













Preview text:
19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
ND1: MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN SINH THÁI VÀ DẤU ẤN TRONG VĂN
HÓA VIỆT NAM TRUYỀN THỐNG
Đặc điểm tự nhiên- sinh thái được thể hiện q
ua vị trí, đặc biệt là đặc điểm của
sông ngòi và địa hình: Việt Nam có vị trí địa lí được xem là trung tâm, cầu nối, giao
điểm, giao nút. Đặc biệt địa hình nước ta rất phong phú: ¾ là đồi núi, ¼ là đồng bằng;
dài từ Bắc vào Nam trên 15 vĩ độ, từ Bắc đến Nam có các đèo cắt ngang Tây Đông; hẹp
từ Tây sang Đông nhưng có địa hình phân tầng, có các địa hình như: núi- đồi- thung-
châu thổ- ven biển- biển- hải đảo; Đông và Nam có bờ biển, biển, hải đảo; Tây và Bắc
bị chắn bởi núi Hoàng Liên Sơn và Trường Sơn. Bên cạnh đó sông ngòi cũng là yếu tố
tạo nên đặc điểm tự nhiên- sinh thái: nước ta có 2360 sông> 10km, trung bình cứ 20km
có 1 cửa sông và nhiều hồ ao, đầm, phá, kênh, mương.
Biểu hiện của dấu ấn môi trường trong các thành tố văn hóa truyền thống:
+, Trong các thành tố văn hóa vật chất: ăn- mặc- ở- đi lại- phương thức sản xuất
DẪN: Dấu ấn môi trường tự nhiên thể hiện rõ nét trong các thành tố văn hóa vật chất Khái niệm
: Theo khái niệm của Trần Ngọc Thêm đại ý là: Ăn uống là văn hóa, chính
xác hơn là văn hóa tân dụng môi trường tự nhiên. Vì thế không có gì đáng ngạc nhiên
khi các nền văn hóa phương Tây hay Bắc Trung Hoa thiên về ăn thịt, còn trong bữa ăn
của người Việt lại bộc lộ rất rõ dấu ấn truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước. “Trần Ngọc Thêm” Đối với người
Việt, cây lương chính là lúa . Trong bữa ăn thì cơm chính là thành phần
chính của bữa ăn và có thể được nấu bằng nhiều thứ gạo kể cả gạo nếp. Lúa gạo đứng
đầu bảng và tục ngữ đã có những câu như: “Cơm tẻ mẹ ruột”. “Đói thì thèm thịt thèm
xôi, hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường”,… Cây lúa gạo không chỉ được nấu thành cơm
mà người Việt ta làm ra bún và làm bánh: bánh đúc, bánh tráng,… Gạo nếp thì dùng làm
xôi, làm bánh mặn, bánh ngọt.
Sau lúa gạo thì đến rau quả
. Nhờ vị trí địa lí thuận lợi và nông nghiệp lại là ngành kinh
tế chủ yếu nên rau quả nước ta vô cùng phong phú, mùa nào thức ấy. Và việc dùng rau
trong bữa ăn chứng tỏ khả năng biết tận dụng môi trường tự nhiên của người Việt.
Người Việt ta thường hay nói: “Đói ăn rau, đau uống thuốc”, “Ăn cơm không rau như
đánh nhau không có người gỡ”. Nói đến món rau không thể không nhắc tới rau muống
và dưa cà, đây là loại rau quả đặc thù trong bữa ăn. “Anh đi anh nhớ quê nhà, Nhớ canh
rau muống, Nhớ cà dầm tương”. Cà và dưa cải được muối lên, là món ăn hợp mọi thời
tiết, được người Việt ưa thích và dự trữ chúng thường xuyên. Bên cạnh những loại rau
qủa là thành phần chính trong cơ cấu bữa ăn thì còn có những loại rau quả dùng làm gia
vị: gừng, xả, ớt, lát lốt, lá tía tô, rau răm, ray mùi,…
Thành phần thứ ba không thể thiếu chính là thủy sản
. Nhờ vị trí địa lí có phía Đông giáp
với biển Đông lại có sông ngồi, kênh rạch chằng chịt nên ta tận dụng được môi trường
tự nhiên, đánh bắt và nuôi được nhiều. Cá được đứng đầu trong bảng các loại thủy sản
(so với tôm, cua, mực) và đứng thứ ba trong cơ cấu bữa ăn. Ngoài là món ăn thứ đứng
thứ ba trong cơ cấu bữa cơm thì cá còn được dùng để làm nước mắm và mắm các loại.
Hiện nay đã xuất hiện các loại nước mắm nổi tiếng: Nghệ An, Phan Thiết, Phú Quốc.
Loại thủy sản thực sự là một thực phẩm có thể chế biến nhiền cách. 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
Con người sống trong quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên- cách thức ứng xử với tự
nhiên vô cùng quan trọng. Trong việc ứng xử với thiên nhiên những gì có lợi thì ta
tranh thủ tận dụng. Vì thế việc ăn uống là thuộc lĩnh vực tận dụng môi trường tự nhiên. Khái niệm:
Theo khái niệm của Trần Ngọc Thêm đại ý là: Quan trọng đối với con
người, sau ăn là mặc. Nó giúp con người ứng phó được cái nóng, rét, gió, mưa. Vì thế
đối với người Việt Nam thì trước hết nó trở thành một quan niệm rất thiết thực: “Ăn lấy
chắc, mặc lấy bền”, “Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết”. Nhưng
không dừng lại ở đó, mặc còn trở thành mục đích làm đẹp và giúp con người khắc phục
về cơ thể, tuổi tác: “Cau già khéo bổ thì non, Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn xưa.
Để ứng phó với môi trường, người phương Nam có sở trườ
ng dùng những chất liệu vải
từ thực vật: đây là sản phẩm của trồng trọt cũng là chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, mát
và rất phù hớp với xứ nóng. Trước hết đó là tơ tằm. Chỉ từ tơ tằm nhưng nhân dân ta đã
dệt nên nhiều loại sản phẩm phong phú: tơ, lụa, lượt, là, gấm, vóc,…Ngoài tơ tằm, nghề
dệt truyến thống còn sử dụng những chất khác từ thực vật: tơ chuối, tơ đay, gai, sợi bông.
