



















Preview text:
lOMoAR cPSD| 61458992
TÀI LIỆU ĐỌC TUẦN 1
NHẬP MÔN LÍ LUẬN DẠY HỌC I.
Khái quát về Lí luận dạy học
Lí luận dạy học (LLDH) là:
- Lí thuyết về việc dạy và học;
- Sự phản ánh quá trình dạy và học có tổ chức; - Bộ phận trung
tâm, cấu thành khoa học giáo dục.
LLDH bao gồm một hệ thống những tri thức khoa học phản ánh tính quy luật của
hoạt động dạy học như: quá trình dạy học, mục đích dạy học, nội dung dạy học, nguyên
tắc dạy học, phương pháp và phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và
đánh giá hoạt động học; vai trò giáo dục của quá trình dạy học và những điều kiện thuận
lợi cho hoạt động học tập, sáng tạo của người học.
Nguồn gốc của LLDH với tư cách là một khoa học được tính từ thế kỷ XVII. Nhà
sư phạm người Đức Wolfgang Radtke (1571 - 1635) và giám mục giáo xứ Bohem,
Johann Amos Comenius (tiếng Séc là Komensky) được xem là những người sáng lập ra
lí luận dạy học với tư cách là một khoa học. Radtke phát biểu nhiệm vụ cơ bản đặt ra
đối với LLDH bằng cách hỏi “Phải dạy như thế nào để người học học nhanh, chắc chắn
và thấu đáo?”. Là người có cống hiến đặc biệt trong việc xây dựng nền móng cho lí
luận dạy học, Comenius nhấn mạnh đến các nguyên tắc dạy học: từ dễ đến khó, từ gần
đến xa, từ cái khái quát đến cái cụ thể. Ông còn là người đầu tiên đưa ra ý tưởng khai
sinh mô hình dạy học “lấy giáo viên làm trung tâm” và hệ thống lớp học cùng lứa tuổi.
II. Đối tượng và nhiệm vụ của lí luận dạy học a)
Đối tượng nghiên cứu của lí luận dạy học
Đối tượng nghiên cứu của lí luận dạy học là quá trình dạy học (QTDH) ở nhà
trường và các quy luật của nó.
Cụ thể bao gồm: LLDH nghiên cứu về bản chất, quy luật của QTDH; mục đích,
nhiệm vụ dạy học; nội dung dạy học; phương pháp, phương tiện dạy học; hình thức tổ
chức dạy học; kiểm tra đánh giá kết quả dạy học; vai trò giáo dục của quá trình dạy học;
những điều kiện thuận lợi cho hoạt động học tập sáng tạo của người học; mối quan hệ
giữa dạy học và môi trường KT-XH, văn hoá, khoa học công nghệ.
Ngoài ra LLDH còn nghiên cứu và tìm ra cơ sở khoa học của hoạt động dạy học
và những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học ở nhà trường.
b) Nhiệm vụ nghiên cứu của lí luận dạy học lOMoAR cPSD| 61458992
Nhiệm vụ cơ bản của lí luận dạy học là nghiên cứu quá trình dạy học; phát triển
và giải thích một cách khoa học các mô hình lí thuyết để phân tích, thực hiện cũng như
đánh giá việc dạy và học ở tất cả mọi hình thức, đối với mọi cấp độ và chỉ ra những điều
kiện cần thiết để ứng dụng chúng trong thực tiễn dạy học. Cụ thể:
- Nhận biết bản chất, cấu trúc của việc dạy học, các quy luật, các mối quan
hệ của các yếu tố trong quá trình dạy học;
- Lập luận và xác định mục tiêu dạy học;
- Xác định những cơ sở để lựa chọn và xử lí nội dung dạy học;
- Phát triển các hình thức, phương pháp tổ chức để thực hiện quá trình dạy
học cũng như các phương pháp kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả dạy học;
- Xây dựng cơ sở cho việc lập kế hoạch dạy học;
- Phát triển các định hướng cho việc đổi mới, đảm bảo chất lượng dạy học.
c) Trong lí luận dạy học, có hai lĩnh vực chủ yếu là Lí luận dạy học đại cương và Lí
luận dạy học bộ môn. Lí luận dạy học đại cương nghiên cứu quá trình dạy học, xác định
những quy luật chung nhất của quá trình này trên tất cả các môn học, bậc học và chỉ ra
những điều kiện cần thiết để ứng dụng chúng trong thực tiễn dạy học. Chính vì thế,
những quy luật chung nhất của sự dạy học do lí luận dạy học đại cương đưa ra chưa thể
phản ánh hết mọi khía cạnh đặc thù, cụ thể của việc dạy và học các bộ môn, với các cấp
học tương ứng. Bởi vậy cần có những ngành khác nhau của lí luận dạy học, gọi là Lí
luận dạy học bộ môn, nghiên cứu những biểu hiện cụ thể, những quy luật chung của quá
trình dạy học vào môn học xác định.
