



















Preview text:
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY NỘI DUNG VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ ĐƯỜNG LỐI
ĐÁNH MỸ CỦA ĐẢNG TRONG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 11
(THÁNG 3 NĂM 1965) VÀ NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 12 (THÁNG
12 NĂM 1965). BÀN LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM “QUYẾT ĐỊNH CỦA
ĐẢNG VỀ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ LÀ SAI LẦM”.
Giảng viên hướng dẫn : TS. Hồ Thị Liên Hương
Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm 7
MỤC LỤC Hà Nội – 2023
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 2
NỘI DUNG . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 3
II. NỘI DUNG VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐÁNH MỸ CỦA ĐẢNG
TRONG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 11 (3/1965) VÀ NGHỊ QUYẾT
TRUNG ƯƠNG 12 (12/1965) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 4
2.1. Nội dung đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 11
(3/1965) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 5
2.2. Nội dung đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 12
(12/1965) . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 8
2.3. Đánh giá về đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết Trung ương
11(3/1965) và Nghị quyết Trung ương 12 (12/1965): . . . . . . . . . . . . . . . . . 10
III. BÀN LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG “QUYẾT ĐỊNH CỦA
ĐẨNG VỀ VIỆC CHỐNG MỸ LÀ SAI LẦM” . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
3.1. Một số quan điểm sai trái về quyết định của Đảng về việc tiến hành
kháng chiến chống Mỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 12
3.2. Quyết định của Đảng về việc tiến hành kháng chiến chống Mỹ không
phải là quyết định sai lầm . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 13
KẾT LUẬN . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 18 1
MỞ ĐẦU
Nước Việt Nam ta đã và đang trải qua một quá trình lịch sử dài đẵng đẵng
dựng nước và giữ được. Nước Việt Nam có được độc lập, dân tộc Việt Nam có
được nền hòa bình như ngày hôm nay đó là kết quả của sự chiến đấu anh dũng,
sự hy sinh vĩ đại của nhân dân ta. Và hơn hết là sự lãnh đạo tài tình, thông thái
của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng luôn giữ vai
trò vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực. Đặc biệt, phải nhắc đến thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ đầy gam go, khốc liệt - giá trị của Đảng được bộc phát
một cách rõ nét thông qua những đường lối, chủ trương và quyết định phù hợp,
kịp thời và đúng đắn.
Bài tiểu luận của chúng tôi sẽ trình bày nội dung và đánh giá về “đường lối
đánh Mỹ trong Nghị quyết Trung ương 11 (3/1965) và Nghị quyết Trung ương 12
(12/1965)”. Đồng thời phân tích và bàn luận về quan điểm “quyết định của Đảng
về kháng chiến chống Mỹ là sai lầm” liệu có đúng hay không?
Nội dung của bài tiểu luận gồm 3 phần chính như sau: 1. Bối cảnh lịch sử
2. Nội dung và đánh giá về đường lối đánh Mỹ trong Nghị quyết Trung ương
11 (3/1965) và Nghị quyết Trung ương 12 (12/1965)
3. Bàn luận về quan điểm “quyết định của Đảng về kháng chiến chống Mỹ là sai lầm” 2 NỘI DUNG
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Trong giai đoạn từ năm 1964 đến đầu năm 1965, cuộc đấu tranh cách mạng
của đồng bào, chiến sĩ ở miền Nam phát triển nhanh chóng, thu được những thắng
lợi ngày càng to lớn, khiến cho chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ
bị thất bại nghiêm trọng. Trước nguy cơ thất bại hoàn toàn của chiến lược “Chiến
tranh đặc biệt”, để cứu vãn cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới, ngăn chặn sự sụp đổ
của chính quyền và quân đội Sài Gòn, chính quyền của tổng thống Mỹ L.Gionxon
quyết định tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”( Local War Strantegy) ở Miền Nam.
“Chiến tranh cục bộ” là một hình thức chiến tranh trong chiến lược toàn cầu
“Phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ, mục đích là đưa quân chiến đấu Mỹ và
quân các nước đồng minh của Mỹ vào trực tiếp tham chiến, đóng vai trò chủ yếu
trên chiến trường miền Nam; quân đội Sài Gòn đóng vai trò hỗ trợ quân Mĩ và
thực hiện bình định. Quân Mỹ tìm mọi cách để giữ vững những vị trí chiến lược
và lực lượng. Chúng từng bước tăng cường lực lượng chiến đấu của quân Mỹ và
chư hầu vào miền Nam để quyết giữ một số vùng chiến lược quan trọng, đồng
thời, mở rộng hoạt động không quân và hải quân, ném bom bắn phá miền Bắc để
gây áp lực hòng làm giảm sức tiến công của ta ở miền Nam. Ngày 8/3/1965, quân
Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Đồng thời,
đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đánh phá
miền Bắc và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam.
