiều nơi: tại Phủ Giầy ( quê hương bà ), tại Phủ Sòng, Thanh Hóa, tại Phủ Tây Hồ
(Hà Nội) nơi tương truyền diễn ra cuộc gặp gỡ đàm đạo văn chương giữa
Chúa Liễu Hạnh với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.
Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” một nét sáng tạo độc đáo, riêng biệt thuần túy của
người Việt Nam được kết tinh từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh “dựng nước giữ nước”, một bộ phận
không thể tách rời trong di sản văn hóa của dân tộc. Ngày nay, tín ngưỡng thờ “Tứ
bất tử” tiếp tục làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; đồng thời
góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì một bộ phận không nhỏ người dân
tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng không bằng tâm thành kính, hướng về cội
nguồn, mang tính chất vụ lợi, thực dụng. Tâm trông chờ vào sự trợ giúp của
thần, thánh xuất hiện nhiều người nhiều tầng lớp người trong hội. Hoạt
động lễ hội, tín ngưỡng sôi động trở lại nhưng nhiều giá trị văn hóa truyền thống
của dân tộc được dung nạp, duy trì hàng nghìn năm trong hệ thống tín ngưỡng
đang bị phát triển thiên lệch.
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
Câu 2: Văn hóa Đông Sơn
Văn hóa Đông Sơn được cho đã hình thành trong bối cảnh biển lùi, đồng
bằng hình thành, dân Việt cổ di từ vùng cao xuống vùng thấp để trú định
cư. Nhiều học giả đã thừa nhận rằng văn hóa Đông Sơn hình thành trực tiếp từ ba
nền văn hóa lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Vào thế kỉ VII trước công
nguyên, các nền văn hóa bộ lạc mất dần tính địa phương, tiến tới chỗ hòa chung
vào một văn hóa thống nhất văn hóa Đông Sơn. Đó lúc các nhóm bộ lạc liên
kết lại trong một quốc gia: nước Văn Lang. Đây là nền văn hóa mang đậm tính bản
địa, là nền văn hóa phát triển rực rỡ, đỉnh cao thứ nhất trong tiến trình văn hóa Việt
Nam, đặt nền móng cho văn hóa Việt Nam truyền thống sau này.
dân văn hóa Đông Sơn vẫn là cư dân nông nghiệp trồng lúa. Hình thức canh
tác chủ yếu loại ruộng chờ mưa. Thời này họ thể đã những thuật trị
thủy như đắp đê chống lụt. Các loại hình nông cụ của dân Đông Sơn khá đa
dạng với cuốc, xẻng, mai, thuổng đặc biệt lưỡi cày bằng kim loại đã tạo nên
bước nhảy vọt trong thuật canh tác. Nông nghiệp dùng cày phát triển (có nhiều
lưỡi cày đồng với các chủng loại phù hợp với từng loại đất). Cũng thể ngay từ
thời này người ta đã biết làm 1 năm 2 vụ. Bên cạnh trồng trọt là chăn nuôi, việc
chăn nuôi trâu đã phát triển, trước tiên để đảm bảo sức kéo cho nông nghiệp.
Trên trống đồng người ta thấy khắc hoa văn hình bò, trong một số di chỉ khảo cổ
học còn tìm thấy tượng đầu gà.
thuật đúc đồng thau đạt tới đỉnh cao của thời này. Số lượng loại hình
công cụ khí bằng đồng tăng vọt. Đặc biệt, người Đông Sơn đã đúc những hiện
vật bằng đồng kích thước lớn, trang trí hoa văn phong phú những trống đồng,
thạp đồng cho tới ngày nay vẫn biểu tượng của văn hóa dân tộc. thuật
luyện rèn sắt cũng khá phát triển, đặc biệt giai đoạn cuối của văn hóa Đông
Sơn. Ngoài những ngành nghề kể trên, người Đông Sơn còn biết chế tạo thủy tinh,
làm mộc, sơn, dệt vải, đan lát, làm gốm, chế tác đá. Làng xóm thời này thường
phân bố ở những nơi đất cao, gần sông lớn, bởi đất cao sẽ khô ráo, tránh được ngập
lụt vào mùa mưa. Làng thời này quy tương đương với xóm hay làng nhỏ
ngày nay, có chừng vài trăm người.
Có lẽ do hiện tượng chiến tranh đã trở nên thường xuyên nên chung quanh làng,
những vành đai phòng thủ, khả năng lớn các lũy tre làng. Công trình
phòng thủ thực sự với hệ thống thành lũy quy mô thời Đông Sơn ngày nay người ta
mới chỉ biết đến có một, đó là thành ốc Cổ Loa.
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
Người Đông Sơn đã có những phong tục, y phục khá phong phú, không phải chỉ
biết trần, mặc vỏ sui như nhiều người thường nghĩ. Dựa vào trang trí trên cán
dao găm hình người, hoa văn trên trống đồng và thư tịch cổ, ta biết được ít nhất
bốn kiểu để tóc. Các tài liệu đều phản ánh lối ăn mặc quần áo theo phương châm
giản dị, gọn gàng tới mức tối đa: trần, đóng khố, đi chân đất. Riêng với nữ phổ
biến mặc váy thay khố. Tuy vậy cũng một số loại áo, áo cánh dài tay, áo xẻ
ngực bên trong yếm. Ngoài ra còn một số trang phục lễ hội như váy lông
chim hay kết, khố dài thêu… Người Đông Sơn ưa thích đồ trang sức thường
được làm bằng đồng, thủy tinh. Khác với dân trước đó (ăn gạo nếp chủ yếu)
dân Đông Sơn bắt đầu ăn gạo tẻ. họ còn ăn các loại hoa màu, rau quả, thủy sản.
hình cơm–rau–cá trong cấu bữa ăn của người Đông Sơn chứng tỏ sự hiểu
biết thấu đáo sự hòa hợp cao độ của người Đông Sơn với môi sinh. Nhà của
dân Đông Sơn được tạo ra bằng các vật liệu dễ bị phá hủy theo thời gian. Hình
dáng nhà các loại mái cong, mái tròn, nhà sàn. Về phương tiện đi lại, chủ
yếu thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu đường sông ven biển. Ngoài ra
còn đi bộ, gánh gồng mang vác trên vai, trên lưng, đã biết thuần dưỡng voi,
dùng voi để chuyên chở.