Nhờ có sự tác động giữa Lí luận dạy học đại cương và Lí luận dạy học chuyên
ngành (bộ môn), những quy luật chung của dạy học dần được khái quát hơn nhờ sự tích
lũy từ những sự kiện, hiện tượng xuất hiện trong quá trình dạy học môn học, cấp học và
ngược lại, sự sáng tạo, tìm kiếm ra những cái mới trong hoạt động thực tiễn luôn có sự
định hướng của những quy luật chung nhất. Sự phối hợp này không chồng chéo lên
nhau mà chỉ là sự tổng hợp, khái quát hóa hoặc cụ thể hóa. 1
PHẦN 1. QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
1.1 Khái quát về quá trình dạy học
1.1.1 Khái niệm, cấu trúc của quá trình dạy học
a) Khái niệm quá trình dạy học
Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của
người dạy, người học tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tổ chức, tự điều khiển lOMoAR cPSD| 61458992
hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện tốt mục đích dạy học, qua đó, phát triển nhân cách.
b) Cấu trúc của quá trình dạy học
Xét trên quan điểm xã hội: Quá trình dạy học là một quá trình xã hội đặc thù.
Với tư cách là một hoạt động giáo dục: Quá trình dạy học là một thành tố đặc
biệt quan trọng của quá trình giáo dục, tồn tại với tư cách là một hệ thống toàn vẹn bao
gồm các thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo nên sự vận động, phát triển
không ngừng của quá trình dạy học.
Các thành tố cơ bản của quá trình dạy học bao gồm: mục tiêu,nhiệm vụ dạy học;
nội dung dạy học; phương pháp dạy học; phương tiện dạy học; hình thức tổ chức dạy
học; người dạy (hoạt động dạy); người học (hoạt động học); kết quả dạy học; môi trường
kinh tế- xã hội, văn hóa, khoa học -công nghệ. -
Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học phản ánh tập trung những yêu cầu của xã hội
đề ra cho quá trình dạy học. Mục tiêu dạy học là nhân tố giữ vị trí đầu tiên trong quá
trình dạy học. Mục tiêu dạy học có chức năng định hướng cho sự vận động và phát triển
của từng thành tố nói riêng, quá trình dạy học nói chung. Mục tiêu dạy học có tác dụng
định hướng, tạo ra cấu trúc cụ thể cho các nhiệm vụ dạy học trong phạm vị hoạt động
dạy học xác định và sẽ phải đạt được thông qua quá trình thực hiện các nhiệm vụ dạy học đó. -
Nội dung dạy học bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà
người học phải nắm vững trong quá trình học tập. Nội dung dạy học chịu sự chi phối
bởi mục tiêu và nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó lại qui định việc lựa chọn và vận dụng
phối hợp các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học. -
Phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học là hệ thống
những cách thức, con đường, phương tiện được sử dụng trong tổ chức quá trình dạy học
nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. -
Người dạy (hoạt động dạy) là người tổ chức, hướng dẫn hoạt động học
tập của người học, đảm bảo cho người học thực hiện đầy đủ và có chất lượng, hiệu quả
những yêu cầu của mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
Tuy nhiên mọi tác động sư phạm của người dạy chỉ là tác động bên ngoài còn
chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc vào hoạt động học tập của chính người học. -
Người học (hoạt động học) là đối tượng của các tác động sư phạm của
hoạt động dạy đồng thời là chủ thể của hoạt động học (lựa chọn các tác động sư phạm, lOMoAR cPSD| 61458992
tự tổ chức hoạt động học tập của mình). Dưới tác động sư phạm của người dạy, người
học tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo tổ chức hoạt động học tập của mình nhằm thực
hiện tốt các nhiệm vụ dạy học. -
Kết quả dạy học phản ánh sự vận động, phát triển của quá trình dạy học.
Kết quả dạy học thể hiện tập trung ở kết quả đạt được của học sinh trong và sau khi
tham gia vào quá trình học tập. -
Môi trường kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học – công nghệ: Quá trình
dạy học tồn tại và phát triển trong môi trường kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học – công
nghệ của vùng, miền, của quốc gia và trên thế giới. Môi trường đó không chỉ tác động
đến hoạt động dạy học nói chung mà còn ảnh hưởng đến tất cả các thành tố cấu trúc của
quá trình dạy học. Ngược lại, quá trình dạy học phát triển sẽ góp phần thúc đẩy sự vận
động phát triển của môi trường đã tác động đến nó.
Trong các thành tố trên, người dạy, người học (hoạt động dạy, hoạt động học) là
hai thành tố trung tâm, đặc trưng và cơ bản của quá trình dạy học. Mối quan hệ biện
chứng giữa hai thành tố này đảm bảo tính chất hai mặt của quá trình dạy học. Vì thế,
trong suốt quá trình dạy học, giữa người dạy và người học phải luôn luôn duy trì sự
tương tác với nhau. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển
của quá trình dạy học.
Cấu trúc của quá trình dạy học giúp cho giáo viên có tư duy biện chứng khi thiết
kế, tổ chức quá trình dạy học ở trường phổ thông. Giáo viên không nên quá coi trọng
một thành tố nào và phải vận hành quá trình dạy học sao cho đảm bảo mục tiêu dạy học như mong muốn.
