09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Câu 1: Tín ngưỡng trong đời sống người Việt: khái niệm, nguồn gốc
của tín ngưỡng, một số loại hình tín ngưỡng Việt Nam (nội dung,
những điểm tích cực và hạn chế trong việc thực hành tín ngưỡng):
1. Khái niệm và nguồn gốc tín ngưỡng:
Khái niệm:
oTheo nhà sử gia Đào Duy Anh: "lòng ngưỡng mộ, tín đối với
một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa"
oTheo từ điển tôn giáo: "là lòng tin sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng
vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí"
oLuật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: "là niềm tim của con người
được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập
quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho
nhân và cộng đồng"
oSự khác nhau giữa niềm tin thông thường niềm tin trong tín
ngưỡng sự thiêng hóa, khi con người gắn sự thiêng liêng vào
một sự vật, hiện tượng nào đấy, gắn cho những sự vật hiện tượng
này những khả năng siêu phàm sùng bái thần thánh hóa điều
đó lên.
Nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng: khi trình độ nhận thức của con người
còn hạn chế, khi con người chưa thể hoặc không thể giải thích được sự
xuất hiện của các hiện tượng tự nhiên hội, thì tín ngưỡng sản
phẩm văn hóa do con người tạo ra được hình thành trong mối quan hệ
giữa con người với môi trường tự nhiên môi trường hội với
chính bản thân mình.
1.1 Tín ngưỡng phồn thực: (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là sinh sản)
Khái niệm:
oLà sự sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản
o nhiều nền văn hóa khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ
đặc biệt phổ biến nền văn hóa nông nghiệp dân nông
nghiệp sống dựa vào trồng trọt mong muốn được mùa màng ơi
tốt, bội thu mong ước phát triển giống nòi để nhiều người,
nhiều sức lao động nhân lực để tham gia công việc sản xuất
oThể hiện ước vọng, niềm cầu mong về sự sinh sôi của tạo vật
con người.
Biểu hiện:
oTục thờ biểu tượng của sinh thực khí (như thờ cột trụ đá, thờ khe
nứt đá tự nhiên, thờ hốc cây, thờ chày thờ cối)
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
oTục thờ hành vi giao phối, giao hoan. (cột đá trước cửa ngôi chùa
Dạm, thờ Linga và Yoni (sinh thực khí nam và sinh thực khí nữ) của
người Chăm, hay nhà mồ ở Tây Nguyên)
oThể hiện thông qua lễ hội (thường diễn ra vào mùa xuân, mùa của
sự sinh sôi):
Lễ hội Linh tinh tình phộc tại miếu Trò làng Trám-tỉnh Phú Thọ
Lễ rước pháo (tượng trưng cho Linga) làng Đồng Kỵ, đốt
pháo rồi rải tro than khắp các cánh đồng với mong muốn
kích thich cây cối đâm chồi nảy lộc
Trò chơi đánh đu, trò chơi bắt trạch trong chum; trò bịt mắt
bắt dê.
Trò đấu vật, trong đó sới vật bất cứ đâu cũng đều hình
tròn và thường được đặt trước sân đình hình vuông. Vuông và
tròn theo quan niệm của dân tộc Việt là 2 hình toàn vẹn. Hình
tròn tượng trưng cho trời, cho tính dương, hình vuông tượng
trưng cho đất, cho tính âm, vuông tròn - âm đương đặt
cạnh nhau nghĩa là một sự kết hợp hài hòa, trọn vẹn và mang
lại những điều tốt đẹp.
Những hoạt động, trò chơi đó giúp các lằn ranh giữa nam
nữ được tạm thời xóa bỏ, thể hiện ước vọng cầu duyên, giúp
trai gái nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái.
oThể hiện thông qua thơ ca, hội họa:
Tín ngưỡng phồn thực còn được thể hiện cả trong hội họa
đặc trưng dòng tranh Đông Hồ Bắc Ninh. Rất nhiều bức
tranh mang sắc thái phồn thực, thể hiện ước mong một cuộc
sống viên mãn như tranh đàn gà, đàn lợn, đàn cá.
Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn cảnh sinh hoạt cũng
được trang trí với hình đôi trai gái cầm chày giã gạo, trong đó
chày tượng trưng cho yếu tố dương, cối tượng trưng cho âm.
1.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
Khái niệm:
o sự sùng bái, thiêng hóa các hiện tượng tự nhiên Th hiện ước
vọng, niềm cầu mong mưa thuận gió hòa
Nguồn gốc và đặc điểm:
oDo phụ thuộc và tự nhiên (dodân nông nghiệp phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, khí hậu, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên)
oĐa thần và đồng nhất với các nữ thần
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Người Việt thường đồng nhất các vị thần tự nhiên với các nữ
thần: một người hoặc mẹ (nữ thần) cai quản một hiện
tượng tự nhiên nào đấy, đều những người phụ nữ trung
tuổi (còn nếu sự xuất hiện của các vị nữ thần trẻ thì đều
nằm dưới quyền của vị nữ thần lớn tuổi), được gọi
được gọi mẹ khi đã sinh nở ít nhất một lần rồi, với cái đích
hướng tới vẫn là cầu mong sự sinh sôi nảy nở
Sách "Hội chân biên" in năm 1847 đời vua Thiệu Trị, do Thanh
Hoa Tử tập hợp có viết: "27 vị thần tiên nguồn gốc thuần Việt,
có tới 17 vị là Tiên nữ"
"Từ điển di tích văn hóa Việt Nam" ghi: "trong số 1064 vị
thần thì đến 253vị nữ, chiếm ¼ số lượng các thần được
thờ ở các đình, đền, miếu, phủ..."
Nhà dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn cho hay: "Nữ thần chiếm
đến 1/5 số lượng các vị Thành hoàng được nhà nước phong
kiến phong thần trên khắp đất nước Việt Nam"
Biểu hiện
oTục thờ các hiện tượng tự nhiên (thờ không gian, Ngũ Hành
nương nương, Ngũ đạo chi thần, Ngũ phương chi thần, thờ thần
thời gian, thờ ông Táo, cúng giao thừa, cúng 12 bà mụ)
oTục thờ động vật, thực vật (thờ hổ, rắn, sấu, chim, rùa, thờ cây
lúa rất phổ biến do cây lúa cây lương thực chủ đạo của người
Việt)
oTheo quan niệm của người xưa, tiếng trống tượng trưng cho tiếng
sấm sét, báo hiệu cho mưa thuận gió hòa, giúp cây cối, mùa màng
tốt tươi. Người ta thường đánh 3 tiếng trống. Tiếng thứ nhất tượng
trưng cho thiên, tiếng thứ 2 tượng trưng cho địa, tiếng thứ 3 tượng
trưng cho nhân, ý chỉ thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
oCác hình ảnh trên Trống đồng (đặc biệt trống đồng Đông Sơn)
còn tái hiện lại những hoạt động sản xuất, vui chơi những hình
tượng các con vật tổ của cư dân Việt tổ.
1.3 Tín ngưỡng sùng bái con người:
Nguồn gốc:
oQuan niệm về Hồn-Vía-Thể xác:
Hồn và vía là tinh thần, bắt ng từ quan niệm vạn vật hữu linh,
vạn vật nhất thể, âm dương tương cao tương cảm.
Hồn bản chất trong sạch, quý giá nhất của sự vật hiện
tượng ko thể tiếp cận mà chỉthể lĩnh hội nhờ trực giác, khí
– tinh chuyển động tạo ra khí, ngọn nguồn sự sống, thần – kết
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
tụ tinh khí tạo thành thể hình nhưng cx thể hoá
thành hữu hình.
Vía còn gọiphách là những lỗ trên thể con người để con
người thể liên thông được với trời đất, nam giới thì 7
vía, ở nữ giới có 9 vía.
Sau khi con người chết đi thì vía và thể xác sẽ mất đi còn hồn
sẽ lại để phù hộ độ trì cho con cháu, hồn 3 phần tinh-
khí-thần
oThể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, đề cao đạo hiếu đối
với những người đi trước
Thể hiện:
oTục thờ cúng tổ tiên
oThờ những người công với làng (truyền nghề cho dân, khai
hoang lập làng, giúp đỡ cưu mang dân làng), danh nhân, anh hùng
oThờ vua tổ (thờ cúng Hùng Vương giúp liên kết đoàn kết các cộng
đồng người trên đất nước Việt Nam)
1.4 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng:
Là một trong những tín ngưỡng quan trọng của các làng xã Việt Nam
một tín ngưỡng độc lập những lại mối quan h với tín ngưỡng
sùng bái con người trong đối tượng thờ phụng của Thành hoàng làng
còn có những người có công với đất nước, có công với làng xã, từ đó thể
hiện một trong những đặc điểm của tín ngưỡng Việt Nam tính tổng
hợp hỗn dung rất cao.
