










Preview text:
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: Các hoạt động kinh tế phân bố không đồng đều theo không gian như thế nào và
chúng ta có thể giải thích thế nào về sự không đồng đều của đời sống kinh tế?
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Tiến Bảo Hưng Mã sinh viên: 11222624
Lớp tín chỉ: MTKT1102(222) _02-Địa lý kinh tế 1 Hà Nội - 2023 Mục lục.
Chương 1. Phần mở đầu.
Chương 2. Cơ sở lý thuyết.
Chương 3. Nội dung đề tài. Chương 4. Case study.
Chương 5. Các nguồn tài liệu tham khảo. 2
Chương 1. Phần mở đầu.
Giới thiệu qua về môn học và đề tài.
Môn địa lý kinh tế nghiên cứu cơ sở khoa học về sự phân bố và phát triển của các hoạt
động kinh tế gắn với điều kiện địa lý cụ thể của từng vùng lãnh thổ nhằm phát hiện ra
những quy luật và vận dụng trong thực tiễn tổ chức lãnh thổ kinh tế. Nội dung của học
phần tập trung phân tích những đặc điểm và xu thế hiện đại của phát triển kinh tế - xã hội
toàn cầu, đánh giá vai trò và vị thế của Việt Nam trong hệ thống phân công lao động khu
vực và quốc tế. Học phần cũng trang bị cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức lãnh thổ của
các nghành và lĩnh vực kinh tế, vùng kinh tế và những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội
của các vùng ở Việt Nam nói riêng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Chương 2. Cơ sở lý thuyết.
Trái đất - hành tinh của chúng ta, khác với những gì mà ta vẫn thấy ngày nay, nó đã bắt
đầu cuộc đời của mình từ một khối cầu khủng khiếp mà ngay cả những cảnh tượng ghê
gớm nhất trong phim ảnh cũng chẳng thể sánh bằng. Vậy những gì đã làm nên sự sống và văn minh của chúng ta?
Ban đầu, Trái đất chỉ là một hành tinh chết nóng rực, các kim loại nặng chìm dần vào
trong và nóng chảy, đẩy các vật chất nhẹ lên trên và nguội dần. Trái đất lúc này có hình
dạng là một quả cầu khổng lồ màu đen với những vêt nứt sáng do phần vật chất nóng
chảy bên trong. Chính các vết nức này sẽ còn tiếp tục tồn tại hàng tỷ năm nữa, thường
xuyên trở thành nhân tố quyết định cho sự tồn vong của sự sống trên hành tinh.
4,3 tỷ năm trước, một hành tinh với kích thước của Sao Hỏa tên là Theia (cùng hình
thành trong giai đoạn đầu của Hệ Mặt trời) tiến về phía Trái đất. Cú va chạm là một thảm
họa thật sự, nhưng lại cũng là điều kiện tiên quyết cho sự sống của chúng ta sau này.
Trước tiên, nó làm mật độ vật chất trên Trái đất trở nên đều hơn, giống như khi bạn xóc
tung một lọ đựng nhiều loại kẹo cùng lúc. Tiếp theo... nó tạo thành Mặt Trăng. Vật chất
từ bề mặt của cả 2 hành tinh bắn tung lên không gian, tạo thành một dải vật chất chuyển
động trên quĩ đạo quanh Trái đất, giống như vành đai của Sao Thổ và các hành tinh lớn
ngày nay. Lực hấp dẫn lần nữa lại đóng vai trò của đấng sáng tạo, nó tập hợp các mảnh
vụn lại, tạo thành Mặt Trăng.
Lúc này, Mặt Trăng ở rất gần Trái đất và Trái đất thì quay rất nhanh. Nếu mọi chuyện
cứ tiếp diễn như vậy thì sự sống đã khó mà hình thành. Nhưng nhờ sự có mặt của Mặt
Trăng mà Trái đất quay chậm dần lại do ảnh hưởng của hấp dẫn, còn lực li tâm lại đẩy
Mặt Trăng xa dần, tránh cho chúng ta những cơn thủy triều còn mạnh hơn hàng chục lần 3
những đợt sóng thần khủng khiếp nhất ngày này. Đó là thời kì khoảng 4,1 tỷ năm trước
khi đại dương và khí quyển (không có oxy) đang hình thành.