1.1.2 Đặc điểm, bản chất của quá trình dạy học
a) Đặc điểm của quá trình dạy học hiện nay
Quá trình dạy học luôn chịu sự chi phối, ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hoá…của vùng, miền, quốc gia và trên thế giới tại mỗi thời điểm
nhất định. Từ sự phân tích những yêu cầu của xã hội đặt ra đối với quá trình dạy học,
đối tượng dạy học cũng như những điều kiện tổ chức hoạt động dạy học, có thể khái
quát các đặc điểm cơ bản của quá trình dạy học hiện nay như sau: -
Người học hiện nay có năng lực nhận thức phát triển hơn so với học sinh
cùng độ tuổi so với giai đoạn trước; -
Hoạt động học tập của học sinh được tích cực hoá ở mức độ cao trên cơ
sở nội dung và phương pháp dạy học ngày càng được hiện đại hoá; lOMoAR cPSD| 61458992 -
Trong quá trình học tập hiện nay, nhu cầu hiểu biết của học sinh có xu
hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kỹ năng do chương trình quy định; -
Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật chất,
phương tiện dạy học ngày càng hiện đại, đa dạng.
b) Bản chất của quá trình dạy học
* Căn cứ xác định bản chất của quá trình dạy học -
Mối quan hệ giữa nhân thức và dạy học trong sự phát triển xã hội:
Trong xã hội diễn ra hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy học
cho thế hệ trẻ. Trong đó, hoạt động nhận thức của loài người có trước hoạt động dạy
học và là nhu cầu tất yếu của xã hội. Tuy nhiên, hoạt động của người học trong dạy học
diễn ra trong môi trường sư phạm đặc biệt và có sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của
thầy. - Mối quan hệ giữa dạy và học, thầy và trò:
Dạy và học là hai hoạt động đặc trưng cơ bản của qua trình dạy học có mối
quan hệ thống nhất biện chứng với nhau. Xét cho cùng, mọi hoạt động giảng dạy của
thầy và hoạt động học tập của trò là nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức của người học
chiếm lĩnh nội dung học tập được quy định trong chương trình dạy học nhằm thực hiện
tốt mục tiêu nhiệm vụ dạy học.
*Bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức có
tính chất độc đáo của người học dưới sự tổ chức, định hướng, điều khiển của
người giáo viên nhằm giúp người học chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ
xảo trên cơ sở đó phát triển các phẩm chất và năng lực, đáp ứng mục tiêu dạy học. -
Quá trình nhân thức của học sinh giống với các quá trình nhận thức khác
(nhận thức thông thường và nhận thức của nhà khoa học)
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người thông qua chủ thể
– đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác, tri giác đến tư duy, tưởng
tượng. Sự học tập của học sinh cũng là quá trình như vậy.
Quá trình nhận thức của học sinh cũng diễn ra theo quy luật nhận thức chung của
loài người. Quy luật này được phản ánh trong công thức nổi tiếng của Lênin “Từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con
đường biện chứng duy nhất của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”.
Trong quá trình nhận thức, con người muốn nhận thức đầy đủ một vấn đề, một
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, cần phải huy động các thao tác tư duy
(cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, phán đoán, suy lý…) ở mức độ cao nhất. Việc lOMoAR cPSD| 61458992
huy động các thao tác tư duy cũng không theo một trình tự đơn thuần mà đó là một sự
phối hợp sáng tạo tùy thuộc vào mỗi cá nhân.
Kết quả nhận thức học sinh nói riêng và loài người nói chung đều có điểm chung
là làm cho vốn hiểu biết của chủ thể tăng lên. Sau mỗi một giai đoạn nhận thức, vốn
hiểu biết của chủ thể tăng lên nhờ sự tích lũy những tri thức, hình thành những kinh
nghiệm mới trong quá trình nhận thức của mình.
-Tính độc đáo quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình học tập (điểm khác biệt với
nhận thức thông thường và nhận thức của nhà khoa học)
Trong dạy học, quá trình nhận thức của học sinh diễn ra trong điều kiện sư phạm
đặc biệt: có chương trình, kế hoạch dạy học, nội dung dạy học, phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học, điều kiện phương tiện dạy học được tổ chức một cách khoa học; có sự
tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, kiểm tra đánh giá hoạt động học của người giáo viên
nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học. Vì vậy, hoạt động nhận thức của học
sinh trong dạy học được tối ưu hoá, chỉ trong thời gian học tập ngắn, học sinh đã nắm
vững được hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hiệu quả.
