BÀI LUẬN
“ ĐƯỢC MÙA KHÔNG VUI”
HỌ TÊN: NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
LỚP: 64C – Ngôn ngữ Anh
TRƯỜNG: ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN
MỤC LỤC
A. “Được mùa không vui”, giải thích thông qua lý thuyết cầu, co dãn.
I. Hiện tượng “ Được mùa không vui” là gì?
a. “Được mùa” là gì?
b. Tại sao xuất hiện hiện tượng “Được mùa không vui”?
c. Giải thích thông qua lý thuyết cầu, co dãn.
B. Một số giải pháp khả thi nhà nước có thể thực hiện để hỗ trợ người
nông dân vượt qua hiện tượng “Được mùa không vui”?
I. Một số giải pháp khả thi.
a. Trợ cấp.
b. Xuất khẩu.
2
A. “Được mùa không vui”, giải thích thông qua lý thuyết cầu, co dãn.
I. Hiện tượng “ Được mùa không vui” là gì?
a. “Được mùa” là gì?
-“Được mùa” là hai từ thường được dùng trong nông nghiệp
để nói về sự tăng lên về sản lượng hay số lượng lương thực,
nông sản mà người nông dân lao động để tạo ra. Hiện
tượng “được mùa” thường xảy ra khi có sự thuận lợi của
điều kiện thời tiết, môi trường, cũng như sự cải thiện, tiên
tiến về phương pháp canh tác, công nghệ nuôi, trồng nông
nghiệp.
-“Được mùa” vốn là mục tiêu sản xuất của người nông dân
vì khi đó họ có thể bán được nhiều hơn, có nghĩa là thu về
nhiều lợi nhuận hơn.
b. Tại sao xuất hiện hiện tượng “Được mùa không vui”?
Việt Nam vốn là một nước có nền nông nghiệp phát triển, tuy
nhiên trong những năm qua hiện tượng “được mùa- mất giá”
liên tục xảy ra khiến cho nông dân nhiều lần lâm vào cảnh
khốn đốn. “Được mùa” vốn là mục tiêu sản xuất của người
nông dân nhưng dường như giờ đây nó lại trở thành nỗi lo sợ
bởi:
-Cầu nông sản thuộc loại cầu không co giãn, có nghĩa là
lượng tiêu dùng
nông sản tương đối ổn định, ít phụ thuộc vào giá cả của nông sản.
3
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp truyền thống lại phụ thuộc vào
các yếu tố khách quan như thời tiết, dịch bệnh…mang tính thời
vụ cao, cũng như mang tính địa phương.
- Các nông sản thường là các sản phẩm tươi sống, khó bảo
quản và được được thu hoạch đồng loạt. Do các đặc điểm cơ
bản về cầu và cung của nông sản dẫn đến thị trường nông sản
mang tính cạnh tranh cao và thường xảy ra hiện
tượng “Được mùa mất giá”.
Hình A
c. Giải thích qua lý thuyết cầu, co dãn.
-Theo hình 1, khi cân bằng ban đầu bằng E với mức giá 1
cân bằng là P và sản lượng cân bằng tại Q thì tổng thu 1 1
nhập là TR = P x Q . Khi cung nông sản tăng do được 1 1 1
mùa, trạng thái cân bằng mới là E với giá cân bằng mới là 2
P2 và lượng cân bằng mới là Q2.
4
-Thu nhập bây giờ là TR = P x Q nhỏ hơn thu nhập 2 2 2
trước đây, vì giá giảm làm ảnh cho hưởng giảm của giá lấn
át ảnh hưởng tăng của lượng cầu.
-Trong điều kiện hiện nay, thị trường nông sản chịu sự tác
động của nhiều yếu tố mới thông qua phân tích yếu tố cung
cầu, cụ thể:
+ Về phía cầu, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi các sản
phẩm có chất lượng cao, phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm và được bảo quản tốt hơn, có bao bì, nhãn mác đẹp
mắt hơn … Đặc biệt, các rào cản kinh tế và các yếu tố kí
thuật khắt khe được để đảm bảo chất lượng sản phẩm và
bảo vệ người tiêu dùng được đặt ra hang loạt ở nhiều nơi
trên thế giới, không riêng gì Việt Nam.