Chiến tranh lan rộng ra cả nước đã đặt vận mệnh của dân tộc ta trước những
thách thức nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 11(3/1965) và Hội
nghị lần thứ 12 (12/1965) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phát động
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên phạm vi toàn quốc và hạ quyết tâm
chiến lược: “Động viên lực lượng của cả nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến
tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc 3
giải phóng miền Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả
nước, tiến tới thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.
II. NỘI DUNG VÀ ĐÁNH GIÁ VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐÁNH MỸ CỦA ĐẢNG
TRONG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 11 (3/1965) VÀ NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 12 (12/1965)
Chủ trương của Đảng được nêu rõ trong nội dung cơ bản của hai Nghị quyết.
Trên cơ sở phân tích tình hình chiến trường khi Mỹ đưa quân đội viễn chinh và
quân đội của các nước phụ thuộc Mỹ trực tiếp tham chiến trên chiến trường miền
Nam, Đảng ta nhận định: tính chất cơ bản của cuộc chiến tranh của Mỹ ở miền
Nam vẫn là chiến tranh xâm lược thực dân mới. Mỹ tuy có tăng về lực lượng quân
sự nhưng lại có nhiều chỗ yếu cơ bản, nhất là về chính trị. Về phía ta, từ một nửa
nước có chiến tranh thành cả nước có chiến tranh với mức độ và hình thức khác
nhau. Cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt hơn nhưng ta đã vững mạnh hơn hẳn
trước, đã có sự chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức..
Từ đó, Đảng đưa ra kết luận:
Một là, so sánh lực lượng giữa ta và địch căn bản không thay đổi. Vì thế, ta
vẫn giữ vững và phát huy chiến lược tiến công.
Hai là, ta tiếp tục tiến công và phản công, kết hợp đấu tranh quân sự và chính
trị nhưng đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết định trực tiếp.
Ba là, ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại
giao, tăng cường tiếp xúc cả công khai và bí mật với nhiều nước trên thế giới, làm
rõ chính nghĩa và thiện chí của ta, góp phần hình thành trên thực tế một mặt trận nhân dân chống Mỹ.
Cụ thể, nội dung đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết trung ương
11(3/1965) và Nghị quyết Trung ương 12 (12/1965) được thể hiện như sau: 4
2.1. Nội dung đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết Trung ương 11 (3/1965)
Trong điều kiện khi quân ta ở thế chủ động, đang trên đà chiến thắng và được
cả thế giới đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ của các nước XHCN, chính phủ nhiều
nước và đông đảo nhân dân trên thế giới. Thì trái lại, về phía địch tư tưởng thất
bại ngày càng lan rộng trong quân đội Mỹ. Kể từ sau chiến thắng Ấp Bắc và Bình
Giã, quân Mỹ đã phải kiêng dè ta, nhận ra rằng khó đánh bại được ta và chúng có
thể bị thất bại trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt". Cùng với mâu thuẫn giữa
các giới cầm quyền Mỹ với nhau và mâu thuẫn giữa Mỹ và các quốc gia khác
ngày một phát triển. So sánh tương quan lực lượng về mọi mặt giữa ta và địch đã
biến đổi nhanh chóng theo hướng có lợi cho chúng ta. Trước những tình hình mới
này, Đảng ta đã kịp thời đề ra những nhiệm vụ mới.
Trước yêu cầu mới của cách mạng, từ ngày 25 đến 27-3-1965, tại Hà Nội,
Ban chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 11 và ra Nghị quyết về
tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt. Hội nghị nhận định: với những hành
động mới của đế quốc Mỹ, "rồi đây địch có thể đưa thêm những đơn vị chiến đấu
của Mỹ và của một số nước chư hầu vào miền Nam ngày càng nhiều hơn, điều ấy
sẽ làm cho tính chất “đặc biệt” của cuộc chiến tranh của chúng ở miền Nam từng
bước có thể có biến đổi. Và cùng với việc ấy, chúng có thể tăng cường các hoạt
động ném bom, bắn phá miền Bắc thường xuyên hơn, bằng những lực lượng
không quân lớn hơn, trên phạm vi rộng hơn và nhằm nhiều mục tiêu hơn; và chúng
cũng còn có thể dùng tầu chiến để phong toả đường biển và tập kích một số vùng
ở bờ biển miền Bắc”.