3 tỷ năm trước, đại dương đã được bơm đầy oxy, sắt trong đại dương bị oxy hóa và
chìm sâu xuống thành các quặng sắt, những công trình kiến trúc ngày nay chúng ta có đã
được làm từ thứ quặng 3 tỷ năm tuổi này.
630 triệu năm trước, nguồn dung nham nóng chảy trong lòng Trái đất được đánh thức,
trở thành vị cứu tinh cho sự sống trên hành tinh. Các núi lửa sau hàng trăm triệu năm ngủ
yên đã thức giấc và phun trào, chúng phá vỡ một số điểm đóng băng trên bề mặt Trái đất,
phun dung nham lên bề mặt, và quan trọng nhất trong đó là khí cacbonic. Như ta đã biết,
cacbonic chính là tác nhân gây nên hiệu ứng nhà kính, và lúc này đó lại chính vị cứu tinh
cho sự sống trên Trái đất. Không khí hấp thụ được nhiệt độ của Mặt trời cùng với sự phun
trào dung nham làm băng tan dần tạo điều kiện cho những dạng sống sâu nhất dưới đại
dương vẫn còn tồn tại nay lại có cơ hội tiến hóa. Quá trình tan băng này kéo dài khoảng vài triệu năm.
Từ 360 triệu đến 286 triệu năm trước kỉ Carbon (còn gọi là kỉ than). Đây là thời kì 1
loạt cây cối chết đi và nằm lại trong lòng đất, kết thành các mỏ than đá ngày nay.
Từ 286 đến 248 triệu năm trước, Trái đất bước vào thời kì cuối cùng của đại cổ sinh
Paleozoic, đó là kỉ Permy (Permian). Loài therapsids cùng rất nhiều loài động vật (chủ
yếu là bò sát) thời đó đã là nạn nhân của thảm họa tuyệt chủng khủng khiếp nhất trong
lịch sử Trái đất: đại tuyệt chủng Permi. Đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến chưa thống nhất về
nguyên nhân của thảm họa này, nhưng đa phần ý kiến cho rằng nguyên nhân của cuộc đại
tuyệt chủng là sự hợp nhất hai lục địa Laurasia và Gondwana thành đại lục địa Pangaea.
Cú va chạm làm xáo trộn địa hình của cả 2 lục địa lớn dẫn đến động đất, núi lửa trên qui
mô toàn lục địa hủy diệt các sinh vật.
213 triệu năm trước kỉ Jura bắt đầu. Đây là giai đoạn giữa của Mesozoic. Pangaea lại
một lần nữa nứt vỡ thành Laurasia và Gondwana. Tại các vết nứt vỡ, xuất hiện sự tiêu
hủy của hàng loạt sinh vật gồm cả thực vật và các loại cá và động vật biển. Chúng lắng
xuống và tạo thành các mỏ dầu ngày nay, đây là một điểm rất quan trọng trong lịch sử địa
chất của Trái đất và đóng góp không nhỏ cho thế giới hiện đại của chúng ta ngày nay.
Vào thời Eocene ngay sau Palaeocene từ 55 đến 33,7 triệu năm trước, khí hậu đã ấm
hơn, rừng nhiệt đới mở rộng từ xích đạo trong khi băng tập trung ở 2 cực, nhất là Nam Cực.
Những tổ tiên thật sự gần của loài người chỉ xuất hiện vào khoảng 3,7 triệu năm trước,
đó là thời điểm xa nhất mà đến nay chúng ta có thể ghi lại được dấu chân của loài vượn
người đã có thể đi bằng hai chân. Loài này có tên Australopithecus, phát triển trong các 4
vùng rừng châu Phi. Sự sa mạc hóa của lục địa này khiến rừng biến thành sa mạc hoặc thảo nguyên.