Muốn ứng phó được với môi trường, trang phục cũng cần có tí nh linh hoạt: Theo chủng
loại và chức năng, trang phục gồm có đồ phía trên và đồ phía dưới. Đồ mặc phía dưới
của phụ nữ qua các thời đại là cái váy. Từ thời Hùng Vương phụ nữ đã mặc váy và cho
tới tận này nay thì nhiều nơi vẫn còn bảo lưu truyền thống này điển hình là người
Mường. Mặc váy có thể ứng phó với cái nóng của môi trường và thuận tiện cho công
việc đồng áng. Đồ mặc phía của nam giới dưới ban đầu là chiếc khố. Khố mặc mát, phù
hợp với khí hậu nóng bức và thuận tiện cho việc đồng áng. Nhưng dần dần do sự giao
thoa và hội nhập từ nhiều nước nên chiếc quần đã thâm nhập vào Việt Nam, ta tiếp thu
và có sự cải biến biến nó thành quần lá tọa (quần rộng, thẳng, đũng sâu, cạp quần to
bản). Một sáng tạo linh hoạt phù hợp với khí hậu nóng bức, bên cạnh đó nó rất phù hợp
với công việc đồng áng; Đồ mặc phía trên của phụ nữ qua các thời đại là cái yếm.
“Yếm trắng mà vã nước hồ, Vã đi vã lại anh đồ yêu thương”. Yếm ứng phó được cái
nóng bức, phụ nữ mặc khi làm lụng (nhất là trong bóng râm). Đàn ông lao động thường
cởi trần. “Đàn ông đóng khố đuôi lươn, Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh”. Khi lao
động và trong những hoạt động bình thường, nam nữ cũng thường mặc áo ngắn. Trong
các dịp lễ hội phụ nữ thường mặc áo dài, đàn ông cũng mặc áo dài và thường là áo the
đen. Bên cạnh đồ mặc phía trên và phía dưới, trang phục Việt Nam còn có đồ thắt lưng,
đồ trang sức và điển hình là đồ đội đầu. Đồ đội đầu thường là khăn nhưng ngoài ra còn
có nón. Nón dùng để che mưa che nắng, rộng vành để che nắng, cái mái dốc để thoát nước nhanh- che mưa.
Như vậy trong trang phục người Việt ta đã ứng xủ rất linh hoạt để ứng phó với
khí hậu nhiệt đới nóng bức và công việc nhà nông làm ruộng nước. Ngoài ra cách
ăn mặc còn hướng tới mục đích làm đẹp, làm đẹp một cách tế nhị và kím đáo
Ứng phó với môi trường tự nhiên con người sử dụng phương ti
ện đường thủy: Việt Nam
ta là vùng sông nước, nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh, rạch chằng chịt. Bởi vậy, để 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
ứng phó với khoảng cách giao thông phổ biến nhất chính là đường thủy. Bởi vậy đã có
sách viết rằng người Việt cổ: “Lặn giỏi, bơi tài, thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền”.
Sông ngòi tuy thuận tiện cho đường thủy nhưng lại bất tiện cho đường bộ. Chính vì thế
người Việt Nam ta đã biết làm ra cầu di động bằng tre gỗ hoặc thuyền ghép lại sớm nhất thế giới Khái niệm:
Theo khái niệm của Trần Ngọc Thêm đại ý là: Đối với nông nghiệp, ngôi
nhà là tổ ấm để ứng phó với thời tiết: nắng, mưa, gió, bão và còn là một trong những
yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho họ cuộc sống ổn định. “Có an cư thì mới lạc
nghiệp! Thứ nhất dương cơ, thứ nhì âm phần”
Do khu vực cư trú là vùng sông nước nên nhà ở của người
Việt ngắn liền với môi
trường sông nước sông nước; Những người sống bằng nghề sông nước (lưới chài, chở
đò.,,,) thường lấy ngay thuyền bè làm nhà ở: đó là các nhà thuyền, nhà bè. “Họ rất thích
ở nước, thích ở trên nước hơn là trên cạn. Cho nên phần lớn sông ngòi đầy thuyền.
Những thuyền đó thay cho nhà cửa của họ. Thuyền rất sạch sẽ, ngay cả khi họ nuôi giai
súc ở trong đó”. Nhiều gia đình tụ lập nên thành các xóm chài, làng chài. Nhiều người
tuy không làm nghề sông nước nhưng cũng làm nhà sàn để ứng phó với ngập lụt quanh
năm. Kiểu nhà sàn này không chỉ ứng phó với với môi trường sông nước ngập lụt quanh
năm mà còn ứng phó được với thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền cao và ngập lụt
định kì ở vùng thấp, khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, hạn chế và ngăn cản côn trùng- thú
dữ (ruồi muỗi, sâu bọ- răn rết, cá sấu, hổ báo,..)
Để ứng phó với môi trường tự nhiên, tiêu chuẩn ngôi nhà
Việt Nam về mặt cấu trúc là
“Nhà cao cửa rộng”. Đây là kiến trúc Mở, tạo không gian thoáng mát, giao hòa với tự
nhiên. Khác với kiểu kiến trúc phương Tây Đóng (nhà nhỏ, trần thấp, tường dầy, cửa ít)
để giữ hơi ấm. Cái “cao” của ngôi nhà Việt Nam bao gồm hai yêu cầu: cái cao thứ nhất
là sàn/ nền cao so với mặt đất, để ứng phó được với lũ lụt, ẩm ướt, côn trùng. Cái cao
thứ hai là mái cao so với sàn nền tạo ra một không gian thoáng khi ở trong nhà, tránh
được nắng độc, mái cao còn tạo ra độ dốc lớn để ứng phó với lượng mưa nhiều, nước
thoát nhanh, tránh dột, tránh hư mục mái. Nhà cao nhưng cửa không cao mà phải rộng,
cửa không cao để tránh nắng chiếu xiên, đón gió mát và tránh mưa hắt
Để ứng phó với môi trường tự nhiên là chọn hướng nhà.
Hướng nhà tiêu biểu là hướng
nam: “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam”. Vì Việt Nam ở gần biển, trong khu vực gió
mùa, trong bốn hướng thì chỉ có hướng nam (hoặc đông nam) là tránh được năng nóng
từ phía tây, cái bão từ phía đông và gió lạnh thổi về vào mùa rét từ phía bắc. Cùng với
đó tận dụng được gió mát thổi từ phía nam vào mùa nóng: “Gió nam chưa nằm đã
ngáy”. Các tòa nhà có nhiều cửa thì cửa phía nam thường là cửa chính.
Như vậy, để ứng phó với thời tiết và khí hậu người Việt ta khéo léo trong việc làm
nhà để ứng phó với môi trường tự nhiên linh hoạt . Đồng thời tạo nên những kiến
trúc nhà ở đậm đà nét văn hóa của người Việt.
