Hệ thống câu hỏi ôn tập Giáo dục thể chất | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Anh (chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển của thể dục thể thao thời kỳ xã  hội nguyên thủy và xã hội chiếm hữu nô lệ? Anh (Chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển giáo dục thể chất thời kỳ xã hội phong kiến và thời kỳ cận đại, đương  đại? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

Môn:
Thông tin:
16 trang 1 tuần trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Hệ thống câu hỏi ôn tập Giáo dục thể chất | Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Anh (chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển của thể dục thể thao thời kỳ xã  hội nguyên thủy và xã hội chiếm hữu nô lệ? Anh (Chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển giáo dục thể chất thời kỳ xã hội phong kiến và thời kỳ cận đại, đương  đại? Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời đọc đón xem!

3 2 lượt tải Tải xuống
HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN GDTC
Câu 1: Anh (chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển của thể
dục thể thao thời kỳ xã hội nguyên thủy và xã hội chiếm hữu nô
lệ?
-Trong xã hội nguyên thủy:
+Tất cả của cải làm ra đều là của chung, mọi người cùng lao động, cùng
hưởng không có giai cấp, không có bóc lột, nền giáo dục thể chất được
thực hiện công bằng và thống nhất đối với mọi người. Những đặc điểm
của nền sản xuất và quan hệ xã hội thời cổ sơ đã quyết định sự kết hợp
chặt chẽ giữa giáo dục thể chất với quá trình lao động và các hình thức
giáo dục khác.
+Mục đích giáo dục thể chất là đào tạo người đi săn và nội dung là những
trò chơi bắt chước cảnh săn bắn, những nghi thức sinh hoạt. Thể dục thể
thao dành cho mọi người.
-Trong xã hội nô lệ:
+Do sức sản xuất phát triển, kinh nghiệm sản xuất ngày càng phong phú,
của cải vật chất dư thừa, chế độ tư hữu về công cụ lao động và phương
tiện sản xuất ra đời, chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã, loài người bước
vào chế độ có giai cấp. Giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng
trở thành công cụ đặc biệt của nhà nước trong cuộc đấu tranh để củng cố
quyền lợi của giai cấp thống trị.
+Các giá trị của con người thời nô lệ như: sự sùng bái đối với cơ thể phát
triển cân đối, cường tráng, lòng dũng cảm, sự chịu đựng khổ nhục về thân
thể,... đã chiếm một vị trí chủ yếu trong hệ thống các giá trị.
+Các sự kiện thể dục thể thao quan trọng của thời kì này như các cuộc thi
Olympic đã ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa các quốc gia.
+Luyện tập thể dục thể thao phát triển mạnh trong đội ngũ những công
dân tự do và chủ nô.
+Mục đích giáo dục thể chất là phát triển thể lực và tinh thần của giai cấp
chủ nô và chuẩn bị cho chúng tiến hành chiến tranh bảo vệ những vùng
đất đã xâm chiếm. Nội dung giáo dục thể chất chủ yếu là các bài tập phục
vụ cho việc tiến hành chiến tranh.
Câu 2: Anh (Chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển giáo dục
thể chất thời kỳ xã hội phong kiến và thời kỳ cận đại, đương đại?
- TDTT ra đời cùng với sự ra đời của xã hội loài người, dưới sự tác động
của môi trường và mối quan hệ cộng đồng, đòi hỏi phải đấu tranh sinh tồn
vì cuộc sống như đi, đứng, chạy, nhảy..... Đây là nhân tố khách quan và ý
thức chủ quan (săn, bắn, hái, lượm...), luôn gắn chặt với lao động sản
xuất để tồn tại.
- TDTT như là một bộ phận nền văn hóa chung của loài người. Thời kỳ đầu
sử dụng các công cụ thô sơ. Qua thời gian, họ biết phối hợp các hành vi
vận động của từng cá nhân làm tăng vị thế và uy lực, GDTC được phát
triển thông qua các bài tập sức mạnh, nhanh, bền, mềm dẻo, khéo. Sự
kiên trì và nỗ lực ý chí đã khắc phục môi trường xung quanh, nâng cao ý
thức tập thể, tính phối hợp đồng đội dẫn đến hình thành tổ nhóm. Công
tác GDTC ở thời kỳ này chủ yếu là các hoạt động phát triển cơ bắp về sức
nhanh, sức mạnh, sức bền. Mục đích con người tham gia tập luyện các bài
tập TDTT đơn thuần nhằm để phô trương quyền lực và sức mạnh của các
bộ tộc, mở mang bờ cõi, việc nâng cao tố chất thể lực chỉ chú trọng vào
giáo dục lòng dũng cảm và các phẩm chất ý chí. Các môn thể thao phát
triển: chạy, nhảy, ném, vật, mang vác vật nặng và các trò chơi. Điều này
đã phản ánh khách quan tính tích cực của con người dưới chế độ thị tộc
chưa có giai cấp, nhưng đã chứng minh tiềm lực của con người là vô tận:
duy trì phát triển văn hóa, cải tạo thiên nhiên môi trường.
