lOMoARcPSD| 58511332
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần:
CNXHKH( PLT09A)
Đ
:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn
giáo. Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống Việt Nam hiện
nay. Ý nghĩa khẩu hiệu: Đạo phá
p-
dân tộc-Chủ nghĩa xã hội
của giáo hội phật giáo Việt Nam.
Giảng viên h
ư
ớng dẫn : Võ Minh Tuấn
Sinh viên thực hiện : Trần Lê Phương Linh
Lớp : K23CLC-TCA
Mã sinh viên : 23A4010367
Nam Định, ngày 24 tháng 12 năm 2021
lOMoARcPSD| 58511332
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................... 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 1
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ........................................... 1
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .................................................. 1
NỘI DUNG ....................................................................................................... 2
Phần 1. Phần lý luận ................................................................................... 2
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo ............................. 2
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ . 4
nghĩa xã hội .................................................................................................. 4
3. Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội Việt Nam ............................................................................. 6
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân ..................................... 7
1. Mặt tích cực của phật giáo Việt Nam .................................................... 7
2. Những quan điểm về hạn chế của Phật Giáo ....................................... 9
3. Ý nghĩa khẩu hiệu “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” ......... 10
4. Liên hệ bản thân .....................................................................................11
KẾT LUẬN ......................................................................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................11
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là mt quốc gia tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau và đa dạng về chiều
hướng phát triển trên phạm vi cả nước. Vì vậy đòi hỏi Đảng và nhà nước ta cần
phải có cái nhìn đúng đắn những vấn đề lí luận và thực tiễn về vấn đề tôn giáo
cũng như có những chính sách về tôn giáo một cách phù hợp và linh hoạt hiện
nay. Đó cũng là lý do tôi quyết định làm đề tài tiểu luận “Quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo. Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống
xã hội Việt Nam hiện nay. Ý nghĩa khẩu hiệu: Đạo pháp- dân tộc- Chủ nghĩa xã
hội của giáo hội phật giáo Việt Nam.”
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quan điểm lý luận về tôn giáo, chính sách tôn giáo của Việt
Nam trong thời kỳ quá độ và nêu rõ thực trạng phật giáo Việt Nam hiện nay
đưa ra ý nghĩa khẩu hiệu:”đạo Pháp – dân tộc – Chủ nghĩa xã hội.”
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề tôn giáo nói chung và phật giáo nói riêng cũng như
những ảnh hưởng của nó. Phạm vi nghiên cứu đề tài là ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đ
tôn giáo. Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với các phương
pháp như: thống nhất lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ
thống hóa.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Thông qua việc thực hiện tiểu luận này, tôi có cơ hội hiểu biết hơn về tôn giáo
cũng như phật giáo ở Việt Nam hiện nay. Tiểu luận này có thể được sử dụng n
tài liệu tham khảo để mở ra những hướng nghiên cứu khác về tôn giáo.
NỘI DUNG
Phần 1. Phần lý luận
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo
1.1. Bản chất tôn giáo
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản
ánh hư ảo hiện thực khách quan. Ph.Ăngghen cho rằng:“Tất cả mọi tôn giáo
chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người-của những
lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu
trần thế. Ở một cách tiếp cận khác, tôn giáo là một thực thể xã hội - các tôn giáo
cụ thể các tiêu chí cơ bản sau: có niềm tin sâu sắc vào đấng siêu nhiên, đấng tối
cao, thần linh để tôn thờ; có hệ thống giáo thuyết phản ánh thế giới quan, nhân
sinh quan, đạo đức, lễ nghi của tôn giáo; có hệ thống cơ sở thờ tự; có tổ chức
nhân sự, quản lý điều hành việc đạo; có hệ thống tín đồ đông đảo, những người
tự nguyện tin theo một tôn giáo nào đó và được tôn giáo đó thừa nhận. Chỉ rõ
bản chất của tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Tôn giáo là một hiện
tượng xã hội - văn hóa do con người sáng tạo ra. Con người sáng tạo ra tôn giáo
vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của
họ. Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có
sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác -
Lênin.
Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nhất, nhưng có giao thoa nhất định. Tín
ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thức thể hiện
niềm tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần
thánh, linh thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ.
Mê tín là niềm tin về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, sự vật, hiện tượng
trên thực tế không có mối liên hệ cụ thể, rõ ràng, khách quan, tất yếu, nhưng
được bao phủ bởi các yếu tố siêu nhiên, thần thánh, hư ảo.
Dị đoan là sự suy đoán, hành động một cách tùy tiện, sai lệch những điều bình
thường, chuẩn mực trong cuộc sống.
1.2. Nguồn gốc tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thủy, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, trước
thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối
và bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức
mạnh, quyền lực thần bí. Khi mà khoảng cách của “biết” và “chưa biết” vẫn tồn
tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được
giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa
học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì
đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Thực
chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệu
mặt chủ thể của thận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành tài niêu
nhiên, thần thánh. Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong
những lúc ốm đau, bệnh tật: hay cả những máy, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý
muốn được bình yên khi làm một việc lớn, con người cùng dễ tìm đến với tôn
giáo.