Khái niệm: Một trường tự nhiên, bao gồm các yếu tố như khí hậu, đất đai, nguồn nước,
hệ sinh thái và các tài nguyên thiên nhiên, có ảnh hưởng sâu sắc đến phương thức sản
xuất của con người. Dấu ấn của trường tự nhiên trong phương thức sản xuất thể hiện 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
qua cách mà con người thích ứng và khai thác các tài nguyên sẵn có để phát triển kinh
tế và duy trì đời sống. Các yếu tố tự nhiên này không chỉ quyết định các hoạt động sản
xuất mà còn định hình các kỹ thuật canh tác, hình thức tổ chức sản xuất và lối sống của cộng đồng.
Đặc điểm địa lý và khí hậu:
Mỗi vùng đất có đặc điểm khí hậu khác nhau sẽ tạo ra những phương thức sản xuất phù
hợp. Ví dụ, ở các vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, nơi đất
đai phù sa màu mỡ và có nguồn nước dồi dào, người dân phát triển mạnh các phương
thức sản xuất nông nghiệp lúa nước. Hệ thống thủy lợi cũng được phát triển để điều tiết
nước, phục vụ cho canh tác. Trong khi đó, ở các khu vực miền núi hoặc vùng khô hạn,
người dân có thể chủ yếu dựa vào chăn nuôi hoặc canh tác cây trồng chịu hạn như lúa nương, cây mía. Đặc điểm đất đai:
Chất lượng đất đai cũng ảnh hưởng lớn đến phương thức sản xuất. Đất phù sa ở các
vùng đồng bằng thích hợp cho việc trồng lúa và các cây nông sản khác, trong khi đất
đồi núi, đất sỏi, hay đất mặn lại thường được dùng cho việc trồng các loại cây chịu hạn
hoặc cây công nghiệp như cà phê, cao su, hoặc chăn nuôi gia súc.
Tài nguyên thiên nhiên và thủy sản:
Những vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, như khoáng sản, gỗ, thủy
sản... sẽ phát triển các ngành công nghiệp khai thác tài nguyên hoặc đánh bắt thủy sản.
Ví dụ, các khu vực ven biển phát triển mạnh nghề đánh bắt cá, nuôi trồng thủy sản,
trong khi các khu vực miền núi phát triển các nghề khai thác gỗ, chế biến nông sản.
Hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học:
Mỗi vùng có hệ sinh thái riêng biệt sẽ thúc đẩy các phương thức sản xuất đặc trưng. Ví
dụ, ở các khu vực rừng nhiệt đới, nghề săn bắn hoặc thu hoạch lâm sản trở thành
phương thức sản xuất chính. Còn ở các khu vực có hệ sinh thái đồng cỏ, việc chăn nuôi
gia súc hoặc trồng các cây cỏ dại cho gia súc ăn có thể là phương thức sản xuất chủ yếu. Ví dụ minh họa:
-Ở đồng bằng sông Cửu Long, nhờ hệ thống sông ngòi chằng chịt và đất phù sa màu
mỡ, phương thức sản xuất chủ yếu là trồng lúa nước và nuôi tôm, cá. Người dân đã
phát triển các kỹ thuật thủy lợi tinh vi, từ việc đắp đê, đào mương đến việc điều tiết
nguồn nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp.
-Ở các vùng miền núi phía Bắc, đặc điểm địa hình đồi núi và khí hậu lạnh giá đã thúc
đẩy sự phát triển các phương thức sản xuất như trồng cây lúa nương, cây hoa màu
hoặc chăn nuôi gia súc thích hợp với địa hình khó khăn này.
+, Trong các thành tố văn hóa tinh thần: tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục tập quán, ngôn
từ, tư duy, lối ứng xử của người Việt.
Dẫn: Dấu ấn môi trường tự nhiên sinh thái trong văn hóa truyền thống Việt Nam
thẻ hiện rõ nét trong nhiều thành tố văn hóa tinh thần: Khái niệm:
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin và thực hành tôn thờ những lực lượng
siêu nhiên, thần thánh hoặc các yếu tố tự nhiên có khả năng tác động đến cuộc sống con
người. Tín ngưỡng thể hiện sự tôn trọng với các lực lượng siêu nhiên này và là sự kính 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
sợ với các lực lượng này. Đông thời là phương tiện giúp con người tìm kiếm được sự
bảo vệ, may mắn, hoặc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.
Tín ngưỡng phồn thực:
phồn= nhiều, thực= nảy nở. Tín ngưỡng phồn thực tồn tại suốt
chiều dài lịch sử với hai biểu hiện: thờ cơ quan sinh dục và thờ hành vi giao phối. Việc
thờ cơ quan sinh dục nam nữ hay còn gọi là thờ sinh thực khí. Đây là hình thái đơn giản
của tín ngưỡng phồn thực, phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp với niềm tin mùa
màng tốt tươi, sinh sôi nảy nở và bảo về sự sống. Bên cạnh đó còn có tục thờ hành vi
giao phối, một tín ngưỡng độc đáo và đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á.
Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: người V
iệt Nam ta sống bằng nghề lúa nước thì sùng bái
tự nhiên là một trong những quá trình tất yếu để làm ăn thuận lợi, mùa màng tốt tươi.