Để phù hợp với tình hình mới, nhiệm vụ cơ bản của toàn Đảng, toàn quân và
dân ta là: "tích cực kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở mức
cao nhất ở miền Nam, ra sức tranh thủ thời cơ, tập trung lực lượng của cả nước
giành thắng lợi quyết định ở miền Nam trong thời gian tương đối ngắn, đồng thời
chuẩn bị sẵn sàng đối phó và quyết thắng cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam
nếu địch gây ra; tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế 5
và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc đánh thắng cuộc chiến
tranh phá hoại và phong toả bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn
sàng để đánh bại địch trong trường hợp chúng đưa cuộc chiến tranh phá hoại hiện
nay đến một trình độ ác liệt gấp bội, hoặc chuyển nó thành một cuộc chiến tranh
cục bộ cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, ra sức động viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam”.
Nhiệm vụ cấp bách là phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức,
chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp
với tình hình mới và để cho miền Bắc có đủ sức mạnh kịp thời đáp ứng yêu cầu
bảo vệ miền Bắc, chống lại các cuộc ném bom bắn phá và phong tỏa của địch;
nhằm sẵn sàng đối phó với khả năng địch mở rộng chiến tranh ở bất cứ mức độ
nào ở miền Nam, miền Bắc cũng như ở Lào; nhằm đáp ứng nhu cầu chi viện to
lớn cho cách mạng miền Nam trong tình hình mới, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu
tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Khẩu hiệu chung: xây dựng và bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam (nói
trong nội bộ), tích cực ủng hộ miền Nam (nói ở ngoài). Với những nhiệm vụ cụ thể đó là:
- Kịp thời chuyển hướng kinh tế và tăng cường lực lượng quốc phòng cho
kịp với sự phát triển của tình hình:
Về kinh tế: Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn miền Bắc. Phải chú trọng
phát triển công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp, xây dựng các xí nghiệp
công nghiệp vừa và nhỏ; Phải điều chỉnh lại các chỉ tiêu xây dựng cơ bản công
nghiệp và danh mục các công trình công nghiệp đang xây dựng hoặc chuẩn bị xây
dựng cho phù hợp với tình hình mới; Phải ra sức phát triển giao thông, bưu điện.
Phải tích cực xây dựng và phát triển kinh tế theo từng vùng chiến lược. Chú trọng
công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đào tạo cán bộ, tận dụng tài nguyên thiên nhiên và lao động. 6
Về quốc phòng: Tăng thêm bộ đội thường trực; kêu gọi nhập ngũ lại một số
cán bộ, quân nhân; tuyển thêm thanh niên vào bộ đội; tăng thời hạn nghĩa vụ quan
sự;… Phát triển và củng cố về mọi mặt dân quân: sức chiến đấu, năng lực chiến
đấu…Đẩy mạnh công tác phong không nhân dân, phát động phong trào toàn dân
bắn máy bay địch (phải nâng cao kỹ thuật bắn và tiết kiệm đạn).Tranh thủ sự ủng
hộ về mặt quân sự của các nước anh em tới mức cao nhất; tăng cường đoàn kết
quốc tế trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc.
- Tăng cường công tác phòng thủ, trị an bảo vệ miền Bắc: Kiên quyết đánh
bại địch ném bom, băn phá, phong tỏa miền Bắc bằng không quân và hải quân;
chú trọng lực lượng phòng thủ ở các vùng và mục tiêu quan trọng về kinh tế, quân sự.
- Ra sức chi viện cho miền Nam; tích cực giúp đỡ cách mạng Lào: Địch đánh
miền Bắc để cứu vãn miền Nam. Vì vậy, hướng tích cực nhất để làm thất bại âm
mưu của địch là tập trung toàn lực đánh địch ở Miền Nam.
- Cùng với việc chuyển hướng nền kinh tế và tăng cường quốc phòng an ninh
ở miền Bắc, cần phải kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với
tình hình mới: Nâng cao nhân thức cán bộ, Đảng viên và nhân dân. Làm cho toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân thấy rõ âm mưu của Mỹ và nhận định rõ về tình hình,
đánh giá đúng về lực lượng giữa ta và địch. Từ đó, làm cho toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân nhận thấy rõ “ Giải phóng miền Nam là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước”.