Mục đích quá trình nhận thức của học sinh là nhận thức được cái mới đối với
bản thân mình, rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của nhân loại. Những tri thức này rút
ra từ tri thức khoa học của các ngành khoa học tương ứng và được gia công về mặt sư
phạm thể hiện trong nội dung dạy học. Trong khi đó, mục đích quá trình nhận thức của
nhà khoa học là mang lại cái mới không chỉ cho nhà khoa học mà cho cả nhân loại về
tri thức đó, một chân lý mới làm sâu sắc và phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân
loại. Kết quả quá trình nhận thức của học sinh là nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ
xảo, hòa được những tri thức đó vào hệ thống vốn kinh nghiệm của bản thân mình, lưu
trữ được bền vững, khi cần có thể tái hiện và vận dụng được trong cuộc sống. Vì vậy
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo được hình thành ở học sinh phải được kiểm tra, đánh
giá một cách có kế hoạch và có hệ thống nhằm đảm bảo tính vững chắc của tri thức thực
hiện những yêu cầu về mặt dạy học và giáo dục. Trong quá trình nhận thức của học sinh,
phải có khâu kiểm tra và đánh giá, đảm bảo cho quá trình này hợp thành một chu trình kín.
Quá trình nhận thức của học sinh trong dạy học luôn mang ý nghĩa giáo dục,
bởi thông qua dạy học các môn học, người học lĩnh hội tri thức khoa học các môn học
trên cơ sở đó hình thành được cơ sở thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn,
phát triển trí tuệ và những phẩm chất đạo đức của người công dân, người lao động mà xã hội yêu cầu. lOMoAR cPSD| 61458992
Như vậy: Từ những phân tích trên cho thấy, quá trình dạy học là nơi diễn ra hoạt
động tương tác giữa thầy và trò, hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó giáo viên là
người tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần lưu ý để dạy học mang lại hiệu quả:
- Dạy học phát huy được tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo hoạt động học
tập của học sinh tham gia vào quá trình dạy học.
- Tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của học sinh một cách khoa học dựa trên
cơ sở quy luật nhận thức, các lý thuyết hoạt động học tập nhằm thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
- Đảm bảo ý nghĩa giáo dục của dạy học, được thể hiện trong mọi hoạt động, mọi
khâu, mọi thành tố của quá trình dạy học. Ví dụ: nội dung dạy học, phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học, mối quan hệ giao tiếp ứng xử của giáo viên với học sinh…
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Phan Thị Hồng Vinh, Trần Thị Tuyết Oanh, Từ Đức Văn, Vũ Lệ Hoa,
Nguyễn Thị Tình, Trịnh Thuý Giang, Nguyễn Thị Thanh Hồng (2017). Giáo trình Giáo dục học. NXB ĐHSP. 2.
Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014). Lý luận dạy học hiện đại. NXB ĐHSP. lOMoAR cPSD| 61458992
TÀI LIỆU ĐỌC TUẦN 2
1.1.4. Quy luật, động lực của quá trình dạy học a)
Quy luật cơ bản của quá trình dạy học
Quy luật dạy học phản ánh mối quan hệ chủ yếu, tất yếu và bền vững giữa các
thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học (và giữa các yếu tố trong từng thành tố).
Các quy luật dạy học bao gồm: -
Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa môi trường
kinh tế - xã hội văn hoá, khoa học công nghệ với các thành tố của quá trình dạy học; -
Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy
của giáo viên với hoạt động học của học sinh; -
Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và giáo dục; -
Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ; -
Quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa mục đích, nội
dung, phương pháp, phương tiện của quá trình dạy học.
Trong các quy luật trên, quy luật về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa hoạt
động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh được coi là quy luật cơ bản của quá trình dạy học. b)
Động lực của quá trình dạy học Quá trình dạy học tồn tại với tư cách là
một hệ thống - cấu trúc luôn vận động và phát triển không ngừng nhờ động lực của
nó. Động lực của quá trình dạy học là kết quả của việc giải quyết các mâu thuẫn của
quá trình dạy học. Mâu thuẫn của quá trình dạy học bao gồm mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố của quá
trình dạy học với nhau và mâu thuẫn giữa các yếu tố trong từng thành tố.
Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố của quá
trình dạy học với môi trường kinh tế- xã hội, văn hoá, khoa học, công nghệ.
Trong số các mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học, có một mâu thuẫn tồn tại
suốt từ đầu đến cuối quá trình này và kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn đó sẽ có
những tác động đến việc giải quyết các mâu thuẫn khác của quá trình dạy học, quá trình
này cũng nhờ đó mà vận động và phát triển không ngừng, đó chính là mâu thuẫn cơ bản
của quá trình dạy học. lOMoAR cPSD| 61458992
Mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ
học tập do giáo viên đề ra với trình độ nhận thức (trình độ phát triển trí tuệ, trình độ tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo) hiện có của người học. Kết quả của việc giải quyết mâu thuẫn này
sẽ tạo nên động lực chủ yếu của quá trình dạy học. Quá trình dạy học vận động và phát
triển chủ yếu là nhờ động lực này.
Quá trình giải quyết mâu thuẫn cơ bản là quá trình học sinh thực hiện các yêu
cầu, nhiệm vụ học tập dưới sự hỗ trợ của giáo viên. Dưới góc độ Triết học thì đây là quá
trình học sinh tích lũy, tìm kiếm, huy động tri thức, kỹ năng của bản thân (tích lũy về
lượng) đến mức độ cần thiết, đủ để thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ học tập, nhờ đó
người học được nâng cao trình độ và đáp ứng được nhiệm vụ dạy học đề ra (biến đổi về chất).