Thời này thời hình thành những huyền thoại, thần thoại. Hệ thống thần
thoại này dù đã bị vỡ ra từng mảnh trong thời Bắc thuộc, trước sự tiếp biến với văn
hóa Hán cũng như với các tôn giáo lớn từ bên ngoài, song vẫn còn lại ít nhiều qua
các ghi chép về sau này của người Việt dưới dạng sử thi thần thoại các bài
mo “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường. Những nghi lễ tín ngưỡng giai đoạn
này gắn chặt với nghề nông trồng lúa nước. Đó tục thờ mặt trời, mưa dông, các
nghi lễ phồn thực những nghi lễ nông nghiệp khác như hát đối đáp gái trai, tục
đua thuyền, tục thả diều…
Đặc điểm nổi bật của thời kì này theo nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước duy lưỡng phân, lưỡng hợp (dualisme). Người xưa cho rằng thế
giới được chia đôi: đàn ông ắt đàn bà, đực tất cái, âm ắt dương.
Người Đông Sơn còn duy khoa học, điều này thể hiện tri thức thiên văn
học, khái niệm số đếm, khái niệm lịch pháp… Phong tục tập quán của người Đông
Sơn cũng rất đa dạng, như tục nhuộm răng ăn trầu, xăm mình, ăn đất nung non,
tục ma chay, cưới xin… Các lễ hội: hội mùa với nghi lễ hiến sinh trâu bò, hội cầu
nước với lễ hiến tế, hội khánh thành trống đồng.
Nghệ thuật âm nhạc ngành nghệ thuật quan trọng đã khá phát triển thể hiện
đời sống tinh thần của cả cư dân Đông Sơn. Nhạc cụ đáng lưu ý trống đồng, sau
đó sênh, phách, khèn. Giao lưu văn hóa thời này rất rộng rãi. Ngoài giao lưu
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
với Sa Huỳnh Đồng Nai,phía Bắc mối quan hệ tiếp xúc với các dân
Nam Trung Hoa, phía Đông với các hải đảo, phía Tây với lục địa.
Câu 3: Tính nông nghiệp trong các thành tố văn hóa
Việt Nam
Việt Nam ta từ xưa tới nay luôn được biết tới là một quốc gia có nền văn hóa vô
cùng phong phú đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Sự khác biệt về cấu trúc địa
hình, khí hậu, phân bố dân tộc, dân cư sự khác nhau về lối sống, lối sản xuất đã
tạo ra nhiều vùng văn hóa những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. đó cũng
nguyên do hình thành nên loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Tính nông nghiệp
có ảnh hưởng lớn tới các thành tố văn hóa Việt Nam.
Gia đình người Việt, trong đại đa số trường hợp gia đình hạt nhân. Gia đình
này là cơ cấu kinh tế tự cung – tự cấp theo mô hình “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi
bừa”.
Người Việt sinh sống theo làng xã. Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất
chung của dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức hội nông nghiệp tiểu
nông tự cấp tự túc, mặt khác mẫu hình hội phù hợp, chế thích ứng với
sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền
vững của hội nông nghiệp ấy. Do vậy đã hình thành nên tín ngưỡng thờ Thành
hoàng làng. Với người dân ở cộng đồng lãng xã, vị thần thành hoàng làng được coi
như một vị thánh. Mỗi làng quê một vị thánh của mình: trống làng nào làng ấy
đánh, thánh làng nào làng ấy thờ. Thành hoàng nhân vật trung tâm của một sinh
hoạt văn hóa dân các làng quê cũng như các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian
gọi lễ hội.Đó ngày tưởng niệm vị thánh của làng. Đối với người dân, thành
hoàng chỗ dựa tinh thần, nơi gửi gắm niềm tin cho họ, giúp họ vượt qua những
khó khăn của cuộc đời đầy sóng gió.
Đô thị Việt Nam xuất hiện khá chậm ít, sự hoà tan của thành thị trong
nông thôn do phân công lao động không ràng, không triệt để. Nông thôn mang
tính chất áp đảo, vậy duy nông nghiệp, căn tính nông dân ảnh hưởng rất lớn
tới dân đô thị Việt Nam. Việt Nam hiện tượng nông thôn hóa đô thị
chúng ta thấy hiện nay vẫn những vấn đề gây nhiều khó khăn cho việc quản lí,
xây dựng nếp sống đô thị.
Dân nông nghiệp sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiênđã cố định một chỗ
với cái nhà, cái cây của mình thì phải ý thức tôn trọng, không ganh đua với
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
thiên nhiên. Sống hòa hợp với thiên nhiên mong muốn của dân các nền văn
hóa trọng tĩnh phương Đông. Người nông dân Việt Nam trong tâm thức, luôn coi
trời là chỗ dựa, là “người cứu tinh”. Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nước sống
phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều. Không phải chỉ phụ thuộc vào một hai hiện
tượng riêng lẻ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, mưa…
Nắng, mưa nhiều quá, hoặc không nắng, không mưa đều nguy hiểm cả. T đó,
người Việt dần hình thành tín ngưỡng thờ các vị thần tự nhiên: thần Đất, thần
Nước,... để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Cái mà người làm nông
nghiệp quan tâm không phải tập hợp của các yếu tố riêng rẽ những mối
quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp nghĩa bao quát được mọi yếu tố, còn
biện chứng chú trọng đến mối quan hệ giữa chúng. Đó chính là đặc trưng tư duy
của văn hóa gốc nông nghiệp mà nông nghiệp lúa nước là điển hình.