+ Về phía cung, các thành tựu mới về khoa học kỹ thuật
được ứng dụng rộng rãi hơn trong nông nghiệp. Các giống
cây có khả năng thích ứng cao hơn với điều kiện tự nhiên ,
các phương thức sản xuất mới được sản xuất nhằm hạn chế
tác động tiêu cực của tự nhiên như các hình thức nông
nghiệp công nghệ cao được áp dụng rộng rãi. Điều đó làm
lượng cung nông sản ngày càng tăng lên đáng kể. Chính vì
thế, hiện tượng “được mùa mất giá” càng trở nên phổ biến
hơn bao giờ hết.
Nguyên nhân cuối cùng phải kể đến đó là người nông dân
với nguồn thu nhập chính là từ nông sản, họ không thể cất
trữ nông sản rồi đợi đến khi được giá cao rồi mới bán, bởi
như vậy sẽ gây ra tình trạng thiếu vốn cho việc bắt đầu vụ
mùa kế tiếp.
Vì những lí do nêu trên mà cho dù “ được mùa “ thì nhà nông vẫn chẳng thể
nào vui nổi.
Mở rộng: Vậy tại sao dù biết được mùa sẽ mất giá, nhưng người nông dân
vẫn luôn cố tạo ra nhiều sản lượng nhất có thể?
Người nông dân nhận thấy tình trạng “được mùa, rớt giá”
lặp đi lặp lại cũng như thấy được các thiệt hại do việc được
5
mùa gây ra với họ. Nhưng họ vẫn luôn cố gắng tìm cách áp
dụng khoa học kĩ thuật công nghệ, cải tiến kỹ thuật để năng
tối đa năng suất cây trồng. Vấn đề này nằm ở giả định về
thị trường cạnh tranh đã được đề cập đến ở đầu chương 2.
Vì thị trường là cạnh tranh, tại đó có vô số người bán nên
cá nhân mỗi người bán không có khả năng tác động lên giá
của thị trường. Chính vì thế, họ không có lựa chọn nào
khác ngoài việc chấp nhận giá. Vì vậy, dù giá cao hay thấp,
việc người nông dân bán được nhiều sản phẩm vẫn tốt hơn
là ít. Đó là lý do tại sao dù ai cũng biết, được mùa sẽ dẫn
đến việc mất giá nhưng vẫn cố gắng để tăng số lượng sản
phẩm càng nhiều càng tốt.
Và khi suy nghĩ đến vấn đề này, ta cũng có thể nghĩ đến 2
tình huống khác, khi mà:
+ Người nông dân mất mùa trong khi những người khác
được mùa?
+ Cả ngành nông nghiệp mất mùa nhưng người nông dân
không bị rơi vào tình trạng mất mùa?
Vậy liệu trong tình huống mất mùa – tình huống ngược lại
với vấn đề nêu trên có phải là một tình huống tốt hơn cho
người nông dân không? Đó cũng là một điều đáng suy
ngẫm.
B. Một số giải pháp khả thi nhà nước có thể thực hiện để hỗ trợ người
nông dân vượt qua hiện tượng “Được mùa không vui”?
Trong hoàn cảnh cấp bách, không phủ nhận việc kêu gọi “giải
cứu” nông sản đã giúp đỡ phần nào cho người nông dân, khi xảy ra
“được mùa, mất giá”, giải cứu là một việc nên làm, tuy nhiên chắc chắn
rằng đây không thể là biện pháp lâu dài.Tính trung bình bà con nông
dân phải đầu tư kha khá tiền ( vài triệu đồng ) vào mỗi vụ mùa chưa kể
tiền công chăm bón, thu hoạch. Nông sản trồng xong được mùa nhưng
lại chẳng có thị trường để tiêu thụ. Bên cạnh đó các sản phẩm như rau,
hoa quả, củ quả là loại nông sản khó bảo quản, khi đã chín gặp mưa là
coi như mất trắng cả vụ. Song, giá thực phẩm ấy xuống quá thấp khiến
6
cho nhiều người phải bỏ thu hoạch, cho trâu bò ăn hoặc bán với giá rẻ
như cho.
Thực tế cho thấy, nông sản Việt Nam không thể mãi trông chờ “giải
cứu”, mà phải tự “giải cứu” chính mình bằng cách tổ chức chuỗi hoạt động
quy củ. Ở lĩnh vực sản xuất, phân phối, nông dân, hay doanh nghiệp sản xuất,
cung cấp nông sản phải bảo đảm chất lượng, chủng loại, quy cách. Nhà phân
phối cũng phải thực hiện đúng cam kết về thời gian, giá cả…, tránh “tham
bát, bỏ mâm”. Cả người sản xuất lẫn nhà phân phối cần nâng cao tính chuyên
nghiệp, đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường trong nước
và ngoài nước về quy tắc xuất xứ, về tiêu chuẩnkỹ thuật, về vệ sinh an toàn,
áp dụng công nghệ trong sản xuất, tiêu thụ nông sản.
