HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM
KHOA: KHOA HỌC CƠ BẢN
ĐỀ CƯƠNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA
HỌC
TÊN ĐỀ TÀI: HÀNH VI TỰ KỶ CỦA TRẺ TỪ 5-10
TUỔI Ở TRUNG TÂM PHƯƠNG THANH
Sinh viên thực hiện: Trần Mỹ Linh, Chu Vũ Hoàng Dung, Vũ Nguyễn
Khánh Ly, Lương Ngọc Lan Hương, Nguyễn Thị Hồng, Trương Thủy Hà
Chuyên ngành: Tâm Lý Học
Hà Nội, tháng 05 năm 2025
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trẻ tự kỷ trong độ tuổi t5 đến 10 thường thể hiện những khó khăn trong giao
tiếp và tương tác xã hội. Các em gặp trở ngại trong việc thiết lập duy trì mối
quan hệ với người khác, không hiểu được các tín hiệu phi ngôn ngữ như ánh mt,
cử chỉ hay biểu cảm khuôn mặt, khó chia sẻ cảm xúc hoặc sở thích. Trong
môi trường học đường, điều này thể hiện qua việc ít tham gia vào các trò chơi
nhóm, không tuân thủ quy tắc xã hội, hay có xu hướng chơi một mình hoặc lặp
lại những hành vi nhất định. Ngôn ngữ của trẻ tự kỷ trong độ tuổi này thường
cứng nhắc, mang tính rập khuôn, một số trẻ biểu hiện lặp lại lời người khác
(echolalia) hoặc giao tiếp không nhằm mục đích hội. Ngoài ra, các hành vi
lặp lại như vẫy tay, xoay người, sắp xếp đồ vật theo trật tự cố định, hay ch quan
tâm đến chi tiết nhỏ những đặc điểm phổ biến. Trẻ cũng thể duy trì các nghi
thức cưỡng chế và khó thích ứng với thay đổi. Về mặt cảm giác, nhiều trẻ phản
ứng khác thường với kích thích giác quan như âm thanh lớn, ánh sáng mạnh,
hoặc có xu hướng tìm kiếm cảm giác mạnh bằng cách nhìn ánh sáng nhấp nháy
hay liên tục chạm vào các bề mặt khác nhau. Một số trẻ còn thể hiện sự phát triển
không đồng đều: thể vượt trội một số kỹ năng như ghi nhớ hay tính toán,
nhưng lại hạn chế nghiêm trọng khả năng tương tác hội hay quản lý cảm
xúc.
Tại Nội nơi tập trung nhiều trung tâm giáo dục y tế lớn – nhận thức cộng
đồng về tkỷ đang dần được nâng cao. Tuy nhiên, việc chẩn đoán sớm can
thiệp kịp thời vẫn còn gặp nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, Trung tâm
Phương Thanh đã những bước tiến nhất định trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ, t
sàng lọc, đánh giá đến can thiệp chuyên sâu. Tuy nhiên, các gia đình vẫn phải
đối mặt với nhiều khó khăn như gánh nặng tài chính, áp lực tâm sự thiếu
hụt dịch vụ cá thể hóa. Đặc biệt, số lượng nghiên cứu chuyên biệt về hành vi trẻ
tự kỷ tại Hà Nội hiện còn hạn chế, gây khó khăn cho việc xây dựng các chương
trình can thiệp phù hợp với bối cảnh xã hội giáo dục – đô thị của thành phố.
Hiện nay, một số nghiên cứu trong nước đã tiếp cận các khía cạnh như rối loạn
xử giác quan, phát triển tâm vận động tổng quan thực trạng trẻ tkỷ
Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung vào giai đoạn mầm non
và chưa đi sâu vào hệ thống hóa các dạng hành vi đặc trưng như hành vi lặp lại,
hành vi chống đối, tự kích thích, hay hành vi cảm xúc – xã hội ở trẻ từ 5 đến 10
tuổi một giai đoạn bản lề trong quá trình phát triển. Đây thời điểm trẻ bắt
đầu tiếp xúc chính thức với môi trường học đường, nơi đòi hỏi khả năng tương
tác xã hộituân thủ quy tắc.
Đề tài nghiên cứu hành vi của trẻ tự kỷ trong độ tuổi từ 5 đến 10 tại Trung tâm
Phương Thanh được xây dựng dựa trên sở kế thừa các lý thuyết công cụ
đánh giá khoa học như CARS, Denver và hệ thống DSM-5. Tuy nhiên, đề tài có
sự mở rộng nhằm khai thác ba khía cạnh còn thiếu hụt: nội dung hành vi cụ thể,
đặc điểm độ tuổi tiểu học bối cảnh đặc ttại đô thị Nội. Việc chọn Trung
tâm Phương Thanh một cơ sở kinh nghiệm thực tiễn trong đánh giá và can
thiệp cho trẻ tự kỷ – cho phép nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu lâm sàng đáng
tin cậy và quan sát hành vi trong điều kiện gần gũi với thực tế.
Các yếu tố tác động đến hành vi trẻ tự kỷ tại Hà Nội rất đa dạng, bao gồm: Yếu
tố gia đình (môi trường nuôi dưỡng, tình nh kinh tế, nhận thức cha mẹ); Yếu
tố giáo dục – y tế (chất lượng dịch vụ, năng lực đội ngũ chuyên môn); Yếu tố xã
hội (sự kỳ thị, thiếu chính sách hỗ trợ phù hợp); Đặc điểm cá nhân của trẻ (mức
độ rối loạn, khả năng thích nghi, các rối loạn kèm theo). Các yếu tố này không
tồn tại riêng rẽ tương tác với nhau, tác động đến hành vi khả năng a
nhập xã hội của trẻ.
Về mặt xã hội, nghiên cứu tại Trung tâm Phương Thanh góp phần cải thiện chất
lượng giáo dục hòa nhập, hỗ trợ các gia đình, và giảm gánh nặng cho hệ thống y
tế. Nếu hành vi không phù hợp của trtrong giai đoạn tiểu học không được nhận
diện can thiệp đúng ch, sẽ làm giảm khả năng phát triển toàn diện của tr
trong tương lai.
Về mặt khoa học, nghiên cứu sẽ bổ sung dữ liệu thực tiễn giá trị, phản ánh
chân thực đặc điểm hành vi của trẻ tự kỷ trong bối cảnh đô thị Hà Nội. Điều này
giúp hoàn thiện khung luận về hành vi trẻ tkỷ phát triển mô hình đánh
giá can thiệp phù hợp với điều kiện văn hóa hội tại Việt Nam. Kết quả
còn cơ sở để xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán
bộ, cải thiện dịch vụ và nâng cao nhận thức cộng đồng.
Đặc biệt, nghiên cứu còn thể làm mối liên hệ giữa hành vi và môi trường
sống học tập của trẻ trong khu vực đô thị như Hà Nội. Tại đây, trẻ không chỉ
phải đối mặt với áp lực học tập và không gian hạn chế, mà còn có nguy cơ bị kỳ
thị nếu hành vi khác biệt. Những yếu tố này có thể làm gia tăng hành vi tự kích
thích, chống đối hoặc thu mình ở trẻ.
Trong bối cảnh tỷ lệ trẻ tự kỷ ngày càng tăng tại các thành phố lớn, việc nghiên
cứu hành vi của trẻ trong giai đoạn tiểu học là vô cùng cấp thiết. Giai đoạn này
đòi hỏi khả năng tương tác tuân thủ cao, thách thức lớn đối với trẻ tkỷ.
Nếu không được hỗ trợ kịp thời, hành vi không phù hợp thể ảnh hưởng tiêu
cực đến học tập, các mối quan hệ và sự hòa nhập xã hội sau này.