Giải nghĩa: thành nghĩa thành trì, hoàng nghĩa hào bao quanh
thành đó (khi người ta đổ nước vào những cái hào được đào xung quang
thành đó thì được gọi là trì)
Nguồn gốc: bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời nhà Chu, khi hội cổ đại
Trung Quốc bắt đầu thời phát triển, các khu vực thành trì (nơi trú
của các quan lạithị dân), họ thường xây một cái miếu để thờ vị thần
bảo vệ, bảo trợ cho thành trì, đô thị đó, người ta gọi là Thành hoàng.
Du nhập vào Việt Nam thời nhà Đường (tín ngưỡng thờ Thành hoàng
phá triển nhất thời Đường, làng nào cũng những miếu thờ Thành
hoàng, các quan lại địa phương người phụ trách thờ phụng các vị
thần).
Khi tín ngưỡng thờ Thành hoàng du nhập vào Việt Nam đã những sự
thay đổi.
oNgười Việt vẫn giữ vị Thành hoàng người bảo trợ, bảo vệ cho đô
thị gọi Đô thành hoàng (người bảo trợ cho đô thị, đô thành
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
đồng thời là kinh đô của nước ta-vị thần sông Tô Lịch là bảo trợ cho
thành Đại La).
oTừ đô thành lan tỏa ra các làng xã. Nhưng trước khi sự du nhập
của tín ngưỡng thờ Thành hoàng thì các làng Việt đã tục
thờ những người được dân làng tôn vinh-các vị thần làng. người
Việt đã dung hợp, kết hợp giữa thờ Thành hoàng các vị thần
làng (chọn ra 1 vị thần công trạng, công lao lớn nhất trong các vị
thần) thành tín ngưỡng thờ Thành hoàng Làng.
oThành hoàng Làng của người Việt có nhiều nguồn gốc xuất thân:
Thiên thần: thần của các hiện tượng thiên nhiên mây mưa
sấm chớp: Thánh Gióng
Nhiên thần: : Vua Cha Bát Hải Động Đình, Thuỷ Tinh (thuỷ
thần); Sơn Tinh, Cao Sơn Đại Vương, Thánh Minh Vương (thần
núi, sơn thần)
Nhân thần: : người thường nhưng công trạng, sự tích gắn
liền với làng nên được làng thờ phụng
Chính thần (Phúc thần): người có công với làng với nước,
được tôn vinh, được triều đình sắc phong.
-Thượng đẳng phúc thần: công với dân tộc, với
đất nước (đánh đuổi ngoại xâm, công hộ quốc
dân): Hai Bà Trưng, Ngô Quyền
-Trung đẳng phúc thần: những vị thần dân làng thờ
đã lâu, họ tên không công trạng; hoặc
quan tước không họ tên, hoặc những
thần có chút linh vị:
-Hạ đẳng phúc thần: công với chính làng địa
phương đó
Tà thần, dâm thần
- nguồn gốc xuất thân hèn kém, thờ do sau cái
chết những người này có chuyện xảy ra với làng: ăn
nên làm ra hoặc gặp khó khăn thiên tai làng nên
được làng thờ phụng như thần ăn trộm, thần gắp
phân.
Tục hèm: những điều kiêng kỵ, hoặc nên làm của làng
đó gắn với Thành hoàng Làng. (kiêng không nói tên tục của
thần, như làng Triều Khúc Thanh Xuân kiêng kỵ không gọi
từ bố Thành hoàng Làng của làng Triều Khúc Bố Cái Đại
vương Phùng Hưng)
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Lễ mật: những nghi lễ mật chỉ dân làng biết, thường
được vào lúc nửa đêm để diễn tả lại một lời nói hoặc hành
động gắn liền với Thành hoàng Làng đó.
1.5 Tín ngưỡng thờ Tứ bất tử
Tứ bất tử gồm 4 nhân vật sống mãi trong tâm thức dân gian của
người Việt:
oThánh Tản Viên:
Thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên, mưa thuận gió hòa,
biểu trưng cho sức mạnh con người
Biểu hiện cho không gian văn hóa xứ Đoài (Thăng Long nằm
trung tâm, nhìn về 4 phía)
oChử Đồng Tử:
Thể hiện ước vọng cuộc sống giàu sang, phát triển
Biểu tượng không gian văn hóa xứ Đông (ngày xưa gọi xứ
Hải Đông: nơi
xuất hiện đô thị sớm nhất vùng Bắc Bộ nước ta: Phố Hiến
Hưng Yên, Vân Đồn Hải Dương, dễ dàng giao lưu với cộng
đồng bên ngoài)
Được coi là ông tổ nghề buôn
oThánh Gióng:
Thể hiện tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, khát
vọng hòa bình
Biểu tượng cho không gian văn hóa xứ Bắc (hướng luôn phải
đề phòng bởi ý đồ chinh phục từ phía Bắc)
oThánh Mẫu Liễu Hạnh (trước tki 16 là Từ Đạo Hạnh):
Do thời Hậu Lê, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, ảnh hưởng
đến đời sống người Việt, đặc biệt là sự hạn chế trong tư tưởng
trọng nam khinh nữ. Người Việt muốn tìm chỗ dựa tinh thần,
an ủi cho đời sống; thời này xuất hiện tranh giành quuyền
lực vuachúa Trịnh, mẫu thuẫn họ Lêhọ Nguyễn, xã hội
loạn lạc, nội chiến Đàng Trong Đàng Ngoài, người dân lầm
than khổ cực sáng tạo nên câu chuyện Thánh Mẫu Liễu Hạnh
được Quán Thế Âm cảm phục, quy y, tìm về ng mẹ để làm
chỗ dựa tinh thần cho mình
Là biểu hiện của tục thờ nữ thần, mẫu thần ở Việt Nam.
Thể hiện ước vọng giải phóng con người, nhất phụ nữ (giải
phóng khỏi những khuôn phép, giáo điều của lễ giáo phong
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
kiến xưa-đã quá bị ảnh hưởng bởi nho giáo, đặc biệt bởi
tưởng trọng nam khinh nữ)
Biểu tượng không gian văn hóa xứ Nam
1.6 Đạo Mẫu:
Tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần+ Đạo giáo
Trong đời sống tín ngưỡng người Việt xu hướng nữ thần hoá. dân
Việt sống bằng nghề nông nghiệp (vai trò của phụ nữ rất quan trọng,
được phân hoá rõ ràng, ko quá phụ thuộc vào đàn ông), phụ nữ gắn liền
với sự sinh sôi nảy nở (điều được dân ta coi trọng), hội truyền thống
đề cao phụ nữ
Tương đối nhất quán về điện thần với các phủ đền
Các nghi lễ bắt đầu được chuẩn hóa
Chứa đựng những nhân tốc về trụ luận nguyên sơ: 4 miền không
gian
Thể hiện ý thức nhân sinh (cách nhìn nhận của con người về cuộc đời,
sự tham sự của con người trong cuộc đời), ý thức về cội nguồn dân tộc,
đất nước, chứa đựng lòng yêu nước
Hình thức thể hiện:
oĐiện thờ
oHát chầu văn
oHầu đồng
Hệ thống thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu
oNữ thần:
Đích là cầu mong sự sinh sôi nảy nở, nữ thần thường là những
người phụ nữ ít nhất đã trải qua một lần sinh nở (chùa
Đanh, chùa Thiên Mụ, chùa Bà Đậu, chùa Bà Đen)
Mang tính nguyên sơ, bản địa
Phổ cập rộng rãi trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian
Sản phẩm từ điều kiện kinh tế-xã hội nông nghiệp
oMẫu thần:
Nữ thần được tôn vinh, cung đình hóa (khởi nguồn từ tục thờ
mẫu thân là tục thờ nữ thần được cung đình hóa)
Quốc Mẫu (Âu Cơ, Nguyên Phi Lan, Linh Từ Quốc Mẫu...),
Vương Mẫu (Hai Bà Trưng), Thánh Mẫu (Liễu Hạnh)
oMẫu Tam phủ, Tứ phủ:
Quan niệm về không gian của người xưa: Tam phủ: thiên phủ,
địa phủ, thoại phủ; Tứ phủ: sáng tạo thêm nhạc phủ (miền
rừng núi) -> thiên phủ, địa phủm thoại phủ, nhạc phủ
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Khái quát hóa cao độ của tín ngưỡng thờ Mẫu thần, sự hỗn
dung tổng hợp giữa Nữ thần, Mẫu thần, và Đạo giáo
Có từ sau thế kỉ 16
1.7 Những điểm tích cực tiêu cực trong việc thực hành tín ngưỡng Việt
Nam:
Mặt tích cực:
oGiữ gìn, phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống tốt đẹp
Lòng hiếu thảo, yêu nước, tính cộng đồng (tục thờ tổ tiên,
thành hoàng làng, người có công với làng xóm, đất nước)
Đề cao tính hướng thiện, khuyên con người làm điều lành,
tránh điều ác từ đó góp phần tạo nên chỗ dựa tinh thần
ứng xử hài hòa trước môi trường tự nhiên, đoàn kết cộng
đồng:
Phật giáo: “Ngũ giới”, “thập thiện”: ko sát sinh, ko trộm
cướp, ko nói điều sai trái, ko tham lam…..