Cùng với đó, các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức lại sản
xuất, cung cấp thông tin đầy đủ cho các bên tham gia chuỗi sản xuất - tiêu
thụ, kết nối chặt chẽ giữa sản xuất, phân phối và tiêu thụ; liên kết chặt chẽ
giữa doanh nghiệp và nông dân; quy hoạch lại vùng sản xuất nông sản; mở
rộng thị trường, tránh phụ thuộc vào một thị trường, đa dạng hóa nông sản
thay vì chỉ khuyến khích sản xuất một vài loại nông sản thế mạnh; đẩy mạnh
phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản, công nghiệp logistics…
Người nông dân vẫn có khả năng khắc phục được tình trạng “được mùa – mất
giá” bằng các biện pháp sau:
- Quy mô sản xuất nông nghiệp cần được mở rộng thay vì mô hình nhỏ lẻ, tạo
ra hàng hoá được sản xuất theo quy mô lớn, giá trị cao. Tập trung nhiều hơn
vào chất lượng nông sản, ứng dụng các khoa học - công nghệ -kĩ thuật trong
sản xuất, áp dụng khoa học quản lí trong nông nghiệp, sử dụng hợp lí các chế
phẩm sinh học sao cho sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường đầu ra
trong nước và xuất khẩu.
- Doanh nghiệp và nhà nông cùng liên kết chặt chẽ hay hợp tác với nhau để
có đầu ra ổn định cho sản phẩm nông sản.
- Phát huy nhiều hơn vai trò của nhà nước trong đầu tư, hỗ trợ nông nghiệp,
khuyến khích và triển khai các dự án hỗ trợ nông dân phát triển theo hướng
sản xuất quy mô lớn, chất lượng và giá trị cao. Cần ban hành những chính
sách phù hợp, đưa ra những định hướng cụ thể hơn để tháo gỡ khó khăn của
7
người nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân yên tâm sản
xuất.
- Để giảm thua thiệt cho nông dân, cần nâng cao giá trị pháp tạo sự công bằng
lí để đảm bảo quyền lợi trước những biến động của thị trường bằng cách tự
quyết định giá sản phẩm của mình, thương lái ký kết thu mua với nhà vườn
từ sớm, giá cả ổn định, tránh gây thiệt hại cho người bán cũng như người
I. Một số giải pháp khả thi.
a. Trợ cấp:
-Trợ cấp có thể hiểu là một khoản thuế âm. Tác động của trợ
cấp thường ngược chiều với tác động của thuế. Khi chính
phủ tiến hành trợ cấp cho người sản xuất, đường cung dịch
phải, giá cân bằng giảm và sản lượng cân bằng tăng. Khi
người tiêu dùng được trợ cấp, đường cầu dịch phải, giá và
sản lượng cân bằng đều tăng. Tuy vậy, giá cả mà người sản
xuất nhận được trong cả 2 trường hợp (trợ cấp người sản
xuất hay người tiêu dùng) đều tăng, còn giá mà người tiêu
dùng thực tế phải trả đều giảm.
8
Hình B biểu diễn đường cung – cầu khi chưa có trợ cấp từ chính phủ. Khi
này:
+ Lượng cung (S) tăng -> Lượng cầu (Q) tăng.
Gía (P) giảm xuống thấp hơn giá (P0) ở điểm cân bằng (E0).
Hình C biểu diễn đồ thị cung – cầu khi chính phủ đã trợ cấp cho người bán.
Khi đó:
+ Người mua vẫn được mua với mức giá thấp (P1).
+ Người bán vẫn thu được giá bán ở mức lí tưởng hơn (P2) nhờ có trợ cấp
của chính phủ
(Trợ cấp chính phủ = P2-P1).
9
Hình D biểu diễn đồ thị cung – cầu khi chính phủ trợ cấp cho người tiêu dùng
để kích cầu mua sắm. Khi đó:
+ Đường cầu (D) dịch phải.
+ Người mua mua hang với giá cao hơn nhưng thực chất chỉ phải trả ít hơn
(P2) do được chính phủ hỗ trợ.