Chế độ mẫu hệ còn để lại ảnh hưởng khá đậm trong đời sống xã hội của cư dân
Việt Nam. thế, người Việt truyền thống thờ nữ thần, một đặc trưng bản
của tín ngưỡng dân nông nghiệp. Bốn ngôi chùa quanh vùng Dâu (nay thuộc
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) thờ các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi
Pháp Điện. Nói cách khác, đó bốn hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa
thành thần linh sự tích hợp với Phật giáo để phát triển tồn tại. Từ chỗ thờ
các nữ thần hiện thân của các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm,
chớp, người Việt đã thờ phụng các vị nữ thần cai quản các vùng không gian. Dần
dà, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện.
dân Việt dân các dân tộc ít người Việt Nam những dân nông
nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước. Vòng quay của thiên nhiên mùa vụ tạo
ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này dịp để
người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ một mùa màng đã qua, vừa cầu
xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà, biến thiên thời gian đã
lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dân được
gọi là lễ hội. thừa hưởng những di sản văn hóa của nền văn minh lúa nước nên hầu
hết các lễ hội đều có tín ngưỡng thờ các thần nông nghiệp. Các lễ hội được tổ chức
hằng năm như thêm một lời nhắc nhở của tiền nhân với hậu thế, cần nhìn nhận đầy
đủ hơn về sự phát triển của nền nông nghiệp bền vững; đó cũng chính là tâm thế, là
thái độ ứng xử của con người trước thiên nhiên.
09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu

Preview text:

09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
Lê Nguyễn Phương Anh – 02 CSVH_ST5 ĐỀ CƯƠNG
Câu 1: Tín ngưỡng trong đời sống người Việt
Giải thích từ tín ngưỡng, GS. Đào Duy Anh viết là: “Lòng ngưỡng mộ, mê tín
đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa”. Trong khi đó, giải thích từ tôn giáo, ông
lại viết: “Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nên giới ước để khiến
người ta tín ngưỡng.” Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo,
tín ngưỡng đều tồn tại. Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếu ở mức độ niềm tin
và cơ cấu tổ chức của hai hiện tượng xã hội. Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá
trình thiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người.
Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ.
Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tín ngưỡng đều
có nhiều lớp văn hóa lắng đọng.
Trước hết, tín ngưỡng xuất phát từ thực tế cuộc sống, con người đặt ra những
lực lượng thần bí để tôn vinh, tôn thờ cho phù hợp với cuộc sống của mình. Và thế
là Mẹ Cây, Mẹ Đất, Mẹ Trời,... ra đời. Tín ngưỡng bắt nguồn từ nỗi sợ hãi trước
các hiện tượng tự nhiên không thể lí giải ( động đất, núi lửa,... ) của con người thời
tiền sử. Nỗi sợ ấy đã khiến họ dần dần tin rằng có thần linh, có những sức mạnh
huyền bí đằng sau các hiện tượng đó. Và họ cũng tin rằng có thể liên lạc, “mua
chuộc” thần linh để đổi lấy sự bình an bằng cách tôn thờ, dâng cúng lễ vật. Những
niềm tin này đã trở thành nền tảng của tín ngưỡng, tôn giáo của nhân loại ngày
nay. Tín ngưỡng của người Việt mang tính tổng hợp, hỗn dung cao độ. Có vị thần
vừa thuộc tín ngưỡng này lại vừa có mặt ở tín ngưỡng khác.
1. TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU:
Việt Nam là một cộng đồng cư dân có nhiều dân tộc sinh sống với nhiều loại
hình kinh tế khác nhau. Vì nguyên nhân này, đời sống tâm linh và tục lệ thờ cúng
của người Việt tương đối đa dạng. Ngoài sự tồn tại của các tôn giáo lớn, phần lớn
nhân dân còn duy trì các tín ngưỡng dân gian, lễ nghi dân tộc. Nổi bật nhất là tín
ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng này có sức mạnh đến nỗi khi Phật giáo vào Giao
Châu đã phải chấp nhận đan xen với nó. Huyền thoại về Man nương và nhà sư
Khâu đà la là chứng tích cho việc đan xen này. Việt Nam là một nước theo chế độ 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
phụ hệ, tức là người đàn ông làm chủ gia đình. Tuy nhiên, vị trí người phụ nữ
không vì thế mà bị hạ thấp. Tín ngưỡng thờ cúng các nữ thần đã xuất hiện từ nghìn
năm trước đây. Tín ngưỡng này thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ
phụng những vị nữ thần gắn liền với các hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, được
người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, sản sinh, che chở cho cuộc sống của con
người như: Trời, đất, sông, nước,... Bên cạnh đó, tín ngưỡng thờ Mẫu còn lịch sử
hóa hệ thống thần linh - hầu hết là những người có công trong quá trình dựng nước
và giữ nước được nhân dân suy tôn là thánh, Đạo Mẫu đề cao chủ nghĩa yêu nước,
đặc biệt là sự trân trọng với người phụ nữ. Các nhân vật của tín ngưỡng này được
thờ ở các phủ, đền, điện. Điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu là một hệ thống có lớp
lang tương đối nhất quán gồm: Ngọc Hoàng – Tam tòa thánh mẫu – Ngũ vị vương
quan – Tứ vị chầu bà – Ngũ vị hoàng tử - Thập nhị cô nương – Thập nhị vương
cậu – Quan ngũ hổ - Ông Lốt (rắn). Hệ thống điện thần ấy gồm các nhiên thần và
nhân thần. Đáng chú ý là nhân vật lịch sử Trần Hưng Đạo, người anh hùng dân tộc
này đã được hội nhập vào tín ngưỡng thờ Mẫu, trở thành vua cha như một câu
ngạn ngữ: “tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ.” Các nhà nghiên cứu đã thống
nhất rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể. Gắn
bó với tín ngưỡng thờ Mẫu là hệ thống các huyền thoại, thần tích, các bài văn chầu,
truyện thơ nôm, các hình thái diễn xướng như hát bóng, múa bóng, hát chầu văn,...