Công giáo: tinh thần bác ái, yêu thương đồng loại
oBảo tồn văn hóa: các truyền thống được lưu giữ trong các di sản
văn hóa tôn giáo như đền, chùa, miếu mạo, nhà thờ, các nghi lễ
tôn giáo.
oĐóng góp cho văn hóa dân tộc những di sản nghệ thuật về kiến
trúc và văn học
Mặt tiêu cực:
oTín ngưỡng đang chiều hướng phát triển thiên lệch, xa rời dần
bản chất. Hơn thế nữa, nhận thức của người dân về các giá trị văn
hóa truyền thống trong, tín ngưỡng có xu hướng lệch lạc.
o Trong nhiều tín ngưỡng còn tồn tại những tục hèm tối cổ, ít hoặc
không còn phù hợp với điều kiện mới, gây ảnh hưởng không nhỏ
đến tâm lý con người hiện đại.
oCông tác bảo tồn, trùng tu di tích, khôi phục các loại hình tín
ngưỡng đang xu hướng làm sai lệch hoặc biến dạng những giá
trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
oNhiều sinh hoạt tín ngưỡng dân gian có tác động mạnh mẽ đến đời
sống tôn giáo làm biến dạng nhiều giá trị văn hóa tôn giáo truyền
thống, gây tác động xấu đối với xã hội, gây khó khăn cho công tác
quản lý Nhà nước.
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Câu 2: Văn hóa Đông Sơn: bối cảnh, đặc trưng, thành tựu
văn hóa.
1. Bối cảnh hình thành của văn hóa Đông Sơn:
Câu 3: Tính nông nghiệp trong các thành tố văn hóa Việt
Nam:
1. Trong văn hóa tổ chức đời sống tập thể:
1.1 Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên:
Nghề trồng trọt buộc ngươi dân phải sống định cư, sản xuất để chờ
cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc nhiều
vào thiên nhiên, thời tiết nên cư dân nông nghiệpý thức tôn trọng
và ước vọng sống hòa hợp vời thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…
Người nông dân Việt trong tâm thức luôn coi trời một thế lực siêu
nhiên, chỗ dựa tinh thần cho nên những câu ca dao rất gần gũi
như: “Ơn trời mưa nắng phải thì/ Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu” hay
như: "Cầu ông mưa thuận gió hòa/ Cho cây lúa trổ, cho cà đơm bông"
vậy trước những thiên tai, những hiện tượng tự nhiên cực đoan
như bão, lụt, dân nông nghiệp đặc biệt dân Việt vẫn
mong muốn thuần phục, chiến thắng, cảm hóa được thiên nhiên. Thể
hiện qua những câu chuyện cổ tích dân gian như Sơn Tinh Thủy Tinh.
1.2 Trong cách tư duy:
nghề nông, nhât nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc
phụ thuộc vào tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên: đất, nước, mưa,
nắng… Nên người Việt luôn theo dõi để ý các dấu hiệu thay đổi
của thời tiết thiên nhiên
Dân gian câu: Người ta đi cấy lấy công,/ Tôi nay đi cấy còn
trông nhiều bề./ Trông trời, trông đất, trông mây,/ Trông mưa,
trông nắng, trông ngày, trông đêm./ Trông cho chân cứng đá
mềm,/ Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng."
Trong nhận thức của người dân dần hình thành lối tư duy tổng hợp,
bao quát thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh
cảm). Người Việt đã đúc kết những kinh nghiệm trồng trọt của
mình từ sự quan sát những mối quan hệ, liên kết giữa các yếu tố,
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
hiện tượng tự nhiên với nhau truyền lại cho đời sau thông qua
những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ gần gũi, giản dị, đầy xúc
tích: "Bầu nắng, mướp đắng mưa, dưa đại hạn" hay "Chuồn chuồn
bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm"
Cuộc sống cách ứng xử của người Việt ta luôn coi trọng sự hài
hòa, các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lí.
Cùng với duy lưỡng phân lưỡng hợp, bộc lộ rất đậm nét qua
khuynh hướng cặp đôi ở khắp nơi, từ tư duy đến cách sống từ cách
dấu vết cổ xưa đến những thói quan hiện đại: ông Đồng Cốt,
ngói âm dương lợp nhà phải viên ngửa viên sấp.
Nhưng chínhlối tư duy nặng về kinh nghiệm chủ quan, cảm tính
kết hợp với lối sống trọng tình đã tạo nên thói quenduy, ứng xử
tùy tiện.
1.3 Trong tổ chức cộng đồng:
dân nông nghiệp tổ chức hội theo nguyên tắc trọng tình, chuộng
sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến hàng xóm láng giềng. đời
sống dựa vào nông nghiệp nên dân trồng trọt ưa sự ổn định sống
cố định lâu dài với nhau trong một cộng đồng khép kín, khuôn phép
riêng biệt, tạo ra một cuộc sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu.
oBiểu hiện trong câu ca dao: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần"
hay "Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau".
oKhông chỉ tình làng nghĩa xóm, dân ta còn luôn ưa chuộng hòa
bình, luôn có thái độ sống hòa thuận, tương trợ nước láng giềng.
oHiện nay, Việt Nam vẫn luôn giữu thái độ thân thiện, hòa đồng
không chỉ với các nước anh em láng giềng còn với tất cả các
quốc gia trên thế giới.
dân nông nghiệp còn thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu, đề
cao nguyên lý Mẹ.
oTrong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà, coi
trọng cái bếp và coi trọng người phụ nữhoàn toàn nhất quán và
rõ nét: Phụ nữ Việt Nam là người quản lí kinh tế, tài chính trong gia
đình người nắm tay hòm chìa khóa. Chính bởi vậy người Việt
Nam coi "Nhất vợ nhì trời"; "Lệnh ông không bằng cồng bà…" Phụ
nữ Việt Nam cũng chính người vai trò quyết định trong
việcgiáo dục con cái: "Phúc đức tại mẫu", "Con dại cái mang".
o tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái
với nghĩa “mẹ” đã mang thêm nghĩa “chính, quan trọng”: sông
cái, đường cái, đũa cái.
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
oTuy nhiên trong một giai đoạn của xãhội cũ, tưởng trọng nam
khinh nữ đã bị truyền vào Việt Nam đã bịngười dân phản ứng
một cách dữ dội
oTrong các cồn đồng ít bị ảnh hưởng bởi Nho giáo và tư tưởng trọng
nam khinh nữ, như dân tộc Tây Nguyên hay Khmer vai trò của
người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng
về ở đằng nhà vợ,con cái đặt tên theo họ mẹ…
Vì sống bằng trồng trọt, nên người dân Việt rất trọng kinh nghiệm và đề
cao tuổi tác, kinh nghiệm. Người già, những lão vai trò chỗ
đứng quan trọng trong cộng đồng Việt cả xưa nay. Người già luôn
đối tượng đầu tiên được hỏi xin lời khuyên hoặc đưa ra quyết trong
những công việc quan trọng của một gia đình, làng xóm hay cả đất
nước (Hội nghị Diêm Hồng)
1.4 Về cách thức tổ chức cộng đồng:
Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến
lối sống linh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể:
oTrong ca dao tục ngữ: "Lạt mềm buộc chặt", " Đi với Bụt mặc áo
cà-sa, đi với ma mặc áo giấy", "cứng quá thì gãy"
Lối sống trọng tình cách xử linh hoạt, hòa thuận dẫn đến tâm
coi trọng cộng đồng, tập thể. Người dân nông nghiệp làm cũng phải
nghĩ đến tập thể và tinh thần đoàn kết.
Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt thói tùy tiện biểu hiện tật
cogiãn giờ giấc (giờ cao su), sự thiếu tôn trọng pháp luật… Lối sống
trọng tình làm cho thói tùy tiện càng trở nên trầm trọng hơn: “Một bồ
cái lí không bằng một tí cái tình”… Nó dẫn đến tệ “đi cửa sau” trong giải
quyết công việc: “Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế”…
1.5 Trong lối ứng xử với môi trường xã hội:
duy tổng hợp phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn
quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố.
o Yếu tố của văn hóa Việt Nam văn hóa mang tính hỗn dung
tổng hợp từ nhiều nguồn văn hóa.
oViệt Nam không những không cóchiến tranh tôn giáo mà, ngược
lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho giáo,Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa
giáo…) đều được tiếp nhận và đều bình đẳng giữa các tôn giáo.
Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức
mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi
khi thế thắng đã thuộc về ta một cách ràng, cha ông ta thường dừng
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
lại chủ động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng
rút lui trong danh dự.
®Tuy nhiên văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của
tiến trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề điều
kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế
tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam dẫn đến sự trì trệ
của hội Việt Nam. Vậy nên bên cạnh sự giữ gìn nên văn hóa đặc
trưng của dântộc, ta còn cần biết sáng tạo, vận dụng những thành quả
tiến bộ của nền văn minh thế giới.
2. Trong văn hóa tổ chức đời sống tinh thần
2.1 Tín ngưỡng phồn thực: (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là sinh sản)
Khái niệm:
oLà sự sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản
o nhiều nền văn hóa khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ
đặc biệt phổ biến nền văn hóa nông nghiệp dân nông
nghiệp sống dựa vào trồng trọt mong muốn được mùa màng ơi
tốt, bội thu mong ước phát triển giống nòi để nhiều người,
nhiều sức lao động nhân lực để tham gia công việc sản xuất
oThể hiện ước vọng, niềm cầu mong về sự sinh sôi của tạo vật
con người.
Biểu hiện:
oTục thờ biểu tượng của sinh thực khí (như thờ cột trụ đá, thờ khe
nứt đá tự nhiên, thờ hốc cây, thờ chày thờ cối)
oTục thờ hành vi giao phối, giao hoan. (cột đá trước cửa ngôi chùa
Dạm, thờ Linga và Yoni (sinh thực khí nam và sinh thực khí nữ) của
người Chăm, hay nhà mồ ở Tây Nguyên)
oThể hiện thông qua lễ hội (thường diễn ra vào mùa xuân, mùa của
sự sinh sôi):
Lễ hội Linh tinh tình phộc tại miếu Trò làng Trám-tỉnh Phú Thọ
Lễ rước pháo (tượng trưng cho Linga) làng Đồng Kỵ, đốt
pháo rồi rải tro than khắp các cánh đồng với mong muốn
kích thich cây cối đâm chồi nảy lộc
Trò chơi đánh đu, trò chơi bắt trạch trong chum; trò bịt mắt
bắt dê.
Trò đấu vật, trong đó sới vật bất cứ đâu cũng đều hình
tròn và thường được đặt trước sân đình hình vuông. Vuông và
tròn theo quan niệm của dân tộc Việt là 2 hình toàn vẹn. Hình
tròn tượng trưng cho trời, cho tính dương, hình vuông tượng
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
trưng cho đất, cho tính âm, vuông tròn - âm đương đặt
cạnh nhau nghĩa là một sự kết hợp hài hòa, trọn vẹn và mang
lại những điều tốt đẹp.
Những hoạt động, trò chơi đó giúp các lằn ranh giữa nam
nữ được tạm thời xóa bỏ, thể hiện ước vọng cầu duyên, giúp
trai gái nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái, tăng thêm lực
lượng sản xuất.
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên:
Khái niệm:
o sự sùng bái, thiêng hóa các hiện tượng tự nhiên Th hiện ước
vọng, niềm cầu mong mưa thuận gió hòa
Nguồn gốc và đặc điểm:
oDo phụ thuộc và tự nhiên (dodân nông nghiệp phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, khí hậu, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên)
oĐa thần và đồng nhất với các nữ thần
Người Việt thường đồng nhất các vị thần tự nhiên với các nữ
thần: một người hoặc mẹ (nữ thần) cai quản một hiện
tượng tự nhiên nào đấy, đều những người phụ nữ trung
tuổi (còn nếu sự xuất hiện của các vị nữ thần trẻ thì đều
nằm dưới quyền của vị nữ thần lớn tuổi), được gọi
được gọi mẹ khi đã sinh nở ít nhất một lần rồi, với cái đích
hướng tới vẫn là cầu mong sự sinh sôi nảy nở
Biểu hiện
oTục thờ các hiện tượng tự nhiên (thờ không gian, Ngũ Hành
nương nương, Ngũ đạo chi thần, Ngũ phương chi thần, thờ thần
thời gian, thờ ông Táo, cúng giao thừa, cúng 12 bà mụ)
oTục thờ động vật, thực vật (thờ hổ, rắn, sấu, chim, rùa, thờ cây
lúa rất phổ biến do cây lúa cây lương thực chủ đạo của người
Việt)
oTheo quan niệm của người xưa, tiếng trống tượng trưng cho tiếng
sấm sét, báo hiệu cho mưa thuận gió hòa, giúp cây cối, mùa màng
tốt tươi. Người ta thường đánh 3 tiếng trống. Tiếng thứ nhất tượng
trưng cho thiên, tiếng thứ 2 tượng trưng cho địa, tiếng thứ 3 tượng
trưng cho nhân, ý chỉ thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
oCác hình ảnh trên Trống đồng (đặc biệt trống đồng Đông Sơn)
còn tái hiện lại những hoạt động sản xuất, vui chơi những hình
tượng các con vật tổ của cư dân Việt tổ.
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
2.3 Đạo Mẫu:
Tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần+ Đạo giáo
Trong đời sống tín ngưỡng người Việt xu hướng nữ thần hoá. dân
Việt sống bằng nghề nông nghiệp (vai trò của phụ nữ rất quan trọng,
được phân hoá rõ ràng, ko quá phụ thuộc vào đàn ông), phụ nữ gắn liền
với sự sinh sôi nảy nở (điều được dân ta coi trọng), hội truyền thống
đề cao phụ nữ
09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu

Preview text:

09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Câu 1: Tín ngưỡng trong đời sống người Việt: khái niệm, nguồn gốc
của tín ngưỡng, một số loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam (nội dung,
những điểm tích cực và hạn chế trong việc thực hành tín ngưỡng):

1. Khái niệm và nguồn gốc tín ngưỡng: Khái niệm:
oTheo nhà sử gia Đào Duy Anh: "lòng ngưỡng mộ, mê tín đối với
một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa"
oTheo từ điển tôn giáo: "là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng
vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí"
oLuật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: "là niềm tim của con người
được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập
quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng"
oSự khác nhau giữa niềm tin thông thường và niềm tin trong tín
ngưỡng là sự thiêng hóa, khi con người gắn sự thiêng liêng vào
một sự vật, hiện tượng nào đấy, gắn cho những sự vật hiện tượng
này những khả năng siêu phàm và sùng bái thần thánh hóa điều đó lên.
Nguồn gốc ra đời của tín ngưỡng: khi trình độ nhận thức của con người
còn hạn chế, khi con người chưa thể hoặc không thể giải thích được sự
xuất hiện của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, thì tín ngưỡng là sản
phẩm văn hóa do con người tạo ra được hình thành trong mối quan hệ
giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội và với chính bản thân mình.