10
11

Preview text:

BÀI LUẬN
“ ĐƯỢC MÙA KHÔNG VUI”
HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
LỚP: 64C – Ngôn ngữ Anh
TRƯỜNG: ĐH KINH TẾ QUỐC DÂN MỤC LỤC
A. “Được mùa không vui”, giải thích thông qua lý thuyết cầu, co dãn. I.
Hiện tượng “ Được mùa không vui” là gì?
a. “Được mùa” là gì?
b. Tại sao xuất hiện hiện tượng “Được mùa không vui”?
c. Giải thích thông qua lý thuyết cầu, co dãn.
B. Một số giải pháp khả thi nhà nước có thể thực hiện để hỗ trợ người
nông dân vượt qua hiện tượng “Được mùa không vui”? I.
Một số giải pháp khả thi. a. Trợ cấp. b. Xuất khẩu. 2
A. “Được mùa không vui”, giải thích thông qua lý thuyết cầu, co dãn. I.
Hiện tượng “ Được mùa không vui” là gì?
a. “Được mùa” là gì?
-“Được mùa” là hai từ thường được dùng trong nông nghiệp
để nói về sự tăng lên về sản lượng hay số lượng lương thực,
nông sản mà người nông dân lao động để tạo ra. Hiện
tượng “được mùa” thường xảy ra khi có sự thuận lợi của
điều kiện thời tiết, môi trường, cũng như sự cải thiện, tiên
tiến về phương pháp canh tác, công nghệ nuôi, trồng nông nghiệp.
-“Được mùa” vốn là mục tiêu sản xuất của người nông dân
vì khi đó họ có thể bán được nhiều hơn, có nghĩa là thu về nhiều lợi nhuận hơn.
b. Tại sao xuất hiện hiện tượng “Được mùa không vui”?
Việt Nam vốn là một nước có nền nông nghiệp phát triển, tuy
nhiên trong những năm qua hiện tượng “được mùa- mất giá”
liên tục xảy ra khiến cho nông dân nhiều lần lâm vào cảnh
khốn đốn. “Được mùa” vốn là mục tiêu sản xuất của người
nông dân nhưng dường như giờ đây nó lại trở thành nỗi lo sợ bởi:
-Cầu nông sản thuộc loại cầu không co giãn, có nghĩa là lượng tiêu dùng
nông sản tương đối ổn định, ít phụ thuộc vào giá cả của nông sản. 3
Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp truyền thống lại phụ thuộc vào
các yếu tố khách quan như thời tiết, dịch bệnh…mang tính thời
vụ cao, cũng như mang tính địa phương.
- Các nông sản thường là các sản phẩm tươi sống, khó bảo
quản và được được thu hoạch đồng loạt. Do các đặc điểm cơ
bản về cầu và cung của nông sản dẫn đến thị trường nông sản
mang tính cạnh tranh cao và thường xảy ra hiện
tượng “Được mùa mất giá”. Hình A
c. Giải thích qua lý thuyết cầu, co dãn.
-Theo hình 1, khi cân bằng ban đầu bằng E với mức giá 1
cân bằng là P và sản lượng cân bằng tại Q 1 t 1 hì tổng thu nhập là TR = P 1
1 x Q1. Khi cung nông sản tăng do được
mùa, trạng thái cân bằng mới là E với giá cân bằng mới là 2
P2 và lượng cân bằng mới là Q2. 4
-Thu nhập bây giờ là TR = P 2 x Q 2 nhỏ hơn thu nhập 2
trước đây, vì giá giảm làm ảnh cho hưởng giảm của giá lấn
át ảnh hưởng tăng của lượng cầu.
-Trong điều kiện hiện nay, thị trường nông sản chịu sự tác
động của nhiều yếu tố mới thông qua phân tích yếu tố cung cầu, cụ thể:
+ Về phía cầu, người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi các sản
phẩm có chất lượng cao, phải đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm và được bảo quản tốt hơn, có bao bì, nhãn mác đẹp
mắt hơn … Đặc biệt, các rào cản kinh tế và các yếu tố kí
thuật khắt khe được để đảm bảo chất lượng sản phẩm và
bảo vệ người tiêu dùng được đặt ra hang loạt ở nhiều nơi
trên thế giới, không riêng gì Việt Nam.