Việc giải thích về lịch sử hình thành lớp địa chất trên trái đất như vậy nhằm mục đích
cho người đọc thấy được rằng sự phân bố không đồng đều về mặt không gian trên trái đất
đã được hình thành từ những ngày đầu sơ khai khoảng 4 tỷ năm về trước. Chúng ta có thể
ngầm hiểu rằng có thể rất lâu nữa mới có thể có sự thay đổi lớn lần nữa đối với các mảng
kiến tạo. Việc ở Châu phi có nhiều kim cương, Vùng vịnh có một trữ lượng rất lớn dầu
mỏ hay như trữ lượng than lớn nhất ở Hoa Kì đó chính là những thứ mà tạo hóa đã ban
cho họ thì từ đó tôi mới nảy sinh về ý tưởng phân tích về sự phân bố không đồng đều về
mặt không gian trên trái đất. Tại sao chỗ này lại có cái này, chỗ kia lại có cái khác? Tại
sao có nơi bằng phẳng thì thích hợp phát triển kinh tế, giao thông vận tải?
Chương 3. Nội dung đề tài.
Nhờ quá trình hình thành và phát triển lâu đời của trái đất nói chung và loài người nói
riêng mà các hoạt động kinh tế cũng phân bố không đồng đều theo không gian.
1. Tác động của yếu tố không gian đến nghành nông nghiệp.
- Đất: Ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, năng xuất, phân bố cây trồng vật nuôi. Nhờ có sự
phân bố không đồng đều của các loại đất trên trái đất mà những loại cây khác nhau cũng
được canh tác nhằm thu được lợi ích kinh tế cao nhất. Ví dụ tại Việt Nam, Nhờ có lượng
phù sa màu mỡ bồi đắp cho hai khu vực Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu
Long mà đây là hai vựa lúa lớn nhất của nước ta. Tính đến tháng 10/2022, hai vùng này
đã đóng góp không nhỏ vào thành tích ước đạt 700,000 tấn với giá trị khoảng 334 triệu
USD, đưa tổng khối lượng và trị giá xuất khẩu gạo 10 tháng năm 2022 đạt lần lượt 6,07
triệu tấn và 2,94 tỷ USD, tăng 17,2% về khối lượng và tăng 7,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.
- Khí hậu, nước: Ảnh hưởng đến thời vụ, cơ cấu, khả năng xen canh tăng vụ, mức ổn định
của sản xuất nông nghiệp. Ở yếu tố này, tôi sẽ lấy ví dụ về cây lúc mì-một sản phẩm xuất
khẩu của đất nước Ukraine. Được thu hoạch mỗi năm trên tổng diện tích hơn 220 triệu
hectare (trong khi diện tích trồng lúa chỉ chiếm 160 triệu hectare), lúa mì là nông phẩm
được trồng nhiều nhất trên thế giới. Nhưng loại ngũ cốc này chỉ thích hợp với khí hậu ôn
đới và hiện tượng khí quyển Trái đất nóng lên có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của cây
lúa mì, làm giảm số hạt trên mỗi bông lúa và/hoặc làm giảm kích thước của các hạt này.
- Sinh vật: Ảnh hưởng mức độ phong phú của giống cây trồng vật nuôi, khả năng cung
cấp thức ăn cho chăn nuôi. Ở nước ta đang bước đầu phát triển kinh tế tuần hoàn, nghĩa là
dùng phần chất thải của giai đoạn trước làm phần nguyên liệu đầu vào cho giai đoạn sau.
Để làm được thì không thể thiếu sự đa dạng phong phú của sinh vật. Nhưng để có những 5
sự đa dạng đó thì nguyên nhân sâu xa lại đến từ yếu tố khác biệt về mặt không gian địa lý ở mỗi vùng khác nhau.
- Tiến bộ khoa học - kĩ thuật ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và sản lượng. Ở những
đất nước phát triển, từ việc chăm sóc cho đến thu hoạch tất cả đều nhờ có thành tựu khoa
học kĩ thuật mà ra, từ những con robot, xe tự động, trí tuệ nhân tạo mà năng suất tăng cao
so với trước đây. Khi mà con người chỉ biết làm bằng thủ công chân tay bình thường.