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tự kỷ một rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng giao
tiếp, tương tác xã hội và hành vi của trẻ em. Trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ
mắc rối loạn phổ tự kỷ (ASD) có xu hướng gia tăng đáng kể không chỉ trên thế
giới mà cả tại Việt Nam, đặt ra nhiều thách thức đối với gia đình, nhà trường và
hội. Đặc biệt, nhóm trẻ trong độ tuổi từ 5 đến 10 tuổi giai đoạn quan trọng
cho việc phát triển nhận thức, ngôn ngữ kỹ năng hội lại thường xuyên
biểu hiện những hành vi đặc trưng như rập khuôn, bốc đồng, tự kích thích hay
chống đối, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập khả năng hòa nhập
cộng đồng.
Trung tâm Phương Thanh (Hà Nội) là một trong những cơ sở chuyên biệt hỗ trợ
can thiệp giáo dục cho trẻ tự kỷ, với nhiều năm kinh nghim trong việc theo
dõi và điều trị cho trẻ trong độ tuổi từ 5 đến 10. Tuy nhiên, để quá trình can thiệp
đạt hiệu quả cao, việc nghiên cứu phân tích sâu về đặc điểm hành vi của trẻ
trong nhóm tuổi này điều hết sức cần thiết. Hiểu được các biểu hiện hành
vi phổ biến, nguyên nhân, tần suất và bối cảnh xuất hiện sẽ giúp các chuyên gia
xây dựng kế hoạch giáo dục nhân (IEP) phù hợp, đồng thời hỗ trợ gia đình
trong vic phối hợp can thiệp tại nhà.
Vì vậy, đề tài “Hành vi của trẻ tự kỷ từ 5–10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh
(Hà Nội)” được thực hiện nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện, khoa học thực
tiễn về hành vi của trẻ tkỷ trong giai đoạn phát triển đặc thù, góp phần nâng
cao chất lượng can thiệp và hỗ trợ trẻ hòa nhập tốt hơn với môi trường xã hội.
Tiếp cận hành vi của trẻ tự kỷ từ góc độ phát triển cá nhân và cảm giác cho thấy
rằng c yếu tnhư rối loạn xử giác quan, chậm phát triển tâm-vận động
đặc điểm cảm giác không điển hình có ảnh hưởng sâu sắc đến biểu hiện hành vi
hằng ngày của trẻ. Các nghiên cứu hiện có cung cấp nhiều minh chứng cho mối
liên hệ này.
Cụ thể, nghiên cứu của Phạm Thu Thủy và cộng sự (2024) với tiêu đề “Rối loạn
xử lý giác quan trtkỷ dưới 15 tuổi”, thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung
ương trên 75 trẻ, cho thấy có tới 84% trẻ gặp rối loạn xửgiác quan – trong đó
rối loạn cảm giác vận động phổ biến nhất. Đặc biệt, những trẻ mức độ tự
kỷ nặng thường gặp nhiều khó khăn hơn trong việc điều hòa cảm giác. Kết quả
này khẳng định vai trò trung tâm của cảm giác trong hành vi của trẻ tự kỷ. (1)
Tương tự, nghiên cứu “Phát triển tâm-vận động trẻ từ 24–72 tháng tuổi” của
Thị Kim Dung cộng s(2021) tại Thái Nguyên chỉ ra rằng phần lớn trẻ
trong mẫu khảo sát (n = 161) đều chậm phát triển ngôn ngữ kỹ năng tương
tác hội, với chỉ sphát triển trí tu(DQ) trung bình mức thấp. Điều này
phản ánh sự chậm phát triển toàn diện về mặt nhận thức vận động những
yếu tố đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành và điều chỉnh hành vi. (2)
Bổ sung thêm góc nhìn về cảm giác, nghiên cứu “Đặc điểm rối loạn cảm giác ở
trẻ tự kỷ” của Nguyễn Thế Tài Nguyễn Doãn Phương (2022) tchi tiết
các biểu hiện như quá mẫn, giảm mẫn và hành vi tìm kiếm cảm giác – tất cả đều
góp phần làm gia tăng hành vi bất thường và cản trở khả năng thích nghi xã hội
của trẻ. (3)
Như vậy, việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây từ c góc độ cảm giác, vận
động phát triển tâm lý cho thấy sự nhất quán trong nhận định rằng trẻ tự
kỷ thường gặp khó khăn trong xử lý giác quan, phát triển ngôn ngữ và vận động
những nền tảng thiết yếu của hành vi. Từ đó góp phần phác họa nên một bức
tranh tương đối toàn diện về các yếu tảnh hưởng đến hành vi của trtự kỷ. Tuy
nhiên, các công trình hiện tại vẫn còn bỏ ngỏ khoảng trống quan trọng: thiếu sự
phân tích hành vi theo nhóm tuổi cụ thể, đặc biệt là nhóm 5–10 tuổi – giai đoạn
then chốt cho việc can thiệp và hình thành hành vi xã hội ở trẻ.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn triển khai đề tài “Hành vi của trẻ
tự kỷ từ 5–10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh (Hà Nội)”, với ba điểm mới nổi
bật: (1) tính cập nhật về thời gian (2024), (2) địa bàn nghiên cứu tại Nội
một trung tâm đô thị lớn với nhiều đặc tgiáo dục hội, (3) tập trung
vào nhóm tuổi 5–10 giai đoạn trẻ nhiều biến chuyển về nhận thức và hành
vi. Nghiên cứu kỳ vọng sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống trong các tài liệu hiện
hành về hành vi trẻ tự kỷ theo độ tuổi học đường, tđó đề xuất các hướng can
thiệp phù hợp và hiệu quả hơn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi tích cực ở trẻ tự kỷ từ 5
đến 10 tuổi; khảo sát thực trạng hành vi tích cực trong thực tiễn; xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này; trên sở đó, đề xuất các biện pháp
phạm nhằm tăng cường hành vi tích cực cho trẻ tự kỷ trong môi trường giáo dục
và gia đình.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận.
- Khảo sát hoặc nghiên cứu thực tiễn hành vi của trẻ tkỷ t5-6 tuổi tại
trung tâm Phương Thanh.
- Đề xuất biện pháp tâm tăng cường hành vi tích cực của trẻ tự kỷ từ 5-
10 tuổi ti trung tâm Phương Thanh.
- Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến trtkỷ từ 5-10 tuổi tại trung tâm Phương
Thanh.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hành vi của trẻ tự kỷ.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi ở trung tâm Phương Thanh.
4.3. Khách thể bổ trợ
- Giáo viên, phụ huynh.
5. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Thực trạng hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi Trung tâm Phương
Thanh
(2) những yếu tố nào ảnh hưởng tới hành vi của trẻ tkỷ từ 5-10
tuổi ở trung tâm Phương Thanh
(3) Có những biện pháp nào để can thiệp hành vi của trtự kỷ từ 5-10
tuổi ở trung tâm Phương Thanh
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Giả thuyết nghiên cứu:
- Thực trạng hành vi: Mức độ và tần suất của các hành vi đặc trưng ở trẻ tự
kỷ từ 5-10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh rất đa dạng, trong đó các
hành vi lặp đi lặp lại và khó khăn trong tương tác xã hội chiếm tỷ lệ cao.
- Yếu tố ảnh hưởng: Các yếu tnhư đặc điểm cá nhân (mức độ tự kỷ, khả
năng ngôn ngữ, các vấn đề sức khỏe đi kèm), môi trường gia đình (sự hỗ
trợ của cha mẹ, mức độ hiểu biết về tkỷ), môi trường trung tâm
(phương pháp can thiệp, trình độ chuyên môn của giáo viên, sở vật
chất) ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi tại Trung
tâm Phương Thanh.