Câu 3: Anh (Chị) hãy trình bày hệ thống giáo dục thể chất trong
trường đại học?
- Giáo dục thể chất trong trường đại học:
Là quá trình giáo dục, rèn luyện của nhà trường đối với tất cả các sinh
viên nhằm phát triển thể chất, nhân cách; bồi dưỡng và nâng cao tri
thức chuyên môn về lý luận và phương pháp GDTC, củng cố và phát
triển năng khiếu để sinh viên học tập và rèn luyện đạt kết quả cao
trong quá trình học tập.
Hệ thống GDTC cho sinh viên trong trường đại học là những quan
điểm, mục tiêu hệ thống tri thức GDTC; cấu trúc, nội dung và hình thức
GDTC; phương pháp GDTC; tổ chức quản lý GDTC.
- Chủ thể và đối tượng GDTC trong trường đại học:
Chủ thể GDTC trong trường đại học: (3 chủ thể)
+) Nhà trường đề ra phương hướng công tác GDTC để thực hiện
chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
+) Khoa hoặc bộ môn GDTC chịu trách nhiệm giảng dạy, kiểm tra,
giám sát và đánh giá kết quả.
+) Phòng đào tạo, phòng Y tế cùng phối hợp với bộ môn GDTC tham
gia vào quản lý, kiểm tra sức khỏe và thể lực định kỳ đối với sinh viên.
Đối tượng GDTC trong trường đại học: (2 đối tượng)
+) Sinh viên các lớp bằng 1 chính quy tập trung bắt buộc phải tham
gia các chương trình chính khóa và ngoại khóa.
+) Sinh viên hệ không tập trung có thể tham gia hoạt động phong trào
TD, TT của nhà trường.
- Trách nhiệm của sinh viên: (5 ý)
+ Tham gia giờ học theo quy định
+ Kiểm tra sức khỏe và thể lực định kỳ
+ Tích cực tìm hiểu các tài liệu về TD, TT
+ Có chế độ sinh hoạt nghỉ ngơi hợp lý
+ Tích cực tham gia các hoạt động TD, TT 1.3.2
- Mục đích và nhiệm vụ của GDTC trong trường đại học:
Mục đích của GDTC trong trường đại học: Thực hiện mục tiêu đào tạo
cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, văn hóa xã hội,… phát triển
cơ thể hài hòa, có thể chất cường tráng nhằm đáp ứng được yêu cầu
chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao
động, sản xuất… trong thời kỳ mới.
Nhiệm vụ của GDTC trong trường đại học: Giáo dục đạo đức XHCN cho
sinh viên , rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng
cho họ niềm tin lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập
và rèn luyện thân thể.
- Hình thức và phương tiện GDTC trong trường đại học:
Hình thức GDTC: Giảng dạy phần lý thuyết trên lớp; tập luyện thực
hành kỹ thuật ngoài sân vận động được lồng ghép với lý thuyết chuyên
môn; tổ chức các hoạt động ngoại khóa để đẩy mạnh phong trào TD,
TT của sinh viên.
Phương tiện GDTC:s
+sPhần lý thuyết chung: Phương tiện dạy học được trang bị trong
học đường.s
+ Phần thực hành kỹ thuật: Sân bãi, nhà tập, phương tiện, dụng cụ…
phục vụ cho tập luyện và thi đấu.
Câu 4: Anh (Chị) hãy trình bày chức năng giáo dục và chức năng
kinh tế của thể thao?
Chức năng giáo dục:
- Tuy chế độ xã hội, quan niệm chính trị, các hình thức tôn giáo, tín
ngưỡng và nhận thức của các quốc gia thế giới không giống nhau nhưng
đều rất coi trọng tác dụng của TDTT trong giáo dục. Chức năng của TDTT
chủ yếu được biểu hiện trên hai phương diện:
+ Tác dụng của TDTT trong xã hội: Do thể dục thể thao có tính hoạt
động, tính cạnh tranh, tính nghệ thuật, tính lễ nghĩa và tính quốc tế nên
có thể khêu gợi và kích thích được lòng yêu tổ quốc, tinh thần tự hào,
đoàn kết dân tộc. Đây chính là ý nghĩa của TDTT trong xã hội.s
s+ Tác dụng giáo dục của thể thao trong trường học: Để thực hiện mục
tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta là tạo nên những con
người mới phát triển toàn diện về đức, trí, thể ,mỹ và lao động thì thể dục
thể thao là một bộ phận không thể thiếu. Thể dục thể thao giúp cho việc
nâng cao thể chất, giáo dục tinh thần đoàn kết, các phẩm chất đạo đức
và tâm lý cho học sinh.