1.1 Tín ngưỡng phồn thực: (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là sinh sản) Khái niệm:
oLà sự sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản
oCó ở nhiều nền văn hóa khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và
đặc biệt phổ biến ở nền văn hóa nông nghiệp vì cư dân nông
nghiệp sống dựa vào trồng trọt mong muốn được mùa màng tươi
tốt, bội thu và mong ước phát triển giống nòi để có nhiều người,
nhiều sức lao động nhân lực để tham gia công việc sản xuất
oThể hiện ước vọng, niềm cầu mong về sự sinh sôi của tạo vật và con người. Biểu hiện:
oTục thờ biểu tượng của sinh thực khí (như thờ cột trụ đá, thờ khe
nứt đá tự nhiên, thờ hốc cây, thờ chày thờ cối) 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
oTục thờ hành vi giao phối, giao hoan. (cột đá trước cửa ngôi chùa
Dạm, thờ Linga và Yoni (sinh thực khí nam và sinh thực khí nữ) của
người Chăm, hay nhà mồ ở Tây Nguyên)
oThể hiện thông qua lễ hội (thường diễn ra vào mùa xuân, mùa của sự sinh sôi):
Lễ hội Linh tinh tình phộc tại miếu Trò làng Trám-tỉnh Phú Thọ
Lễ rước pháo (tượng trưng cho Linga) ở làng Đồng Kỵ, đốt
pháo rồi rải tro than ở khắp các cánh đồng với mong muốn
kích thich cây cối đâm chồi nảy lộc
Trò chơi đánh đu, trò chơi bắt trạch trong chum; trò bịt mắt bắt dê.
Trò đấu vật, trong đó sới vật ở bất cứ đâu cũng đều có hình
tròn và thường được đặt trước sân đình hình vuông. Vuông và
tròn theo quan niệm của dân tộc Việt là 2 hình toàn vẹn. Hình
tròn tượng trưng cho trời, cho tính dương, hình vuông tượng
trưng cho đất, cho tính âm, vuông và tròn - âm và đương đặt
cạnh nhau nghĩa là một sự kết hợp hài hòa, trọn vẹn và mang
lại những điều tốt đẹp.
Những hoạt động, trò chơi đó giúp các lằn ranh giữa nam và
nữ được tạm thời xóa bỏ, thể hiện ước vọng cầu duyên, giúp
trai gái nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái.
oThể hiện thông qua thơ ca, hội họa:
Tín ngưỡng phồn thực còn được thể hiện cả trong hội họa mà
đặc trưng là dòng tranh Đông Hồ ở Bắc Ninh. Rất nhiều bức
tranh mang sắc thái phồn thực, thể hiện ước mong một cuộc
sống viên mãn như tranh đàn gà, đàn lợn, đàn cá.
Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn có cảnh sinh hoạt cũng
được trang trí với hình đôi trai gái cầm chày giã gạo, trong đó
chày tượng trưng cho yếu tố dương, cối tượng trưng cho âm.
1.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: Khái niệm:
oLà sự sùng bái, thiêng hóa các hiện tượng tự nhiên Thể hiện ước
vọng, niềm cầu mong mưa thuận gió hòa
Nguồn gốc và đặc điểm:
oDo phụ thuộc và tự nhiên (do cư dân nông nghiệp phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, khí hậu, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên)
oĐa thần và đồng nhất với các nữ thần 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Người Việt thường đồng nhất các vị thần tự nhiên với các nữ
thần: là một người bà hoặc mẹ (nữ thần) cai quản một hiện
tượng tự nhiên nào đấy, và đều là những người phụ nữ trung
tuổi (còn nếu có sự xuất hiện của các vị nữ thần trẻ thì đều
nằm dưới quyền của cá vị nữ thần lớn tuổi), vì được gọi là bà
được gọi là mẹ khi đã sinh nở ít nhất một lần rồi, với cái đích
hướng tới vẫn là cầu mong sự sinh sôi nảy nở
Sách "Hội chân biên" in năm 1847 đời vua Thiệu Trị, do Thanh
Hoa Tử tập hợp có viết: "27 vị thần tiên nguồn gốc thuần Việt,
có tới 17 vị là Tiên nữ"
"Từ điển di tích văn hóa Việt Nam" có ghi: "trong số 1064 vị
thần thì có đến 253 là vị nữ, chiếm ¼ số lượng các thần được
thờ ở các đình, đền, miếu, phủ..."
Nhà dân tộc học Đặng Nghiêm Vạn cho hay: "Nữ thần chiếm
đến 1/5 số lượng các vị Thành hoàng được nhà nước phong
kiến phong thần trên khắp đất nước Việt Nam" Biểu hiện
oTục thờ các hiện tượng tự nhiên (thờ không gian, Bà Ngũ Hành
nương nương, Ngũ đạo chi thần, Ngũ phương chi thần, thờ thần
thời gian, thờ ông Táo, cúng giao thừa, cúng 12 bà mụ)
oTục thờ động vật, thực vật (thờ hổ, rắn, cá sấu, chim, rùa, thờ cây
lúa rất phổ biến do cây lúa là cây lương thực chủ đạo của người Việt)
oTheo quan niệm của người xưa, tiếng trống tượng trưng cho tiếng
sấm sét, báo hiệu cho mưa thuận gió hòa, giúp cây cối, mùa màng
tốt tươi. Người ta thường đánh 3 tiếng trống. Tiếng thứ nhất tượng
trưng cho thiên, tiếng thứ 2 tượng trưng cho địa, tiếng thứ 3 tượng
trưng cho nhân, ý chỉ thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
oCác hình ảnh trên Trống đồng (đặc biệt là trống đồng Đông Sơn)
còn tái hiện lại những hoạt động sản xuất, vui chơi và những hình
tượng các con vật tổ của cư dân Việt tổ.
1.3 Tín ngưỡng sùng bái con người: Nguồn gốc:
oQuan niệm về Hồn-Vía-Thể xác:
Hồn và vía là tinh thần, bắt ng từ quan niệm vạn vật hữu linh,
vạn vật nhất thể, âm dương tương cao tương cảm.
Hồn là bản chất trong sạch, quý giá nhất của sự vật hiện
tượng ko thể tiếp cận mà chỉ có thể lĩnh hội nhờ trực giác, khí
– tinh chuyển động tạo ra khí, ngọn nguồn sự sống, thần – kết 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
tụ tinh và khí tạo thành cá thể vô hình nhưng cx có thể hoá thành hữu hình.
Vía còn gọi là phách là những lỗ trên cơ thể con người để con
người có thể liên thông được với trời đất, ở nam giới thì có 7
vía, ở nữ giới có 9 vía.
Sau khi con người chết đi thì vía và thể xác sẽ mất đi còn hồn
sẽ ở lại để phù hộ độ trì cho con cháu, hồn có 3 phần là tinh- khí-thần
oThể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, đề cao đạo hiếu đối
với những người đi trước Thể hiện: oTục thờ cúng tổ tiên
oThờ những người có công với làng xã (truyền nghề cho dân, khai
hoang lập làng, giúp đỡ cưu mang dân làng), danh nhân, anh hùng
oThờ vua tổ (thờ cúng Hùng Vương giúp liên kết đoàn kết các cộng
đồng người trên đất nước Việt Nam)
1.4 Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng:
Là một trong những tín ngưỡng quan trọng của các làng xã Việt Nam
Là một tín ngưỡng độc lập những lại có mối quan hệ với tín ngưỡng
sùng bái con người vì trong đối tượng thờ phụng của Thành hoàng làng
còn có những người có công với đất nước, có công với làng xã, từ đó thể
hiện một trong những đặc điểm của tín ngưỡng Việt Nam là tính tổng hợp hỗn dung rất cao.
Giải nghĩa: thành nghĩa là thành trì, hoàng nghĩa là hào bao quanh
thành đó (khi người ta đổ nước vào những cái hào được đào xung quang
thành đó thì được gọi là trì)
Nguồn gốc: bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời nhà Chu, khi xã hội cổ đại
Trung Quốc bắt đầu thời kì phát triển, các khu vực thành trì (nơi cư trú
của các quan lại và thị dân), họ thường xây một cái miếu để thờ vị thần
bảo vệ, bảo trợ cho thành trì, đô thị đó, người ta gọi là Thành hoàng.