Do nhiều yếu tố, tín ngưỡng thờ các Bà mẹ, các Mẫu đã trở thành một tín ngưỡng điển
hình. Trước hết là các Bà Trời, Bà Đât, Bà Nước- những nữ thần cai quản các hiện
tượng tự nhiên. Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên còn có thờ động vật và thực vật: chim, rắ,,
cá sấu là những loài động vật phổ biến ở vùng sông nước, do vậy, thuộc loài sùng bái
hàng đầu. “Nhất điểu, nhị xà, tam ngư, tứ tượng”
Tín ngưỡng sùng bái con người:
Trong con người có cái vật chất và tinh thần. Cái tinh
thần trừu tượng và khó nắm bắt nên người xưa đẫ thần thánh hóa nó thành khái niệm
“linh hồn”. Người Việt và một vài dân tộc Đông Nam Á còn tách hồn và vía. Người việt
cho rằng con người có 3 hồn, nhưng vía thì nam có 7, nữ có 9. Niềm tin rằng chết là về
với tổ tiên nơi chín suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường
xuyên đi về thăm non, phù hộ cho con cháu. Vì thế mà hình thành nên tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên. Ngoài ra trong gia đình Việt còn thờ cúng Thổ công, là vị thần trông coi
gia cư, định đoạt phúc họa cho gia đình. “Đất có thổ công, sông có Hà Bá”. Ngoài các
vị thần tại gia, còn có các thần linh chung của thôn xã hoặc toàn dân tộc: Trong làng thờ
thần làng (Thành Hoàng), trong nước thờ Vua Tổ- Vua Hùng. Mùng 10 tháng 3 hàng
năm, người dân trên khắp cả nước đến dân hương Vua Tổ Khái niệm:
Tôn giáo là một hệ thống niềm tin, giáo lý và thực hành liên quan đến các
quyền lực siêu nhiên hoặc các thực thể thiêng liêng, được coi là có ảnh hưởng đến cuộc
sống con người và vũ trụ. Tôn giáo thường bao gồm các tín ngưỡng về thần linh, các
quy tắc đạo đức, nghi lễ thờ phụng, và các phương thức giúp con người tìm kiếm sự cứu
rỗi, sự an lành, hoặc sự giác ngộ. Đạo Phật:
-Đạo Phật, dù có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng khi du nhập vào Việt Nam, nó đã có sự hòa
nhập sâu sắc với văn hóa địa phương, đặc biệt là trong việc tôn thờ thiên nhiên. Những
hình ảnh về ngôi chùa, núi, rừng trong các lễ hội Phật giáo thể hiện sự kết nối với môi
trường thiên nhiên. Người Việt tin rằng nơi chùa chiền, miếu mạo là nơi linh thiêng, nơi
các vị Phật, Bồ tát hoặc thần linh cư ngụ và bảo vệ. Chùa thường được xây dựng ở
những địa điểm có cảnh quan thiên nhiên đẹp như ven sông, dưới chân núi, để tạo ra
không gian thiền định, thanh tịnh, gần gũi với thiên nhiên.
-Sự gắn kết với thiên nhiên trong các lễ hội Phật giáo cũng rất rõ rệt. Ví dụ, Lễ hội chùa
Hương là một lễ hội tôn vinh Phật, diễn ra tại khu vực Hương Sơn, nơi có cảnh quan
thiên nhiên hùng vĩ, với những ngôi chùa nằm ẩn mình trong núi rừng. Lễ hội này 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
không chỉ là dịp để người dân thể hiện lòng thành kính đối với Đức Phật, mà còn là
cách để con người kết nối với thiên nhiên, tôn thờ đất đai và những linh hồn bảo vệ thiên nhiên. Đạo Mẫu và T
ôn thờ thần linh của thiên nhiên :
-Đạo Mẫu, một tôn giáo đặc trưng của Việt Nam, có sự giao thoa giữa tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên và các tín ngưỡng thờ thần linh tự nhiên. Trong Đạo Mẫu, các mẫu thần
như Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Địa, Mẫu Thoải là những vị thần gắn liền với thiên nhiên,
đất đai, nước, và các hiện tượng tự nhiên. Đặc biệt, Mẫu Thượng Ngàn là vị thần của
núi rừng, được coi là người bảo vệ, cai quản rừng núi và các loài sinh vật trong đó. Còn
Mẫu Thoải là thần của nước, gắn liền với các sông, hồ, ao, giúp điều hòa nước mưa,
nước sông cho mùa màng bội thu.
-Các nghi lễ trong Đạo Mẫu thường được tổ chức ở những nơi có gắn liền với thiên
nhiên, như trên núi, bên bờ sông, trong các đền, miếu thờ thần linh của đất, rừng, và
nước. Những nghi lễ này thể hiện sự tôn kính và hòa hợp với thiên nhiên, cầu mong sự
che chở và bảo vệ từ các vị thần của tự nhiên. Ví dụ, Lễ hội Đền Hùng không chỉ là dịp
tưởng nhớ tổ tiên mà còn là cơ hội để con người thể hiện lòng biết ơn đối với thiên
nhiên, đất đai, nơi sinh ra và nuôi dưỡng con người.
Tôn thờ các thần tự nhiên trong dân gian:
-Ngoài các tôn giáo chính thống, nhiều khu vực ở Việt Nam vẫn duy trì việc tôn thờ các
vị thần linh địa phương, là những thần bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên.
Những vị thần này thường gắn liền với các yếu tố như sông, núi cây cối, đất đai. Những ,
ngôi miếu thờ thần linh này thường được xây dựng ở những nơi có đặc điểm thiên nhiên
nổi bật như bên cạnh những cây cổ thụ, ven sông, hoặc ở đỉnh núi. Tín ngưỡng này
không chỉ tôn vinh thiên nhiên mà còn khẳng định mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên là một phần không thể tách rời.
-Lễ hội Thần Nông hay Lễ hội Thủy Tiên là những ví dụ về việc thờ thần nông nghiệp và
thần linh của tự nhiên, phản ánh sự gắn bó giữa con người với nguồn đất đai, cây cối,
sông ngòi, nhằm cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Khái niệm:
Phong tục tập quán là những tập hợp các thói quen, hành vi, quy ước, và
nghi thức truyền thống được hình thành và duy trì qua nhiều thế hệ trong một cộng
đồng, xã hội hoặc dân tộc. Những phong tục tập quán này thường phản ánh những giá
trị văn hóa, lối sống và niềm tin của một nhóm người, và chúng có thể được thực hiện
trong nhiều lĩnh vực của đời sống, như lễ hội, nghi lễ, tôn giáo, cưới hỏi, sinh hoạt gia
đình, và các mối quan hệ xã hội. Lễ hội truyền thống
Các lễ hội truyền thống của người Việt gắn liền với các yếu tố thiên nhiên, đặc biệt là
các lễ hội mùa màng, lễ hội nông nghiệp. Lễ hội đâm trâu của người Tây Nguyên là
một nghi thức thờ thần linh của rừng núi, nhằm cầu mong một năm mới đầy ắp sức khỏe
và mùa màng bội thu. Các lễ hội như lễ hội Tết Nguyên Đán, lễ hội mùa màng, hay lễ
hội thờ thần tài đều thể hiện sự kết nối giữa con người và thiên nhiên qua các nghi
thức cúng bái, tạ ơn đất đai và cầu xin sự bảo vệ của các thần linh đối với mùa màng, gia đình.
Phong tục cúng đất, cúng thần linh của thiên nhiên
Trong đời sống hàng ngày, người Việt cũng tổ chức các nghi lễ cúng đất, cúng thần
tài, cúng thần linh để tỏ lòng thành kính và cầu mong sự thịnh vượng, tài lộc. Trong đó, phong tục
thể hiện mối quan hệ giữa con người và môi trường t cúng đất đai ự nhiên 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
qua việc tôn thờ đất đai, sự sinh sôi nảy nở của cây cối, và cầu mong mùa màng bội thu.