Chức năng kinh tế:M
- Thể dục thể thao và kinh tế có mối quan hệ tương hỗ, đã có nhiều nhà
kinh tế cho rằng sức lao động và sản xuất được nâng cao là tiêu chí quan
trọng của sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt khi tiến hành đánh giá giá
trị sản xuất thì tố chất của con người lại là tiêu chuẩn vì chủ yếu nhất.
Trong các loại tố chất của con người thì tố chất thể lực đóng một vai trò
hết sức quan trọng.s
- Chính vì vậy các nước trên thế giới đã rất chú trọng đến tác dụng của
thể dục thể thao đối với việc phát triển thể lực cho người lao động, lấy
việc làm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh làm thành mục tiêu thúc đẩy sức lao
động sản xuất của xã hội. Điều này thể hiện chức năng kinh tế ban đầu
của thể dục thể thao.s
- Thể dục thể thao thành tích cao và các ngành kinh tế thương mại, du
lịch... có mối quan hệ hết sức mật thiết. Một cuộc thi đấu thể thao được tổ
chức ở một địa điểm nào đó sẽ kéo theo hàng loạt dịch vụ, ngành nghề
kinh tế như: du lịch, thương mại, thông tin, dịch vụ và phát triển,....
Câu 5: Anh (Chị) hãy trình bày nguyên nhân và cách phòng chống
chấn thương trong thể dục thể thao?
-Nguyên nhân của chấn thương: Nguyên nhân gây ra chấn thương TT
có rất nhiều. Dựa vào các tư liệu nghiên cứu, tổng hợp các nguyên nhân
chấn thương TT ở trong nước và ngoài nước hiện nay, có thể phân thành
hai mặt: Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân tiềm ẩn (nguyên nhân dẫn
dắt).s
Nguyên nhân cơ bản (nguyên nhân trực tiếp hoặc nguyên nhân
chung): (7 ý)
+ Tư tưởng không coi trọng hoặc thiếu tri thức đề phòngs
+ Thiếu sót trong khởi động.s
+ Trình độ huấn luyện kém.s
+ Trạng thái cơ thể không tốt.s
+ Phương pháp tổ chức không thoả đáng.s
+ Vi phạm quy tắc TT.s
+ Sân bãi dụng cụ, trang phục không phù hợp yêu cầu vệ sinh an toàn,
khí hậu, thời tiết xấu.s
Nguyên nhân tiềm ẩn của chấn thương (Nguyên nhân dẫn dắt):
+ Nguyên nhân dẫn dắt của chấn thương là do hai nhân tố tiềm ẩn về
sinh lý, giải phẫu của các bộ phận cơ thể nào đó và đặc điểm kỹ thuật của
bản thân môn TT quyết định. Chỉ khi có sự tác động của nguyên nhân trực
tiếp thì những yếu tố tiềm ẩn này mới trở thành nguyên nhân dẫn tới
chấn thương. Có rất nhiều nhân tố nội tạng khác nhau và quy luật phát
sinh chấn thương của mỗi nhân tố này cũng rất khác nhau.s
+ Đặc điểm giải phẫu sinh lý.s
+ Đặc điểm về lứa tuổi.s
+ Đặc điểm của kỹ thuật bản thân môn TT.s
-Nguyên tắc đề phòng chấn thương (5 ý chính):
Tăng cường giáo dục về mục đích của TD, TT:M
+ Hiểu những kiến thức có liên quan về vấn đề chấn thương.s
+ Tăng cường giáo dục tính tổ chức kỷ luật.s
Sắp xếp hợp lý quá trình tập luyện và thi đấu:s
+ Tìm hiểu kỹ trọng tâm và những nội dung khó của buổi tập. Đối với
những nội dung khó nắm vững, những khâu mà người tập dễ mắc sai lầm
hoặc những động tác có nhiều nguy cơ xảy ra chấn thương thì phải có sự
chuẩn bị, dự phòng tốt để đảm bảo an toàn cho tập luyện.s
Phải khởi động tốt:M
+ Mục đích của khởi động là nâng cao tính hưng phấn của hệ thống các
trung khu thần kinh, tăng cường chức năng của các hệ thống cơ quan,
khắc phục tính ý sinh lý của các chức năng, chuẩn bị tốt khả năng cơ thể
cho phần tập luyện chính.s
Tăng cường bảo hiểm và tự bảo hiểm:M
+ Bảo hiểm là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa chấn thương.s
+ Người tham gia tập luyện TD, TT cần phải học được phương pháp tự bảo
hiểm.s
sTăng cường công tác kiểm tra y học và chú ý vệ sinh sân bãi
dụng cụ:M
+ Cần phải định kỳ tiến hành kiểm tra thể lực, sức khoẻ...s
+ Cần phải tăng cường quan sát, kiểm tra y học và kiểm tra sức khỏe định
kỳ.s
Câu 6: Anh (Chị) hãy phân tích khái niệm thể thao và giáo dục thể
chất?