Quá trình dạy học là quá trình giáo viên liện tục đề ra các nhiệm vụ học tập và
khi một nhiệm vụ được giải quyết lại có nhiệm vụ khác xuất hiện và lại được giải quyết,
cứ như vậy mà quá trình dạy học không ngừng vận động và phát triển. Sự thúc đẩy giải
quyết các mâu thuẫn cơ bản đó tạo ra động lực cơ bản của quá trình dạy học.
Tuy nhiên, muốn quá trình dạy học phát triển thì quá trình học của học sinh phải
tiến triển. Vì vậy, mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học phải chuyển hoá thành mâu
thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh.
Mâu thuẫn cơ bản muốn giải quyết được, cần có những điều kiện sau:
- Thứ nhất, người học phải hiểu đúng, đầy đủ, sâu sắc nhiệm vụ học tập và các
điều kiện thực hiện nhiệm vụ đó.
- Thứ hai, yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải vừa sức với người học. Điều này có
nghĩa là yêu cầu, nhiệm vụ học tập được đề ra ở mức độ tương ứng với giới hạn trên của
vùng phát triển trí tuệ gần nhất: ZPD - Zone of Proximal Develoment (theo lí thuyết của
Vugozky) mà họ có thể giải quyết được với sự nỗ lực cao nhất;
- Thứ ba, yêu cầu, nhiệm vụ học tập phải dựa trên lô-gic của quá trình dạy học.
1.1.5. Logic của quá trình dạy học
Logic của quá trình dạy học là trình tự vận động hợp quy luật của quá trình đó
nhằm đảm bảo cho người học đi từ trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và sự phát triển năng
lực hoạt động trí tuệ ứng với lúc bắt đầu nghiên cứu môn học (hay một chủ đề, bài học)
nào đó, đến trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và sự phát triển năng lực hoạt động trí tuệ
ứng với lúc kết thúc môn học (hay chủ đề, bài học) đó.
Lí luận dạy học đã xác định các khâu trong logic của quá trình dạy học để từ đó
xây dựng tiến trình của một bài dạy trên lớp (các bước lên lớp), bao gồm:
a) Kích thích thái độ học tập tích cực của học sinh lOMoAR cPSD| 61458992
Thái độ tích cực trong học tập là sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm
lý (Sự chú ý; nhu cầu, hứng thú học tập; các phẩm chất đạo đức; các phẩm chất trí
tuệ; các phẩm chất thể chất...) để giúp cho việc học tập đạt hiệu quả. Thái độ học
tập tích cực thể hiện đặc trưng ở sự chú ý và nhất là ở hứng thú của học sinh đối
với việc học. Cho nên, kích thích học sinh tích cực học tập tức là kích thích sự chú
ý của học sinh, làm cho các em có hứng thú với việc học tập, các em nhận thấy
việc học tập là nhu cầu tự thân, từ đó có niềm vui trong học tập...Thái độ học tập
tích cực của học sinh được coi là điều kiện, động lực thúc đẩy quá trình học tập.
Từ nghiên cứu cấu trúc của quá trình dạy học, các nhà tâm lý, giáo dục học cho
rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập tích cực của học sinh bao gồm: Môi
trường học tập; yêu cầu, nhiệm vụ học tập; nội dung học tập; giáo viên đặc biệt là
phương pháp dạy học của giáo viên và từ chính bản thân học sinh. Kích thích thái
độ học tập tích cực của HS là quá trình điều khiển, điều chỉnh tất cả các yếu tố tác
động trên nhằm tạo nên thái độ tích cực của HS trong học tập. b) Tổ chức, hỗ trợ
học sinh kiến tạo tri thức mới
Việc tổ chức, hỗ trợ học sinh chiếm lĩnh tri thức mới được bắt đầu từ chỗ:
+ Kích thích học sinh huy động các tri thức, kinh nghiệm có liên quan đã biết làm
cơ sở cho việc nắm tri thức mới;
+ Tổ chức, hỗ trợ học sinh thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu (hay nắm các
tài liệu cảm tính) với các biện pháp khai thác thông tin từ các nguồn như: Từ nội dung
bài giảng phong phú, hấp dẫn, lời nói sinh động, giàu hình tượng, dễ hiểu của giáo viên;
từ việc sử dụng đúng các phương tiện trực quan, hướng dẫn học sinh quan sát đúng; từ
các nguồn tài liệu in ấn hay từ việc khai thác trải nghiệm của học sinh...