- Đẩy mạnh công tác đấu tranh ngoại giao cho phù hợp với tình hình mới:
nhằm tranh thủ sự ủng hộ của bè bạn quốc tế, vạch rõ âm mưu mới của đế quốc
Mỹ đối với cách mạng miền Nam và miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Đối với miền Nam: Làm rõ chính sách và hành động của Mỹ là xâm lược,
chính quyền miền Nam chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ; Làm rõ: chính Mỹ và chính
quyền tay sai đã phá vỡ hiệp định Gioneve (1954); Làm rõ: cuộc đấu tranh của
nhân dân miền Nam là chính nghĩa: nhân dân miền Nam vì hòa bình, đọc lập dân 7
tộc mà phải chống Mỹ; Làm rõ: cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam là đóng
góp lớn và sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủa nghĩa đế quốc
Mỹ cầm đầu; Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ, đầy đủ của
phe XHCN và nhân dân trên toàn thế giới đối với các cuộc chiến tranh chính nghĩa
của ta ở miền Nam.
Đối với miền Bắc cần làm rõ các vấn đề sau: Đế quốc Mỹ mở rộng chiến
tranh ra miền Bắc là hõng gỡ thế thất bại của chúng trong “ chiến tranh đặc biệt”
ở miền Nam; Đế quốc Mỹ xâm phạm chủ quyền độc lập của Việt Nam; Đế quốc
Mỹ đã phá hoại Hiệp định Gioneve năm 1954; Miền Bắc cùng với phe ta quyết
đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ độc lập dân tộc và hòa bình.
2.2. Nội dung đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết Trung
ương 12 (12/1965)
Năm 1965, sau thất bại của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” hàng chục vạn
quân viễn chinh Mỹ và chư hầu đã vào miền Nam Việt Nam thực hiện cuộc "chiến
tranh cục bộ". Trên chiến trường miền Nam, Mỹ vẫn sử dụng hai lực lượng chính
đó là quân viễn chinh Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền. Mỹ đang từ hạn chế cuộc
chiến tranh trong phạm vi miền Nam thì nay đã tiến tới vừa tập trung lực lượng
chủ yếu trên chiến trường miền Nam, vừa mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc
bằng không quân, tạo ra tình hình cả nước có chiến tranh.
Từ đây, Đảng ta đưa ra nhận định:
Về quân địch: Mỹ đã đem quân xâm lược nước ta nhưng mục đích của
chúng vẫn là “tiếp tục thực hiện chính sách thực dân kiểu mới”. Mỹ có tiềm lực
quân sự mạnh, nhưng vì là cuộc chiến tranh phi nghĩa, nên không thể sử dụng hết
sức mạnh kinh tế, quân sự vào cuộc chiến tranh. Trên chiến trường, Mỹ đang bị
mâu thuẫn giữa cơ động tiến công với phòng ngự giữ đất. Hậu phương lại ở xa,
tiếp tế khó khăn, chiến đấu không phù hợp với huấn luyện và buộc phải đánh theo
ý định của ta… Do vị trí quan trọng của miền Nam, do bản chất xâm lược của đế
quốc Mỹ và do sự thất bại liên tiếp của Mỹ trên chiến trường, nên rất có thể Mỹ 8
sẽ đưa vào miền Nam 30 đến 40 vạn quân (thực tế sau này, vào lúc cao điểm,
miền Nam đã có tới hơn 50 vạn quân viễn chinh Mỹ) và sẽ tiếp tục mở rộng đánh
phá miền Bắc. Âm mưu của Mỹ trước mắt là ra sức tiến công tiêu diệt lực lượng
chủ lực của ta ở miền Nam, mở rộng địa bàn bình định, giành lại những nơi đã
mất, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, tiến tới cô lập chiến trường miền Nam.
Mỹ hy vọng giành lại thế chủ động, tạo thế để ép ta thương lượng theo điều kiện
của Mỹ, đồng thời chuẩn bị cơ sở để khi cần thiết thì mở rộng chiến tranh xâm lược.
Về lực lượng của quân và dân ta: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta
đã sáng tạo ra những lực lượng to lớn về mọi mặt và đang đứng vào một thế thuận
lợi… Trung ương Đảng đã đi đến kết luận: cách mạng miền Nam vẫn phải giữ
vững và phát triển thế chiến lược tiến công. Cần phải động viên lực lượng của cả
nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, bảo vệ miền
Bắc, giải phóng miền Nam. Với các nội dung đường lối cụ thể như sau:
- Quyết tâm chiến lược: Nhân dân ta có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế
chủ động trên chiến trường. Trung ương khẳng định chúng ta có đủ điều kiện và
sức mạnh để đánh Mĩ và thắng Mĩ. Với tinh thần “ Quyết tâm đánh thắng giặc
Mĩ xâm lược”, Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước
trong toàn quốc, coi chống Mĩ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc từ Nam chí Bắc
- Mục tiêu chiến lược: kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế
quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền
Nam và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới
thực hiện hòa bình, thống nhất đất nước.