1.3. Tính chất tôn giáo
1.3.1. nh lịch sử của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, nghĩa là nó có sự hình thành,
tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch sử nhất
định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội. Theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa học và giáo dục
giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng
tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống
hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
1.3.2. nh quần chúng của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến ở tất cả các dân tộc, quốc gia, châu
lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ rất đông
đảo; mà còn thể hiện ở chỗ, các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tỉnh thần của
một bộ phận quần chúng nhân dân. Dù tôn giáo hướng con người vào niềm tin
hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của
những người lao động về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
1.3.3. nh chính trị của tôn giáo
Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ phản ánh nhận thức hồn nhiên, ngây thơ
của con người về bản thân và thế giới xung quanh mình, tôn giáo chưa mang tính
chính trị. Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia
giai cấp, có sự khác biệt, sự đi kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo
là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng
của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên
tôn giáo mang tính chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng
tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp minh, chống lại các giai cấp lao động và
tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ.
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá đ lên chủ
nghĩa xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại, tuy đã có sự
biến đổi trên nhiều mặt, vì vậy, khí giải quyết vấn đề tôn giáo cần đảm bảo các
nguyên tắc sau: Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân. Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự do theo đạo, đổi đạo, bỏ đạo
hay de dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm phạm đến quyền tự do tư
tưởng của họ. Tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con
người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội
chủ nghĩa không can thiệp và không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến
quyền tự do tín ngưỡng, quyền lựa chọn theo hay không theo tôn giáo của nhân
dân. Nguyên tắc này khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ hướng vào giải
quyết những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân mà
không chủ trưởng can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Chủ nghĩa
Mác - Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi
bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con
người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết là
phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói
và thất học... cũng như những tệ nạn nảy sinh trong xã hội.
Trong xã hội công xã nguyên thủy, tín ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần tuý
về tư tưởng. Nhưng khi xã hội đã xuất hiện giai cấp thì dấu ấn giai cấp - chính trị
ít nhiều đều in rõ trong các tôn giáo. Từ đó, hai mặt chính trị và tư tưởng thường
thể hiện và có mối quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn
giáo.
Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thực chất
là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản
thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biệt này trong thực tế không đơn
giản, bởi lẽ, trong đời sống xã hội, hiện tượng nhiều khi phản ánh sai lệch bản
chất, mà vấn đề chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen vào nhau.
Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, tôn giáo thường bị yếu tố chính trị
chi phối rất sâu sắc nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần túy
trong tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng
cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng,
tôn giáo.
Tôn giáo không phải là mt hiện tượng xã hội bất biến, ngược lại nó luôn luôn
vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế xã hội
lịch sử cụ thể. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá
và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn
giáo cụ thể.
3. Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội Việt Nam.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy,
thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tín ngưỡng,
tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ, phân biệt
đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác, thông qua quá trình
vận động quần chúng nhân dân tham gia lao động sản xuất, hoạt động xã hội
thực tiễn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao trình độ kiến thức... để
tăng cường sự đoàn kết vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”, để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn
và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước, kích động chia rễ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây
rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêu cao
tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước thông qua việc
thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi
ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực ca đời sống xã hội, các cấp,
các ngành, các địa bàn, liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng,
Nhà nước. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính
trị, bao gồm hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể
chính trị do Đảng lãnh đạo. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các
tôn giáo và đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo gây phương hại đến lợi ích
Tổ quốc và dân tộc.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận
được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Việc theo đạo, truyền
đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật; không được lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín d
đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền
đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy
định của Hiến pháp và pháp luật.
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
1. Mặt tích cực của phật giáo Việt Nam
1.1. Phật giáo góp phần kiến tạo một xã hội bình đng, bác ái
Đức Phật dạy rằng hạnh phúc tối thượng là an lạc, và không thể có hạnh phúc
chân thật nếu không có an lạc. Đức Phật không hề chia cấp bậc mà có cái nhìn
ngang bằng với tất cả chúng sinh. Với Phật, không ai tiểu nhân, không ai quân
tử, cũng không có quân, không có dân, chia cắt nhau bằng các hàng rào cấp bậc
giai cấp; chỉ có một niềm từ bị bác ái, không có hằn học, oán ghét, phục thù. Đó
cũng là điều phù hợp với bản chất dân tộc Việt Nam. Tiếp đó Phật kêu gọi sự tự
giác, vị tha không những để giải quyết nỗi khổ của mình mà còn phải cứu nhân
độ thế. Phật giáo khuyến khích mọi người sống chan hoà, cảm thông và thân ái
dù khác nhau sắc tộc, tôn giáo, màu da...
1.2. Phật giáo góp phân tạo nên bn sắc văn hóa dân tộc
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài. Phật
giáo lại biết bám lấy làng xã bằng nhiều hoạt động cụ thể có tổ chức, kết hợp với
tín ngưỡng bản địa, hội hè. Nhà sư và ngôi chùa có vai trò quan trọng trong đời
sống dân gian c truyền. Ở Bắc Bộ trước đây hầu như làng nào cũng có chùa.