- Biện pháp can thiệp: Việc áp dụng các biện pháp can thiệp hành vi dựa
trên các nguyên tắc của Phân tích Hành vi ng dụng (ABA) kết hợp với
các liệu pháp hỗ trợ ngôn ngữ và tương tác xã hội sẽ giúp gim thiểu các
hành vi không mong muốn và tăng cường các hành vi tích cực ở trẻ tự kỷ
từ 5-10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Không gian nghiên cứu: Trung Tâm dạy trẻ tự kỷ Phương Thanh.
- Quy mô nghiên cứu: 240 trẻ.
- *Nội dung nghiên cứu: Hành vi tự kỷ của trẻ từ 5-10 tuổi
- Thời gian nghiên cứu: 5 tháng.
8. CỠ MẪU
8.1. Cỡ mẫu
- Quy mô tổng thể là: N = 600
- Sai số cho phép: e = +/- 0.05
=> Cỡ mẫu tính theo công thức: n = N/1+Nxe^2
=> Cỡ mẫu sẽ được tính là: n = 240
8.2. Phương pháp chọn mẫu
- Lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng:
Tầng 1:
Nam (120)
Nữ (120)
Tầng 2:
Nam từ 5-7 tuổi (60)
Nam từ 8-10 tuổi (60)
Nữ từ 5-7 tuổi (55)
Nữ từ 8-10 tuổi (65)
9. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm thu thập dữ liệu về hành vi, cử chỉ và
lời nói của trẻ tự kỷ t5–10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh, đồng thời tìm
hiểu môi trường sống, nguyên nhân các yếu tố ảnh hưởng đến các em. Nội
dung quan sát tập trung vào các hành vi tương tác hội như khả năng duy trì
giao tiếp bằng mắt, sử dụng cử chỉ và điệu bộ trong giao tiếp, biểu hiện cảm xúc,
khả năng nhận biết cảm xúc của người khác, phản ứng khi được gọi tên hoặc t
chuyện, mức độ tham gia các hoạt động tập thể và trò chơi tương tác. Ngoài ra,
phương pháp còn khảo sát hành vi giao tiếp, bao gồm khả năng ngôn ngữ hiện
tại việc sử dụng c hình thức phi ngôn ngữ. Các hành vi sở thích lặp đi
lặp li như vỗ tay, nhún nhảy, chăm chú vào một vật cố định cũng được chú ý,
bên cạnh phản ứng của trẻ với các kích thích giác quan, mức độ nhạy cảm hoặc
thờ ơ với âm thanh, ánh sáng, xúc giác, mùi vị, và các hành vi né tránh hoặc tìm
kiếm các kích thích này. Các kỹ năng khác như mức độ độc lập trong sinh hoạt
hằng ngày (vệ sinh nhân, ăn uống, mặc quần áo), khả năng tập trung duy
trì sự chú ý cũng được ghi nhận.
Hình thức thực hiện phương pháp bao gồm quan sát trực tiếp hoặc qua hệ thống
camera. Việc quan sát được tiến hành trong nhiều thời đim khác nhau trong
ngày trong các tình huống cụ thể như sinh hoạt, vui chơi học tập. Các công
cụ hỗ trợ gồm sổ ghi chép, bảng kiểm quan sát và phiếu ghi chép tnhằm
ghi lại chi tiết các hành vi và phản ứng của trẻ. Thông tin được ghi chép đầy đủ
về thời gian, địa điểm, hành vi cụ thể quan sát được, tần suất, cường độ thời
lượng của các hành vi, cử chỉ và lời nói. Sau đó, dữ liệu được phân tích và tổng
hợp để phục vụ các mục đích nghiên cứu như xây dựng kế hoạch can thiệp
nhân hoá phù hợp, đánh giá sự phát triển và nhu cầu của từng trẻ, cũng như xác
định các yếu tảnh hưởng đến hành vi, cử chỉ và lời nói của trẻ.
Bên cạnh phương pháp quan sát, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng
vấn sâu như một công cụ bổ trợ. Mục đích của phương pháp này khai thác
thông tin tphụ huynh giáo viên về môi trường sống các yếu tố ảnh hưởng
đến trtự kỷ, thông qua trò chuyện trực tiếp. Phương pháp này được tiến hành
dưới nh thức phỏng vấn phi cấu trúc, nhằm khai thác thông tin mở rộng linh
hoạt. Việc phỏng vấn được chuẩn bị kỹ lưỡng, bao gồm thiết bị hỗ trợ như sổ
ghi chép, máy ghi âm (trong trưng hợp được sự đồng ý của người được phỏng
vấn), địa đim được chọn i yên tĩnh, riêng tư. Trước khi phỏng vấn,
người thực hiện cần tạo stin cậy gần gũi; trong quá trình trao đổi cần duy
trì giao tiếp tích cực, đồng thời tạo điều kiện để người được hỏi thể đặt câu
hỏi ngược. Sau khi kết thúc, nội dung buổi phỏng vấn được tổng hợp, phân tích
và lựa chọn những thông tin phù hợp phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
10. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
10.1. Xây dựng cơ sở lý luận
- Khái niệm: Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một rối loạn phát triển phức
tạp, là nguyên nhân của những khó khăn về giao tiếp, hội hành vi.
Tác động của rối loạn phổ tự kỷ mức độ nghiêm trọng của các triệu
chứng là khác nhau ở mỗi trẻ. (4)
- Đặc điểm hành vi của trẻ tự kỷ có những đặc trưng như: khó giao tiếp
tương tác xã hội, các hành vi lặp lại và dập khuôn, sở thích hạn chế và có
thể nhạy cảm hơn với các giác quan. (5)
- Hành vi của trẻ tự kỷ được chia thành nhiều loại: (5)
Hành vi lặp lại và dập khuôn.
Hành vi chống đối, phản kháng.
Nhạy cảm với các giác quan.
Khiếm khuyết trí tuệ.
Hành vi tự gây thương tích.
Rối loạn vận động.
=>Mỗi dạng đều những đặc điểm riêng biệt mức độ nghiêm trọng khác
nhau.
- Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi ở trong gia đình.
- Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi ở xã hội.
- Các yếu tố ảnh hưởng: (4)
Yếu tố chủ quan:
Gen di truyền: Phần lớn chuyên gia đồng ý cho rằng RLPTK là kết
quả của skhác biệt và/hoặc đột biến gen do thừa hưởng mặc
không phải tất cả trẻ. Đột biển thường xảy ra các trai hơn
gái, thể do sự khác biệt di truyền kết hợp với nhim sắc thể X.
khoảng 100 gen nguy liên quan đến RLPTK, khoảng 15%
các trường hợp thxác định cụ thể do di truyền. Nghiên cứu
sinh đôi cùng trứng cho thấy nếu một đứa trẻ bị RLPTK, thì trẻ còn
lại khả năng bị ảnh hưởng khoảng từ 36-95%, tỷ l cặp song
sinh khác trứng là từ khoảng 0-31%, gần 20% trẻ một anh chị
ruột có RLPTK cũng phát triển RLPTK.
Nhân tố môi trường: Nghiên cứu phân tích gộp về các yếu tố trước
khi sinh liên quan đến RLPTK gồm sinh non, cha mẹ lớn tuổi, mẹ
ở độ tuổi vị thành niên, khoảng cách tuổi của ba và mẹ, con đầu so
với con thứ 3 và sau đó, khoảng cách giữa các lần sinh, sinh nhiều,
chảy máu trong thai kỳ, bệnh tiểu đường trong thai kỳ, sinh con
nước ngoài, msử dụng thuốc chống trầm cảm.