+ Trên cơ sở những tài liệu cảm tính mà học sinh có được, tố chức, hỗ trợ học sinh
vận dụng các thao tác tư duy để hình thành kiến thức . Quá trình đó được tiến hành với
các biện pháp giúp học sinh biết huy động những kinh nghiệm đã có, những tài liệu cảm
tính làm nguyên liệu cho nhận thức lý tính; giúp các em thực hiện các thao tác tư duy
như phân tích, tổng hợp, so sánh...qua các câu hỏi, các bài tập có vấn đề...
c) Tổ chức, hỗ trợ học sinh củng cố tri thức, rèn luyện hình thành kĩ năng, kĩ xảo
Chỉ trong một thời gian ngắn của tiết học trên lớp, học sinh không thể nắm chắc
tài liệu học tập để biến tri thức thành kinh nghiệm của bản thân. Cho nên, phải hướng dẫn các em:
+ Biết cách ghi nhớ, nhất là ghi nhớ có chủ định, có ý nghĩa;
+ Biết cách ôn tập, ôn tập thường xuyên, liên tục và bằng nhiều cách; lOMoAR cPSD| 61458992
+ Biết cách hệ thống hóa tri thức học được, từ đó đưa tri thức mới tiếp thu được
vào hệ thống những kinh nghiệm vốn có của mình.
Trên cơ sở đó, giáo viên tổ chức, hỗ trợ học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và sử
dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hiệu quả. Người giáo viên có thể tiến hành
rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho người học bằng cách:
+ Giải quyết các bài tập, các nhiệm vụ học tập với các loại khác nhau;
+ Làm thí nghiệm, thực nghiệm;
+ Giải quyết các vấn đề, các tình huống xảy ra trong cuộc sống lOMoAR cPSD| 61458992
Khi tổ chức rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và sử dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần lưu ý: -
Luyện tập có mục đích, có kế hoạch; -
Luyện tập một cách có hệ thống; -
Luyện tập tuân theo quy trình nhất định, phù hợp với quy luật nhận thức của học sinh; -
Luyện tập có cơ sở khoa học...
d) Tổ chức, điều khiển việc kiểm tra, đánh giá mức độ chiếm lĩnh tri thức, hình
thành kĩ năng, kĩ xảo của học sinh đồng thời tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, đánh giá
mức độ chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo của bản thân
Khâu này nhằm đảm bảo các mối liên hệ xuôi, ngược diễn ra trong quá trình dạy
học qua đó giúp cho giáo viên có cơ sở để điều khiển, điều chỉnh quá trình dạy học; học
sinh tự điều khiển, điều chỉnh quá trình học tập của mình.
Khi tổ chức thực hiện khâu này cần lưu ý:
- Thực hiện một cách có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống;
- Thực hiện kết hợp các phương pháp và hình thức khác nhau;
- Đảm bảo đúng các nguyên tắc cũng như các chức năng của việc kiểm tra đánh giá;
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực tự kiểm tra, đánh giá.
1.1.5. Nguyên tắc dạy học Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy
luật của lí luận dạy học, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học nhằm thực hiện tốt mục
đích, nhiệm vụ dạy học. Hệ thống các nguyên tắc dạy học ở trường phổ thông bao gồm:
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục;
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn;
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự (tính kế thừa, đảm bảo
mối liên hệ lô-gic);
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính cụ thể và tính trừu tượng;
- Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực
nhận thức của học sinh;
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêng;
- Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học
trong quá trình dạy học;
- Nguyên tắc đảm bảo xúc cảm, tình cảm tích cực của dạy học; lOMoAR cPSD| 61458992
- Nguyên tắc đảm bảo chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học. 4
Như vậy, trong quá trình dạy học, giáo viên với tư cách là chủ thể của hoạt động
dạy luôn giữ vai trò chủ đạo, học sinh với tư cách là chủ thể của hoạt động học luôn có
giữ vai trò chủ động. Sự tương tác giữa hai chủ thể này trong quá trình dạy học đảm
bảo cho sự tồn tại của quá trình dạy học. Mặt khác, để tổ chức hoạt động dạy học trong
nhà trường phổ thông cần có đầy đủ các thành tố khác cùng tham gia trong sự tương
thích với nhau, bao gồm: mục tiêu, nhiệm vụ dạy học; nội dung, phương pháp, phương
tiện, hình thức tổ chức dạy học, môi trường dạy học.
Bản chất và đặc điểm của quá trình dạy học ngày nay cùng với các nguyên tắc dạy
học giúp cho giáo viên tổ chức có hiệu quả hoạt động học tập cho học sinh. Động lực
và logic của quá trình dạy học là cơ sở khoa học cho sự vận động và phát triển của quá trình dạy học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.
Phan Thị Hồng Vinh, Trần Thị Tuyết Oanh, Từ Đức Văn, Vũ Lệ Hoa,
Nguyễn Thị Tình, Trịnh Thuý Giang, Nguyễn Thị Thanh Hồng (2017). Giáo trình Giáo dục học. NXB ĐHSP. 2.
Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2014). Lý luận dạy học hiện đại. NXB ĐHSP. lOMoAR cPSD| 61458992 5 lOMoAR cPSD| 61458992
TÀI LIỆU ĐỌC TUẦN 3
1.2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ DẠY HỌC
Mục tiêu dạy học là kết quả học tập của học sinh cần đạt được sau khi kết thúc một quá
trình học tập (một bài học hoặc một môn học). Trong quá trình dạy học, để đạt được mục
tiêu đó, người giáo viên phải thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học.