+ Về phía cung, các thành tựu mới về khoa học kỹ thuật
được ứng dụng rộng rãi hơn trong nông nghiệp. Các giống
cây có khả năng thích ứng cao hơn với điều kiện tự nhiên ,
các phương thức sản xuất mới được sản xuất nhằm hạn chế
tác động tiêu cực của tự nhiên như các hình thức nông
nghiệp công nghệ cao được áp dụng rộng rãi. Điều đó làm
lượng cung nông sản ngày càng tăng lên đáng kể. Chính vì
thế, hiện tượng “được mùa mất giá” càng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết.
Nguyên nhân cuối cùng phải kể đến đó là người nông dân
với nguồn thu nhập chính là từ nông sản, họ không thể cất
trữ nông sản rồi đợi đến khi được giá cao rồi mới bán, bởi
như vậy sẽ gây ra tình trạng thiếu vốn cho việc bắt đầu vụ mùa kế tiếp.
Vì những lí do nêu trên mà cho dù “ được mùa “ thì nhà nông vẫn chẳng thể nào vui nổi.
Mở rộng: Vậy tại sao dù biết được mùa sẽ mất giá, nhưng người nông dân
vẫn luôn cố tạo ra nhiều sản lượng nhất có thể?
Người nông dân nhận thấy tình trạng “được mùa, rớt giá”
lặp đi lặp lại cũng như thấy được các thiệt hại do việc được 5
mùa gây ra với họ. Nhưng họ vẫn luôn cố gắng tìm cách áp
dụng khoa học kĩ thuật công nghệ, cải tiến kỹ thuật để năng
tối đa năng suất cây trồng. Vấn đề này nằm ở giả định về
thị trường cạnh tranh đã được đề cập đến ở đầu chương 2.
Vì thị trường là cạnh tranh, tại đó có vô số người bán nên
cá nhân mỗi người bán không có khả năng tác động lên giá
của thị trường. Chính vì thế, họ không có lựa chọn nào
khác ngoài việc chấp nhận giá. Vì vậy, dù giá cao hay thấp,
việc người nông dân bán được nhiều sản phẩm vẫn tốt hơn
là ít. Đó là lý do tại sao dù ai cũng biết, được mùa sẽ dẫn
đến việc mất giá nhưng vẫn cố gắng để tăng số lượng sản
phẩm càng nhiều càng tốt.
Và khi suy nghĩ đến vấn đề này, ta cũng có thể nghĩ đến 2 tình huống khác, khi mà:
+ Người nông dân mất mùa trong khi những người khác được mùa?
+ Cả ngành nông nghiệp mất mùa nhưng người nông dân
không bị rơi vào tình trạng mất mùa?
Vậy liệu trong tình huống mất mùa – tình huống ngược lại
với vấn đề nêu trên có phải là một tình huống tốt hơn cho
người nông dân không? Đó cũng là một điều đáng suy ngẫm.
B. Một số giải pháp khả thi nhà nước có thể thực hiện để hỗ trợ người
nông dân vượt qua hiện tượng “Được mùa không vui”?
Trong hoàn cảnh cấp bách, không phủ nhận việc kêu gọi “giải
cứu” nông sản đã giúp đỡ phần nào cho người nông dân, khi xảy ra
“được mùa, mất giá”, giải cứu là một việc nên làm, tuy nhiên chắc chắn
rằng đây không thể là biện pháp lâu dài.Tính trung bình bà con nông
dân phải đầu tư kha khá tiền ( vài triệu đồng ) vào mỗi vụ mùa chưa kể
tiền công chăm bón, thu hoạch. Nông sản trồng xong được mùa nhưng
lại chẳng có thị trường để tiêu thụ. Bên cạnh đó các sản phẩm như rau,
hoa quả, củ quả là loại nông sản khó bảo quản, khi đã chín gặp mưa là
coi như mất trắng cả vụ. Song, giá thực phẩm ấy xuống quá thấp khiến 6
cho nhiều người phải bỏ thu hoạch, cho trâu bò ăn hoặc bán với giá rẻ như cho.
Thực tế cho thấy, nông sản Việt Nam không thể mãi trông chờ “giải
cứu”, mà phải tự “giải cứu” chính mình bằng cách tổ chức chuỗi hoạt động
quy củ. Ở lĩnh vực sản xuất, phân phối, nông dân, hay doanh nghiệp sản xuất,
cung cấp nông sản phải bảo đảm chất lượng, chủng loại, quy cách. Nhà phân
phối cũng phải thực hiện đúng cam kết về thời gian, giá cả…, tránh “tham
bát, bỏ mâm”. Cả người sản xuất lẫn nhà phân phối cần nâng cao tính chuyên
nghiệp, đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường trong nước
và ngoài nước về quy tắc xuất xứ, về tiêu chuẩnkỹ thuật, về vệ sinh an toàn,
áp dụng công nghệ trong sản xuất, tiêu thụ nông sản.