Ngoài ra, c nghiên cứu còn phát hiện ra một số yếu tnguy
thuộc về môi trường liên quan đến tự kỷ bao gồm: sử dụng thuốc
chống động kinh valproate, nhiễm virus Rubella mẹ khi mang
thai…
Yếu tố khách quan: Chủ yếu cho trẻ xem tuyến truyền hình, quảng cáo,
âm nhạc... thay cho sự quan tâm dạy dỗ của cha mẹ và gia đình.
10.2. Khảo sát thực tiễn
- Tìm hiểu thực trạng hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi tại trung tâm Phương
Thanh:
Hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi khi ở trung tâm.
Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi khi ở trong gia đình.
Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi khi ở xã hội.
- Các yếu tố ảnh hưởng:
Yếu tố chủ quan:
Mức độ rối loạn tự kỷ: nhẹ, trung bình hay nặng nếu trẻ bị nhẽ sẽ
dễ tiếp thu hơn trẻ bị nặng.
Khả năng giao tiếp của trẻ:nếu trẻ ngôn ngữ sẽ tham gia được
nhiều hoạt động và tương tác sẽ tốt hơn.
Hành vi và cảm xúc:trẻ có hành vi ổn định sẽ tham gia tt hơn vào
các hoạt động do trung tâm tổ chức.
Tình trạng sức khoẻ: trẻ sức khoẻ stăng tính tập trung làm
tăng hiệu quả học tập còn trẻ sức khoẻ yếu sẽ gặp nhiều khó khăn
hơn.
Yếu tố khách quan:
Môi trường tại trung tâm.
Chất lượng đội ngũ chuyên môn: trình độ cao, phải kỹ năng xử
hành vi, ti độ với trnếu giáo viên thiếu chuyên môn sẽ làm
ảnh hưởng tới trẻ.
Phương pháp và chương trình can thiệp: lựa chọn phương pháp phù
hợp với trẻ sẽ giúp trẻ tiến bộ nhanh hơn.
Sự phối hợp từ gia đình: phụ huynh phải tn thủ chương trình trị
liệu tại nhà nếu phụ huynh không hợp tác hiệu quả sẽ bị giảm.
10.3. Kết luận và khuyến nghị
- Kết luận:
Hiệu quả can thiệp đối với trẻ tkỷ tại Trung tâm Phương Thanh phụ
thuộc chặt chẽ vào sự phối hợp giữa các yếu tố khách quan và chủ quan.
Sự phối hợp của phụ huynh yếu tố khách quan vai trò then chốt.
Trong thực tế, một số phụ huynh chưa thật sự hiểu vai trò của mình
trong trị liệu tại nhà, dẫn đến gián đoạn quá trình phát triển của trẻ.
Các yếu tố chủ quan từ phía trẻ như: khả năng ngôn ngữ, nhận thức, hành
vi sở thích nhân ảnh hưởng lớn đến mức độ tương tác hiệu quả
của từng buổi trị liệu.
- Khuyến nghị:
Đối với trung tâm Phương Thanh:
Phân loại rõ nhóm trẻ theo mức độ rối loạn, khả năng nhận thức và
hành vi để xây dựng chương trình phù hợp.
Tăng cường tập huấn và đào tạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn.
Tăng cường tương tác với phụ huynh: tổ chức lớp kỹ năng phụ
huynh định kỳ…
Đối với phụ huynh: chủ động tham gia vào quá trình của con em mình,
nâng cao hiểu biết về trẻ tự kỷ qua các tài liệu kênh chính thống nếu
điều kiện thì tham gia các lớp học.
11. TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
STT
Ni dung công
vic
Thi gian
thc hin
Sn phẩm đầu ra
Người thc
hin
1
Tng quan vấn đề
nghiên cu
1 tun
Báo cáo tng quan
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
2
Xây dựng đề cương
nghiên cu
2 tun
Đề cương được
duyt
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
3
Thiết kế b công c
2 tun
Phương pháp quan
sát, phương pháp
phng vn sâu
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
4
Kho sát thc tin,
thu thp d liu
3 tháng
Phiếu ghi chép
t, s ghi chép điền
đầy đủ thông tin
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
5
X lý d liu/thông
tin nghiên cu
2 tun
Các file kết qu x
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
6
Viết báo cáo tng
hp kết qu đề tài
nghiên cu
2 tun
Báo cáo
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
7
Bo v đề tài
1 tun
Kết qu đánh giá
ca hội đồng
nghim thu
Những
người tham
gia thực
hiện đề tài.
12. SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI
12.1. Sản phẩm dạng 1
- Bộ công cụ nhận diện và phân loại hành vi ở trẻ tự kỷ độ tuổi 510.
- Tài liệu hỗ trợ phụ huynh: Cẩm nang nhận diện sớm hành vi tkỷ trẻ
5–10 tuổi.
12.2. Sản phẩm dạng 2
- Bài viết chia sẻ kiến thức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Bài “Đặc điểm lâm sàng rối loạn xử lý giác quan trẻ rối loạn phổ tự kỷ
dưới 15 tuổi” của Phạm Thu Thủy các cộng sự được đăng trong Tạp
chí y học Việt Nam, số ISSN:1859-1868, tập 553 số 1 m 2023,
trang:https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/7700/679
8, trích dẫn ngày 15/5/2025
(2) Bài “Đặc điểm phát triển tâm-vận động ở trẻ tự kỷ từ 24 đến 72 tháng tuổi
tại Thái Nguyên” của Thị Kim Dung và các cộng sự được đăng trong
Tạp chí y học Việt Nam, s ISSN:1859-1868, tập 503 số 1 năm 2021,
trang:https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/747/623?
fbclid=IwY2xjawKkkbhleHRuA2FlbQIxMABicmlkETF3Q2tDSWVnbl
dRc0M1V1JBAR47JFq-
20Z23gefvkX1paqZUTg9KpPOqcX1bTA8lvE9mSjdkW0mGhYO0pF1
Yw_aem_D1NcjA1sMT55SRHW-Qla3g, trích dẫn ngày 15/5/2025
(3) Bài “Đặc điểm lâm sàng rối loạn xử lý cảm giác ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ”
của Nguyễn Thế Tài và Nguyễn Doãn Phương được đăng trong Tạp chí y
học Việt Nam, số ISSN:1859-1868, tập 519 số 2 năm 2022,
trang:https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/3689/338
9, trích dẫn ngày 15/5/2025
(4) Bài “Rối loạn phổ tự kỷ” của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, được
đăng tải trên trang: https://bvtttw1.gov.vn/roi-loan-pho-tu-ky/, trích dẫn
ngày 20/5/2025.