2. Tác động của yếu tố không gian lên nghành dịch vụ.
-Quy mô,cơ cấu dân số: Nhịp độ phát triển và cơ cấu ngành dịch vụ. Việt Nam dân số
đông nhất là tại các thành phố lớn, khu đô thị mới, cơ cấu dân số trẻ, tuổi đi học cao thì
dịch vụ giáo dục ưu tiên phát triển. Cùng với đó nhu cầu về các dịch vụ giải trí ngày càng
cao, mức sống con người càng cao đòi hỏi nghành dịch vụ phải phát triển theo. Tuy
nhiên, do sự khác biệt về mặt địa lý mà tại những vùng nông thôn nghèo, tỉ trọng nghành
dịch vụ còn thấp nhưng cũng bước đầu phát triển.
-Truyền thống văn hóa, phong tục tập quán: Hình thức tổ chức mạng lưới dịch vụ. Việt
Nam có tập quán thăm hỏi lẫn nhau vào các ngày lễ tết thì dịch vụ giao thông vận tải, mua bán tăng cường.
3. Tác động của yếu tố không gian lên nghành công nghiệp.
- Khoáng sản: là nguyên, nhiên liệu quan trọng cho phát triển công nghiệp; trữ lượng,
chất lượng và chủng loại khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối sự phân bố, quy mô, cơ cấu
và tổ chức các xí nghiệp công nghiệp.
Ví dụ: ngành công nghiệp khai thác và tuyển than của nước ta lập trung ở Quảng Ninh,
nơi chiếm 94% trữ lượng than cả nước, hay các nhà máy xi măng lớn của nước ta đều
được xây dựng ở những nơi có nguồn đá vôi phong phú như Hoàng Thạch (Hải Dương),
Bỉm Sơn (Thanh Hóa), Hà Tiên I (Kiên Giang).
- Dân cư và nguồn lao động:
+ Nơi có nguồn lao động dồi dào cho phép phát triển và phân bố các ngành công nghiệp
cần nhiều lao động như dệt - may, giày - da, công nghiệp thực phẩm. Đây là những ngành
không đòi hỏi trình độ công nghệ và chuyên môn cao.
+ Nơi có đội ngũ lao động kĩ thuật cao, công nhân lành nghề gắn với các ngành công
nghiệp hiện đại, đòi hỏi hàm lượng công nghệ và “chất xám” cao trong sản phẩm như kĩ
thuật điện, điện tử - tin học, cơ khí chính xác, ...
+ Dân cư đông còn tạo nên thị trường tiêu thụ rộng lớn, thúc đẩy sản xuất công nghiệp phát triển. 6
Ví dụ: Nước ta có nguồn lao động trẻ, dồi dào, năng động và giá rẻ => thu hút nhiều vốn
FDI từ nước ngoài (Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore...). Lao động đông cũng tạo nên thế
mạnh các ngành kinh tế trọng điểm ở nước ta như: công nghiệp chế biến, dệt - may, sản
xuất hàng tiêu dùng, cơ khí...
Chương 4. Các case study điển hình. 1. CASE STUDY 1
Trong thế giới doanh nghiệp nước đóng chai có bốn tập đoàn sản xuất nước đóng chai
lớn thống trị trên thị trường trên thế giới:
-Gã khổng lồ thực phẩm và đồ uống Anh-Thụy Sĩ Nestlé sản xuất nước đóng chai tại 34
quốc gia và sở hữu các thương hiệu như Perrier (Pháp), San Pellegrino (Ý), Poland
Spring (Mỹ), Arrowhead (Mỹ), Buxton (Anh) và Nestlé Pure Life. Năm 2016, doanh số
bán nước đóng chai của Nestlé đạt khoảng 8,8 tỷ USD, chiếm khoảng 11% sản lượng
đóng chai toàn cầu bán nước.
-Nhà sản xuất thực phẩm Pháp Danone sở hữu các thương hiệu như Evian, Volvic, và
Danone Aqua. Hoạt động kinh doanh nước của Danone đã ghi nhận doanh thu toàn cầu
khoảng 5 tỷ đô la Mỹ vào năm 2016 – doanh thu lớn thứ hai sau Nestlé. Các thị trường
lớn nhất của công ty trong năm 2016 là Trung Quốc, Indonesia và Pháp.