-Thể thao được coi là một bộ phận chủ yếu, lớn, nổi bật trong TDTT.s
-Người ta phân biệt thể thao theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng:
+ Khái niệm thể thao theo nghĩa hẹp: TT là một hoạt động mang tính trò
chơi, một hình thức thi đấu đặc biệt chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận
động thể lực, nhằm phát huy những năng lực chuyên biệt, đạt thành tích
cao, cao nhất được so sánh trực tiếp và công bằng trong những điều kiện
chuyên môn như nhau.
+ Khái niệm TT theo nghĩa rộng: trước nhất là bao gồm hoạt động thi đấu,
là sự chuẩn bị tập luyện đặc biệt cho thi đấu. TT là mối quan hệ đặc biệt
giữa người với người trong thi đấu cùng với ý nghĩa xã hội, với thành tích
thi đấu gộp chung lại.
-Thông thường, người ta coi GDTC là một bộ phận của TDTT. Nhưng chính
xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định
hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền thụ
và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục - giáo dưỡng
chung (chủ yếu trong các nhà trường).
GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận
động (dạy học động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động
của con người.
-Khái niệm GDTC nằm trong khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng là quá
trình phát triển toàn diện và hình thành nhân cách, được tổ chức một
cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các mối quan
hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm
lĩnh các kinh nghiệm của xã hội loài người. -Điều đó có nghĩa là GDTC là
một hiện tượng sư phạm với đầy đủ ý nghĩa của nó (vai trò chủ đạo của
nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của thầy giáo và học sinh phù hợp với
các nguyên tắc sư phạm..).s
Câu 7: Anh (Chị) hãy phân tích cấu trúc một buổi tập thể dục, thể
thao. Theo Anh (chị) để một buổi tập có hiệu quả cần lưu ý đến
yếu tố nào?Tại sao?
Cấu trúc một buổi thể dục thể thao: Một buổi tập được chia làm 3
phần, yêu cầu người tập phải tuân theo để bảo đảm luyện tập có khoa
học, có hệ thống và để thể lực cùng thành tích thể thao được nâng cao
dần, đồng thời giảm tối đa các phản ứng xấu, chấn thương có thể xảy
ra cho người tập.
+) Phần thứ nhất: Phần chuẩn bị( gồm chung và chuyên môn)
- Khởi động chung: Nhằm đưa cơ thể từ trạng thái bình thường sang trạng
thái vận động và vận động cường độ cao. Gồm các bài tập thể dục tay
không chạy, nhảy, các khớp...
- Khởi động chuyên môn: Gồm những bài tập chuẩn bị cho phần chính(Cơ
bản), những bài tập này gần giống hoặc là phân đoạn của nội dung
chính,có khi là những kỹ năng vận động.
Mục đích: Bổ trợ cho nội dung chính trong phần cơ bản và ôn tập những
nội dung hoàn thiện.
+) Phần thứ 2: Phần cơ bản- phần chínhM
Phần cơ bản là phần chính của buổi tập, gồm những bài tập mới (động tác
mới) nên tập đầu tiên sau đó là những bài tập đang hoàn thiện để trở
thành KNKX vận động. Cuối cùng giành 10-15 phút tập thể lực. Các bài
tập nâng cao sức bền sắp xếp vào cuối buổi tập, không tập tăng tốc độ và
các bài tập khéo léo khi cơ thể mệt mỏi.
Trong phần cơ bản, LVĐ(lượng vận động) là vấn đề người tập phải lưu ý.
Hai yếu tố cường độ vận động và khối lượng vận động liên quan với nhau
quyết định LVĐ lớn hay nhỏ. LVĐ phải phù hợp với sức khỏe từng người.
Nếu LVĐ nhỏ thì buổi tập ít tác dụng. LVĐ hợp lý, vừa với sức chịu đựng,
người tập không phải gắng sức tối đa, tác dụng buổi tập có kết quả tốt.
LVĐ quá cao gây mệt mỏi quá sức chịu đựng, nếu kéo dài nhiều buổi tập
có thể gây ra chấn thương, mệt mỏi quá độ, sức khỏe giảm sút dẫn tới
không tập luyện tiếp tục được, có khi phải nghỉ dài, điều trị an dưỡng.
+) Phần thứ 3 (cuối cùng):
Sử dụng các bài tập thả lỏng cơ bắp, hồi tĩnh, tập thở, trò chơi làm giảm
căng thẳng, xoa bóp, tắm nước nóng, tắm hơi...
Mục đích: Đưa cơ thể dần chuyển về trạng thái bình thường để hồi phục
thể lực chuẩn bị cho ngày học tập và làm việc tiếp theo.