- Phương châm chiến lược: đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính, càng
đánh càng mạnh, cần phải cố gắng đến mức độ cao, tập trung lực lượng của cả hai
miền để mở những cuộc tiến công lớn, tranh thủ thời cơ giành thắng lợi quyết định
trong thời gian tương đối ngắn trên chiến trường miền Nam. 9
- Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Nam: Giữ vững và phát triển thế tiến công,
kiên quyết tiến công và liên tục tiến công. Tiếp tục kiên trì phương châm kết hợp
đấu tranh quân sự với chính trị, triệt để thực hiện ba mũi giáp công, đánh địch trên
cả ba vùng chiến lược. Đặc biệt đấu tranh quân sự giữ vị trí quan trọng và có tác
dụng quyết định trực tiếp trong giai đoạn này.
- Tư tưởng chỉ đạo đối với miền Bắc: chuyển hướng xây dựng kinh tế, bảo
đảm tiếp tục xây dựng miền Bắc vững mạnh về kinh tế và quốc phòng trong điều
kiện có chiến tranh, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá
hoại của đế quốc Mỹ để bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, động viên
sức người, sức của ở mức cao nhất để chi viện cho miền Nam, đồng thời tích cực
chuẩn bị đề phòng để đánh bại địch trong trường hợp địch liều lĩnh mở rộng
“Chiến tranh cục bộ” ra cả nước.
- Mối quan hệ và nhiệm vụ cách mạng của hai miền: bảo vệ miền Bắc (bởi
miền Bắc xã hội chủ nghĩa là thành quả chung to lớn của cả nước, là hậu phương
vững chắc cho miền Nam), đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,
ra sức tăng cường lực lượng ở miền Bắc về mọi mặt đặc biệt là về kinh tế và quốc
phòng để đảm bảo chi viện đắc lực cho miền Nam đồng thời chống Mỹ ở miền
Nam. Bên cạnh đó tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Trong cuộc
chiến này, miền Nam là tiền tuyến lớn, miền Bắc là hậu phương lớn. Hai nhiệm
vụ này luôn phải song hành với nhau, không thể tách rời.
2.3. Đánh giá về đường lối đánh Mỹ của Đảng trong Nghị quyết Trung
ương 11(3/1965) và Nghị quyết Trung ương 12 (12/1965):
Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn mới là sự kế
thừa và phát triển sáng tạo đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam
đã được Đảng đề ra ra tại Đại hội lần thứ III (1960).
Đường lối đánh Mỹ của Đảng ta trong 2 nghị quyết 11 và 12 là đúng đắn,
hợp lý, linh hoạt, phù hợp với hoàn cảnh. Đảng ta đã đánh giá đúng tương quan 10
lực lượng giữa ta và địch, có chủ trương phù hợp với từng thời điểm, từng giai
đoạn cụ thể, đánh bại từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Thông qua Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 và lần thứ 12 Ban chấp hành
Trung ương - đó là những văn kiện lịch sử quan trọng đối với cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, có ý nghĩa quyết định trong giai đoạn phát
triển cao của cuộc chiến tranh. Cả hai nghị quyết Trung ương đã khẳng định quyết
tâm đánh Mỹ và kiên quyết đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ trong bất kỳ tình huống nào nhằm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam.
Cả hai nghị quyết đều chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đối ngoại và đấu
tranh ngoại giao, tăng cường tiếp xúc cả công khai và bí mật với nhiều nước trên
thế giới, làm rõ chính nghĩa và thiện chí của ta, góp phần hình thành trên thực tế
một mặt trận nhân dân chống Mỹ. Với khẩu hiệu đấu tranh là: “Tất cả để đánh
thắng Mỹ xâm lược, hễ còn một tên giặc Mỹ xâm lược trên đất nước ta thì ta phải
quét sạch nó đi.” Tự quyết định phát động cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước
trong toàn quốc, coi chống Mĩ cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu thiêng liêng của cả
dân tộc từ Nam chí Bắc.
Nghị quyết Trung ương 11(3/1965) là nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ
cấp bách trước mắt. Ra quyết định về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt,
quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc từ thời bình sang thời chiến
trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, an ninh quốc phòng, đối ngoại và văn hóa giáo dục
đảm bảo cho miền Bắc có đầy đủ sức mạnh đánh thắng không quân, hải quân Mỹ;
duy trì và giữ vững sản xuất, tăng khả năng chi viện cho chiến trường miền Nam.
Nghị quyết Trung ương 11 đã chủ trương tiếp tục xây dựng miền Bắc thành một
hậu phương lớn với định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện có chiến tranh.