(5) Bài “Nhn biết tr t k vi 10 du hiu d dàng” của Trm y tế xã Vĩnh
Lộc B, được đăng tải trên trang:
https://tytxavinhlocb.medinet.gov.vn/chuyen-muc/nhan-biet-tre-tu-ky-
voi-10-dau-hieu-de-dang-cmobile7615-19205.aspx, trích dẫn ngày
20/5/2025

Preview text:

HỌC VIỆN PHỤ NỮ VIỆT NAM
KHOA: KHOA HỌC CƠ BẢN ĐỀ CƯƠNG
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÊN ĐỀ TÀI: HÀNH VI TỰ KỶ CỦA TRẺ TỪ 5-10
TUỔI Ở TRUNG TÂM PHƯƠNG THANH
Sinh viên thực hiện: Trần Mỹ Linh, Chu Vũ Hoàng Dung, Vũ Nguyễn
Khánh Ly, Lương Ngọc Lan Hương, Nguyễn Thị Hồng, Trương Thủy Hà
Chuyên ngành: Tâm Lý Học
Hà Nội, tháng 05 năm 2025
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trẻ tự kỷ trong độ tuổi từ 5 đến 10 thường thể hiện rõ những khó khăn trong giao
tiếp và tương tác xã hội. Các em gặp trở ngại trong việc thiết lập và duy trì mối
quan hệ với người khác, không hiểu được các tín hiệu phi ngôn ngữ như ánh mắt,
cử chỉ hay biểu cảm khuôn mặt, và khó chia sẻ cảm xúc hoặc sở thích. Trong
môi trường học đường, điều này thể hiện qua việc ít tham gia vào các trò chơi
nhóm, không tuân thủ quy tắc xã hội, hay có xu hướng chơi một mình hoặc lặp
lại những hành vi nhất định. Ngôn ngữ của trẻ tự kỷ trong độ tuổi này thường
cứng nhắc, mang tính rập khuôn, một số trẻ có biểu hiện lặp lại lời người khác
(echolalia) hoặc giao tiếp không nhằm mục đích xã hội. Ngoài ra, các hành vi
lặp lại như vẫy tay, xoay người, sắp xếp đồ vật theo trật tự cố định, hay chỉ quan
tâm đến chi tiết nhỏ là những đặc điểm phổ biến. Trẻ cũng có thể duy trì các nghi
thức cưỡng chế và khó thích ứng với thay đổi. Về mặt cảm giác, nhiều trẻ phản
ứng khác thường với kích thích giác quan như âm thanh lớn, ánh sáng mạnh,
hoặc có xu hướng tìm kiếm cảm giác mạnh bằng cách nhìn ánh sáng nhấp nháy
hay liên tục chạm vào các bề mặt khác nhau. Một số trẻ còn thể hiện sự phát triển
không đồng đều: có thể vượt trội ở một số kỹ năng như ghi nhớ hay tính toán,
nhưng lại hạn chế nghiêm trọng ở khả năng tương tác xã hội hay quản lý cảm xúc.
Tại Hà Nội – nơi tập trung nhiều trung tâm giáo dục và y tế lớn – nhận thức cộng
đồng về tự kỷ đang dần được nâng cao. Tuy nhiên, việc chẩn đoán sớm và can
thiệp kịp thời vẫn còn gặp nhiều thách thức. Trong bối cảnh đó, Trung tâm
Phương Thanh đã có những bước tiến nhất định trong việc hỗ trợ trẻ tự kỷ, từ
sàng lọc, đánh giá đến can thiệp chuyên sâu. Tuy nhiên, các gia đình vẫn phải
đối mặt với nhiều khó khăn như gánh nặng tài chính, áp lực tâm lý và sự thiếu
hụt dịch vụ cá thể hóa. Đặc biệt, số lượng nghiên cứu chuyên biệt về hành vi trẻ
tự kỷ tại Hà Nội hiện còn hạn chế, gây khó khăn cho việc xây dựng các chương
trình can thiệp phù hợp với bối cảnh xã hội – giáo dục – đô thị của thành phố.
Hiện nay, một số nghiên cứu trong nước đã tiếp cận các khía cạnh như rối loạn
xử lý giác quan, phát triển tâm – vận động và tổng quan thực trạng trẻ tự kỷ ở
Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các công trình tập trung vào giai đoạn mầm non
và chưa đi sâu vào hệ thống hóa các dạng hành vi đặc trưng như hành vi lặp lại,
hành vi chống đối, tự kích thích, hay hành vi cảm xúc – xã hội ở trẻ từ 5 đến 10
tuổi – một giai đoạn bản lề trong quá trình phát triển. Đây là thời điểm trẻ bắt
đầu tiếp xúc chính thức với môi trường học đường, nơi đòi hỏi khả năng tương
tác xã hội và tuân thủ quy tắc.
Đề tài nghiên cứu hành vi của trẻ tự kỷ trong độ tuổi từ 5 đến 10 tại Trung tâm
Phương Thanh được xây dựng dựa trên cơ sở kế thừa các lý thuyết và công cụ
đánh giá khoa học như CARS, Denver và hệ thống DSM-5. Tuy nhiên, đề tài có
sự mở rộng nhằm khai thác ba khía cạnh còn thiếu hụt: nội dung hành vi cụ thể,
đặc điểm độ tuổi tiểu học và bối cảnh đặc thù tại đô thị Hà Nội. Việc chọn Trung
tâm Phương Thanh – một cơ sở có kinh nghiệm thực tiễn trong đánh giá và can
thiệp cho trẻ tự kỷ – cho phép nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu lâm sàng đáng
tin cậy và quan sát hành vi trong điều kiện gần gũi với thực tế.
Các yếu tố tác động đến hành vi trẻ tự kỷ tại Hà Nội rất đa dạng, bao gồm: Yếu
tố gia đình (môi trường nuôi dưỡng, tình hình kinh tế, nhận thức cha mẹ); Yếu
tố giáo dục – y tế (chất lượng dịch vụ, năng lực đội ngũ chuyên môn); Yếu tố xã
hội (sự kỳ thị, thiếu chính sách hỗ trợ phù hợp); Đặc điểm cá nhân của trẻ (mức
độ rối loạn, khả năng thích nghi, các rối loạn kèm theo). Các yếu tố này không
tồn tại riêng rẽ mà tương tác với nhau, tác động đến hành vi và khả năng hòa nhập xã hội của trẻ.
Về mặt xã hội, nghiên cứu tại Trung tâm Phương Thanh góp phần cải thiện chất
lượng giáo dục hòa nhập, hỗ trợ các gia đình, và giảm gánh nặng cho hệ thống y
tế. Nếu hành vi không phù hợp của trẻ trong giai đoạn tiểu học không được nhận
diện và can thiệp đúng cách, sẽ làm giảm khả năng phát triển toàn diện của trẻ trong tương lai.
Về mặt khoa học, nghiên cứu sẽ bổ sung dữ liệu thực tiễn có giá trị, phản ánh
chân thực đặc điểm hành vi của trẻ tự kỷ trong bối cảnh đô thị Hà Nội. Điều này
giúp hoàn thiện khung lý luận về hành vi trẻ tự kỷ và phát triển mô hình đánh
giá – can thiệp phù hợp với điều kiện văn hóa – xã hội tại Việt Nam. Kết quả
còn là cơ sở để xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu cho đội ngũ cán
bộ, cải thiện dịch vụ và nâng cao nhận thức cộng đồng.
Đặc biệt, nghiên cứu còn có thể làm rõ mối liên hệ giữa hành vi và môi trường
sống – học tập của trẻ trong khu vực đô thị như Hà Nội. Tại đây, trẻ không chỉ
phải đối mặt với áp lực học tập và không gian hạn chế, mà còn có nguy cơ bị kỳ
thị nếu hành vi khác biệt. Những yếu tố này có thể làm gia tăng hành vi tự kích
thích, chống đối hoặc thu mình ở trẻ.
Trong bối cảnh tỷ lệ trẻ tự kỷ ngày càng tăng tại các thành phố lớn, việc nghiên
cứu hành vi của trẻ trong giai đoạn tiểu học là vô cùng cấp thiết. Giai đoạn này
đòi hỏi khả năng tương tác và tuân thủ cao, là thách thức lớn đối với trẻ tự kỷ.
Nếu không được hỗ trợ kịp thời, hành vi không phù hợp có thể ảnh hưởng tiêu
cực đến học tập, các mối quan hệ và sự hòa nhập xã hội sau này.