Để một buổi tập thể dục thể thao có hiệu quả thì cần lưu ý đến yếu tố
cường độ vận động .Bởi vì cường độ vận động là sức mạnh tác động thể
lực ở mỗi điểm nhất định, độ căng thẳng và mức độ tập trung của sức
mạnh đó theo thời gian.Cường độ vận động là một khái niệm phản ánh
mặt chất lượng vận động.Vì thế nên yếu tố cường độ vận động là quan
trọng và cần được lưu ý.
Câu 8: Anh (Chị) hãy phân tích kỹ năng vận động, các quá trình
hình thành kỹ năng vận động?
-Là tất cả các hoạt động của con người, bao gồm cả hoạt động vận động
đều gọi là phản xạ.s
-Các phản xạ được di truyền, có sẵn trong cơ thể con người từ khi mới ra
đời được gọi là phản xạ không điều kiện. Chúng có tính bẩm sinh và là cơ
sở của các hành vi bản năng.s
-Trong quá trình sống và rèn luyện trên cơ sở những phản xạ không điều
kiện, có thể hình thành những phản xạ mới để thích nghi với điều kiện
sống, những phản xạ này được gọi là phản xạ có điều kiện.s
Ví dụ: Trước khi đưa thức ăn vào miệng con chó, kết hợp với chuông reo
và lặp đi lặp lại nhiều lần, thì về sau chỉ cần nghe tiếng chuông reo con
chó đã có phản ứng tiết nước bọt với tiếng chuông.ss
=> Như vậy phản xạ có điều kiện được hình thành trong tập luyện ->s xây
dựng phản xạ.ss
-Hoạt động của con người liên quan chặt chẽ với việc hình thành các phản
xạ có điều kiện. Ở con người có thể hình thành những phản xạ có điều
kiện rất phức tạp: phản xạ này dựa trên phản xạ kia. Đặc biệt có thể xây
dựng các phản xạ có điều kiện ở con người dựa trên các tín hiệu đặc biệt
như: Lời nói và chữ viết. Các cử động, động tác, hoạt động vận động cũng
là các phản xạ. Khi con người sinh ra với một số phản xạ vận động bẩm
sinh rất hạn chế. Phần lớn các động tác vận động là phản xạ có điều kiện.
Tức là được hình thành trong quá trình sống, hoặc do tập luyện.ss
-Do yêu cầu của mục đích vận động và để thích nghi với điều kiện sốngs
các phản xạ vận động được phối hợp lại với nhau thành một tổ hợp các
độngs tác có ý nghĩa và trở thành kỹ năng vận động.sss
-Kỹ năng vận động là một hình thức hành động, được hình thành theo cơs
chế phản xạ có điều kiện, nhờ quá trình tập luyện thường xuyên.sNói một
cách đơn giản, kỹ năng vận động là các động tác được thực hiệns một
cách tự động do đã trở thành thói quen. Đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy,... làs
các kỹ năng vận động cơ bản. Tất cả các kỹ thuật thể thao cũng đều là
các kỹ năng vận động.sss
-Kỹ năng vận động được hình thành dần dần, theo 3 giai đoạn: Lan tỏa,
tập trung và tự động hóa.ss
sssssss+ Trong giai đoạn lan tỏa, hưng phấn lan rộng trên vỏ đại não vì chưa
hình thành được tổ hợp vận động tối ưu. Nhiều nhóm cơ vận động cần
thiết cũng tham gia vào vận động. Động tác vì vậy không chính xác,
nhiều cử động thừa, không tinh tế.ss
sssssss+Sau một thời gian lặp lại, giai đoạn lan tỏa chuyển sang giai đoạn
tập trung. Trong giai đoạn này hưng phấn tập trung ở những vùng nhất
định trên vỏ não, cần thiết cho vận động.sCác động tác thừa mất đi, cơ
căng và co bóp ở mức độ hợp lý, động tác trở nên nhịp nhàng, chính xác
và thoải mái hơn. Kỹ năng vận động đã được hình thành tương đối ổn
định.ss
sssssss+ Trong giai đoạn tự động hóa (Kỹ xảo vận động), kỹ năng vận động
được củng cố đến mức được thực hiện hầu như tự động, không cần sự chú
ý của ý thức. Kỹ năng vận động cho phép thực hiện nhiều động tác khác
nhau cùng một lúc.
Câu 9: Anh (Chị) hãy phân tích sự ảnh hưởng của tập luyện thể
dục, thể thao đối với chức năng tuần hoàn và hô hấp của con
người?