Khi nhìn nhận tín ngưỡng thờ Mẫu, không thể không chú ý đến hiện tượng lên
đồng. Về bản chất, lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các thần linh
trong điện thần, của đạo mẫu và các ông đồng, bà đồng để cầu sức khỏe, cầu may
mắn, cầu tài lộc. Tuy nhiên, có một bộ phận người lợi dụng Đạo Mẫu và Hầu đồng
để mưu cầu lợi ích cá nhân và làm giàu bất chính. Tính phân tán tản mạn, tùy tiện
trong thực hành nghi lễ đang là thực tế nhức nhối của Đạo Mẫu trong xã hội hiện
nay. Có một thực tế là tình trạng thương mại hóa, sân khấu hóa, làm sai lệch nghi
lễ hầu đồng đã diễn ra.
2. TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC:
Bên cạnh đó còn có tín ngưỡng phồn thực. Thực chất của tín ngưỡng phồn thực là
khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người và tạo vật, lấy các biểu
tượng về sinh thực khí và hành vi giao phối làm đối tượng. Tín ngưỡng này có mặt
rất sớm trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á cổ đại nhưng có sự biến thiên khác
nhau giữa các vùng, do sự ảnh hưởng của văn hóa Hán nhiều hay ít. Tín ngưỡng
phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam
lẫn nữ (như linga, yoni) và thờ hành vi giao phối. Sau này, một số vương triều, do
ảnh hưởng của văn hóa Hán đã đàn áp các dâm từ và dâm thần. Tuy nhiên, tín 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
ngưỡng này chỉ tự giải thể mà không hề mất đi, nó hội nhập và đan xen với các loại
hình văn hóa nghệ thuật khác. Trong nghệ thuật, tranh dân gian Đông Hồ có hai
bức tranh phảng phất hình bóng của tín ngưỡng này. Đó là bức tranh Hứng dừa và
Đánh ghen. Trong văn học dân gian, số lượng câu đố mà người ta cho là đố thanh
giảng tục, đố tục giảng thanh chính là lưu thanh sót lại của tín ngưỡng phồn thực
thời xa xưa. Trong văn học thành văn, từ Nguyễn Du đến Hồ Xuân Hương đã có
những tác phẩm tràn đầy tinh thần nhân văn, khi vẽ lên những dáng vẻ đẹp đẽ,
khoẻ mạnh của cơ thể con người. Đáng lưu ý là sự tồn tại của tín ngưỡng phồn
thực trong lễ hội cổ truyền. Nhân vật phụng thờ của lễ hội cổ truyền một số làng
quê chính là các biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực như ông thánh Bôn mà một
số làng quê ở Thanh Hóa thờ phụng, như Phật Thạch Quang theo truyền thuyết là
con Man nương và nhà sư Khâu đà la gửi vào cây dâu, cũng là một linga bằng đá.
Tín ngưỡng phồn thực tồn tại đậm đặc nhất là ở các trò diễn, trò chơi của một số lễ
hội cổ truyền ( trò chen của lễ hội làng Nga Hoàng, trò bắt chạch trong chum của
làng Văn Trung,... ). Qua biến thiên lịch sử, dâu bể cuộc đời, tín ngưỡng phồn thực
đã trở thành một thứ trầm tích văn hóa trong văn hóa Việt Nam.
3. TÍN NGƯỠNG THỜ THÀNH HOÀNG LÀNG:  Ngọc hoàng
Một tín ngưỡng phổ biến không kém đó là tín ngưỡng thờ Thành Hoàng Làng.
Là một từ Hán, thành hoàng có nghĩa gốc ban đầu là hào bao quanh thành, nếu hào
có nước sẽ gọi là trì (thành trì). Thành hoàng làng là vị thần bảo trợ một thành
quách cụ thể. Thờ Thành hoàng làng là tục thờ cúng của cư dân nông nghiệp Việt
Nam từ lâu. Vốn, tín ngưỡng này có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau này du nhập tới
Việt Nam đã kết hợp với văn hóa bản địa mà cho ra đời tín ngưỡng. Ở kỉ nguyên
độc lập, các vương triều như Lý, Trần, Lê vẫn duy trì tục thờ thần thành hoàng của
thành Thăng Long. Trong khi đó, thành hoàng được phụng thờ ở các làng quê lại là
một dòng chảy khác của tín ngưỡng thờ thành hoàng làng. “Người Việt phổ biến
nhất, nổi bật nhất là thờ thần ở làng, không làng nào là không có đình, đền, miếu
thờ thần.” Tín ngưỡng thờ Thành hoàng là sự kết hợp của tín ngưỡng sùng bái con
người và tín ngưỡng sùng bái thần linh. Thành hoàng làng có thể là nhiên thần
hoặc nhân thần. Nhiên thần có thể là Thần Cây, Thần Sông, Thần Núi, thậm chí 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
con vật.... Trong khi nhân thần lại có thể là các tổ nghề, anh hùng có công với dân
hay các linh hồn chết thiêng. Đình là nơi thờ Thành hoàng làng. Đình vừa là không
gian văn hóa, vừa là không gian tôn giáo, tín ngưỡng, đồng thời là đơn vị cơ quan
hành chính của làng của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ. Thần ngự trị tại đình làng
phù hộ cho nhân dân được mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, xóm làng thịnh
vượng. Việc thờ cúng Thành hoàng được diễn ra thường xuyên thông qua việc thắp
đèn, hương hằng ngày, ngoài ra việc cúng lễ được thực hiện vào các ngày Sóc,
Vọng hằng tháng, những ngày Tết Nguyên đán, giao thừa hay những ngày trong
làng có ma chay, cưới hỏi,…dân làng vẫn ra đình cúng lễ để báo cáo, tạ ơn hay kêu
cầu sự chở che của Thành hoàng cho cuộc sống. Thành hoàng là nhân vật trung
tâm của một sinh hoạt văn hóa mà dân các làng quê cũng như các nhà nghiên cứu
văn hóa dân gian gọi là lễ hội. Đó là ngày tưởng niệm vị thánh của làng. Nói cách
khác, thành hoàng như một thanh nam châm hút tất cả các sinh hoạt văn hóa ở các
làng quê để trình diễn trong một ngày hay vài ngày tùy theo diễn trình ngày hội.