2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tự kỷ là một rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng giao
tiếp, tương tác xã hội và hành vi của trẻ em. Trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ
mắc rối loạn phổ tự kỷ (ASD) có xu hướng gia tăng đáng kể không chỉ trên thế
giới mà cả tại Việt Nam, đặt ra nhiều thách thức đối với gia đình, nhà trường và
xã hội. Đặc biệt, nhóm trẻ trong độ tuổi từ 5 đến 10 tuổi – giai đoạn quan trọng
cho việc phát triển nhận thức, ngôn ngữ và kỹ năng xã hội – lại thường xuyên
biểu hiện những hành vi đặc trưng như rập khuôn, bốc đồng, tự kích thích hay
chống đối, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập và khả năng hòa nhập cộng đồng.
Trung tâm Phương Thanh (Hà Nội) là một trong những cơ sở chuyên biệt hỗ trợ
can thiệp và giáo dục cho trẻ tự kỷ, với nhiều năm kinh nghiệm trong việc theo
dõi và điều trị cho trẻ trong độ tuổi từ 5 đến 10. Tuy nhiên, để quá trình can thiệp
đạt hiệu quả cao, việc nghiên cứu và phân tích sâu về đặc điểm hành vi của trẻ
trong nhóm tuổi này là điều hết sức cần thiết. Hiểu rõ được các biểu hiện hành
vi phổ biến, nguyên nhân, tần suất và bối cảnh xuất hiện sẽ giúp các chuyên gia
xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân (IEP) phù hợp, đồng thời hỗ trợ gia đình
trong việc phối hợp can thiệp tại nhà.
Vì vậy, đề tài “Hành vi của trẻ tự kỷ từ 5–10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh
(Hà Nội)” được thực hiện nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện, khoa học và thực
tiễn về hành vi của trẻ tự kỷ trong giai đoạn phát triển đặc thù, góp phần nâng
cao chất lượng can thiệp và hỗ trợ trẻ hòa nhập tốt hơn với môi trường xã hội.
Tiếp cận hành vi của trẻ tự kỷ từ góc độ phát triển cá nhân và cảm giác cho thấy
rằng các yếu tố như rối loạn xử lý giác quan, chậm phát triển tâm-vận động và
đặc điểm cảm giác không điển hình có ảnh hưởng sâu sắc đến biểu hiện hành vi
hằng ngày của trẻ. Các nghiên cứu hiện có cung cấp nhiều minh chứng cho mối liên hệ này.
Cụ thể, nghiên cứu của Phạm Thu Thủy và cộng sự (2024) với tiêu đề “Rối loạn
xử lý giác quan ở trẻ tự kỷ dưới 15 tuổi”, thực hiện tại Bệnh viện Nhi Trung
ương trên 75 trẻ, cho thấy có tới 84% trẻ gặp rối loạn xử lý giác quan – trong đó
rối loạn cảm giác vận động là phổ biến nhất. Đặc biệt, những trẻ có mức độ tự
kỷ nặng thường gặp nhiều khó khăn hơn trong việc điều hòa cảm giác. Kết quả
này khẳng định vai trò trung tâm của cảm giác trong hành vi của trẻ tự kỷ. (1)
Tương tự, nghiên cứu “Phát triển tâm-vận động ở trẻ từ 24–72 tháng tuổi” của
Lê Thị Kim Dung và cộng sự (2021) tại Thái Nguyên chỉ ra rằng phần lớn trẻ
trong mẫu khảo sát (n = 161) đều chậm phát triển ngôn ngữ và kỹ năng tương
tác xã hội, với chỉ số phát triển trí tuệ (DQ) trung bình ở mức thấp. Điều này
phản ánh sự chậm phát triển toàn diện về mặt nhận thức và vận động – những
yếu tố đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành và điều chỉnh hành vi. (2)
Bổ sung thêm góc nhìn về cảm giác, nghiên cứu “Đặc điểm rối loạn cảm giác ở
trẻ tự kỷ” của Nguyễn Thế Tài và Nguyễn Doãn Phương (2022) mô tả chi tiết
các biểu hiện như quá mẫn, giảm mẫn và hành vi tìm kiếm cảm giác – tất cả đều
góp phần làm gia tăng hành vi bất thường và cản trở khả năng thích nghi xã hội của trẻ. (3)
Như vậy, việc tổng hợp các nghiên cứu trước đây từ các góc độ cảm giác, vận
động và phát triển tâm lý cho thấy có sự nhất quán trong nhận định rằng trẻ tự
kỷ thường gặp khó khăn trong xử lý giác quan, phát triển ngôn ngữ và vận động
– những nền tảng thiết yếu của hành vi. Từ đó góp phần phác họa nên một bức
tranh tương đối toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của trẻ tự kỷ. Tuy
nhiên, các công trình hiện tại vẫn còn bỏ ngỏ khoảng trống quan trọng: thiếu sự
phân tích hành vi theo nhóm tuổi cụ thể, đặc biệt là nhóm 5–10 tuổi – giai đoạn
then chốt cho việc can thiệp và hình thành hành vi xã hội ở trẻ.
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi lựa chọn triển khai đề tài “Hành vi của trẻ
tự kỷ từ 5–10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh (Hà Nội)”, với ba điểm mới nổi
bật: (1) tính cập nhật về thời gian (2024), (2) địa bàn nghiên cứu tại Hà Nội –
một trung tâm đô thị lớn với nhiều đặc thù giáo dục và xã hội, và (3) tập trung
vào nhóm tuổi 5–10 – giai đoạn trẻ có nhiều biến chuyển về nhận thức và hành
vi. Nghiên cứu kỳ vọng sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống trong các tài liệu hiện
hành về hành vi trẻ tự kỷ theo độ tuổi học đường, từ đó đề xuất các hướng can
thiệp phù hợp và hiệu quả hơn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi tích cực ở trẻ tự kỷ từ 5
đến 10 tuổi; khảo sát thực trạng hành vi tích cực trong thực tiễn; xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này; và trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp sư
phạm nhằm tăng cường hành vi tích cực cho trẻ tự kỷ trong môi trường giáo dục và gia đình.
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận.
- Khảo sát hoặc nghiên cứu thực tiễn hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-6 tuổi tại trung tâm Phương Thanh.
- Đề xuất biện pháp tâm lý tăng cường hành vi tích cực của trẻ tự kỷ từ 5-
10 tuổi tại trung tâm Phương Thanh.
- Tìm hiểu yếu tố ảnh hưởng đến trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi tại trung tâm Phương Thanh.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hành vi của trẻ tự kỷ.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi ở trung tâm Phương Thanh.
4.3. Khách thể bổ trợ - Giáo viên, phụ huynh.
5. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Thực trạng hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi ở Trung tâm Phương Thanh
(2) Có những yếu tố nào ảnh hưởng tới hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10
tuổi ở trung tâm Phương Thanh
(3) Có những biện pháp nào để can thiệp hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10
tuổi ở trung tâm Phương Thanh
6. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Giả thuyết nghiên cứu:
- Thực trạng hành vi: Mức độ và tần suất của các hành vi đặc trưng ở trẻ tự
kỷ từ 5-10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh rất đa dạng, trong đó các
hành vi lặp đi lặp lại và khó khăn trong tương tác xã hội chiếm tỷ lệ cao.
- Yếu tố ảnh hưởng: Các yếu tố như đặc điểm cá nhân (mức độ tự kỷ, khả
năng ngôn ngữ, các vấn đề sức khỏe đi kèm), môi trường gia đình (sự hỗ
trợ của cha mẹ, mức độ hiểu biết về tự kỷ), và môi trường trung tâm
(phương pháp can thiệp, trình độ chuyên môn của giáo viên, cơ sở vật
chất) có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh.