-Ảnh hưởng của thể dục thể thao đến hệ tuần hoàn :
sssss + Khi con người tập luyện TDTT thì hoạt động của các cơ tăng lên, cơ
thể yêu cầu phải cung cấp thêm chất dinh dưỡng và oxy nhiều hơn lúc
bình thường để duy trì hoạt động, vì vậy bộ máy tuần hoàn tăng cường
hoạt động để đáp ưng nhu cầu của cơ thể.
sssss + Người thường xuyên tập luyện thì cơ tim dày và chắc hơn, sức co
bóp của tim mạnh hơn và nhịp đập của tim trong mỗi phút ít hơn. Ngược
lại, người ít tập luyện khi lao động tim sẽ đập nhanh, người mau mệt, dễ
xỉu…
ssss + Tập luyện TDTT làm tăng tính đàn hồi của máu, toàn bộ mạch máu
đều co giãn tốt. Cho nên người tập TDTT thường xuyên khi về già ít bị
chứng căng mạch máu, là nguyên nhân sinh ra bệnh cao huyết áp.
ssss + Tập luyện TDTT thì hồng cầu tăng lên từ 4 triệu lên 4 triệu rưỡi - 5
triệu, bạch cầu tăngs từ 6000 lên 10.000. Hồng cầu làm nhiệm vụ vận
chuyển oxy và CO2, bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể.
sssss + Da thịt VĐV luôn thắm đỏ hơn người bình thường
-Ảnh hưởng của thể dục thể thao đến hệ hô hấp :
sssss + Khi tập luyện, cơ thể sản sinh ra nhiều axit lactic làm ảnh hưởng
đến hoạt động của cơ nên cần có khối lượng oxy lớn để oxy hóa nó. Khi
tập luyện càng nặng thì cơ thể yêu cầu oxy càng nhiều. Song lượng oxy
hít vào chưa đáp ứng đủ yêu cầu cơ thể nên axit lactic chưa được oxy hóa
hết gây nên hiện tượng mỏi cơ và thở gấp.
ssss + Các em thanh thiếu niên tập luyện thường xuyên thì lồng ngực sẽ
nở, dung tích sống được tăng lên, số lần hô hấp sẽ giảm đi, hiện tượng nợ
dưỡng khí sẽ giảm đi, do đó cơ thể hồi phục nhanh chóng trở về trạng thái
bình thường, phổi sẽ làm việc thong thả hơn.
sssssssssss+ Người không tập luyện thì khi hoạt động sẽ thở gấp, nông, cảm
thấy mau mệt mỏi…
Câu 10: Anh (Chị) hãy phân tích cơ sở sinh lý để phát triển các tố
chất vận động?
-Các kỹ năng vận động do yêu cầu của mục đích vận động và để thích
nghi với điều kiện sống, các phản xạ vận động được phối hợp lại với nhau
thành tổ hợp các động tác có ý nghĩa để trở thành kỹ năng vận động. Có
3 giai đoạn: lan tỏa, tập chung, tự động hóa.
-Các tố chất vận động: Các mặt khác nhau của khả năng vận động, gồm
có 4 tố chất cơ bản:s sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo.
+ Sức mạnh là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài của cơ phụ
thuộc vào đặc tính của quá trình thần kinh điều khiển sự co cơ, phụ thuộc
vào số lượng đơn vị có chứa trong cơ. Cơ sở sinh lý để phát triển sức
mạnh cần phải có 1 số lượng lớn cơ căng ra co cùng một lúc. Tăng tính
đồng bộ trong sự hoạt động của các nhóm cơ và tăng độ dày tiết diện
ngang, luyện tập đặc biệt có thể tăng sức mạnh lên 3 đến 4 lần so với lúc
ban đầu.
sssss+ Sức nhanh là kỹ năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất,
được thể hiện dưới hai hình thức: sức nhanh đơn giản và sức nhanh phức
tạp. Sức nhanh đơn giản bao gồm các động tác phản ứng đơn lẻ. Sức
nhanh phức tạp tổng hợp các động tác hoạt động vận động. Cơ sở sinh lý
đối với sức nhanh đòi hỏi phải tăng cường độ linh hoạt và tốc độ lan tỏa
hưng phấn ở trung ương thần kinh. Để tạo ra sức nhanh đòi hỏi cần có
thời gian.
+ Sức bền khả năng thực hiện động tác trong thời gian dài, kỹ năng
chống đỡ của cơ thể trong thời gian dài. Cơ sở sinh lý: tốc độ phát triển
của chức năng tim mạch, hô hấp, trạng thái của máu và dự trữ các chất
dinh dưỡng trong cơ thể, tuyến nội tiết, quá trình điều nhiệt. Sức bền được
thể hiện ở 4 dạng: sức bền chung, sức bền chuyên môn, sức bền mạnh,
sức bền tốc độ.
+ Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phức tạp trong điều kiện môi
trường thay đổi. Cơ sở sinh lý: các phản xạ môi trường phức tạp phụ thuộc
vào trạng thái của hệ thần kinh trung ương, tốc độ xử lý trung ương.
Câu 11: Anh (chị) hãy đưa ra một lượng vận động bên ngoài. Đánh
giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng lượng vận động đó?
-Lượng vận động bên ngoài: khi chạy ngắn ta có thể quan sát bằng cảm
giác chủ quan, vẻ bên ngoài: mệt mỏi, thở gấp, đổ mồ hôi, màu da nhợt
nhạt.