Đó là một chủ trương thích hợp, bảo đảm miền Bắc tiếp tục làm tròn nghĩa vụ của
hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 11, cách mạng miền Bắc đã có bước chuyển hướng kịp thời
về kinh tế, quốc phòng, tư tưởng và tổ chức để tiến lên giành thắng lợi mới trong
những giai đoạn tiếp theo của cách mạng. 11
Nghị quyết Trung ương 12 (12/1965) là nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ
mới. Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, nhưng đấu tranh quân sự
quyết định trực tiếp. Phương châm là đánh lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
Xác định miền Bắc cần được củng cố vững mạnh về mọi mặt chính trị, quân sự,
kinh tế. Nghị quyết đã phân tích một cách khoa học so sánh lực lượng giữa ta và
địch, khẳng định thất bại tất yếu của đế quốc Mỹ, vạch rõ nhiệm vụ cụ thể cho
cách mạng hai miền, động viên quân đội và nhân dân cả nưóc giữ vững chiến lược
tiến công, nêu cao ý chí tự lực tự cường và ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ
của bè bạn quốc tế, tiến lên đánh thắng hoàn toàn đế quốc Mỹ xâm lược. Nghị
quyết Trung ương 12 là sự phát triển và bổ sung hoàn chỉnh của Nghị quyết Trung ương 11.
Có thể thấy rằng, đường lối kháng chiến chống Mỹ của Đảng trong hai
Nghị quyết Trung ương 11 và 12 đã thể hiện quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ,
tinh thần cách mạng tiến công, tinh thần độc lập tự chủ, sự kiên trì mục tiêu giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện vọng
chung của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Thể hiện tư tưởng nắm vững, giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục tiến hành đồng thời và
kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh
ở mức độ khác nhau, phù hợp với thực tế đất nước và bối cảnh quốc tế. Là đường
lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính
được phát triển trong hoàn cành mới, tạo nên sức mạnh mới để dân tộc ta đủ sức
đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bên cạnh đó, còn thể hiện niềm tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng, với nhiệm vụ bảo vệ đảng chống
lại những biểu hiện, những thế lực phản động chống phá Đảng và cách mạng Việt Nam
III. BÀN LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG “QUYẾT ĐỊNH CỦA
ĐẨNG VỀ VIỆC CHỐNG MỸ LÀ SAI LẦM”
3.1. Một số quan điểm sai trái về quyết định của Đảng về việc tiến hành kháng chiến chống Mỹ 12
Theo cách gọi của các thế lực thù địch thì cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước (1954 - 1975) của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương - Đảng Lao động Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa một bên là lực
lượng Việt Nam Cộng hòa, được đế quốc Mỹ và một số nước đồng minh của Mỹ
hậu thuẫn và bên còn lại là lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Liên
Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác ủng hộ, giúp sức.
Chưa dừng lại ở đó, họ còn khẳng định đây là cuộc chiến tranh “ủy nhiệm”
giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ Chiến tranh lạnh;
và nếu cứ giữ nguyên tình trạng chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17 thì miền Nam sẽ
phát triển như Hàn Quốc hiện nay. Từ đó, họ đặt ra câu hỏi: Có cần thiết phải hy
sinh xương máu của nhân dân Việt Nam để tiến hành cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước hay không?
3.2. Quyết định của Đảng về việc tiến hành kháng chiến chống Mỹ không
phải là quyết định sai lầm
Chúng ta cần khẳng định một cách chắc chắn rằng cuộc kháng chiến chống
đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai (1954-1975) là những cuộc kháng chiến chống xâm
lược, giải phóng dân tộc, bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thống nhất nước nhà.
Thứ nhất, đây không phải là những cuộc chiến tranh “ý thức hệ” hay “nội
chiến” như nhận định của các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Chiến tranh
xâm lược Việt Nam 1954 - 1975 trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên
trong của đế quốc Mỹ, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ mà căn nguyên sâu xa là
xuất phát từ bản chất chế độ chính trị cường quyền.
Từ năm 1949, Mỹ bắt đầu can thiệp, giúp đỡ thực dân Pháp trong cuộc chiến
tranh xâm lược Đông Dương. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp
định Genève (21/7/1954), Pháp buộc phải rút quân về nước, Mỹ thay chân Pháp,
dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm với mục đích phá hoại Hiệp định 13
Genève, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, ngăn chặn “làn sóng
đỏ” từ Trung Quốc xuống khu vực Đông Nam Á. Thực chất đây là cuộc chiến
tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, không phải là “nội chiến” hay chiến tranh “ý
thức hệ”, và nếu xuất phát từ “ý thức hệ” thì cũng chỉ là xuất phát từ phía Mỹ.