Trong sự phát triển của tín ngưỡng thờ thành hoàng đáng chú ý là sự kiện năm
1572 nhà Lê sai Nguyễn Bính san định lại thần tích các vị thần ở các làng quê, do
dân quê khai báo nộp về cho triều đình. Như thế, dưới ảnh hưởng của tư tưởng
Nho giáo, Nguyễn Bính đã biên soạn lại các thần tích cho thành hệ thống.
4. TÍN NGƯỠNG THỜ TỨ BẤT TỬ:
“Tứ bất tử” là một huyền thoại về việc nhân dân ta tôn vinh và thờ phụng “bốn vị
thánh không bao giờ chết” (Tứ bất tử). Việc phụng thờ Tứ bất tử là một tín ngưỡng
thuần túy Việt Nam, kết tinh từ những truyền thuyết đẹp đẽ và là một bộ phận
không thể tách rời trong di sản tôn giáo và tinh thần của đất nước. Trong tư duy
của người Việt, con số bốn mang tính ước lệ và có ý nghĩa lớn. Tứ (bốn) là một
hằng số được dùng để khái quát về một phạm trù nào đó. Ví dụ: Tứ trấn, An Nam
tứ đại tài, Tràng An tứ hổ, Sơn Tây tứ quý, Mỗ-La-Canh-Cót tứ danh hương… Có
thể thấy rằng, mọi cơ cấu giá trị vật chất tinh thần nhiều khi được bắt đầu bằng “bộ
tứ”. Việc chọn lấy 4 trong toàn thể của một tập hợp là chọn lấy những gì tiêu biểu
nhất, độc đáo nhất và có tính thời đại. Tứ bất tử cũng là một tập hợp như vậy. Tứ
bất tử của Việt Nam gồm: Thánh Tản Viên (Thánh Tản), Thánh Gióng (Phù Đổng
Thiên Vương), Thánh Chử Đồng Tử và Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Bà Chúa Liễu).
“Tứ bất tử” thứ nhất; Thánh Tản Viên tượng trưng cho ước vọng chinh phục tự
nhiên, chiến thắng thiên tai. Theo các nhà nghiên cứu về văn hóa Việt Nam nhận
định: “Thánh Tản Viên là vị thánh đầu tiên được nhắc đến trong tâm thức dân gian 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
của người Việt, là vị thánh biểu đạt cho khả năng sáng tạo to lớn của dân tộc Việt
Nam trong chiến đấu chống thiên tai, lũ lụt để bảo vệ mùa màng và cuộc sống cho
nhân dân”. Truyền thuyết đồng bằng Bắc bộ kể rằng, Tản Viên vốn là một nông
dân dũng cảm, nhân hậu, thiên phú hùng tài, trở thành Sơn thần, thủ lĩnh của muôn
loài, gọi là (Sơn Tinh), thường dạy dân làm ruộng, săn bắn, kéo vó, luyện võ và mở
hội. Cuộc chiến đấu chống Thủy Tinh của Sơn Tinh và muôn loài phản ánh lịch sử
tự nhiên của một đất nước lưng dựa vào núi, mặt hướng ra biển, quanh năm chống
chọi với thiên tai địch họa. Với ý nghĩa giá trị tín ngưỡng tâm linh sâu sắc, tục lệ
thờ Đức Thánh Tản có từ rất lâu, khoảng 250 năm trước Công Nguyên, An Dương
Vương cho lập đền thờ đức Thánh trên núi Tản Viên, gọi là Đền Thượng, nay
thuộc Ba Vì, Sơn Tây, ngoại thành Hà Nội. Đến thời nhà Lý đã phong Tản Viên là
“Thượng đẳng tối linh thần” và “Đệ nhất phúc thần”. Đền thờ chính của Thánh Tản
Viên chính là Đền Thượng núi Ba Vì. Để tưởng nhớ công đức ngài, cứ ba năm một
lần vào ngày 15 tháng giêng Âm lịch, tại đây diễn ra lễ hội lớn, với hàng vạn người
tham dự, lễ tắm ngai, đánh cá thờ, tục thờ làm cỗ thờ 99 đuôi cá, làm tiệc gỏi, múa
Rô, Cướp Kén, múa Gà phủ, rước Chúa gái (Mỵ Nương), trò Tản Viên đánh Thục.
“Tứ bất tử” thứ hai; Đức Thánh Gióng (Phù Đổng Thiên Vương) tượng trưng cho
tinh thần đoàn kết, chống ngoại xâm. Theo truyền thuyết, Đức Thánh Gióng sinh ra
tại xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội thời Vua Hùng thứ 6, trong một gia đình
nông dân nghèo. Sau khi dẹp yên giặc ngoại xâm, giúp quê hương được thái bình,
Thánh Gióng cởi bỏ giáp trụ, lặng lẽ lên đỉnh núi Vệ Linh (núi Sài tại Sóc Sơn, Hà
Nội) bay về trời. Vua Hùng ghi nhận công lao của Ngài, phong danh hiệu Phù
Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại Vệ Linh. Làng Gióng được đổi tên thành
làng Phù Đổng. Hàng năm vào ngày 9 tháng 4 Âm lịch, làng tổ chức lễ hội rất long
trọng, tái hiện truyền thuyết Thánh Gióng với các hoạt động như tập trận, đấu cờ
người… Những nơi mang dấu tích chiến công của Thánh Gióng đều được nhân
dân lập đền thờ, gìn giữ. Ngoài đền thờ chính ở làng Phù Đổng, còn có đền thờ ở
Sóc Sơn ở núi Vệ Linh, nơi Thánh Gióng đánh giặc xong cởi áo giáp sắt treo lên
cây để về trời. Trong tâm thức của người dân đất Việt, Thánh Gióng là niềm tự hào
của dân tộc Việt Nam, là hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân.