Hội chùa cũng như hội làng là tiêu biểu cho sự hồ hởi của công xã, là một địp để
con người được giải phóng tình cảm, hoà cái ta của mình vào cái ta của làng xã,
không bị giáo lý khuôn phép gò bó và toả chiết tâm hồn. Đạo phật có thể mất đi
như mọi hiện tượng vô thường, song cái tỉnh tuý của văn hoá Phật giáo đã được
dân tộc hoá và dân gian hoá thì mãi mãi trường tồn. 1.3. Phật giáo khuyên mọi
người sống lương thiện, tu tâm dưỡng tính
Đức Phật dạy các điều thiết yểu không chỉ cho việc tu tập nội tâm của từng cá
nhân vì hạnh phúc của nhân loại mà còn cho sự cải thiện đời sống xã hội. Để
biểu lộ khái niệm đồng nhất của nhân loại, Đức Phật đã khơi dậy mối đồng cảm
không những của giai cấp vua chúa, quý tộc, thương gia, mà còn với giai cấp
cùng đinh, người xin ăn, kẻ cướp… Hơn lúc nào hết trong mấy chục năm lại đây
người Phật tử Việt Nam rất chăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình.
Họ hay lên chùa trong các ngày sóc, cọng, họ trân trọng thành kính trong khi thi
hành lễ, họ siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm việc thiện. Mặt khác
nhà chùa sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của họ như cầu siêu, giải oan,... Tất cả
những điều này củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa quy định duy và hành động
của họ, tạo cơ sở để hình thành những nhân cách riêng biệt.
1.4. Giáo lý của Đạo Phật góp phần giáo dục đạo đức con người
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bị, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật
giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. Nó đánh
thức nơi con người đức tính tự trọng và tinh thần trách nhiệm bản thân, phổ biến
trong nhân loại đức tính khoan dung, từ bi, tình huynh đệ, cùng dứt trừ được nơi
con người lòng sân hận và bạo tàn. Chính vì vậy ngay từ nhỏ các em học sinh đã
được giáo dục tư tưởng nhân đạo, giúp đỡ người khác mà cơ sở nền tảng ấy là tư
tưởng giáo lý nhà Phật đã hoà tan với giá trị truyền thống 1.5. Phật giáo có ảnh
hưởng tích cực đến các mối quan hệ gia đình, xã hội
Những mối quan hệ trong gia đình và xã hội như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con
cái, bạn bè, họ hàng, láng giềng,... Phật giáo xem là thiêng liêng đáng được tôn
kính và lễ lạy, tôn thờ. Bởi Phật giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên
thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt. Mối quan hệ giữa
thầy và trò cũng được đề cao như học trò phải cung kính và vâng lời thầy, phải
hỗ trợ thầy lúc cần thiết, phải siêng năng học tập. Và ngược lại thầy đối với trò:
phải rèn luyện và dạy dỗ học trò nên người tốt; giới thiệu học trò cho bạn bè của
chúng, và cố gắng tạo việc làm đảm bảo sau khi học trò học xong.
2. Những quan điểm về hạn chế của Phật Giáo
Bên cạnh những mặt tích cực thì Phật giáo cũng có những hạn chế trong tiến
trình chung của sự phát triển xã hội. Nhưng cần phải nhận thức một điều là
những ảnh hưởng tiêu cực này không phải xuất phát từ bản chất, lý luận của đạo
Phật mà do những người thừa hành. Từng cá nhân tiếp thu đạo Phật cũng theo
nhiều cách và theo những trình độ khác nhau, có thể làm thay đổi ý nghĩa tốt đẹp
của đạo Phật. Thời đại toàn cầu hóa ngày nay, Đảng và nhà nước đã chỉ ra nhiệm
vụ trước mắt là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Để đạt mục tiêu đó, nước ta cần có những người có tham vọng lớn, năng
động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm mở rộng sáng tạo... nhưng những phẩm chất
này phần lớn trái với giáo lý nhà Phật, vì tham vọng trái với cấm dục, vô dục, ly
dục của Nhà Phật ... Các chương trình xã hội của Phật giáo không phải cải tạo lại
điều kiện sống mà chỉ để cố san bằng xã hội bằng đạo đức, trong xã hội đó ai
cũng từ bi, bác ái ái, hỉ xả, nhẫn nhục... điều này ảnh hưởng rất lớn trong việc
thực thi pháp luật, quản lý xã hi. Vì vậy việc cần làm hiện nay là phải xác định
rõ Phật giáo có ảnh hưởng đến hệ tư tưởng của người Việt Nam như thế nào để
từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp với lòng dân, làm cho xã hội
ngày càng phát triển tiến bộ và tốt đẹp hơn. Chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngày
ngay những người đi chùa hầu hết không có đủ tri thức về giáo lý nhà Phật cho
nên khó có thể giáo dục đạo Phật một cách tự giác, tích cực trong xã hội và gia
đình. Nhiều người quá lạm dụng yếu tố mê tín gây tốn tiền của cúng bái, lễ lạt.
Người dân lên chùa thường quá chú trọng đến lễ vật, đến các ham muốn tầm
thường. Do không được giáo dục đầy đủ, đúng đắn giáo lý nhà Phật, số đông
thanh thiếu niên đã đua theo thị hiếu của mọi người. Họ đến chùa cúng bái, thắp
hương vái xin phật phù hộ độ trì cho họ đạt được mong muốn của mình. Họ coi
đến chùa chỉ là hình thức đi chơi, giải trí với bạn bè kèm theo đó là sự thiếu
nghiêm túc trong ăn mặc, đi đứng, nói năng.