-Công ty Coca Cola, có trụ sở tại ‐ Atlanta, Geor
sở hữu các thương hiệu như gia (Hoa Kỳ),
Dasani, Glaceau Smart Water và Glaceau Vitamin Nước. Ngoài ra, từ năm 2002, Coca‐
Cola đã là nhà phân phối của thương hiệu của Danone ở Bắc Mỹ. Năm 2016, Dasani là
nhãn hiệu nước uống đóng chai lớn nhất Hoa Kỳ. Mount Franklin, cũng thuộc sở hữu của Coca Cola, là thương hi ‐ ệu lớn nhất tại Úc.
-PepsiCo, có trụ sở chính tại Harrison, New York, sở hữu nhiều doanh nghiệp thực phẩm
và đồ uống, nhưng nguồn doanh thu lớn nhất của công ty là bộ phận đồ uống ở Bắc Mỹ,
bao gồm các thương hiệu như Aquafina. Aquafina có doanh thu hơn 1 tỷ đô-la Mỹ tại
Hoa Kỳ vào năm 2016 và được sản xuất tại 40 địa điểm đóng chai trên toàn quốc. Giống
như các nhà đóng chai nước lớn khác, Aquafina đã chuyển hướng mạnh mẽ sang tiếp thị
các phiên bản có hương vị, ngọt và có ga cho các sản phẩm cơ bản của mình.
Trong khi các công ty này là những công ty chiếm ưu thế trong ngành nước đóng chai
toàn cầu, tầm quan trọng của chúng khác nhau giữa các thị trường khác nhau. Ở Ấn Độ,
ví dụ, Bisleri, có trụ sở tại Mumbai, thống trị thị trường với 24 xu chia sẻ (India Water
Review 2017). Tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh, ví dụ là Tập đoàn Cott của Canada gần
đây đã phát triển một thị phần đáng kể bằng cách mua lại các nhà sản xuất nước đóng
chai và sản xuất các sản phẩm cho các nhà bán lẻ như Safeway và Sainsburys. Tại Hoa
Kỳ, với 13,1% thị phần nước đóng chai, Cott chỉ đứng sau Nestlé, Coke và Pepsi (Stivaros 2017). 7
Các công ty này không chỉ đơn giản đáp ứng nhận thức ngày càng tăng về sức khỏe và
thể lực của cá nhân, mà còn thúc đẩy các xu hướng này bằng cách quảng cáo lợi ích của
việc tiêu thụ nước và nhấn mạnh độ tinh khiết của các sản phẩm của họ. Họ đã có các
nguồn lực hợp pháp và vận động để tiếp cận nguồn nước từ các nguồn cung cấp của
thành phố hoặc từ các tầng chứa nước ngầm. Họ cũng cam kết dành nhiều nguồn lực để
trấn an chính phủ và công chúng về mối quan tâm của họ đối với sự phát triển bền vững
của môi trường, sức khỏe và sự an toàn của sản phẩm cũng như hành vi có trách nhiệm
của họ. Ở một mức độ lớn, các công ty này phụ thuộc vào cách chính phủ phản ứng với
các điều khoản cấp phép khai thác nước, điều chỉnh các sản phẩm họ đang bán và tạo
điều kiện thuận lợi cho việc tái chế chai nhựa sau khi sử dụng. Các công ty cũng hỗ trợ
các hiệp hội ngành và các nhóm vận động hành lang, chẳng hạn như Hiệp hội Nước đóng
chai Quốc tế (www.bottledwater.org), có vai trò thúc đẩy lợi ích của toàn ngành.
Nguồn: https://lms.neu.edu.vn/pluginfile.php/974740/mod_resource/content/
1/2020.%20Econ%20Geography_Contemporary%20Introduction.pdf của tác giả Wiley Blackweel
2. Case study 2. Cảng Thượng Hải
“Thượng Hải là cảng container bận rộn nhất thế giới năm 2022”-đây chính là cụng từ
sinh sinh động nhất để miêu tả hải cảng lớn nhất nhì thế giới
Với khối lượng vận chuyển 47,3 triệu TEU vào năm 2022, cảng Thượng Hải duy trì
sản lượng container lớn nhất thế giới năm thứ 13 liên tiếp.