“Tứ bất tử” thứ ba; Thánh Chử Đạo Tổ (Chử đồng tử) tượng trưng cho tình yêu,
hôn nhân và sự sung túc, giàu sang. Truyền thuyết về Chử Đồng Tử lan truyền từ
khoảng thế kỷ (XV). Đây là câu chuyện của Đạo Giáo, Đạo Thần Tiên, một tín
ngưỡng vốn du nhập từ bên ngoài vào nước ta. Cốt lõi tín ngưỡng Chử Đạo Tổ là
tín ngưỡng Đạo giáo mang màu sắc tín ngưỡng dân gian thuần Việt. Với tấm lòng
biết ơn, tri ân Chử Đồng Tử nhân dân tôn thờ Ngài như ông tổ của Đạo thờ tiên
(Chử Đạo Tổ). Đền thờ của Ngài được nhân dân lập tại xã Dạ Trạch, huyện Khoái
Châu, tỉnh Hưng Yên, hàng năm tế lễ cầu mong một cuộc sống hạnh phúc, phồn 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
vinh. Lễ hội chính mở vào trung tuần tháng 2 âm lịch với các hoạt động dân gian
đặc sắc như múa rồng, hát, đấu cờ người… tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử đã đi vào
tâm thức dân gian không chỉ là người con hiếu thảo, nhân ái mà còn là biểu tượng
của một chí hướng phát triển cộng đồng mở mang khai phá đồng bằng trũng lầy
thành cánh đồng tốt tươi, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải và phát triển các ngành nghề
khác; đặc biệt nghề buôn bán. Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã mở một hướng mới
cho sự phát triển dân tộc, tạo nên sự giao lưu giữa dân tộc và cộng đồng bên ngoài.
Người Việt tôn thờ Chử Đồng Tử như ông tổ của đạo thờ tiên (Chử Đạo Tổ). Theo
thống kê, có tới 72 làng lập điện thờ Chử Đồng Tử, rải rác ở hai bờ tả ngạn sông
Hồng. Trong đó, Đền thờ chính của Ngài được nhân dân lập tại xã Dạ Trạch,
huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
“Tứ bất tử” thứ tư; Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Mẫu Thượng Thiên), tượng trưng cho
cuộc sống tinh thần, phúc đức, văn thơ. Trong tâm thức của nhân dân, Bà Chúa
Liễu Hạnh là một vị thần, một biểu tượng của khát vọng tự giải phóng, nhất là phụ
nữ muốn thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, của lễ giáo phong kiến, khát vọng
vươn tới đạt được những ước vọng của hạnh phúc gia đình. Đó cũng là ý thức hệ
nhân sinh của người dân Việt Nam đã được ký thác niềm tin vào biểu tượng người
Mẹ qua câu thành ngữ (Tháng 8 giỗ Cha, tháng 3 giỗ Mẹ). Bà được thờ phụng ở rất
nhiều nơi: tại Phủ Giầy ( quê hương bà ), tại Phủ Sòng, Thanh Hóa, tại Phủ Tây Hồ
(Hà Nội) – nơi tương truyền diễn ra cuộc gặp gỡ đàm đạo văn chương giữa Bà
Chúa Liễu Hạnh với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan.
Tín ngưỡng thờ “Tứ bất tử” là một nét sáng tạo độc đáo, riêng biệt thuần túy của
người Việt Nam được kết tinh từ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh “dựng nước và giữ nước”, là một bộ phận
không thể tách rời trong di sản văn hóa của dân tộc. Ngày nay, tín ngưỡng thờ “Tứ
bất tử” tiếp tục làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân; đồng thời
góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì một bộ phận không nhỏ người dân
tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng không bằng tâm thành kính, hướng về cội
nguồn, mà mang tính chất vụ lợi, thực dụng. Tâm lý trông chờ vào sự trợ giúp của
thần, thánh xuất hiện ở nhiều người và nhiều tầng lớp người trong xã hội. Hoạt
động lễ hội, tín ngưỡng sôi động trở lại nhưng nhiều giá trị văn hóa truyền thống
của dân tộc được dung nạp, duy trì hàng nghìn năm trong hệ thống tín ngưỡng
đang bị phát triển thiên lệch. 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
Câu 2: Văn hóa Đông Sơn
Văn hóa Đông Sơn được cho là đã hình thành trong bối cảnh biển lùi, đồng
bằng hình thành, cư dân Việt cổ di cư từ vùng cao xuống vùng thấp để cư trú định
cư. Nhiều học giả đã thừa nhận rằng văn hóa Đông Sơn hình thành trực tiếp từ ba
nền văn hóa ở lưu vực sông Hồng, sông Mã, sông Cả. Vào thế kỉ VII trước công
nguyên, các nền văn hóa bộ lạc mất dần tính địa phương, tiến tới chỗ hòa chung
vào một văn hóa thống nhất – văn hóa Đông Sơn. Đó là lúc các nhóm bộ lạc liên
kết lại trong một quốc gia: nước Văn Lang. Đây là nền văn hóa mang đậm tính bản
địa, là nền văn hóa phát triển rực rỡ, đỉnh cao thứ nhất trong tiến trình văn hóa Việt
Nam, đặt nền móng cho văn hóa Việt Nam truyền thống sau này.