Du nhập vào Việt Nam thời nhà Đường (tín ngưỡng thờ Thành hoàng
phá triển nhất ở thời Đường, làng nào cũng có những miếu thờ Thành
hoàng, các quan lại ở địa phương là người phụ trách thờ phụng các vị thần).
Khi tín ngưỡng thờ Thành hoàng du nhập vào Việt Nam đã có những sự thay đổi.
oNgười Việt vẫn giữ vị Thành hoàng là người bảo trợ, bảo vệ cho đô
thị gọi là Đô thành hoàng (người bảo trợ cho đô thị, đô thành và 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
đồng thời là kinh đô của nước ta-vị thần sông Tô Lịch là bảo trợ cho thành Đại La).
oTừ đô thành lan tỏa ra các làng xã. Nhưng trước khi có sự du nhập
của tín ngưỡng thờ Thành hoàng thì ở các làng xã Việt đã có tục
thờ những người được dân làng tôn vinh-các vị thần làng. Và người
Việt đã dung hợp, kết hợp giữa thờ Thành hoàng và các vị thần
làng (chọn ra 1 vị thần công trạng, công lao lớn nhất trong các vị
thần) thành tín ngưỡng thờ Thành hoàng Làng.
oThành hoàng Làng của người Việt có nhiều nguồn gốc xuất thân:
Thiên thần: thần của các hiện tượng thiên nhiên mây mưa sấm chớp: Thánh Gióng
Nhiên thần: : Vua Cha Bát Hải Động Đình, Thuỷ Tinh (thuỷ
thần); Sơn Tinh, Cao Sơn Đại Vương, Thánh Minh Vương (thần núi, sơn thần)
Nhân thần: : người thường nhưng có công trạng, sự tích gắn
liền với làng nên được làng thờ phụng
Chính thần (Phúc thần): người có công với làng với nước,
được tôn vinh, được triều đình sắc phong.
-Thượng đẳng phúc thần: có công với dân tộc, với
đất nước (đánh đuổi ngoại xâm, có công hộ quốc tí
dân): Hai Bà Trưng, Ngô Quyền
-Trung đẳng phúc thần: những vị thần dân làng thờ
đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng; hoặc là
có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị:
-Hạ đẳng phúc thần: có công với chính làng xã địa phương đó Tà thần, dâm thần
-Có nguồn gốc xuất thân hèn kém, thờ do sau cái
chết những người này có chuyện xảy ra với làng: ăn
nên làm ra hoặc gặp khó khăn thiên tai ở làng nên
được làng thờ phụng như thần ăn trộm, thần gắp phân.
Tục hèm: là những điều kiêng kỵ, hoặc nên làm của làng xã
đó gắn với Thành hoàng Làng. (kiêng không nói tên tục của
thần, như làng Triều Khúc ở Thanh Xuân kiêng kỵ không gọi
từ bố vì Thành hoàng Làng của làng Triều Khúc là Bố Cái Đại vương Phùng Hưng) 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Lễ mật: là những nghi lễ bí mật chỉ có dân làng biết, thường
được là vào lúc nửa đêm để diễn tả lại một lời nói hoặc hành
động gắn liền với Thành hoàng Làng đó.
1.5 Tín ngưỡng thờ Tứ bất tử
Tứ bất tử là gồm 4 nhân vật sống mãi trong tâm thức dân gian của người Việt: oThánh Tản Viên:
Thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên, mưa thuận gió hòa,
biểu trưng cho sức mạnh con người
Biểu hiện cho không gian văn hóa xứ Đoài (Thăng Long nằm
trung tâm, nhìn về 4 phía) oChử Đồng Tử:
Thể hiện ước vọng cuộc sống giàu sang, phát triển
Biểu tượng không gian văn hóa xứ Đông (ngày xưa gọi là xứ Hải Đông: nơi
xuất hiện đô thị sớm nhất ở vùng Bắc Bộ nước ta: Phố Hiến –
Hưng Yên, Vân Đồn – Hải Dương, dễ dàng giao lưu với cộng đồng bên ngoài)
Được coi là ông tổ nghề buôn oThánh Gióng:
Thể hiện tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, khát vọng hòa bình
Biểu tượng cho không gian văn hóa xứ Bắc (hướng luôn phải
đề phòng bởi ý đồ chinh phục từ phía Bắc)
oThánh Mẫu Liễu Hạnh (trước tki 16 là Từ Đạo Hạnh):
Do thời kì Hậu Lê, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, ảnh hưởng
đến đời sống người Việt, đặc biệt là sự hạn chế trong tư tưởng
trọng nam khinh nữ. Người Việt muốn tìm chỗ dựa tinh thần,
an ủi cho đời sống; thời kì này xuất hiện tranh giành quuyền
lực vua Lê chúa Trịnh, mẫu thuẫn họ Lê và họ Nguyễn, xã hội
loạn lạc, nội chiến Đàng Trong Đàng Ngoài, người dân lầm
than khổ cực sáng tạo nên câu chuyện Thánh Mẫu Liễu Hạnh
được Quán Thế Âm cảm phục, quy y, tìm về ng mẹ để làm
chỗ dựa tinh thần cho mình
 Là biểu hiện của tục thờ nữ thần, mẫu thần ở Việt Nam.
Thể hiện ước vọng giải phóng con người, nhất là phụ nữ (giải
phóng khỏi những khuôn phép, giáo điều của lễ giáo phong 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
kiến xưa-đã quá bị ảnh hưởng bởi nho giáo, đặc biệt bởi tư
tưởng trọng nam khinh nữ)
Biểu tượng không gian văn hóa xứ Nam 1.6 Đạo Mẫu:
Tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần+ Đạo giáo
Trong đời sống tín ngưỡng người Việt có xu hướng nữ thần hoá. Cư dân
Việt sống bằng nghề nông nghiệp (vai trò của phụ nữ rất quan trọng,
được phân hoá rõ ràng, ko quá phụ thuộc vào đàn ông), phụ nữ gắn liền
với sự sinh sôi nảy nở (điều được dân ta coi trọng), xã hội truyền thống đề cao phụ nữ
Tương đối nhất quán về điện thần với các phủ đền
Các nghi lễ bắt đầu được chuẩn hóa
Chứa đựng những nhân tốc về vũ trụ luận nguyên sơ: 4 miền không gian
Thể hiện ý thức nhân sinh (cách nhìn nhận của con người về cuộc đời,
sự tham sự của con người trong cuộc đời), ý thức về cội nguồn dân tộc,
đất nước, chứa đựng lòng yêu nước Hình thức thể hiện: oĐiện thờ oHát chầu văn oHầu đồng
Hệ thống thần trong tín ngưỡng thờ Mẫu oNữ thần:
Đích là cầu mong sự sinh sôi nảy nở, nữ thần thường là những
người phụ nữ ít nhất đã trải qua một lần sinh nở (chùa Bà
Đanh, chùa Thiên Mụ, chùa Bà Đậu, chùa Bà Đen)
Mang tính nguyên sơ, bản địa
Phổ cập rộng rãi trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian
Sản phẩm từ điều kiện kinh tế-xã hội nông nghiệp oMẫu thần:
Nữ thần được tôn vinh, cung đình hóa (khởi nguồn từ tục thờ
mẫu thân là tục thờ nữ thần được cung đình hóa)
Quốc Mẫu (Âu Cơ, Nguyên Phi Ỷ Lan, Linh Từ Quốc Mẫu...),
Vương Mẫu (Hai Bà Trưng), Thánh Mẫu (Liễu Hạnh) oMẫu Tam phủ, Tứ phủ:
Quan niệm về không gian của người xưa: Tam phủ: thiên phủ,
địa phủ, thoại phủ; Tứ phủ: sáng tạo thêm nhạc phủ (miền
rừng núi) -> thiên phủ, địa phủm thoại phủ, nhạc phủ 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Khái quát hóa cao độ của tín ngưỡng thờ Mẫu thần, là sự hỗn
dung tổng hợp giữa Nữ thần, Mẫu thần, và Đạo giáo Có từ sau thế kỉ 16
1.7 Những điểm tích cực và tiêu cực trong việc thực hành tín ngưỡng ở Việt Nam: Mặt tích cực:
oGiữ gìn, phát huy các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống tốt đẹp
Lòng hiếu thảo, yêu nước, tính cộng đồng (tục thờ tổ tiên,
thành hoàng làng, người có công với làng xóm, đất nước)
Đề cao tính hướng thiện, khuyên con người làm điều lành,
tránh điều ác từ đó góp phần tạo nên chỗ dựa tinh thần và
ứng xử hài hòa trước môi trường tự nhiên, đoàn kết cộng đồng:
Phật giáo: “Ngũ giới”, “thập thiện”: ko sát sinh, ko trộm
cướp, ko nói điều sai trái, ko tham lam…..