Một thực tế rõ ràng là, tuy Mỹ coi lực lượng tay sai ở miền Nam Việt Nam là
những người “quốc gia chủ nghĩa”, nhưng chưa bao giờ thực sự coi trọng những
lực lượng này. Mỹ chỉ xem họ như những quân cờ trên bàn cờ chiến lược của
mình. Một khi quân cờ nào không còn hữu dụng nữa thì Mỹ sẵn sàng thay thế,
vứt bỏ họ. Một học giả Mỹ đánh giá: “Quan hệ đồng minh Mỹ - Diệm là một sản
phẩm của tính toán địa chính trị của Mỹ thời chiến tranh lạnh”, và “việc Mỹ can
thiệp sâu vào Đông Dương xuất phát từ các quan ngại về sự bành trướng Xô-viết”.
Mỹ đã tiêu tốn vào cuộc chiến 676 tỷ USD; cử 6,6 triệu lượt quân tham chiến; huy
động 70% lục quân, 60% lính thủy đánh bộ, 40% hải quân, 60% không quân; trên
72 nghìn quân các nước đồng minh Mỹ tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt
Nam. Với những vũ khí mới nhất, với khối lượng lớn bom đạn, chất độc hóa học,
chất độc da cam, quân đội Mỹ đã tiến hành càn quét, đốt phá, và giết hại nhiều
dân thường. Từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi
vụ, phun rải khoảng 80 triệu lít chất độc hóa học. Cùng với việc đưa quân vào
miền Nam, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại vô cùng khốc liệt đối với miền Bắc
Việt Nam. Sau thất bại trong chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968), Mỹ
muốn rút dần quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ về nước, giảm bớt
xương máu của người Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam bằng việc thực
hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1973), song âm mưu này cũng
bất thành, Mỹ buộc phải ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973), chấp nhận rút quân
về nước. Tuy vậy, Mỹ vẫn để lại miền Nam Việt Nam hơn 2 vạn cố vấn quân sự
nhằm giúp đỡ ngụy quân, ngụy quyền. Đến đây, chúng ta có thể thấy luận điệu
cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) là một cuộc “nội
chiến” là hoàn toàn sai về bản chất, với mục đích tẩy trắng cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam của đế quốc Mỹ và hòng chạy tội cho ngụy quân, ngụy quyền Việt Nam Cộng hòa. 14
Thứ hai, cuộc đấu tranh nhằm thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam
từ năm 1954 đến năm 1975 không chỉ là cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm,
mà còn đồng thời là đấu tranh nhằm loại bỏ những thế lực đi ngược lại lợi ích
quốc gia - dân tộc và nguyện vọng nhân dân. Trên bình diện quốc tế, đó là một bộ
phận của cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, nhằm khẳng định và bảo vệ
quyền tự quyết của dân tộc mình. Nhằm đạt mục tiêu hòa bình, thống nhất đất
nước, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam đã nghiêm
chỉnh chấp hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Tháng 6-1955, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố sẵn sàng mở hội
nghị hiệp thương với chính quyền Sài Gòn, nhưng không được đáp ứng. Tháng 7-
1956, sau khi yêu cầu đàm phán không được chính quyền Ngô Đình Diệm trả lời,
thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa yêu cầu các đồng chủ tịch Hội nghị Giơ-ne-vơ
tổ chức một cuộc hội nghị mới. Các yêu cầu đàm phán với chính quyền Ngô Đình
Diệm tiếp tục được phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiên trì nêu lên, nhưng đều
bị từ chối. Chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man các phong trào hòa bình,
bắt bớ, truy bức, giết hại những người yêu nước ở khắp miền Nam, từ năm 1954
đến năm 1959, 466.000 người cộng sản và người yêu nước bị bắt, 400.000 người
bị tù đày và có 68.000 người bị giết hại. Một báo cáo của Việt Nam Cộng hòa
năm 1960 đưa ra con số những người cộng sản bị bắt giữ từ năm 1954 là 48.200
người; một công bố năm 1961 ghi nhận tổng số người bị bắt giữ và thiệt mạng
dưới bàn tay lực lượng an ninh chính quyền Sài Gòn lên tới trên 60.000 người. Ở
miền Nam, năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được
thành lập. Tháng 6-1969, tại Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam, Chính phủ cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Dưới ngọn cờ chính
nghĩa của Chính phủ cách mạng lâm thời, các phong trào vận động nhân dân, trí
thức đã kết thành một sức mạnh rộng lớn, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân
dân, không phân biệt tôn giáo, đảng phái, vì một mục tiêu giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Đến cuối năm 1972, Chính phủ cách mạng lâm thời được 30
nước trên thế giới chính thức công nhận, với tư cách là đại diện chân chính, hợp 15
pháp duy nhất của nhân dân miền Nam. Dù phải chịu tác động bởi mâu thuẫn, bất
đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khi đó, nhưng Việt Nam
vẫn giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết;
xử lý các mối quan hệ một cách đúng đắn, mềm dẻo; coi trọng, kiên trì vấn đề đoàn kết quốc tế.