- Biện pháp can thiệp: Việc áp dụng các biện pháp can thiệp hành vi dựa
trên các nguyên tắc của Phân tích Hành vi Ứng dụng (ABA) kết hợp với
các liệu pháp hỗ trợ ngôn ngữ và tương tác xã hội sẽ giúp giảm thiểu các
hành vi không mong muốn và tăng cường các hành vi tích cực ở trẻ tự kỷ
từ 5-10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh.
7. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Không gian nghiên cứu: Trung Tâm dạy trẻ tự kỷ Phương Thanh.
- Quy mô nghiên cứu: 240 trẻ.
- *Nội dung nghiên cứu: Hành vi tự kỷ của trẻ từ 5-10 tuổi
- Thời gian nghiên cứu: 5 tháng. 8. CỠ MẪU 8.1. Cỡ mẫu
- Quy mô tổng thể là: N = 600
- Sai số cho phép: e = +/- 0.05
=> Cỡ mẫu tính theo công thức: n = N/1+Nxe^2
=> Cỡ mẫu sẽ được tính là: n = 240
8.2. Phương pháp chọn mẫu
- Lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng: ○ Tầng 1: ■ Nam (120) ■ Nữ (120) ○ Tầng 2: ■ Nam từ 5-7 tuổi (60) ■ Nam từ 8-10 tuổi (60) ■ Nữ từ 5-7 tuổi (55)
■ Nữ từ 8-10 tuổi (65)
9. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm thu thập dữ liệu về hành vi, cử chỉ và
lời nói của trẻ tự kỷ từ 5–10 tuổi tại Trung tâm Phương Thanh, đồng thời tìm
hiểu môi trường sống, nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến các em. Nội
dung quan sát tập trung vào các hành vi tương tác xã hội như khả năng duy trì
giao tiếp bằng mắt, sử dụng cử chỉ và điệu bộ trong giao tiếp, biểu hiện cảm xúc,
khả năng nhận biết cảm xúc của người khác, phản ứng khi được gọi tên hoặc trò
chuyện, mức độ tham gia các hoạt động tập thể và trò chơi tương tác. Ngoài ra,
phương pháp còn khảo sát hành vi giao tiếp, bao gồm khả năng ngôn ngữ hiện
tại và việc sử dụng các hình thức phi ngôn ngữ. Các hành vi và sở thích lặp đi
lặp lại như vỗ tay, nhún nhảy, chăm chú vào một vật cố định cũng được chú ý,
bên cạnh phản ứng của trẻ với các kích thích giác quan, mức độ nhạy cảm hoặc
thờ ơ với âm thanh, ánh sáng, xúc giác, mùi vị, và các hành vi né tránh hoặc tìm
kiếm các kích thích này. Các kỹ năng khác như mức độ độc lập trong sinh hoạt
hằng ngày (vệ sinh cá nhân, ăn uống, mặc quần áo), khả năng tập trung và duy
trì sự chú ý cũng được ghi nhận.
Hình thức thực hiện phương pháp bao gồm quan sát trực tiếp hoặc qua hệ thống
camera. Việc quan sát được tiến hành trong nhiều thời điểm khác nhau trong
ngày và trong các tình huống cụ thể như sinh hoạt, vui chơi và học tập. Các công
cụ hỗ trợ gồm có sổ ghi chép, bảng kiểm quan sát và phiếu ghi chép mô tả nhằm
ghi lại chi tiết các hành vi và phản ứng của trẻ. Thông tin được ghi chép đầy đủ
về thời gian, địa điểm, hành vi cụ thể quan sát được, tần suất, cường độ và thời
lượng của các hành vi, cử chỉ và lời nói. Sau đó, dữ liệu được phân tích và tổng
hợp để phục vụ các mục đích nghiên cứu như xây dựng kế hoạch can thiệp cá
nhân hoá phù hợp, đánh giá sự phát triển và nhu cầu của từng trẻ, cũng như xác
định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi, cử chỉ và lời nói của trẻ.
Bên cạnh phương pháp quan sát, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng
vấn sâu như một công cụ bổ trợ. Mục đích của phương pháp này là khai thác
thông tin từ phụ huynh và giáo viên về môi trường sống và các yếu tố ảnh hưởng
đến trẻ tự kỷ, thông qua trò chuyện trực tiếp. Phương pháp này được tiến hành
dưới hình thức phỏng vấn phi cấu trúc, nhằm khai thác thông tin mở rộng và linh
hoạt. Việc phỏng vấn được chuẩn bị kỹ lưỡng, bao gồm thiết bị hỗ trợ như sổ
ghi chép, máy ghi âm (trong trường hợp được sự đồng ý của người được phỏng
vấn), và địa điểm được chọn là nơi yên tĩnh, riêng tư. Trước khi phỏng vấn,
người thực hiện cần tạo sự tin cậy và gần gũi; trong quá trình trao đổi cần duy
trì giao tiếp tích cực, đồng thời tạo điều kiện để người được hỏi có thể đặt câu
hỏi ngược. Sau khi kết thúc, nội dung buổi phỏng vấn được tổng hợp, phân tích
và lựa chọn những thông tin phù hợp phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.
10. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
10.1. Xây dựng cơ sở lý luận
- Khái niệm: Rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) là một rối loạn phát triển phức
tạp, là nguyên nhân của những khó khăn về giao tiếp, xã hội và hành vi.
Tác động của rối loạn phổ tự kỷ và mức độ nghiêm trọng của các triệu
chứng là khác nhau ở mỗi trẻ. (4)
- Đặc điểm hành vi của trẻ tự kỷ có những đặc trưng như: khó giao tiếp và
tương tác xã hội, các hành vi lặp lại và dập khuôn, sở thích hạn chế và có
thể nhạy cảm hơn với các giác quan. (5)
- Hành vi của trẻ tự kỷ được chia thành nhiều loại: (5)
● Hành vi lặp lại và dập khuôn.
● Hành vi chống đối, phản kháng.
● Nhạy cảm với các giác quan.
● Khiếm khuyết trí tuệ.
● Hành vi tự gây thương tích.
● Rối loạn vận động.
=>Mỗi dạng đều có những đặc điểm riêng biệt và mức độ nghiêm trọng khác nhau.
- Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi ở trong gia đình.
- Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi ở xã hội.
- Các yếu tố ảnh hưởng: (4) ● Yếu tố chủ quan:
○ Gen di truyền: Phần lớn chuyên gia đồng ý cho rằng RLPTK là kết
quả của sự khác biệt và/hoặc đột biến gen do thừa hưởng mặc dù
không phải tất cả trẻ. Đột biển thường xảy ra ở các bé trai hơn bé
gái, có thể do sự khác biệt di truyền kết hợp với nhiễm sắc thể X.
Có khoảng 100 gen nguy cơ liên quan đến RLPTK, khoảng 15%
các trường hợp có thể xác định cụ thể là do di truyền. Nghiên cứu
sinh đôi cùng trứng cho thấy nếu một đứa trẻ bị RLPTK, thì trẻ còn
lại có khả năng bị ảnh hưởng khoảng từ 36-95%, tỷ lệ ở cặp song
sinh khác trứng là từ khoảng 0-31%, gần 20% trẻ có một anh chị
ruột có RLPTK cũng phát triển RLPTK.
○ Nhân tố môi trường: Nghiên cứu phân tích gộp về các yếu tố trước
khi sinh liên quan đến RLPTK gồm sinh non, cha mẹ lớn tuổi, mẹ
ở độ tuổi vị thành niên, khoảng cách tuổi của ba và mẹ, con đầu so
với con thứ 3 và sau đó, khoảng cách giữa các lần sinh, sinh nhiều,
chảy máu trong thai kỳ, bệnh tiểu đường trong thai kỳ, sinh con ở
nước ngoài, mẹ sử dụng thuốc chống trầm cảm.