Công giáo: tinh thần bác ái, yêu thương đồng loại
oBảo tồn văn hóa: các truyền thống được lưu giữ trong các di sản
văn hóa tôn giáo như đền, chùa, miếu mạo, nhà thờ, các nghi lễ tôn giáo.
oĐóng góp cho văn hóa dân tộc những di sản nghệ thuật về kiến trúc và văn học Mặt tiêu cực:
oTín ngưỡng đang có chiều hướng phát triển thiên lệch, xa rời dần
bản chất. Hơn thế nữa, nhận thức của người dân về các giá trị văn
hóa truyền thống trong, tín ngưỡng có xu hướng lệch lạc.
o Trong nhiều tín ngưỡng còn tồn tại những tục hèm tối cổ, ít hoặc
không còn phù hợp với điều kiện mới, gây ảnh hưởng không nhỏ
đến tâm lý con người hiện đại.
oCông tác bảo tồn, trùng tu di tích, khôi phục các loại hình tín
ngưỡng đang có xu hướng làm sai lệch hoặc biến dạng những giá
trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
oNhiều sinh hoạt tín ngưỡng dân gian có tác động mạnh mẽ đến đời
sống tôn giáo làm biến dạng nhiều giá trị văn hóa tôn giáo truyền
thống, gây tác động xấu đối với xã hội, gây khó khăn cho công tác quản lý Nhà nước. 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
Câu 2: Văn hóa Đông Sơn: bối cảnh, đặc trưng, thành tựu văn hóa.
1. Bối cảnh hình thành của văn hóa Đông Sơn:
Câu 3: Tính nông nghiệp trong các thành tố văn hóa Việt Nam:
1. Trong văn hóa tổ chức đời sống tập thể:
1.1 Trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên:
Nghề trồng trọt buộc ngươi dân phải sống định cư, sản xuất để chờ
cây cối lớn lên, ra hoa kết trái và thu hoạch. Do sống phụ thuộc nhiều
vào thiên nhiên, thời tiết nên cư dân nông nghiệp có ý thức tôn trọng
và ước vọng sống hòa hợp vời thiên nhiên.
Người Việt Nam mở miệng là nói “lạy trời”, “nhờ trời”, “ơn trời”…
Người nông dân Việt trong tâm thức luôn coi trời là một thế lực siêu
nhiên, chỗ dựa tinh thần cho nên có những câu ca dao rất gần gũi
như: “Ơn trời mưa nắng phải thì/ Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu” hay
như: "Cầu ông mưa thuận gió hòa/ Cho cây lúa trổ, cho cà đơm bông"
Dù vậy trước những thiên tai, những hiện tượng tự nhiên cực đoan
như bão, lũ lụt, cư dân nông nghiệp đặc biệt là cư dân Việt vẫn có
mong muốn thuần phục, chiến thắng, cảm hóa được thiên nhiên. Thể
hiện qua những câu chuyện cổ tích dân gian như Sơn Tinh Thủy Tinh. 1.2 Trong cách tư duy:
Vì nghề nông, nhât là nghề nông nghiệp lúa nước, cùng một lúc
phụ thuộc vào tất cả mọi hiện tượng thiên nhiên: đất, nước, mưa,
nắng… Nên người Việt luôn theo dõi và để ý các dấu hiệu thay đổi
của thời tiết thiên nhiên
Dân gian có câu: “ Người ta đi cấy lấy công,/ Tôi nay đi cấy còn
trông nhiều bề./ Trông trời, trông đất, trông mây,/ Trông mưa,
trông nắng, trông ngày, trông đêm./ Trông cho chân cứng đá
mềm,/ Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng."
Trong nhận thức của người dân dần hình thành lối tư duy tổng hợp,
bao quát thiên về kinh nghiệm, trực giác, cảm tính và duy linh (linh
cảm). Người Việt đã đúc kết những kinh nghiệm trồng trọt của
mình từ sự quan sát những mối quan hệ, liên kết giữa các yếu tố, 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
hiện tượng tự nhiên với nhau và truyền lại cho đời sau thông qua
những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ gần gũi, giản dị, đầy xúc
tích: "Bầu nắng, mướp đắng mưa, dưa đại hạn" hay "Chuồn chuồn
bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm"
Cuộc sống và cách ứng xử của người Việt ta luôn coi trọng sự hài
hòa, các quan hệ ứng xử thường đặt tình cao hơn lí.
Cùng với tư duy lưỡng phân lưỡng hợp, bộc lộ rất đậm nét qua
khuynh hướng cặp đôi ở khắp nơi, từ tư duy đến cách sống từ cách
dấu vết cổ xưa đến những thói quan hiện đại: ông Đồng – bà Cốt,
ngói âm dương lợp nhà phải viên ngửa viên sấp.
Nhưng chính vì lối tư duy nặng về kinh nghiệm chủ quan, cảm tính
kết hợp với lối sống trọng tình đã tạo nên thói quen tư duy, ứng xử tùy tiện.
1.3 Trong tổ chức cộng đồng:
Cư dân nông nghiệp tổ chức xã hội theo nguyên tắc trọng tình, chuộng
sự hòa thuận, tương trợ, quan tâm đến hàng xóm láng giềng. Vì đời
sống dựa vào nông nghiệp nên cư dân trồng trọt ưa sự ổn định và sống
cố định lâu dài với nhau trong một cộng đồng khép kín, có khuôn phép
riêng biệt, tạo ra một cuộc sống hòa thuận, lấy tình nghĩa làm đầu.
oBiểu hiện trong câu ca dao: "Bán anh em xa, mua láng giềng gần"
hay "Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau".
oKhông chỉ tình làng nghĩa xóm, dân ta còn luôn ưa chuộng hòa
bình, luôn có thái độ sống hòa thuận, tương trợ nước láng giềng.
oHiện nay, Việt Nam vẫn luôn giữu thái độ thân thiện, hòa đồng
không chỉ với các nước anh em láng giềng mà còn với tất cả các quốc gia trên thế giới.
Cư dân nông nghiệp còn có thái độ trọng đức, trọng văn, trọng Mẫu, đề cao nguyên lý Mẹ.
oTrong truyền thống Việt Nam, tinh thần coi trọng ngôi nhà, coi
trọng cái bếp và coi trọng người phụ nữ là hoàn toàn nhất quán và
rõ nét: Phụ nữ Việt Nam là người quản lí kinh tế, tài chính trong gia
đình – người nắm tay hòm chìa khóa. Chính bởi vậy mà người Việt
Nam coi "Nhất vợ nhì trời"; "Lệnh ông không bằng cồng bà…" Phụ
nữ Việt Nam cũng chính là người có vai trò quyết định trong
việcgiáo dục con cái: "Phúc đức tại mẫu", "Con dại cái mang".
oVì tầm quan trọng của người mẹ cho nên trong tiếng Việt, từ cái
với nghĩa là “mẹ” đã mang thêm nghĩa “chính, quan trọng”: sông
cái, đường cái, đũa cái. 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
oTuy nhiên trong một giai đoạn của xãhội cũ, tư tưởng trọng nam
khinh nữ đã bị truyền vào Việt Nam và đã bịngười dân phản ứng một cách dữ dội
oTrong các cồn đồng ít bị ảnh hưởng bởi Nho giáo và tư tưởng trọng
nam khinh nữ, như dân tộc Tây Nguyên hay Khmer vai trò của
người phụ nữ vẫn rất lớn: phụ nữ chủ động trong hôn nhân, chồng
về ở đằng nhà vợ,con cái đặt tên theo họ mẹ…
Vì sống bằng trồng trọt, nên người dân Việt rất trọng kinh nghiệm và đề
cao tuổi tác, có kinh nghiệm. Người già, những bô lão có vai trò và chỗ
đứng quan trọng trong cộng đồng Việt cả xưa và nay. Người già luôn là
đối tượng đầu tiên được hỏi xin lời khuyên hoặc đưa ra quyết trong
những công việc quan trọng của một gia đình, làng xóm hay cả đất
nước (Hội nghị Diêm Hồng)
1.4 Về cách thức tổ chức cộng đồng:
Lối tư duy tổng hợp biện chứng, cộng với nguyên tắc trọng tình dẫn đến
lối sống linh hoạt, luôn ứng biến cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể:
oTrong ca dao tục ngữ: "Lạt mềm buộc chặt", " Đi với Bụt mặc áo
cà-sa, đi với ma mặc áo giấy", "cứng quá thì gãy"
Lối sống trọng tình và cách cư xử linh hoạt, hòa thuận dẫn đến tâm lí
coi trọng cộng đồng, tập thể. Người dân nông nghiệp làm gì cũng phải
nghĩ đến tập thể và tinh thần đoàn kết.