1.2.1. Các nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông
1.2.1.1. Tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học, phổ
thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn Việt Nam về tự nhiên, xã hội, tư duy và
rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Để tồn tại và phát triển, con người không ngừng nhận thức và cải tạo thế giới khách
quan phục vụ cho lợi ích của con người. Trong quá trình đó, loài người tích luỹ và khái
quát hoá những kinh nghiệm xã hội dưới dạng các sự kiện khoa học, khái niệm, định luật,
định lí, tư tưởng khoa học, học thuyết mà được gọi là những tri thức khoa học. Những tri
thức này vô cùng lớn, mỗi một con người trong suốt cuộc đời của mình không sao có thể
nắm hết được. Vì vậy, nhiệm vụ của trường phổ thông là giúp học sinh nắm vững những
tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn đất nước. Nắm vững tri thức có
nghĩa là hiểu, nhớ và vận dụng những tri thức đó vào trong hoàn cảnh thực tiễn đã biết hoặc trong hoàn cảnh mới.
Tri thức phổ thông cơ bản là những tri thức đã được lựa chọn và xây dựng từ các
lĩnh vực khoa học khác nhau. Đó là những tri thức tối thiểu nhất, cần thiết nhất, làm nền
tảng giúp học sinh có thể tiếp tục học lên ở các bậc học cao hơn, ở các trường dạy nghề
hoặc bước vào cuộc sống tự lập, trực tiếp tham gia lao động sản xuất và tham gia các công
tác xã hội, có cuộc sống tinh thần phong phú. Những tri thức cơ bản này được biến đổi theo
những biến đổi của yêu cầu xã hội.
Những tri thức cơ bản cần cung cấp cho học sinh phải là những tri thức hiện đại,
đó là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của văn hoá, khoa học công nghệ
phù hợp với chân lí khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.
Những tri thức đó phải phù hợp với thực tiễn của đất nước cũng như phù hợp với
đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh, đảm bảo được tính hệ thống,
tính lôgíc khoa học và mối liên hệ chặt chẽ giữa các môn học. lOMoAR cPSD| 61458992
Trong quá trình lĩnh hội những tri thức đó hình thành cho học sinh hệ thống kĩ năng,
kĩ xảo nhất định tương ứng với nội dung môn học, đặc biệt những kĩ năng, kĩ xảo có liên
quan đến hoạt động nhận thức – học tập và tập dượt nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp
nhằm giúp cho các em không những nắm vững tri thức mà còn biết vận dụng linh hoạt,
sáng tạo chúng trong các tình huống khác nhau. Kĩ năng của học sinh phải được diễn ra
theo các mức độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhận biết tái hiện đến kĩ năng sáng tạo.
Theo các nhà tương lai học, để đáp ứng được những yêu cầu của xã hội hiện đại,
thế hệ trẻ cần được chuẩn bị thật tốt về mặt học vấn phổ thông mà cốt lõi là hệ thống thái
độ, tri thức và kĩ năng, đặc biệt là các kĩ năng cơ bản sau:
– Kĩ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội;
– Kĩ năng làm việc có hiệu quả trong một nhóm cộng đồng;
– Kĩ năng nhận thức về xã hội và nhân văn;
– Kĩ năng vận dụng ngoại ngữ và vi tính;
– Kĩ năng cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật;
– Kĩ năng phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử;
– Kĩ năng tổ chức và điều hành một guồng máy;
– Kĩ năng phòng vệ sự sống và gia tăng sức khoẻ;
– Kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ…
Hệ thống những kĩ năng trên cần được hình thành và rèn luyện thường xuyên trong
các loại hình trường, trong đó hoạt động dạy học ở phổ thông là một khâu cực kì quan trọng.
1.2.1.2. Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực hoạt động
trí tuệ, phẩm chất trí tuệ đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo
Theo nghiên cứu của các nhà tâm lý học, sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự
tích lũy vốn tri thức và sự thành thạo các thao tác tư duy của con người. Trong quá trình
chiếm lĩnh tri thức diễn ra sự thống nhất giữa một bên là nội dung tri thức với tư cách là
“cái được phản ánh” và một bên là các thao tác trí tuệ với tư cách là “phương thức phản
ánh”. Những tri thức được nắm vững nhờ các thao tác trí tuệ và ngược lại, quá trình nắm lOMoAR cPSD| 61458992
vững tri thức làm cho các thao tác trí tuệ được hình thành và phát triển. Như vậy năng lực
hoạt động trí tuệ của học sinh được đặc trưng bởi sự tích luỹ vốn tri thức và sự thành thạo
của các thao tác trí tuệ.