Đây là một biểu hiện rõ rệt của mối quan hệ giữa tín ngưỡng và sự hòa hợp với thiên nhiên. Khái niệm:
Ngôn từ là tổng thể các từ vựng, từ ngữ, và cách sử dụng ngôn ngữ trong
một cộng đồng, một xã hội hoặc một nền văn hóa nhất định. Ngôn từ không chỉ bao
gồm các từ đơn, cụm từ mà còn thể hiện các quy tắc, cấu trúc ngữ pháp và cách diễn đạt
trong giao tiếp. Ngôn từ là phương tiện chủ yếu để con người trao đổi thông tin, biểu đạt
suy nghĩ, cảm xúc và các quan điểm cá nhân cũng như xã hội.
Ngôn ngữ gắn liền với thiên nhiên
Ngôn ngữ Việt Nam rất giàu hình ảnh, phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa con người và
thiên nhiên. Các thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam thường sử dụng hình ảnh thiên
nhiên để diễn đạt tình cảm và suy nghĩ của con người. Chẳng hạn, “Nước chảy đá
mòn” hay “Cây cao bóng cả” là những hình ảnh thiên nhiên thể hiện sự bền bỉ và tầm
ảnh hưởng sâu rộng của con người trong cuộc sống. Câu nói “Bốn mùa trong năm, cây
cối đâm chồi nảy lộc” phản ánh rõ sự thay đổi của thiên nhiên trong chu kỳ mùa màng,
cũng như cuộc sống của con người luôn có những bước phát triển không ngừng.
Triết lý sống và mối quan hệ với thiên nhiên
Người Việt có tư duy sống hòa hợp với thiên nhiên, thể hiện qua triết lý “vạn vật hữu
linh”, tức là mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên đều có linh hồn và ảnh hưởng đến
đời sống của con người. Tư tưởng này có thể thấy rõ trong quan niệm về luân hồi, vạn
vật tuần hoàn và nhân quả. Mọi sự sinh tồn của con người và xã hội đều gắn với sự
tuần hoàn của thiên nhiên, của đất trời. Câu nói “sông có khúc, người có lúc” thể hiện
quan niệm về sự thay đổi và chu kỳ sinh tử trong tự nhiên và con người Khái niệm:
Tư duy, lối ứng xử của người Việt là cách thức mà con người Việt Nam suy
nghĩ, nhìn nhận và phản ứng đối với các tình huống trong cuộc sống, xã hội, dựa trên
nền tảng văn hóa, truyền thống và giá trị tinh thần của dân tộc. Cả tư duy và lối ứng xử
của người Việt đều chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ lịch sử, văn hóa, đạo lý, tôn giáo, và môi trường sống.
Lối sống hòa hợp với thiên nhiên
Người Việt từ xưa đã có ý thức sống hòa hợp với thiên nhiên. Các nghi thức sinh hoạt
như canh tác lúa nước, trồng cây, chăn nuôi gia súc đều phản ánh sự hiểu biết và tôn
trọng thiên nhiên. Trong đó, việc canh tác lúa nước ở đồng bằng sông Hồng hay trồng
cây ăn quả ở các khu vực khác đều có sự gắn bó chặt chẽ với môi trường. Các gia đình
thường trồng cây xanh quanh nhà để vừa làm đẹp, vừa tượng trưng cho sự thịnh vượng, tốt lành.
Phong cách kiến trúc và mối quan hệ với thiên nhiên
Trong phong cách kiến trúc truyền thống, các ngôi nhà của người Việt, đặc biệt là ở các
vùng đồng bằng, thường được xây dựng gần sông, gần suối hoặc có sân vườn rộng để
kết nối với thiên nhiên. Ví dụ, nhà rường Huế hay nhà sàn của người Tây Bắc đều có
thiết kế để thích ứng với khí hậu, địa hình và sinh thái địa phương. Những công trình
này không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh sống mà còn phản ánh sự tôn trọng, hòa hợp với thiên nhiên. 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
ND 2: VĂN HÓA ĐÔNG SƠN: bối cảnh, thành tựu, vị thế trong diễn trình văn hóa Việt Nam
Mở bài: Văn hóa Đông Sơn phát triển mạnh mẽ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, được
coi là một trong những đỉnh cao đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Đánh dấu một
giai đoạn phát triển vượt bậc về mặt vật chất và tinh thần Thân bài:
- Bối cảnh: Niên đại: Văn hóa Đông Sơn có niên đại từ khoảng 1000 năm TCN đến
100 năm CN. Một giai đoạn phát triển mạnh mẽ nền văn hóa này đồng thời sự xuất hiện
sớm của đồ đồng. Đồ đồng Đông Sơn xuất hiện và phát triển mạnh mẽ, với các sản
phẩm nổi bật như trống đồng, vũ khí đồng, công cụ lao động. Trống đồng Đông Sơn
là một biểu tượng quan trọng của văn hóa này, được khắc họa với nhiều họa tiết tinh
xảo, có ý nghĩa không chỉ về mặt thẩm mỹ mà còn mang giá trị về tôn giáo, tín ngưỡng.