Tuy nhiên, mặt trái của tính linh hoạt là thói tùy tiện biểu hiện ở tật
cogiãn giờ giấc (giờ cao su), sự thiếu tôn trọng pháp luật… Lối sống
trọng tình làm cho thói tùy tiện càng trở nên trầm trọng hơn: “Một bồ
cái lí không bằng một tí cái tình”… Nó dẫn đến tệ “đi cửa sau” trong giải
quyết công việc: “Nhất quen, nhì thân, tam thần, tứ thế”…
1.5 Trong lối ứng xử với môi trường xã hội:
Tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp còn
quy định thái độ dung hợp trong tiếp nhận các yếu tố.
o Yếu tố của văn hóa Việt Nam là văn hóa mang tính hỗn dung và
tổng hợp từ nhiều nguồn văn hóa.
oỞ Việt Nam không những không cóchiến tranh tôn giáo mà, ngược
lại, mọi tôn giáo thế giới (Nho giáo,Phật giáo, Đạo giáo, Thiên chúa
giáo…) đều được tiếp nhận và đều bình đẳng giữa các tôn giáo.
Đối phó với các cuộc chiến tranh xâm lược, người Việt Nam luôn hết sức
mềm dẻo, hiếu hòa. Ngày xưa, trong kháng chiến chống ngoại xâm, mỗi
khi thế thắng đã thuộc về ta một cách rõ ràng, cha ông ta thường dừng 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
lại chủ động cầu hòa, “trải chiếu hoa” cho giặc về, mở đường cho chúng rút lui trong danh dự.
®Tuy nhiên văn minh nông nghiệp kéo dài đã làm chậm sự phát triển của
tiến trình lịch sử Việt Nam, không tạo ra được những tiền đề và điều
kiện để bức ra khỏi cái khung phong kiến phương Đông, làm hạn chế
tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam và dẫn đến sự trì trệ
của xã hội Việt Nam. Vậy nên bên cạnh sự giữ gìn nên văn hóa đặc
trưng của dântộc, ta còn cần biết sáng tạo, vận dụng những thành quả
tiến bộ của nền văn minh thế giới.
2. Trong văn hóa tổ chức đời sống tinh thần
2.1 Tín ngưỡng phồn thực: (phồn nghĩa là nhiều, thực nghĩa là sinh sản) Khái niệm:
oLà sự sùng bái, thiêng hóa sự sinh sản
oCó ở nhiều nền văn hóa khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và
đặc biệt phổ biến ở nền văn hóa nông nghiệp vì cư dân nông
nghiệp sống dựa vào trồng trọt mong muốn được mùa màng tươi
tốt, bội thu và mong ước phát triển giống nòi để có nhiều người,
nhiều sức lao động nhân lực để tham gia công việc sản xuất
oThể hiện ước vọng, niềm cầu mong về sự sinh sôi của tạo vật và con người. Biểu hiện:
oTục thờ biểu tượng của sinh thực khí (như thờ cột trụ đá, thờ khe
nứt đá tự nhiên, thờ hốc cây, thờ chày thờ cối)
oTục thờ hành vi giao phối, giao hoan. (cột đá trước cửa ngôi chùa
Dạm, thờ Linga và Yoni (sinh thực khí nam và sinh thực khí nữ) của
người Chăm, hay nhà mồ ở Tây Nguyên)
oThể hiện thông qua lễ hội (thường diễn ra vào mùa xuân, mùa của sự sinh sôi):
Lễ hội Linh tinh tình phộc tại miếu Trò làng Trám-tỉnh Phú Thọ
Lễ rước pháo (tượng trưng cho Linga) ở làng Đồng Kỵ, đốt
pháo rồi rải tro than ở khắp các cánh đồng với mong muốn
kích thich cây cối đâm chồi nảy lộc
Trò chơi đánh đu, trò chơi bắt trạch trong chum; trò bịt mắt bắt dê.
Trò đấu vật, trong đó sới vật ở bất cứ đâu cũng đều có hình
tròn và thường được đặt trước sân đình hình vuông. Vuông và
tròn theo quan niệm của dân tộc Việt là 2 hình toàn vẹn. Hình
tròn tượng trưng cho trời, cho tính dương, hình vuông tượng 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu
trưng cho đất, cho tính âm, vuông và tròn - âm và đương đặt
cạnh nhau nghĩa là một sự kết hợp hài hòa, trọn vẹn và mang
lại những điều tốt đẹp.
Những hoạt động, trò chơi đó giúp các lằn ranh giữa nam và
nữ được tạm thời xóa bỏ, thể hiện ước vọng cầu duyên, giúp
trai gái nên vợ nên chồng, sinh con đẻ cái, tăng thêm lực lượng sản xuất.
2.2 Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: Khái niệm:
oLà sự sùng bái, thiêng hóa các hiện tượng tự nhiên Thể hiện ước
vọng, niềm cầu mong mưa thuận gió hòa
Nguồn gốc và đặc điểm:
oDo phụ thuộc và tự nhiên (do cư dân nông nghiệp phụ thuộc nhiều
vào thời tiết, khí hậu, lệ thuộc nhiều vào tự nhiên)
oĐa thần và đồng nhất với các nữ thần
Người Việt thường đồng nhất các vị thần tự nhiên với các nữ
thần: là một người bà hoặc mẹ (nữ thần) cai quản một hiện
tượng tự nhiên nào đấy, và đều là những người phụ nữ trung
tuổi (còn nếu có sự xuất hiện của các vị nữ thần trẻ thì đều
nằm dưới quyền của cá vị nữ thần lớn tuổi), vì được gọi là bà
được gọi là mẹ khi đã sinh nở ít nhất một lần rồi, với cái đích
hướng tới vẫn là cầu mong sự sinh sôi nảy nở Biểu hiện
oTục thờ các hiện tượng tự nhiên (thờ không gian, Bà Ngũ Hành
nương nương, Ngũ đạo chi thần, Ngũ phương chi thần, thờ thần
thời gian, thờ ông Táo, cúng giao thừa, cúng 12 bà mụ)
oTục thờ động vật, thực vật (thờ hổ, rắn, cá sấu, chim, rùa, thờ cây
lúa rất phổ biến do cây lúa là cây lương thực chủ đạo của người Việt)
oTheo quan niệm của người xưa, tiếng trống tượng trưng cho tiếng
sấm sét, báo hiệu cho mưa thuận gió hòa, giúp cây cối, mùa màng
tốt tươi. Người ta thường đánh 3 tiếng trống. Tiếng thứ nhất tượng
trưng cho thiên, tiếng thứ 2 tượng trưng cho địa, tiếng thứ 3 tượng
trưng cho nhân, ý chỉ thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
oCác hình ảnh trên Trống đồng (đặc biệt là trống đồng Đông Sơn)
còn tái hiện lại những hoạt động sản xuất, vui chơi và những hình
tượng các con vật tổ của cư dân Việt tổ. 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu 2.3 Đạo Mẫu:
Tín ngưỡng thờ Nữ thần, Mẫu thần+ Đạo giáo
Trong đời sống tín ngưỡng người Việt có xu hướng nữ thần hoá. Cư dân
Việt sống bằng nghề nông nghiệp (vai trò của phụ nữ rất quan trọng,
được phân hoá rõ ràng, ko quá phụ thuộc vào đàn ông), phụ nữ gắn liền
với sự sinh sôi nảy nở (điều được dân ta coi trọng), xã hội truyền thống đề cao phụ nữ 09:51, 08/01/2026
Đề cương môn CSVH: Tín ngưỡng trong đời sống văn hóa người Việt - Studocu