Theo đơn vị điều hành Shanghai International Port, sản lượng container tại cảng vượt
mức 47,3 triệu TEU (đơn vị tương đương 20 foot) vào năm 2022, nhiều hơn tất cả các
cảng khác trên thế giới, bất chấp tác động của đại dịch.
Nhiều kỷ lục mới được thiết lập trong năm qua gồm kỷ lục về sản lượng container
nhiều nhất trong tháng 7 với hơn 4,3 triệu TEU và lượng hàng xử lý hàng ngày 170.000 TEU vào hôm 11/9.
Điều này được Shanghai International Port lý giải do những đổi mới về công nghệ liên
tục được áp dụng và sự hội nhập với các cảng ở khu vực đồng bằng sông Dương Tử cũng
như sự gia nhập của các doanh nghiệp, hãng tàu mới.
Bất chấp dịch bệnh và diễn biến thời tiết phức tạp vào năm ngoái, sự phát triển của
cảng Thượng Hải giúp đảm bảo hoạt động của Trung tâm Vận chuyển Quốc tế Thượng
Hảo và góp phần vào ổn định của chuỗi cung ứng và công nghiệp toàn cầu.
Được mở cửa từ 1842, cảng Thượng Hải đã tồn tại được 180 năm và trở thành cảng
nhộn nhịp nhất thế giới sau khi vượt qua cảng Singapore vào 2010. Với vị trí chiến lược
quan trọng, là nơi giao nhau giữa các con sông chính và có đường bờ biển Hoàng Hà và 8
Hoa Đông, cảng nước sâu này chiếm khoảng 26% vận chuyển thương mại nước ngoài của Trung Quốc.
Toàn bộ diện tích của cảng Thượng Hải lên tới 3.619 km2, chiều dài cảng khoảng hơn
20 km. Với 125 cầu cảng trải dài trên 19 bến, lưu lượng hàng hóa xử lý hàng năm luôn ở
mức cao. Tại cảng Thượng Hải, hàng hóa chủ yếu được vận chuyển là than, quặng kim
loại, dầu mỏ và các chất dẫn xuất, thép, máy móc và thiết bị xây dựng.
Lý do tôi chọn đây là ví dụ vì cảng Thượng Hải có rất nhiều điều kiện thuận lợi mà ít
nơi có được. Nó bao gồm một cảng nước sâu và cảng sông. Cảng Thượng Hải nhìn
ra biển Hoa Đông về phía đông, và vịnh Hàng Châu ở phía nam. Nó bao gồm đầu
các sông Dương Tử, sông Hoàng Phố (sông đổ vào sông Dương Tử), và Tiền Đường. và
với những lý do nêu trên. Cảng Thượng Hải đã và đang hỗ trợ cho nghành Logistics ở
Trung Quốc phát triển cực thịnh, đóng góp to lớn vào GDP đất nước này.
Nguồn: https://vnexpress.net/thuong-hai-la-cang-container-ban-ron-nhat-the-gioi-nam-
2022-4556904.html của tác giả Thanh Thảo
Chương 5. Kết quả, nhận xét, kết luận.
Từ những phát hiện trên, tôi hy vọng người đọc có thể phần nào hiểu rõ hơn về các
hoạt động kinh tế phân bố không đồng đều theo không gian như thế nào và chúng ta có
thể giải thích thế nào về sự không đồng đều của đời sống kinh tế. Qua đó có thể rút ra
được những bài học trong thực tiễn như đặt nhà kho ở đâu cho hiệu quả, thiết kế đường đi
cho xe chuyển phát như thế nào để chi phí bỏ ra là thấp nhất nhưng đạt được hiệu quả tối
đa… Hay nói cách khác là vận dụng những kiến thức về sự đa dạng trong không gian địa
lý để đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh cũng như cuộc sống.
Chương 6. Nguồn tài liệu tham khảo
https://khoahoc.tv/qua-trinh-hinh-thanh-va-tien-hoa-cua-su-song-tren-trai-dat-80614 của
tác giả Đặng Vũ Tuấn Sơn 9 10