3. Ý nghĩa khẩu hiệu “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”
Về nội hàm ý nghĩa và mục tiêu câu châm ngôn này, hầu như Phật giáo Việt Nam
đã thực hiện ngay từ khi có mặt ở đầu kỷ nguyên. Đạo là chân lý duy nhất và
không thay đổi. Tuy nhiên, nếu chỉ có Đạo mà không có Pháp thì Đạo không thể
đi vào cuộc sống, không thể vì chúng sinh và mục đích cao cả mà Đức Phật đã
đề ra là không thể thực hiện. Vì vậy, Đạo cần có Pháp để được lưu chuyển, được
hoằng hóa trong cuộc đời. Chọn “Dân tộc” trong phương châm, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam muốn khẳng định: Phật giáo luôn luôn gắn bó, đồng hành với đất
nước Việt Nam và con người Việt Nam. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa sự phát
triển của Phật giáo với lợi ích dân tộc, chung tay góp sức cùng nhân dân cả nước
xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Đặt mệnh đề “Chủ nghĩa xã hội”
trong phương châm hoạt động của Giáo hội, Phật giáo Việt Nam một lần nữa
muốn khẳng định, tinh thần ‘nhập thế” luôn luôn được theo đuổi và thực hiện
một cách triệt để của mình. Như vậy, phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ
nghĩa xã hội” mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề ra có 3 thành tố, những thành
tố ấy đã hòa quyện, gắn bó với nhau để tạo thành một khối thống nhất không thể
tách rời. Đó là sự kết hợp hài hòa lợi ích giữa tôn giáo với lợi ích của dân tộc,
của nhân dân Việt Nam. Trên tinh thần đó, mỗi người con Phật cần phải ý thức
về suy nghĩ và việc làm của mình, sao cho luôn luôn: vì đạo pháp, vì dân tộc và
vì sự tiến bộ xã hội.
4. Liên hệ bản thân
Là một sinh viên tôi tự nhận thấy mình cần nỗ lực học tập, trau dồi trình độ, bản
lĩnh chính trị trên cả giảng đường lẫn đời sống; thường xuyên nêu cao tinh thần
cách mạng; tránh những cám d vật chất từ thế lực phản cách mạng. Bản thân
sinh viên cần phát huy đoàn kết tinh thần tập thể; tuyên truyền, nâng cao nhận
thức cộng đồng về tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; phát hiện,
đấu tranh ngăn ngừa mọi âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch nhằm chống phá
cách mạng nước ta qua vấn đề tôn giáo.
KẾT LUẬN
Vấn đề tôn giáo nước ta cũng như trên thế giới đang là một vấn đề nóng bỏng
nhất hiện nay. Cho nên bài tiểu luận đưa ra những lí luận đúng đắn của chủ nghĩa
Mác Lênin về vấn đề tôn giáo để giúp ta thấy rõ được mặt tích cực và tiêu cực
của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Từ đó ta phần nào hiểu được ý nghĩa khẩu
hiệu của Phật giáo Việt Nam. Chúng ta cần phải đoàn kết trong mọi tôn giáo
cũng như tôn trọng lẫn nhau trong tôn giáo và mỗi tôn giáo chúng ta cần phải
phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu để tôn giáo ngày càng đi lên một bước
ngoặc lớn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Phạm Minh Tuấn (2021), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa hc (Dành cho bậc
đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà
Nội.
Tài liệu trực tuyến
1. Trần Minh Tánh (2018), “Những giá trị và hạn chế của triết học phật giáo
Việt Nam”, Luận văn, https://bitly.com.vn/jaxfyh, truy cập lúc 10:00, 22-
12-2021
2. Bảo Hân (2020), “Thực trạng giải quyết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay”,
Research Gate, https://bitly.com.vn/voyr4l, truy cập lúc 23:11,
20-12-2021

Preview text:

lOMoAR cPSD| 58511332
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Học phần: CNXHKH( PLT09A) Đ

TÀI : Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn
giáo. Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống Việt Nam hiện
nay. Ý nghĩa khẩu hiệu: Đạo phá p- dân tộc-Chủ nghĩa xã hội
của giáo hội phật giáo Việt Nam.
Giảng viên h ư ớng dẫn : Võ Minh Tuấn
Sinh viên thực hiện : Trần Lê Phương Linh Lớp : K23CLC-TCA
Mã sinh viên : 23A4010367
Nam Định, ngày 24 tháng 12 năm 2021 lOMoAR cPSD| 58511332 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................... 1
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................... 1
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ........................................... 1
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .................................................. 1
NỘI DUNG ....................................................................................................... 2
Phần 1. Phần lý luận ................................................................................... 2
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo ............................. 2
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ . 4
nghĩa xã hội .................................................................................................. 4
3. Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam ............................................................................. 6
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân ..................................... 7
1. Mặt tích cực của phật giáo Việt Nam .................................................... 7
2. Những quan điểm về hạn chế của Phật Giáo ....................................... 9
3. Ý nghĩa khẩu hiệu “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” ......... 10
4. Liên hệ bản thân .....................................................................................11
KẾT LUẬN ......................................................................................................11
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................11 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia tồn tại nhiều tôn giáo khác nhau và đa dạng về chiều
hướng phát triển trên phạm vi cả nước. Vì vậy đòi hỏi Đảng và nhà nước ta cần
phải có cái nhìn đúng đắn những vấn đề lí luận và thực tiễn về vấn đề tôn giáo
cũng như có những chính sách về tôn giáo một cách phù hợp và linh hoạt hiện
nay. Đó cũng là lý do tôi quyết định làm đề tài tiểu luận “Quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin về vấn đề tôn giáo. Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống
xã hội Việt Nam hiện nay. Ý nghĩa khẩu hiệu: Đạo pháp- dân tộc- Chủ nghĩa xã
hội của giáo hội phật giáo Việt Nam.”