Ví dụ: Trong một buổi tập, yêu cầu chạy 400m với tốc độ nhanh nhất
(cường độ cao) thì chỉ thực hiện được 1 lần (khối lượng thấp). Nếu tiếp tục
yêu cầu chạy thêm 1 lần nữa (khối lượng tăng lên) thì tốc độ (cường độ)
chắc chắn sẽ bị giảm sút.
Phân tích:
- Độ dài: 400m
- Tốc độ: nhanh nhất của cơ thểs
- Thời gian ước tính: 2-3 phút
- Cường độ: cao
- số lần chạy: 1 lầns
- khối lượng: thấp
-> số lần lặp lại 1 lần thì khối lượng tăng, tốc độ (cường độ) giảm sút dẫn
đến các dấu hiệu trên khi dừng lại.
Câu 12: Anh (Chị) hãy áp dụng phương pháp tập luyện vòng tròn
nhằm giáo dục tố chất sức bền trong tập luyện thể dục, thể thao?
Cho ví dụ?
- PP tập luyện vòng tròn:
+Quá trình thực hiện các bài tập theo thứ tự từng nhóm với những bài tập
đã được lựa chọn và hợp nhất lại thành bài tập liên hợp. Các bài tập được
thực hiện theo từng trạm kế tiếp nhau, các trạm được bố trí theo dạng
vòng tròn. Tại mỗi trạm người tập thực hiện một loạt các động tác hoặc
những hành động nhất định. Số lần lặp lại ở mỗi trạm được xác định theo
đặc điểm của người tập, thông thường số lần lặp lại được thực hiện 1/3
đến 2/3 số lần lặp lại tối đa.
+Hình thức tập luyện vòng tròn nhằm giáo dục các tố chất thể lực, khi
thực hiện tập luyện theo PP vòng tròn thường sử dụng những bài tập có kĩ
thuật đơn giản và người tập đã nắm vững các kĩ thuật động tác trước đó.
+Ưu điểm của PP vòng tròn là những ưu điểm của tác động chọn lọc được
kết hợp với tác động chung, tác động ổn định được kết hợp với tác động
biến đổi. Đặc biệt là hiệu quả của sự chuyển (thay đổi hoạt động) quãng
được sử dụng rộng rãi. Nhờ vậy phát huy được khả năng vận động thể lực
và cảm xúc tích cực.
Câu 13: Anh (Chị) hãy vận dụng nguyên tắc tăng tiến vào thực
tiễn tập luyện thể dục, thể thao? Cho ví dụ?
Vận dụng nguyên tắc tăng tiến vào thực tiễn tập luyện thể dục, thể thao:
bắt đầu với những động tác đơn giản, cường độ thấp, sau khi đã quen thì
bắt đầu tăng dần về cường độ và thời gian, chuyển sang các bài tập phức
tạp hơn, không nóng vội, ngẫu hứng, tùy tiện.
Ví dụ: Tránh tập đi tập lại 1 bài tập tạ mỗi ngày mà đổi sang bài mới,
giảm số hiệp, tăng số lần hoặc gia tăng mức tạ. Khi đã chạy bộ được
trung bình 6.5km thì đi lên từng bước nhỏ, tăng thêm 1.6km mỗi tuần.
Câu 14: Anh (Chị) hãy áp dụng các biện pháp khắc phục hiện
tượng chuột rút và say nắng trong tập luyện thể dục, thể thao?
Các biện pháp khắc phục chuột rút:
-Bị chuột rút khi đang luyện tập thể dục thể thảo cần dừng vận động
ngay, nếu thời tiết nóng thì cần vào nghỉ ở khu vực thoáng mát, nhẹ
nhàng xoa bóp vùng cơ bị đau. Thực hiện động tác kéo giãn cơ bị rút và
giữ ở tư thế đến khi hết bị co rút. Tránh những động tác gây đau và co rút
cơ. Có thể chườm nóng vùng cơ đang bị co rút trước, sau đó chườm lạnh
vùng cơ đâu, uống bù nước và điện giải cho cơ thể. Nếu bị chuột rút khi
luyện tập nhiều lần hoặc bị chuột rút kéo dài ko cải thiện khi đã xử lí bằng
phương pháp trên nên gọi cấp cứu hoặc đưa đến khám bác sĩ chuyên
khoa y học thể thao.
Các biện pháp khắc phục say nắng:
Khi nhận thấy 1 người có dấu hiệu say nắng bạn cần:
+ nhanh chóng gọi cấp cứu hoặc ý tế địa phương
+ di chuyển người bị say nắng đến nơi râm máts
+ cởi bớt quần áo ko cần thiếts
+ thường xuyên ktra nhiệt độ cơ thểs
+ làm mát cơ thể bằng cách: xịt mát cơ thể bằng nước,đặt túi nước đá
hay khăn mát lên vùng cổ.., cho người say nắng uống nước mát để bù
nước.