Cùng với đó, các cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm tổ chức lại sản
xuất, cung cấp thông tin đầy đủ cho các bên tham gia chuỗi sản xuất - tiêu
thụ, kết nối chặt chẽ giữa sản xuất, phân phối và tiêu thụ; liên kết chặt chẽ
giữa doanh nghiệp và nông dân; quy hoạch lại vùng sản xuất nông sản; mở
rộng thị trường, tránh phụ thuộc vào một thị trường, đa dạng hóa nông sản
thay vì chỉ khuyến khích sản xuất một vài loại nông sản thế mạnh; đẩy mạnh
phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản, công nghiệp logistics…
Người nông dân vẫn có khả năng khắc phục được tình trạng “được mùa – mất
giá” bằng các biện pháp sau:
- Quy mô sản xuất nông nghiệp cần được mở rộng thay vì mô hình nhỏ lẻ, tạo
ra hàng hoá được sản xuất theo quy mô lớn, giá trị cao. Tập trung nhiều hơn
vào chất lượng nông sản, ứng dụng các khoa học - công nghệ -kĩ thuật trong
sản xuất, áp dụng khoa học quản lí trong nông nghiệp, sử dụng hợp lí các chế
phẩm sinh học sao cho sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường đầu ra
trong nước và xuất khẩu.
- Doanh nghiệp và nhà nông cùng liên kết chặt chẽ hay hợp tác với nhau để
có đầu ra ổn định cho sản phẩm nông sản.
- Phát huy nhiều hơn vai trò của nhà nước trong đầu tư, hỗ trợ nông nghiệp,
khuyến khích và triển khai các dự án hỗ trợ nông dân phát triển theo hướng
sản xuất quy mô lớn, chất lượng và giá trị cao. Cần ban hành những chính
sách phù hợp, đưa ra những định hướng cụ thể hơn để tháo gỡ khó khăn của 7
người nông dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân yên tâm sản xuất.
- Để giảm thua thiệt cho nông dân,tạo sự công bằng cần nâng cao giá trị pháp
lí để đảm bảo quyền lợi trước những biến động của thị trường bằng cách tự
quyết định giá sản phẩm của mình, thương lái ký kết thu mua với nhà vườn
từ sớm, giá cả ổn định, tránh gây thiệt hại cho người bán cũng như người
I. Một số giải pháp khả thi. a. Trợ cấp:
-Trợ cấp có thể hiểu là một khoản thuế âm. Tác động của trợ
cấp thường ngược chiều với tác động của thuế. Khi chính
phủ tiến hành trợ cấp cho người sản xuất, đường cung dịch
phải, giá cân bằng giảm và sản lượng cân bằng tăng. Khi
người tiêu dùng được trợ cấp, đường cầu dịch phải, giá và
sản lượng cân bằng đều tăng. Tuy vậy, giá cả mà người sản
xuất nhận được trong cả 2 trường hợp (trợ cấp người sản
xuất hay người tiêu dùng) đều tăng, còn giá mà người tiêu
dùng thực tế phải trả đều giảm. 8
Hình B biểu diễn đường cung – cầu khi chưa có trợ cấp từ chính phủ. Khi này:
+ Lượng cung (S) tăng -> Lượng cầu (Q) tăng.
Gía (P) giảm xuống thấp hơn giá (P0) ở điểm cân bằng (E0).
Hình C biểu diễn đồ thị cung – cầu khi chính phủ đã trợ cấp cho người bán. Khi đó:
+ Người mua vẫn được mua với mức giá thấp (P1).
+ Người bán vẫn thu được giá bán ở mức lí tưởng hơn (P2) nhờ có trợ cấp của chính phủ
(Trợ cấp chính phủ = P2-P1). 9
Hình D biểu diễn đồ thị cung – cầu khi chính phủ trợ cấp cho người tiêu dùng
để kích cầu mua sắm. Khi đó:
+ Đường cầu (D) dịch phải.
+ Người mua mua hang với giá cao hơn nhưng thực chất chỉ phải trả ít hơn
(P2) do được chính phủ hỗ trợ. 10 11