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu quan điểm lý luận về tôn giáo, chính sách tôn giáo của Việt
Nam trong thời kỳ quá độ và nêu rõ thực trạng phật giáo Việt Nam hiện nay và
đưa ra ý nghĩa khẩu hiệu:”đạo Pháp – dân tộc – Chủ nghĩa xã hội.”
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề tôn giáo nói chung và phật giáo nói riêng cũng như
những ảnh hưởng của nó. Phạm vi nghiên cứu đề tài là ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề
tôn giáo. Đề tài sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật với các phương
pháp như: thống nhất lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Thông qua việc thực hiện tiểu luận này, tôi có cơ hội hiểu biết hơn về tôn giáo
cũng như phật giáo ở Việt Nam hiện nay. Tiểu luận này có thể được sử dụng như
tài liệu tham khảo để mở ra những hướng nghiên cứu khác về tôn giáo. NỘI DUNG
Phần 1. Phần lý luận
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo
1.1. Bản chất tôn giáo
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản
ánh hư ảo hiện thực khách quan. Ph.Ăngghen cho rằng:“Tất cả mọi tôn giáo
chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người-của những
lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh
trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu
trần thế. Ở một cách tiếp cận khác, tôn giáo là một thực thể xã hội - các tôn giáo
cụ thể các tiêu chí cơ bản sau: có niềm tin sâu sắc vào đấng siêu nhiên, đấng tối
cao, thần linh để tôn thờ; có hệ thống giáo thuyết phản ánh thế giới quan, nhân
sinh quan, đạo đức, lễ nghi của tôn giáo; có hệ thống cơ sở thờ tự; có tổ chức
nhân sự, quản lý điều hành việc đạo; có hệ thống tín đồ đông đảo, những người
tự nguyện tin theo một tôn giáo nào đó và được tôn giáo đó thừa nhận. Chỉ rõ
bản chất của tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Tôn giáo là một hiện
tượng xã hội - văn hóa do con người sáng tạo ra. Con người sáng tạo ra tôn giáo
vì mục đích, lợi ích của họ, phản ánh những ước mơ, nguyện vọng, suy nghĩ của
họ. Về phương diện thế giới quan, các tôn giáo mang thế giới quan duy tâm, có
sự khác biệt với thế giới quan duy vật biện chứng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tôn giáo và tín ngưỡng không đồng nhất, nhưng có giao thoa nhất định. Tín
ngưỡng là hệ thống những niềm tin, sự ngưỡng mộ, cũng như cách thức thể hiện
niềm tin của con người trước các sự vật, hiện tượng, lực lượng có tính thần
thánh, linh thiêng để cầu mong sự che chở, giúp đỡ.
Mê tín là niềm tin về mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, sự vật, hiện tượng
trên thực tế không có mối liên hệ cụ thể, rõ ràng, khách quan, tất yếu, nhưng
được bao phủ bởi các yếu tố siêu nhiên, thần thánh, hư ảo.
Dị đoan là sự suy đoán, hành động một cách tùy tiện, sai lệch những điều bình
thường, chuẩn mực trong cuộc sống.
1.2. Nguồn gốc tôn giáo
Trong xã hội công xã nguyên thủy, do lực lượng sản xuất chưa phát triển, trước
thiên nhiên hùng vĩ tác động và chi phối khiến cho con người cảm thấy yếu đuối
và bất lực, không giải thích được, nên con người đã gán cho tự nhiên những sức
mạnh, quyền lực thần bí. Khi mà khoảng cách của “biết” và “chưa biết” vẫn tồn
tại, khi những điều mà khoa học chưa giải thích được, thì điều đó thường được
giải thích thông qua lăng kính các tôn giáo. Ngay cả những vấn đề đã được khoa
học chứng minh, nhưng do trình độ dân trí thấp, chưa thể nhận thức đầy đủ, thì
đây vẫn là điều kiện, là mảnh đất cho tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển. Thực
chất nguồn gốc nhận thức của tôn giáo chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệu
mặt chủ thể của thận thức con người, biến cái nội dung khách quan thành tài niêu
nhiên, thần thánh. Sự sợ hãi trước những hiện tượng tự nhiên, xã hội, hay trong
những lúc ốm đau, bệnh tật: hay cả những máy, rủi bất ngờ xảy ra, hoặc tâm lý
muốn được bình yên khi làm một việc lớn, con người cùng dễ tìm đến với tôn giáo.
1.3. Tính chất tôn giáo
1.3.1. Tính lịch sử của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, nghĩa là nó có sự hình thành,
tồn tại và phát triển và có khả năng biến đổi trong những giai đoạn lịch sử nhất
định để thích nghi với nhiều chế độ chính trị - xã hội. Theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, đến một giai đoạn lịch sử nào đó, khi khoa học và giáo dục
giúp cho đại đa số quần chúng nhân dân nhận thức được bản chất các hiện tượng
tự nhiên và xã hội thì tôn giáo sẽ dần dần mất đi vị trí của nó trong đời sống xã
hội và cả trong nhận thức, niềm tin của mỗi người.