Sự chuyển biến về không gian sinh tồn (từ trung du, miến núi xuống vùng đồng bằng):
Văn hóa Đông Sơn không chỉ gắn liền với vùng đất trung du và miền núi, mà còn có sự
mở rộng và chuyển dịch mạnh mẽ xuống các vùng đồng bằng, đặc biệt là đồng bằng
sông Hồng. Sự chuyển mình này giúp cư dân Đông Sơn phát triển mạnh mẽ trong sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước, giúp cải thiện đời sống vật chất và thúc đẩy phát
triển các yếu tố văn hóa khác. Việc di cư và mở rộng không gian sinh tồn còn thúc đẩy
sự phát triển của các trung tâm văn hóa Đông Sơn ở các vùng ven biển, đặc biệt ở các
tỉnh ven biển Bắc Bộ, như Thanh Hóa, Nghệ An
- Thành tựu nổi bật trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Đông Sơn: Đời
sống vật chất: Đồ đồng Đông Sơn gồm các loại trống đồng và công cụ lao đông (rìu,
dao, cuốc), các vũ khí đồng (dao găm, giáo, mũi tên). Minh chứng cho trình độ kỹ thuật
và nghệ thuật của cư dân Đông Sơn chính là trống đồng Đông Sơn, giá trị và là biểu
tượng văn hóa, tín ngưỡng. Nông nghiệp: phát triển mạnh mẽ là nghề lúa nước ở vùng
đòng bằng sông Hồng và sau nó là các ngành trông trọt, chăn nuôi. Việc khai thác và sử
dụng đất đai giúp nền văn minh này phát triển mạnh mẽ, tạo ra những sản phẩm nông
nghiệp phong phú, phục vụ đời sống dân cư. Thủ công nghiệp: chế tác các sản phẩm
bằng gốm sứ và đồ đá. Đời sống tinh thần: Những nghi lễ và tín ngưỡng giai đoạn này
gắn liền chặt chẽ với nghề trồng lúa nước. Đó là tục thờ mặt trời, mưa dông, các nghi lễ
phồn thực, các nghi lễ nông nghiệp khác như: hát đối đáp gái trai, tục đua thuyền, thục
thả diều. Phong tục tập quán: Văn hóa Đông Sơn còn thể hiện qua các phong tục sinh
hoạt cộng đồng, như lễ hội, tục thờ cúng, các sinh hoạt văn hóa mang đậm tính cộng
đồng. Mỹ thuật và nghệ thuật
: Các hoa văn trên trống đồng Đông Sơn và đồ đồng cho
thấy sự phát triển vượt bậc về nghệ thuật điêu khắc và họa tiết trang trí của cư dân Đông
Sơn. Những hoa văn này không chỉ là biểu tượng văn hóa mà còn phản ánh các quan
niệm về vũ trụ, đời sống tâm linh, thẩm mỹ của người Đông Sơn. Nghệ thuật âm nhạc
và nghệ thuật quan trọng và khá phát triển, có những nhạc cụ như: trống đồng, sênh, phách, khèn
- Đánh giá vai trò: Đỉnh cao thứ nhất trong diễn trình phát triển của văn hóa Việt Nam:
đánh dấu giai đoạn phát triển vượt bậc về mặt vật chất và tinh thần, nền tảng quan trọng 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
cho các nền văn hóa sau này. Văn hóa Đông Sơn minh chứng cho một thời kỳ thịnh
vượng của cư dân lúa nước, nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, cùng với nhiều thành tựu
về nghệ thuật, kỹ thuật chế tác đồ đồng và tổ chứ xã hội. Nền tảng bản địa, đậm chất
Đông Nam Á lúa nước: Đặc trưng là canh tác lúa nước, chế tác đồ đồng, và những gí trị
tín ngưỡng dân gian. Phản ánh đặc trưng chung của các nền văn hóa ở Đông Nam Á với
sự phát triển của các nền tảng văn hóa nông nghiệp, sản xuất thủ công, đời sống cộng
đồng đặc sắc. Văn hóa còn có sự giao thoa với văn hóa Trung Hoa nhưng vẫn giữ được
những bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam
Kết bài: Văn hóa Đông Sơn một giai đoạn phát triển đặc sắc trong lịch sử Việt
Nma, là nền tảng quan trọng góp phần hình thành nền văn minh lúa nước. Nhiều
những thành tựu nổi bật về trống đồng, lỹ thuật, sự phát triển nông nghệp lúa
nước, các tín ngưỡng phong phú đã để lại dấu ấn đậm sâu trong đời sống vật chất
và tinh thần của cư dân Đông Sơn và sau này còn góp phần tạo nên diện mạo đặc
sắc của văn hóa Việt Nam.
ND 3: Tín ngưỡng và các loại tín ngưỡng ở Việt Nam: tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên, tính ngưỡng thờ Thành hoàng làng
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Mở bài: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những giá trị tinh thần sâu sắc.
Đây không chỉ là hành động mà còn thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu đối với tổ tiên của mình Thân bài: -Khái niệm
: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những tín ngưỡng sâu sắc và phổ biến
trong văn hóa Việt, thể hiện lòng hiếu thảo, sự tôn kính của con cháu đối với ông bà, tổ
tiên, những người đã khuất. Đây là tín ngưỡng thể hiện sự kết nối giữa thế giới vật chất và
tâm linh, nơi mà tổ tiên luôn được xem là những người bảo vệ, dìu dắt con cháu trong cuộc
sống. Nguồn gốc hình thành:chế độ phụ quyền; vai tò của người đàn ông trở nên quan
trong trong hoạt động kinh thế hoặc trong gia đình. Do ảnh hưởng của 3 dòng tôn giá: Nho
gióa, Phật giáo, Đạo giáo đều khuyến khích sự tôn kính của con cháu dành cho người đã
khuất. Từ những quan niệm tấm linh nguyên thủy về linh hồn và sự sống sau cái chết. Từ
xưa con người đã tin rằng khi qua linh hồn không hoàn toàn biến mất mà tồn tại và vì thế
trong mỗi gia đình lập bàn thờ cúng bái, thực hiện các nghi lễ để tỏ lòng biết ơn và mong
cầu sợ bảo vệ, chỉ dẫn. “Uống nước nhớ nguồn”.
-Những biểu hiện/ đặc điểm của tín ngưỡng
: biểu hiện rõ ràng trong các nghi lễ thờ cúng tại
gia đình. Các gia đình lập bàn thờ tổ tiên, đặt những bức ảnh hoặc di vật của tổ tiên, thực
hiện các nghi lễ cúng bái. Các lễ dâng gồm hoa quả, xôi, thịt và các món ăn đặc trưng khác.
-Ví dụ minh họa cụ thể
: trong dịp Tết Nguyên Đán các gia đình Việt Nam chuẩn bị mâm
cúng tổ tiên rất chu đáo. Mâm cúng thường bao gồm các món ăn truyền thống như bánh
trưng, gà luộc, xôi, hoa quả,… để tổ lòng thành kính cũng đồng thời cầu sự bảo vệ phù hộ
cho gia đình trong năm mới 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
-Ý nghĩa trong đời sống của người
Việt: Đối với cá nhân: Hình thành nhân cách: hiếu thảo,
lòng biết ơn, sự kiên nhẫn và lòng kính trọng đối với tổ tiên. Cân bằng tâm lí: việc tưởng
nhớ tổ tiên giúp cho con người cảm thấy được an tậm, bình an trong cuộc sống. Hướng tới
cuộc sống tốt đẹp. Rèn luyện ý chí, kỉ luật; Đối với gia đình: Gắn kết tình cảm gia đình.