○ Ngoài ra, các nghiên cứu còn phát hiện ra một số yếu tố nguy cơ
thuộc về môi trường có liên quan đến tự kỷ bao gồm: sử dụng thuốc
chống động kinh valproate, nhiễm virus Rubella ở mẹ khi mang thai…
● Yếu tố khách quan: Chủ yếu cho trẻ xem vô tuyến truyền hình, quảng cáo,
âm nhạc... thay cho sự quan tâm dạy dỗ của cha mẹ và gia đình.
10.2. Khảo sát thực tiễn
- Tìm hiểu thực trạng hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi tại trung tâm Phương Thanh:
● Hành vi của trẻ tự kỷ từ 5-10 tuổi khi ở trung tâm.
● Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi khi ở trong gia đình.
● Hành vi của trẻ tự kỷ 5-10 tuổi khi ở xã hội.
- Các yếu tố ảnh hưởng: ● Yếu tố chủ quan:
○ Mức độ rối loạn tự kỷ: nhẹ, trung bình hay nặng nếu trẻ bị nhẽ sẽ
dễ tiếp thu hơn trẻ bị nặng.
○ Khả năng giao tiếp của trẻ:nếu trẻ có ngôn ngữ sẽ tham gia được
nhiều hoạt động và tương tác sẽ tốt hơn.
○ Hành vi và cảm xúc:trẻ có hành vi ổn định sẽ tham gia tốt hơn vào
các hoạt động do trung tâm tổ chức.
○ Tình trạng sức khoẻ: trẻ có sức khoẻ sẽ tăng tính tập trung và làm
tăng hiệu quả học tập còn trẻ có sức khoẻ yếu sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. ● Yếu tố khách quan:
○ Môi trường tại trung tâm.
○ Chất lượng đội ngũ chuyên môn: trình độ cao, phải có kỹ năng xử
lý hành vi, thái độ với trẻ nếu giáo viên thiếu chuyên môn sẽ làm ảnh hưởng tới trẻ.
○ Phương pháp và chương trình can thiệp: lựa chọn phương pháp phù
hợp với trẻ sẽ giúp trẻ tiến bộ nhanh hơn.
○ Sự phối hợp từ gia đình: phụ huynh phải tuân thủ chương trình trị
liệu tại nhà nếu phụ huynh không hợp tác hiệu quả sẽ bị giảm.
10.3. Kết luận và khuyến nghị - Kết luận:
● Hiệu quả can thiệp đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm Phương Thanh phụ
thuộc chặt chẽ vào sự phối hợp giữa các yếu tố khách quan và chủ quan.
● Sự phối hợp của phụ huynh là yếu tố khách quan có vai trò then chốt.
Trong thực tế, một số phụ huynh chưa thật sự hiểu rõ vai trò của mình
trong trị liệu tại nhà, dẫn đến gián đoạn quá trình phát triển của trẻ.
● Các yếu tố chủ quan từ phía trẻ như: khả năng ngôn ngữ, nhận thức, hành
vi và sở thích cá nhân ảnh hưởng lớn đến mức độ tương tác và hiệu quả
của từng buổi trị liệu. - Khuyến nghị:
● Đối với trung tâm Phương Thanh:
○ Phân loại rõ nhóm trẻ theo mức độ rối loạn, khả năng nhận thức và
hành vi để xây dựng chương trình phù hợp.
○ Tăng cường tập huấn và đào tạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn.
○ Tăng cường tương tác với phụ huynh: tổ chức lớp kỹ năng phụ huynh định kỳ…
● Đối với phụ huynh: chủ động tham gia vào quá trình của con em mình,
nâng cao hiểu biết về trẻ tự kỷ qua các tài liệu và kênh chính thống nếu có
điều kiện thì tham gia các lớp học.
11. TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN STT Nội dung công Thời gian
Sản phẩm đầu ra Người thực việc thực hiện hiện 1 Tổng quan vấn đề 1 tuần Báo cáo tổng quan Những nghiên cứu người tham gia thực hiện đề tài. 2
Xây dựng đề cương 2 tuần Đề cương được Những nghiên cứu duyệt người tham gia thực hiện đề tài. 3
Thiết kế bộ công cụ 2 tuần Phương pháp quan Những sát, phương pháp người tham phỏng vấn sâu gia thực hiện đề tài. 4
Khảo sát thực tiễn, 3 tháng Phiếu ghi chép mô Những thu thập dữ liệu
tả, sổ ghi chép điền người tham đầy đủ thông tin gia thực hiện đề tài. 5
Xử lý dữ liệu/thông 2 tuần
Các file kết quả xử Những tin nghiên cứu lý người tham gia thực hiện đề tài. 6 Viết báo cáo tổng 2 tuần Báo cáo Những hợp kết quả đề tài người tham nghiên cứu gia thực hiện đề tài. 7 Bảo vệ đề tài 1 tuần Kết quả đánh giá Những của hội đồng người tham nghiệm thu gia thực hiện đề tài.
12. SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI
12.1. Sản phẩm dạng 1
- Bộ công cụ nhận diện và phân loại hành vi ở trẻ tự kỷ độ tuổi 5–10.
- Tài liệu hỗ trợ phụ huynh: Cẩm nang nhận diện sớm hành vi tự kỷ ở trẻ 5–10 tuổi.
12.2. Sản phẩm dạng 2
- Bài viết chia sẻ kiến thức
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Bài “Đặc điểm lâm sàng rối loạn xử lý giác quan ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ
dưới 15 tuổi” của Phạm Thu Thủy và các cộng sự được đăng trong Tạp
chí y học Việt Nam, số ISSN:1859-1868, tập 553 số 1 năm 2023, ở
trang:https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/7700/679
8, trích dẫn ngày 15/5/2025
(2) Bài “Đặc điểm phát triển tâm-vận động ở trẻ tự kỷ từ 24 đến 72 tháng tuổi
tại Thái Nguyên” của Lê Thị Kim Dung và các cộng sự được đăng trong
Tạp chí y học Việt Nam, số ISSN:1859-1868, tập 503 số 1 năm 2021, ở
trang:https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/747/623?
fbclid=IwY2xjawKkkbhleHRuA2FlbQIxMABicmlkETF3Q2tDSWVnbl dRc0M1V1JBAR47JFq-
20Z23gefvkX1paqZUTg9KpPOqcX1bTA8lvE9mSjdkW0mGhYO0pF1
Yw_aem_D1NcjA1sMT55SRHW-Qla3g, trích dẫn ngày 15/5/2025
(3) Bài “Đặc điểm lâm sàng rối loạn xử lý cảm giác ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ”
của Nguyễn Thế Tài và Nguyễn Doãn Phương được đăng trong Tạp chí y
học Việt Nam, số ISSN:1859-1868, tập 519 số 2 năm 2022, ở
trang:https://tapchiyhocvietnam.vn/index.php/vmj/article/view/3689/338
9, trích dẫn ngày 15/5/2025
(4) Bài “Rối loạn phổ tự kỷ” của Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1, được
đăng tải trên trang: https://bvtttw1.gov.vn/roi-loan-pho-tu-ky/, trích dẫn ngày 20/5/2025.
(5) Bài “Nhận biết trẻ tự kỷ với 10 dấu hiệu dễ dàng” của Trạm y tế xã Vĩnh
Lộc B, được đăng tải trên trang:
https://tytxavinhlocb.medinet.gov.vn/chuyen-muc/nhan-biet-tre-tu-ky-
voi-10-dau-hieu-de-dang-cmobile7615-19205.aspx, trích dẫn ngày 20/5/2025