Vì vậy phải khẳng định rằng, quyết định của Đảng về cuộc kháng chiến
chống đế quốc Mỹ là hoàn toàn đúng đắn vì “Dân tộc ta là một, nước Việt Nam
là một. Nhân dân ta nhất định sẽ vượt tất cả mọi khó khăn và thực hiện kỳ được
“thống nhất đất nước, Nam, Bắc một nhà”. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành
cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, nhận được sự ủng hộ, giúp sức của Liên Xô,
Trung Quốc và các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, các lực lượng dân chủ,
tiến bộ, yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, nhưng đó thực sự là cuộc
chiến đấu của chính bản thân nhân dân Việt Nam, không có sự tham gia trực tiếp
của nước ngoài. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ mang ý nghĩa
lịch sử to lớn, kết thúc quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ
Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc,
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà,
mở ra bước ngoặt vĩ đại thiết lập quyền làm chủ của nhân dân trên toàn bộ đất
nước, đưa cả nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của nhân dân Việt
Nam đã đẩy lùi và làm suy yếu trận địa của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ một phòng
tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn
cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, mở rộng trận
địa của chủ nghĩa xã hội, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của ba dòng thác
cách mạng của thời đại đem lại lòng tin và niềm phấn khởi của hàng triệu người
dân trên thế giới đang đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. 16
KẾT LUẬN
Trải qua 21 năm chiến đấu, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm
lược thực dân mới có quy mô lớn, dài ngày nhất, ác liệt và dã man nhất từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai. Âm mưu của đế quốc Mỹ biến miền Nam Việt Nam
thành thuộc địa kiểu mới và chia cắt lâu dài đất nước ta đã bị đập tan.
Thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước kết thúc quá
trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt ách
thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoàn thành xuất sắc
nhiệm vụ lịch sử giải phóng dân tộc và thống nhất nước nhà, mở ra bước ngoặt vĩ
đại thiết lập quyền làm chủ của nhân dân trên toàn bộ đất nước, đưa cả nước ta
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ đó, khẳng định vai trò to lớn của Đảng trong sự
nghiệp cách mạng với những chủ trương, đường lối và quyết định đúng đắn, tài
tình. Từ thời chiến cho đến thời bình – thời kỳ xã hội hiện tại của chúng ta, Đảng
Cộng Sản Việt Nam đã và đang là một nền tảng cốt yếu, chi phối và mang vai trò
quan trọng tác động tới mọi lĩnh vực của nước Việt Nam ta nói chung và thế giới nói riêng. 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia sự thật, 2021.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36 (1975), NXB.
Chính trị quốc gia, H.2004, tr.201
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 12, tr.674
[4] Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước 1954 - 1975, tập 2 - Chuyển chiến lược, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội (1996), tr. 178
[5] Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, tập I - Nguyên nhân chiến tranh,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 117
[6] Edward Miller: Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam
Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội (2016), tr. 17
[7] DUẨN T. C. T. L. (2022, November 15), “Phản bác quan điểm sai
trái của các thế lực thù địch phủ nhận bản chất, tính chính nghĩa và thành
quả của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ (1945-
1975), Trường Chính trị Lê Duẩn:
https://truongleduan.quangtri.gov.vn:443/vi/hoat-dong-khoa-hoc/bao-ve-
nen-tang-tu-tuong-cua-dang/phan-bac-quan-diem-sai-trai
[8] Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước.(n.d.), Https://Dangcongsan.Vn.Retrieved March 14, 2023,
https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-
90-nam-lich-su-ve-vang-cua-dang-cong-san-viet-nam/ 18
[9] Goerges Chaffard: Indochine: Dix ans d’indépendance, Paris:
Calmann-Lévy, 1964, tr. 168 - 169; và Seven Years of the Ngo Dinh
Diem Administration, 1954 - 1961.
[10] Robert S.Mc Na-ma-ra: Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những
bài học về Việt Nam, Sđd, tr. 4[11] Douglas C. Dacy: Foreign aid, war
and economic development South Vietnam 1955 - 1975, Cambridge
University Press, 1986, tr. 245 19