Tuyền dạy giá trị. Bảo tồn dòng họ: duy trì mối quan hệ giữa các thế hệ trong dòng họ.
Giair quyết xung đột; Đối với xã hội: Gắn kết cộng đồng. Bảo tồn văn hóa. Tạo nên một xã
hội ổn định: giảm nhưng tiêu cực và phát triển tiến bộ. Phát triển du lịch: nhiều lễ hội
truyền thống du hút khách du lịch và phát triển nên kinh tế cho nước nhà
-Những tích cực và hạn chế của việc thực hiện thờ cúng tổ tiên: Tích cực : Giữ gìn đạo lí
truyền thống truyền thống văn hóa thờ cúng như một lòng kính trọng và biết ơn tổ tiên
đồng thời giữu gìn bản sắc của dân tộc. Rèn luyện đạo đức: việc thờ cúng giúp con cháu
rèn luyệ tính kiên nhẫn và lòng thành kính cũng như sự tôn trọng đối với người lớn tuổi đã
khuất. Củng cố mối quan hệ gia đình, là dịp để các thành viên sum họp, gắn kết tình cảm.
Tạo nên sự cân bằng tâm lý, con cháu cảm thấy được an ủi, được phù hộ trong cuộc sống.
Bảo tồn văn hóa dân tộc. Hạn chế: Quá coi trọng nghi lễ. Lợi dụng tín ngưỡng này để mưu
cầu vật chất, lạm dụng quá mức cầu tài lộc, may mắn, tin tưởng mọi điểu may sẽ đến
nhưng không muốn hành động. Đối với một số gia đình có điều kiện khó khăn nên đôi khi
duy trì các nghi lễ với lễ vật đầy đủ sẽ là một gánh nặng, ảnh hưởng tới đời sống vật chất của gia đình.
Kết bài: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một phần không thể thiếu trong đời sống tâm
linh của người Việt. Dù có nhiều điểm hạn chế nhưng nhìn chung tín ngưỡng này
mang một nét riêng của văn hóa Việt Nam, gắn kết cộng đồng và xây dựng nền tảng
đạo đức cho các thế hệ tương lai.
Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng
Mở bài: Tín ngưỡng là một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Đặc biệt
tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, phổ biến và mang đậm sắc văn hóa và tâm linh
của con người Việt Nam Thân bài: -Khái niệm:
là tín ngưỡng thờ các vị thần bản vệ làng xóm, giúp bảo vệ an ninh trật tự, sự
thịnh vượng và bình ăn cho cộng đồng dân cư. Nguồn gốc thờ Thành hoàng làng: có nguồn
gốc từ Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam thời thuộc Đường. Thành hoàng là vị thần
bảo trợ cho thành trì, đô thị. Nhưng ở Việt Nam trước khi tục thờ Thành lan truyền sang thì
ở Việt Nam đã có tục thờ thần làng, người Việt ta đã kết hợp tín ngưỡng để tạo ra một tín
ngưỡng rất độc đáo chính là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng
-Biểu hiện/ đặc điểm:
tín ngưỡng này thể hiện qua việc xây dựng các đình, miếu thờ Thành
hoàng làng, nơi tổ chức các lễ hội, nghi lễ cầu an, cầu lộc cho dân làng. Mỗi làng thường
có một Thành hoàng làng. Thành hoàng làng có thể là Thiên thần, Nhiên thần, Nhân thần là
người thường nhưng được thiên hóa và được chia ra làm hai: Chính thần là những người có
công với làng xã, Tà thần, dâm thần là những người có xuất thân hèn kém: ăn trộm, ăn xin,
ăn mày, chết nghẽn, cụt đầu, tà dâm,… vì lí do nào đó họ mất ở làng vào giờ thiêng nên 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
dân làng thờ cúng để cầu bình an khi làm ăn, không gặp nhiều điềm rủi.Thờ thành Hoàng
làng là Nhân thần dân làng thường đi cùng với tục hèn, lễ mật: có nhiều điều kiêng kị,
phong tục độc đáo và diễn ra trong đêm và chỉ có dân làng biết -Ví dụ minh họa:
vào dịp lễ hội Đền Hùng hay lễ hội làng tại các vùng miền, người dân sẽ
tổ chức các nghi lễ cúng bái, rước kiệu Thành hoàng, thể hiện sự tôn vinh và biết ơn tới
thần linh, đồng thời cầu mong sự bình an cho cả cộng đồng.
-Ý nghĩa trong đời sống người
Việt: giữ gìn truyền thống văn hóa cộng đồng, tạo sự gán kết
chặt chẽ giữa các thành viên trong làng, củng cố niềm tin vào sự bảo về của các thần linh
đối với cuộc sống của người dân
-Tích cực và hạn chế:
Thúc đẩy tinh thần đoàn kết của cộng đồng, giữ gìn truyền Tích cực:
thống văn hóa dân tộc. Các lễ hội thường tổ chức nhiều các hoạt động văn hóa dân gian,
tạo cơ hội thắt chặt tình làng nghĩa xóm. Hạn chế: phụ thuộc quá vào yếu tố siêu nhiên,
giảm bớt ý thức thực lực. Một số nghi lễ có thể bị lợi dụng để thu hút tiền bạc, đánh mất
giá trị thực sự của tín ngưỡng.
Kết bài: Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng không chỉ thể hiện tính gắn kết dân tộc
mà còn đem lại những giá trị về văn hóa, lịch sử, tinh thần sâu sắc. Để bảo vệ được
những giá trị tốt đẹp đó ta cần phải thực hành và duy trì tín ngưỡng một cách hợp lý.
Dàn bài chi tiết: Môi trường tự nhiên sinh thái và dấu ấn trong văn hóa Việt Nam truyền thống I. Mở bài
Giới thiệu tổng quan về môi trường tự nhiên sinh thái của Việt Nam,
bao gồm đặc điểm địa lý, khí hậu và hệ thống sông ngòi phong phú.
Môi trường tự nhiên không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật chất mà
còn in đậm dấu ấn trong văn hóa tinh thần của người Việt.
Mục đích của bài viết là phân tích các dấu ấn môi trường tự nhiên
trong các thành tố văn hóa truyền thống của người Việt. III. Kết bài
Tổng kết lại vai trò quan trọng của môi trường tự nhiên trong việc
hình thành và phát triển các thành tố văn hóa vật chất và tinh thần của người Việt.
Môi trường tự nhiên sinh thái không chỉ ảnh hưởng đến đời sống vật
chất mà còn gắn liền với các tín ngưỡng, phong tục, lối sống của
người Việt, tạo nên một nền văn hóa đa dạng và sâu sắc.