Cư dân văn hóa Đông Sơn vẫn là cư dân nông nghiệp trồng lúa. Hình thức canh
tác chủ yếu là loại ruộng chờ mưa. Thời kì này họ có thể đã có những kĩ thuật trị
thủy như đắp đê chống lụt. Các loại hình nông cụ của cư dân Đông Sơn khá đa
dạng với cuốc, xẻng, mai, thuổng và đặc biệt lưỡi cày bằng kim loại đã tạo nên
bước nhảy vọt trong kĩ thuật canh tác. Nông nghiệp dùng cày phát triển (có nhiều
lưỡi cày đồng với các chủng loại phù hợp với từng loại đất). Cũng có thể ngay từ
thời kì này người ta đã biết làm 1 năm 2 vụ. Bên cạnh trồng trọt là chăn nuôi, việc
chăn nuôi trâu bò đã phát triển, trước tiên là để đảm bảo sức kéo cho nông nghiệp.
Trên trống đồng người ta thấy khắc hoa văn hình bò, trong một số di chỉ khảo cổ
học còn tìm thấy tượng đầu gà.
Kĩ thuật đúc đồng thau đạt tới đỉnh cao của thời kì này. Số lượng và loại hình
công cụ vũ khí bằng đồng tăng vọt. Đặc biệt, người Đông Sơn đã đúc những hiện
vật bằng đồng kích thước lớn, trang trí hoa văn phong phú – những trống đồng,
thạp đồng mà cho tới ngày nay nó vẫn là biểu tượng của văn hóa dân tộc. Kĩ thuật
luyện và rèn sắt cũng khá phát triển, đặc biệt ở giai đoạn cuối của văn hóa Đông
Sơn. Ngoài những ngành nghề kể trên, người Đông Sơn còn biết chế tạo thủy tinh,
làm mộc, sơn, dệt vải, đan lát, làm gốm, chế tác đá. Làng xóm thời kì này thường
phân bố ở những nơi đất cao, gần sông lớn, bởi đất cao sẽ khô ráo, tránh được ngập
lụt vào mùa mưa. Làng thời kì này có quy mô tương đương với xóm hay làng nhỏ
ngày nay, có chừng vài trăm người.
Có lẽ do hiện tượng chiến tranh đã trở nên thường xuyên nên chung quanh làng,
có những vành đai phòng thủ, mà khả năng lớn là các lũy tre làng. Công trình
phòng thủ thực sự với hệ thống thành lũy quy mô thời Đông Sơn ngày nay người ta
mới chỉ biết đến có một, đó là thành ốc Cổ Loa. 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
Người Đông Sơn đã có những phong tục, y phục khá phong phú, không phải chỉ
biết có ở trần, mặc vỏ sui như nhiều người thường nghĩ. Dựa vào trang trí trên cán
dao găm hình người, hoa văn trên trống đồng và thư tịch cổ, ta biết được ít nhất có
bốn kiểu để tóc. Các tài liệu đều phản ánh lối ăn mặc quần áo theo phương châm
giản dị, gọn gàng tới mức tối đa: ở trần, đóng khố, đi chân đất. Riêng với nữ phổ
biến mặc váy thay khố. Tuy vậy cũng có một số loại áo, áo cánh dài tay, áo xẻ
ngực bên trong có yếm. Ngoài ra còn có một số trang phục lễ hội như váy lông
chim hay lá kết, khố dài thêu… Người Đông Sơn ưa thích đồ trang sức – thường
được làm bằng đồng, thủy tinh. Khác với cư dân trước đó (ăn gạo nếp là chủ yếu)
cư dân Đông Sơn bắt đầu ăn gạo tẻ. họ còn ăn các loại hoa màu, rau quả, thủy sản.
Mô hình cơm–rau–cá trong cơ cấu bữa ăn của người Đông Sơn chứng tỏ sự hiểu
biết thấu đáo và sự hòa hợp cao độ của người Đông Sơn với môi sinh. Nhà ở của
cư dân Đông Sơn được tạo ra bằng các vật liệu dễ bị phá hủy theo thời gian. Hình
dáng nhà có các loại mái cong, mái tròn, và là nhà sàn. Về phương tiện đi lại, chủ
yếu là thuyền bè, đường vận chuyển chủ yếu là đường sông và ven biển. Ngoài ra
còn có đi bộ, gánh gồng mang vác trên vai, trên lưng, đã biết thuần dưỡng voi, dùng voi để chuyên chở.
Thời kì này là thời kì hình thành những huyền thoại, thần thoại. Hệ thống thần
thoại này dù đã bị vỡ ra từng mảnh trong thời Bắc thuộc, trước sự tiếp biến với văn
hóa Hán cũng như với các tôn giáo lớn từ bên ngoài, song vẫn còn lại ít nhiều qua
các ghi chép về sau này của người Việt và dưới dạng sử thi – thần thoại ở các bài
mo “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường. Những nghi lễ và tín ngưỡng giai đoạn
này gắn chặt với nghề nông trồng lúa nước. Đó là tục thờ mặt trời, mưa dông, các
nghi lễ phồn thực và những nghi lễ nông nghiệp khác như hát đối đáp gái trai, tục
đua thuyền, tục thả diều…
Đặc điểm nổi bật của thời kì này theo nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước là tư duy lưỡng phân, lưỡng hợp (dualisme). Người xưa cho rằng thế
giới được chia đôi: Có đàn ông ắt có đàn bà, có đực tất có cái, có âm ắt có dương.
Người Đông Sơn còn có tư duy khoa học, điều này thể hiện ở tri thức thiên văn
học, khái niệm số đếm, khái niệm lịch pháp… Phong tục tập quán của người Đông
Sơn cũng rất đa dạng, ví như tục nhuộm răng ăn trầu, xăm mình, ăn đất nung non,
tục ma chay, cưới xin… Các lễ hội: hội mùa với nghi lễ hiến sinh trâu bò, hội cầu
nước với lễ hiến tế, hội khánh thành trống đồng.