Để thực hiện nhiệm vụ này, trong quá trình tổ chức hình thành tri thức, kỹ năng kỹ
xảo, giáo viên cần đặc biệt chú ý đến việc bồi dưỡng cho học sinh khả năng thực hiện các
thao tác tư duy thành thạo, vững chắc như phân tích, tổng hợp, so sánh, cụ thể hóa, trừu
tượng hóa, khái quát hóa trên cơ sở đó hình thành phát triển năng lực hoạt động trí tuệ. Các
năng lực hoạt động trí tuệ được thể hiện trong các phẩm chất trí tuệ ở học sinh. Các
phẩm chất của hoạt động trí tuệ cần chú ý bồi dưỡng cho học sinh trong quá trình dạy học:
* Tính định hướng của trí tuệ
Tính định hướng của trí tuệ được thể hiện ở chỗ học sinh nhanh chóng và chính xác
xác định đối tượng của hoạt động trí tuệ, mục đích phải tới và con đường tối ưu để đạt được
mục đích đó. Phẩm chất này chi phối hướng đi và cách thức đi của hoạt động trí tuệ, đồng
thời nó còn giúp cho học sinh có ý thức và năng lực ngăn ngừa sự đi chệch hướng cũng
như kịp thời phát hiện lệch lạc và điều chỉnh có hiệu quả những lệch lạc này.
* Bề rộng của trí tuệ
Bề rộng của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ, học sinh có thể tiến hành hoạt
động này trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau. Nó
giúp cho học sinh có điều kiện thuận lợi để tạo nên sự hỗ trợ giữa hoạt động trí tuệ trong
lĩnh vực này và hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực khác.
* Chiều sâu của trí tuệ
Chiều sâu của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ: Học sinh tiến hành hoạt động trí tuệ
theo hướng đi sâu vào và nắm được ngày càng sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng
khách quan. Phẩm chất này giúp học sinh phân biệt được cái bản chất và cái không bản
chất, cái bản chất với cái hiện tượng; đề phòng hoạt động trí tuệ nông cạn, hình thức chủ
nghĩa; có điều kiện thuận lợi trong việc nắm nhanh chóng và chính xác các qui luật
vốn có của hiện thực khách quan và vận dụng chúng nhằm cải tạo hiện thực.
* Tính linh hoạt của trí tuệ
Tính linh hoạt của hoạt động trí tuệ thể hiện ở chỗ: Học sinh có khả năng thay đổi
phương hướng giải quyết vấn đề phù hợp với sự thay đổi của các điều kiện, biết tìm ra
phương pháp mới để giải quyết vấn đề, dễ dàng chuyển từ dạng hoạt động trí tuệ này sang lOMoAR cPSD| 61458992
hoạt động trí tuệ khác, khắc phục lối rập khuôn theo mẫu định sẵn, máy móc, suy nghĩ theo
đường mòn; có khả năng xác lập sự phụ thuộc giữa các kiến thức theo trật tự ngược
với cách đã biết (tính thuận nghịch của quá trình tư duy); khả năng nhìn một vấn đề,
một hiện tượng theo những quan diểm khác nhau. Phẩm chất này giúp học sinh thích ứng
với các tình huống nhận thức khác nhau một cách nhanh chóng, đảm bảo nắm tri thức mới
nhanh hơn và tiết kiệm hơn.
* Tính độc lập của trí tuệ
Tính độc lập của hoạt động trí tuệ biểu hiện ở khả năng tự mình phát hiện được vấn
đề phải giải quyết, tự mình đề xuất được cách giải quyết và tự mình giải quyết được; không
đi tìm những lời giải đáp sẵn, không dựa dẫm vào ý nghĩ và lập luận của người khác. Phẩm
chất này giúp HS chủ động trong hoạt động nhận thức; phát huy được nhiều sáng kiến,
nâng cao được hiệu quả học tập. Tính độc lập có liên quan mật thiết với tính tự giác và tính
tích cực; trong đó, tính tự giác là cơ sở của tính tích cực, và tính tích cực phát triển cao độ
sẽ làm hình thành tính độc lập. Vì vậy, khi tiến hành hoạt động trí tuệ cần phải kết hợp cả
ba phẩm chất đó với nhau.
* Tính nhất quán của trí tuệ
Hoạt động trí tuệ có tính nhất quán có nghĩa là đảm bảo được tính logíc, đảm bảo
được sự thống nhất của tư tưởng chủ đạo từ đầu đến cuối, không có những mâu thuẫn.
* Tính phê phán của trí tuệ
Tính phê phán của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ: Học sinh biết phân tích,
đánh giá các quan điểm, lý thuyết, phương pháp của người khác đồng thời đưa ra được ý
kiến của mình, bảo vệ được ý kiến ấy. Nhờ đó, học sinh học tập được kinh nghiệm của loài
người nói chung, của người khác nói riêng một cách sáng tạo, dễ dàng đưa kinh nghiệm đó
vào trong hệ thống kinh nghiệm của bản thân; đồng thời, tránh được tình trạng giáo điều,
mù quáng trong nhận thức.
* Tính khái quát của trí tuệ
Tính khái quát của hoạt động trí tuệ được thể hiện ở chỗ: Khi giải quyết mỗi nhiệm
vụ nhận thức nhất định, học sinh sẽ hình thành mô hình giải quyết khái quát tương ứng. Từ
mô hình giải quyết khái quát này, học sinh có thể vận dụng để giải quyết những nhiệm vụ
cụ thể cùng loại. Nhờ đó, học sinh dễ dàng thích ứng với việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức tương tự.