Nhấn mạnh sự cần thiết trong việc bảo vệ và duy trì sự hài hòa giữa
con người và thiên nhiên để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.
ND1 Môi trường tự nhiên sinh thái và dấu ấn trong văn hóa Việt Nam truyền thống Mở bài: 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
Môi trường tự nhiên sinh thái luôn có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của mỗi dân tộc. Việt
Nam, với địa hình đa dạng và hệ sinh thái phong phú, không chỉ là một đất nước có cảnh quan
thiên nhiên tươi đẹp mà còn là nơi sản sinh và phát triển một nền văn hóa đặc sắc. Đặc điểm
tự nhiên của Việt Nam, với hệ thống sông ngòi chằng chịt và địa hình phân hóa rõ rệt, đã tạo
nên những dấu ấn đặc biệt trong các thành tố văn hóa truyền thống của người Việt, từ vật chất đến tinh thần. Thân bài:
1. Đặc điểm tự nhiên – sinh thái của Việt Nam:
Việt Nam có một hệ thống địa hình đa dạng với ba khu vực chính: đồng bằng, trung du
và miền núi. Đặc biệt, hệ thống sông ngòi của đất nước này rất phong phú, trong đó
nổi bật là sông Hồng và sông Cửu Long. Các sông ngòi này không chỉ cung cấp nguồn
nước quan trọng cho nông nghiệp mà còn là tuyến giao thông chủ yếu của người dân
từ ngàn xưa. Hệ thống sông ngòi này tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự phát triển
của nền văn minh lúa nước, nơi người dân xây dựng cuộc sống và văn hóa của mình
gắn liền với thiên nhiên.
Địa hình miền núi và trung du cung cấp tài nguyên phong phú cho các cộng đồng dân
cư nơi đây, như cây cỏ, khoáng sản và động vật hoang dã. Trong khi đó, các vùng
đồng bằng rộng lớn lại là nơi lý tưởng cho sự phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng
lúa, với sự hỗ trợ của các dòng sông lớn tạo nên những cánh đồng màu mỡ.
2. Dấu ấn môi trường trong các thành tố văn hóa vật chất:
oĂn: Môi trường tự nhiên ảnh hưởng sâu sắc đến nền ẩm thực của người Việt.
Nhờ có hệ thống sông ngòi phong phú, nguồn cá và thực phẩm thủy sản luôn là
một phần quan trọng trong khẩu phần ăn hàng ngày của người dân, như các
món cá kho, canh chua, lẩu, hay các món ăn từ thủy sản khác. Đồng thời, việc
trồng lúa nước trên các đồng bằng cũng đã tạo nên món ăn chủ đạo là cơm, gạo.
oMặc: Người Việt, đặc biệt ở các vùng đồng bằng, sử dụng chất liệu tự nhiên
như vải lanh, lụa từ cây dâu tằm và sợi bông để tạo ra những trang phục giản
dị, phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Các trang phục truyền thống như áo dài, áo
bà ba, áo tứ thân đều có sự thích ứng với môi trường tự nhiên, giữ được sự
thoải mái cho người mặc trong điều kiện khí hậu nóng ẩm.
oỞ: Nhà ở của người Việt thường có cấu trúc đơn giản, nhẹ nhàng và gần gũi
với thiên nhiên. Những ngôi nhà truyền thống thường có mái ngói hoặc mái
tranh, với khoảng sân vườn rộng rãi để trồng cây, tận dụng không gian mở và
gió mát từ thiên nhiên. Các ngôi nhà sàn của người dân tộc thiểu số ở vùng núi
cũng phản ánh sự hòa hợp với môi trường tự nhiên.
oĐi lại và phương thức sản xuất: Sự phát triển của giao thông thủy, với
thuyền, bè, là một đặc điểm nổi bật trong các phương thức di chuyển của người
Việt ở các vùng sông nước. Đồng thời, phương thức sản xuất nông nghiệp lúa
nước, với các công cụ như cày, cuốc, và sự phát triển của các cánh đồng lúa, đã
làm nên sự khác biệt trong nền kinh tế của người Việt, gắn liền với thiên nhiên và đất đai.
3. Dấu ấn môi trường trong các thành tố văn hóa tinh thần:
oTín ngưỡng: Một trong những đặc điểm nổi bật của tín ngưỡng Việt Nam là
thờ cúng tổ tiên và các thần linh gắn liền với thiên nhiên, như thờ thần cây,
thần rừng, thần nước. Các nghi lễ này phản ánh sự tôn trọng và biết ơn đối với 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu
các yếu tố tự nhiên trong cuộc sống của con người, như cầu mưa, cầu mùa
màng, và bảo vệ sức khỏe.
oPhong tục tập quán: Phong tục của người Việt, như việc làm lễ cúng đất,
cúng thần linh trong các dịp lễ Tết, phản ánh sự kính trọng đối với thiên nhiên.
Lễ cúng mưa, lễ hội mùa màng ở các làng quê thể hiện mối quan hệ khăng khít
giữa người dân và môi trường tự nhiên.
oNgôn từ, tư duy và lối ứng xử: Ngôn ngữ Việt Nam phản ánh sự gắn bó sâu
sắc với thiên nhiên qua các từ ngữ, câu ca dao, tục ngữ. Những câu ca dao, tục
ngữ như “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay “có công mài sắt, có ngày nên kim”
không chỉ là những lời khuyên trong cuộc sống mà còn thể hiện sự tôn trọng và
hòa hợp với thiên nhiên và môi trường sống. Tư duy của người Việt cũng thể
hiện tính chất linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi của thiên nhiên và môi trường sống. Kết bài:
Tóm lại, môi trường tự nhiên sinh thái của Việt Nam đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong các
thành tố văn hóa truyền thống. Từ những biểu hiện trong văn hóa vật chất như ăn, mặc, ở, đi
lại đến các thành tố văn hóa tinh thần như tín ngưỡng, phong tục tập quán, ngôn từ, đều có sự
ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường thiên nhiên. Những dấu ấn này không chỉ phản ánh sự thích
nghi của người Việt với thiên nhiên mà còn thể hiện sự tôn trọng và hòa hợp với môi trường,
tạo nên một nền văn hóa phong phú, độc đáo của dân tộc Việt Nam. 19:56, 07/01/2026
ÔN CSVH VN - ĐỀ CƯƠNG VỀ DẤU ẤN TỰ NHIÊN TRONG VĂN HÓA VIỆT - Studocu