1.3.2. Tính quần chúng của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phổ biến ở tất cả các dân tộc, quốc gia, châu
lục. Tính quần chúng của tôn giáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ rất đông
đảo; mà còn thể hiện ở chỗ, các tôn giáo là nơi sinh hoạt văn hóa, tỉnh thần của
một bộ phận quần chúng nhân dân. Dù tôn giáo hướng con người vào niềm tin
hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia, song nó luôn luôn phản ánh khát vọng của
những người lao động về một xã hội tự do, bình đẳng, bác ái.
1.3.3. Tính chính trị của tôn giáo
Khi xã hội chưa có giai cấp, tôn giáo chỉ phản ánh nhận thức hồn nhiên, ngây thơ
của con người về bản thân và thế giới xung quanh mình, tôn giáo chưa mang tính
chính trị. Tính chất chính trị của tôn giáo chỉ xuất hiện khi xã hội đã phân chia
giai cấp, có sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp. Trước hết, do tôn giáo
là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích, nguyện vọng
của các giai cấp khác nhau trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, nên
tôn giáo mang tính chính trị. Mặt khác, khi các giai cấp bóc lột, thống trị sử dụng
tôn giáo để phục vụ cho lợi ích giai cấp minh, chống lại các giai cấp lao động và
tiến bộ xã hội, tôn giáo mang tính chính trị tiêu cực, phản tiến bộ.
2. Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại, tuy đã có sự
biến đổi trên nhiều mặt, vì vậy, khí giải quyết vấn đề tôn giáo cần đảm bảo các
nguyên tắc sau: Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân. Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự do theo đạo, đổi đạo, bỏ đạo
hay de dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm phạm đến quyền tự do tư
tưởng của họ. Tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con
người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội
chủ nghĩa không can thiệp và không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến
quyền tự do tín ngưỡng, quyền lựa chọn theo hay không theo tôn giáo của nhân
dân. Nguyên tắc này khẳng định, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ hướng vào giải
quyết những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân mà
không chủ trưởng can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Chủ nghĩa
Mác - Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi
bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con
người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Điều cần thiết trước hết là
phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói
và thất học... cũng như những tệ nạn nảy sinh trong xã hội.
Trong xã hội công xã nguyên thủy, tín ngưỡng, tôn giáo chỉ biểu hiện thuần tuý
về tư tưởng. Nhưng khi xã hội đã xuất hiện giai cấp thì dấu ấn giai cấp - chính trị
ít nhiều đều in rõ trong các tôn giáo. Từ đó, hai mặt chính trị và tư tưởng thường
thể hiện và có mối quan hệ với nhau trong vấn đề tôn giáo và bản thân mỗi tôn giáo.
Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo thực chất
là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản
thân tôn giáo và trong vấn đề tôn giáo. Sự phân biệt này trong thực tế không đơn
giản, bởi lẽ, trong đời sống xã hội, hiện tượng nhiều khi phản ánh sai lệch bản
chất, mà vấn đề chính trị và tư tưởng trong tôn giáo thường đan xen vào nhau.
Mặt khác, trong xã hội có đối kháng giai cấp, tôn giáo thường bị yếu tố chính trị
chi phối rất sâu sắc nên khó nhận biết vấn đề chính trị hay tư tưởng thuần túy
trong tôn giáo. Việc phân biệt hai mặt này là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng
cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.
Tôn giáo không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, ngược lại nó luôn luôn
vận động và biến đổi không ngừng tuỳ thuộc vào những điều kiện kinh tế xã hội
lịch sử cụ thể. Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá
và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể.
3. Chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ
tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì vậy,
thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tín ngưỡng,
tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn
khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ, phân biệt
đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác, thông qua quá trình
vận động quần chúng nhân dân tham gia lao động sản xuất, hoạt động xã hội
thực tiễn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao trình độ kiến thức... để
tăng cường sự đoàn kết vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh”, để cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn
và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh
những người có công với tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng
tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước, kích động chia rễ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây
rối, xâm phạm an ninh quốc gia.
Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêu cao
tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất đất nước thông qua việc
thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo đảm lợi
ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo.
Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, các cấp,
các ngành, các địa bàn, liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng,
Nhà nước. Làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính
trị, bao gồm hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể
chính trị do Đảng lãnh đạo. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các
tôn giáo và đấu tranh với hoạt động lợi dụng tôn giáo gây phương hại đến lợi ích Tổ quốc và dân tộc.
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp
theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận
được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ. Việc theo đạo, truyền
đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp
luật; không được lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị
đoan, không được ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền
đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy
định của Hiến pháp và pháp luật.
Phần 2. Phần liên hệ thực tế và liên hệ bản thân
1. Mặt tích cực của phật giáo Việt Nam
1.1. Phật giáo góp phần kiến tạo một xã hội bình đẳng, bác ái
Đức Phật dạy rằng hạnh phúc tối thượng là an lạc, và không thể có hạnh phúc
chân thật nếu không có an lạc. Đức Phật không hề chia cấp bậc mà có cái nhìn
ngang bằng với tất cả chúng sinh. Với Phật, không ai tiểu nhân, không ai quân
tử, cũng không có quân, không có dân, chia cắt nhau bằng các hàng rào cấp bậc
giai cấp; chỉ có một niềm từ bị bác ái, không có hằn học, oán ghét, phục thù. Đó
cũng là điều phù hợp với bản chất dân tộc Việt Nam. Tiếp đó Phật kêu gọi sự tự
giác, vị tha không những để giải quyết nỗi khổ của mình mà còn phải cứu nhân
độ thế. Phật giáo khuyến khích mọi người sống chan hoà, cảm thông và thân ái
dù khác nhau sắc tộc, tôn giáo, màu da...