Nghệ thuật âm nhạc là ngành nghệ thuật quan trọng đã khá phát triển thể hiện
đời sống tinh thần của cả cư dân Đông Sơn. Nhạc cụ đáng lưu ý là trống đồng, sau
đó là sênh, phách, khèn. Giao lưu văn hóa thời kì này rất rộng rãi. Ngoài giao lưu 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
với Sa Huỳnh và Đồng Nai, ở phía Bắc có mối quan hệ và tiếp xúc với các cư dân
Nam Trung Hoa, phía Đông với các hải đảo, phía Tây với lục địa.
Câu 3: Tính nông nghiệp trong các thành tố văn hóa Việt Nam
Việt Nam ta từ xưa tới nay luôn được biết tới là một quốc gia có nền văn hóa vô
cùng phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh. Sự khác biệt về cấu trúc địa
hình, khí hậu, phân bố dân tộc, dân cư và sự khác nhau về lối sống, lối sản xuất đã
tạo ra nhiều vùng văn hóa có những nét đặc trưng riêng tại Việt Nam. Và đó cũng
là nguyên do hình thành nên loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Tính nông nghiệp
có ảnh hưởng lớn tới các thành tố văn hóa Việt Nam.
Gia đình người Việt, trong đại đa số trường hợp là gia đình hạt nhân. Gia đình
này là cơ cấu kinh tế tự cung – tự cấp theo mô hình “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”.
Người Việt sinh sống theo làng xã. Làng là một đơn vị cộng cư có một vùng đất
chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức xã hội nông nghiệp tiểu
nông tự cấp tự túc, mặt khác là mẫu hình xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với
sản xuất tiểu nông, với gia đình – tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự cân bằng và bền
vững của xã hội nông nghiệp ấy. Do vậy đã hình thành nên tín ngưỡng thờ Thành
hoàng làng. Với người dân ở cộng đồng lãng xã, vị thần thành hoàng làng được coi
như một vị thánh. Mỗi làng quê có một vị thánh của mình: trống làng nào làng ấy
đánh, thánh làng nào làng ấy thờ. Thành hoàng là nhân vật trung tâm của một sinh
hoạt văn hóa mà dân các làng quê cũng như các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian
gọi là lễ hội.Đó là ngày tưởng niệm vị thánh của làng. Đối với người dân, thành
hoàng là chỗ dựa tinh thần, nơi gửi gắm niềm tin cho họ, giúp họ vượt qua những
khó khăn của cuộc đời đầy sóng gió.
Đô thị ở Việt Nam xuất hiện khá chậm và ít, có sự hoà tan của thành thị trong
nông thôn do phân công lao động không rõ ràng, không triệt để. Nông thôn mang
tính chất áp đảo, vì vậy tư duy nông nghiệp, căn tính nông dân ảnh hưởng rất lớn
tới cư dân đô thị Việt Nam. Ở Việt Nam có hiện tượng nông thôn hóa đô thị mà
chúng ta thấy hiện nay vẫn là những vấn đề gây nhiều khó khăn cho việc quản lí,
xây dựng nếp sống đô thị.
Dân nông nghiệp sống phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên – đã ở cố định một chỗ
với cái nhà, cái cây của mình thì phải có ý thức tôn trọng, không ganh đua với 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu
thiên nhiên. Sống hòa hợp với thiên nhiên là mong muốn của cư dân các nền văn
hóa trọng tĩnh phương Đông. Người nông dân Việt Nam trong tâm thức, luôn coi
trời là chỗ dựa, là “người cứu tinh”. Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa nước sống
phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều. Không phải chỉ phụ thuộc vào một hai hiện
tượng riêng lẻ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, mưa…
Nắng, mưa nhiều quá, hoặc không nắng, không mưa đều nguy hiểm cả. Từ đó,
người Việt dần hình thành tín ngưỡng thờ các vị thần tự nhiên: thần Đất, thần
Nước,... để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Cái mà người làm nông
nghiệp quan tâm không phải là tập hợp của các yếu tố riêng rẽ mà là những mối
quan hệ qua lại giữa chúng. Tổng hợp có nghĩa là bao quát được mọi yếu tố, còn
biện chứng là chú trọng đến mối quan hệ giữa chúng. Đó chính là đặc trưng tư duy
của văn hóa gốc nông nghiệp mà nông nghiệp lúa nước là điển hình.
Chế độ mẫu hệ còn để lại ảnh hưởng khá đậm trong đời sống xã hội của cư dân
Việt Nam. Vì thế, người Việt có truyền thống thờ nữ thần, một đặc trưng cơ bản
của tín ngưỡng cư dân nông nghiệp. Bốn ngôi chùa quanh vùng Dâu (nay thuộc
huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) thờ các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi
và Pháp Điện. Nói cách khác, đó là bốn hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa
thành thần linh và có sự tích hợp với Phật giáo để phát triển và tồn tại. Từ chỗ thờ
các nữ thần mà hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên như mây, mưa, sấm,
chớp, người Việt đã thờ phụng các vị nữ thần cai quản các vùng không gian. Dần
dà, tín ngưỡng thờ Mẫu xuất hiện.
Cư dân Việt và cư dân các dân tộc ít người ở Việt Nam là những cư dân nông
nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nước. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo
ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp để
người dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho họ một mùa màng đã qua, vừa cầu
xin thần linh phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà, biến thiên thời gian đã
lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cư dân được
gọi là lễ hội.thừa hưởng những di sản văn hóa của nền văn minh lúa nước nên hầu
hết các lễ hội đều có tín ngưỡng thờ các thần nông nghiệp. Các lễ hội được tổ chức
hằng năm như thêm một lời nhắc nhở của tiền nhân với hậu thế, cần nhìn nhận đầy
đủ hơn về sự phát triển của nền nông nghiệp bền vững; đó cũng chính là tâm thế, là
thái độ ứng xử của con người trước thiên nhiên. 09:32, 08/01/2026
CSVH - Tín Ngưỡng Trong Đời Sống Người Việt: Phân Tích & Khảo Sát - Studocu