1.2. Phật giáo góp phân tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Phật giáo có ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài. Phật
giáo lại biết bám lấy làng xã bằng nhiều hoạt động cụ thể có tổ chức, kết hợp với
tín ngưỡng bản địa, hội hè. Nhà sư và ngôi chùa có vai trò quan trọng trong đời
sống dân gian cổ truyền. Ở Bắc Bộ trước đây hầu như làng nào cũng có chùa.
Hội chùa cũng như hội làng là tiêu biểu cho sự hồ hởi của công xã, là một địp để
con người được giải phóng tình cảm, hoà cái ta của mình vào cái ta của làng xã,
không bị giáo lý khuôn phép gò bó và toả chiết tâm hồn. Đạo phật có thể mất đi
như mọi hiện tượng vô thường, song cái tỉnh tuý của văn hoá Phật giáo đã được
dân tộc hoá và dân gian hoá thì mãi mãi trường tồn. 1.3. Phật giáo khuyên mọi
người sống lương thiện, tu tâm dưỡng tính
Đức Phật dạy các điều thiết yểu không chỉ cho việc tu tập nội tâm của từng cá
nhân vì hạnh phúc của nhân loại mà còn cho sự cải thiện đời sống xã hội. Để
biểu lộ khái niệm đồng nhất của nhân loại, Đức Phật đã khơi dậy mối đồng cảm
không những của giai cấp vua chúa, quý tộc, thương gia, mà còn với giai cấp
cùng đinh, người xin ăn, kẻ cướp… Hơn lúc nào hết trong mấy chục năm lại đây
người Phật tử Việt Nam rất chăm lo đến việc thực hiện các nghi lễ của đạo mình.
Họ hay lên chùa trong các ngày sóc, cọng, họ trân trọng thành kính trong khi thi
hành lễ, họ siêng năng trong việc thiền định, giữ giới, làm việc thiện. Mặt khác
nhà chùa sẵn sàng thực hiện các yêu cầu của họ như cầu siêu, giải oan,... Tất cả
những điều này củng cố niềm tin vào giáo lý, vừa quy định tư duy và hành động
của họ, tạo cơ sở để hình thành những nhân cách riêng biệt.
1.4. Giáo lý của Đạo Phật góp phần giáo dục đạo đức con người
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bị, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật
giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. Nó đánh
thức nơi con người đức tính tự trọng và tinh thần trách nhiệm bản thân, phổ biến
trong nhân loại đức tính khoan dung, từ bi, tình huynh đệ, cùng dứt trừ được nơi
con người lòng sân hận và bạo tàn. Chính vì vậy ngay từ nhỏ các em học sinh đã
được giáo dục tư tưởng nhân đạo, giúp đỡ người khác mà cơ sở nền tảng ấy là tư
tưởng giáo lý nhà Phật đã hoà tan với giá trị truyền thống 1.5. Phật giáo có ảnh
hưởng tích cực đến các mối quan hệ gia đình, xã hội
Những mối quan hệ trong gia đình và xã hội như cha mẹ, anh em, vợ chồng, con
cái, bạn bè, họ hàng, láng giềng,... Phật giáo xem là thiêng liêng đáng được tôn
kính và lễ lạy, tôn thờ. Bởi Phật giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên
thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt. Mối quan hệ giữa
thầy và trò cũng được đề cao như học trò phải cung kính và vâng lời thầy, phải
hỗ trợ thầy lúc cần thiết, phải siêng năng học tập. Và ngược lại thầy đối với trò:
phải rèn luyện và dạy dỗ học trò nên người tốt; giới thiệu học trò cho bạn bè của
chúng, và cố gắng tạo việc làm đảm bảo sau khi học trò học xong.
2. Những quan điểm về hạn chế của Phật Giáo
Bên cạnh những mặt tích cực thì Phật giáo cũng có những hạn chế trong tiến
trình chung của sự phát triển xã hội. Nhưng cần phải nhận thức một điều là
những ảnh hưởng tiêu cực này không phải xuất phát từ bản chất, lý luận của đạo
Phật mà do những người thừa hành. Từng cá nhân tiếp thu đạo Phật cũng theo
nhiều cách và theo những trình độ khác nhau, có thể làm thay đổi ý nghĩa tốt đẹp
của đạo Phật. Thời đại toàn cầu hóa ngày nay, Đảng và nhà nước đã chỉ ra nhiệm
vụ trước mắt là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Để đạt mục tiêu đó, nước ta cần có những người có tham vọng lớn, năng
động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm mở rộng sáng tạo... nhưng những phẩm chất
này phần lớn trái với giáo lý nhà Phật, vì tham vọng trái với cấm dục, vô dục, ly
dục của Nhà Phật ... Các chương trình xã hội của Phật giáo không phải cải tạo lại
điều kiện sống mà chỉ để cố san bằng xã hội bằng đạo đức, trong xã hội đó ai
cũng từ bi, bác ái ái, hỉ xả, nhẫn nhục... điều này ảnh hưởng rất lớn trong việc
thực thi pháp luật, quản lý xã hội. Vì vậy việc cần làm hiện nay là phải xác định
rõ Phật giáo có ảnh hưởng đến hệ tư tưởng của người Việt Nam như thế nào để
từ đó đưa ra những chính sách phát triển phù hợp với lòng dân, làm cho xã hội
ngày càng phát triển tiến bộ và tốt đẹp hơn. Chúng ta cũng nhận thấy rằng, ngày
ngay những người đi chùa hầu hết không có đủ tri thức về giáo lý nhà Phật cho
nên khó có thể giáo dục đạo Phật một cách tự giác, tích cực trong xã hội và gia
đình. Nhiều người quá lạm dụng yếu tố mê tín gây tốn tiền của cúng bái, lễ lạt.
Người dân lên chùa thường quá chú trọng đến lễ vật, đến các ham muốn tầm
thường. Do không được giáo dục đầy đủ, đúng đắn giáo lý nhà Phật, số đông
thanh thiếu niên đã đua theo thị hiếu của mọi người. Họ đến chùa cúng bái, thắp
hương vái xin phật phù hộ độ trì cho họ đạt được mong muốn của mình. Họ coi
đến chùa chỉ là hình thức đi chơi, giải trí với bạn bè kèm theo đó là sự thiếu
nghiêm túc trong ăn mặc, đi đứng, nói năng.
3. Ý nghĩa khẩu hiệu “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”
Về nội hàm ý nghĩa và mục tiêu câu châm ngôn này, hầu như Phật giáo Việt Nam
đã thực hiện ngay từ khi có mặt ở đầu kỷ nguyên. Đạo là chân lý duy nhất và
không thay đổi. Tuy nhiên, nếu chỉ có Đạo mà không có Pháp thì Đạo không thể
đi vào cuộc sống, không thể vì chúng sinh và mục đích cao cả mà Đức Phật đã
đề ra là không thể thực hiện. Vì vậy, Đạo cần có Pháp để được lưu chuyển, được
hoằng hóa trong cuộc đời. Chọn “Dân tộc” trong phương châm, Giáo hội Phật
giáo Việt Nam muốn khẳng định: Phật giáo luôn luôn gắn bó, đồng hành với đất
nước Việt Nam và con người Việt Nam. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa sự phát
triển của Phật giáo với lợi ích dân tộc, chung tay góp sức cùng nhân dân cả nước
xây dựng nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Đặt mệnh đề “Chủ nghĩa xã hội”
trong phương châm hoạt động của Giáo hội, Phật giáo Việt Nam một lần nữa
muốn khẳng định, tinh thần ‘nhập thế” luôn luôn được theo đuổi và thực hiện
một cách triệt để của mình. Như vậy, phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ
nghĩa xã hội” mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề ra có 3 thành tố, những thành
tố ấy đã hòa quyện, gắn bó với nhau để tạo thành một khối thống nhất không thể
tách rời. Đó là sự kết hợp hài hòa lợi ích giữa tôn giáo với lợi ích của dân tộc,
của nhân dân Việt Nam. Trên tinh thần đó, mỗi người con Phật cần phải ý thức
về suy nghĩ và việc làm của mình, sao cho luôn luôn: vì đạo pháp, vì dân tộc và
vì sự tiến bộ xã hội.
4. Liên hệ bản thân
Là một sinh viên tôi tự nhận thấy mình cần nỗ lực học tập, trau dồi trình độ, bản
lĩnh chính trị trên cả giảng đường lẫn đời sống; thường xuyên nêu cao tinh thần
cách mạng; tránh những cám dỗ vật chất từ thế lực phản cách mạng. Bản thân
sinh viên cần phát huy đoàn kết tinh thần tập thể; tuyên truyền, nâng cao nhận
thức cộng đồng về tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; phát hiện,
đấu tranh ngăn ngừa mọi âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch nhằm chống phá
cách mạng nước ta qua vấn đề tôn giáo. KẾT LUẬN
Vấn đề tôn giáo nước ta cũng như trên thế giới đang là một vấn đề nóng bỏng
nhất hiện nay. Cho nên bài tiểu luận đưa ra những lí luận đúng đắn của chủ nghĩa
Mác Lênin về vấn đề tôn giáo để giúp ta thấy rõ được mặt tích cực và tiêu cực
của tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Từ đó ta phần nào hiểu được ý nghĩa khẩu
hiệu của Phật giáo Việt Nam. Chúng ta cần phải đoàn kết trong mọi tôn giáo
cũng như tôn trọng lẫn nhau trong tôn giáo và mỗi tôn giáo chúng ta cần phải
phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu để tôn giáo ngày càng đi lên một bước ngoặc lớn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
Phạm Minh Tuấn (2021), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho bậc
đại học hệ không chuyên lý luận chính trị), NXB Chính trị Quốc gia Sự Thật, Hà Nội.
Tài liệu trực tuyến
1. Trần Minh Tánh (2018), “Những giá trị và hạn chế của triết học phật giáo
ở Việt Nam”, Luận văn, https://bitly.com.vn/jaxfyh, truy cập lúc 10:00, 22- 12-2021
2. Bảo Hân (2020), “Thực trạng giải quyết tôn giáo ở Việt Nam hiện nay”,
Research Gate, https://bitly.com.vn/voyr4l, truy cập lúc 23:11, 20-12-2021