+ đánh giá mức độ tỉnh táo của người say( lấy gọi, tiếp xúc…), nếu còn
tỉnh táo thì cho uống nước, chất điện giải; nếu chưa tỉnh táo tiếp tục làm
mát cơ thể trong khi chờ xe cấp cứu; nếu bất tỉnh ko có dấu hiệu tuần
hoàn thì thực hiện hô hấp nhân tạo.
Câu 15:M:Anh (Chị) hãy dựa vào nguyên tắc vệ sinh cá nhân để xây
dựng một thời gian biểu phù hợp cho bản thân?
- 7 nguyên tắc vệ sinh cá nhân:
+1 Rửa tay thường xuyêns
+2 Tắm rửa hàng ngày.Tắm rửa sạch sẽ ít nhất một lần mỗi ngày cũng
cực kỳ quan trọng để bảo vệ sức khỏe bạn. ...
+3 Đánh răng hai lần một ngày. ...
+4 Chia sẻ không phải là yêu thương. ...Không được chia sẻ đồ dùng cá
nhân với người khác ví dụ như là các vật dụng trang điểm, bấm móng tay,
tai nghe và lược. Đây đều là những “ổ” vi trùng cá nhân. Chia sẻ đồ dùng
cá nhân sẽ tăng khả năng lây nhiễm các loại bệnh. Để có thể bảo vệ bản
thân bạn, tốt nhất không nên chia sẻ đồ dùng cá nhân với bất kì ai.
+5 Thay vớ thường xuyên. ...
+6 Cắt móng tay móng chân. ...
+7 Che miệng khi ho và hắt xì
- Ngoài thời gian làm việc ra thì mỗi người cần có một thời gian
biểu cho bản thân. Là một sinh viên của Học viện cần sắp xếp thời
gian biểu hợp lí trong một ngày :
Thời gian biểu ( Cái này mng tự lập theo thói quen sinh hoạt hằng ngày
của mình nha)
| 1/16

Preview text:

HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN GDTC
Câu 1: Anh (chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển của thể
dục thể thao thời kỳ xã hội nguyên thủy và xã hội chiếm hữu nô lệ?
-Trong xã hội nguyên thủy:
+Tất cả của cải làm ra đều là của chung, mọi người cùng lao động, cùng
hưởng không có giai cấp, không có bóc lột, nền giáo dục thể chất được
thực hiện công bằng và thống nhất đối với mọi người. Những đặc điểm
của nền sản xuất và quan hệ xã hội thời cổ sơ đã quyết định sự kết hợp
chặt chẽ giữa giáo dục thể chất với quá trình lao động và các hình thức giáo dục khác.
+Mục đích giáo dục thể chất là đào tạo người đi săn và nội dung là những
trò chơi bắt chước cảnh săn bắn, những nghi thức sinh hoạt. Thể dục thể thao dành cho mọi người. -Trong xã hội nô lệ:
+Do sức sản xuất phát triển, kinh nghiệm sản xuất ngày càng phong phú,
của cải vật chất dư thừa, chế độ tư hữu về công cụ lao động và phương
tiện sản xuất ra đời, chế độ cộng sản nguyên thuỷ tan rã, loài người bước
vào chế độ có giai cấp. Giáo dục nói chung và giáo dục thể chất nói riêng
trở thành công cụ đặc biệt của nhà nước trong cuộc đấu tranh để củng cố
quyền lợi của giai cấp thống trị.
+Các giá trị của con người thời nô lệ như: sự sùng bái đối với cơ thể phát
triển cân đối, cường tráng, lòng dũng cảm, sự chịu đựng khổ nhục về thân
thể,... đã chiếm một vị trí chủ yếu trong hệ thống các giá trị.
+Các sự kiện thể dục thể thao quan trọng của thời kì này như các cuộc thi
Olympic đã ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ giữa các quốc gia.
+Luyện tập thể dục thể thao phát triển mạnh trong đội ngũ những công dân tự do và chủ nô.
+Mục đích giáo dục thể chất là phát triển thể lực và tinh thần của giai cấp
chủ nô và chuẩn bị cho chúng tiến hành chiến tranh bảo vệ những vùng
đất đã xâm chiếm. Nội dung giáo dục thể chất chủ yếu là các bài tập phục
vụ cho việc tiến hành chiến tranh.
Câu 2: Anh (Chị) hãy trình bày sơ lược lịch sử phát triển giáo dục
thể chất thời kỳ xã hội phong kiến và thời kỳ cận đại, đương đại?
- TDTT ra đời cùng với sự ra đời của xã hội loài người, dưới sự tác động
của môi trường và mối quan hệ cộng đồng, đòi hỏi phải đấu tranh sinh tồn
vì cuộc sống như đi, đứng, chạy, nhảy..... Đây là nhân tố khách quan và ý
thức chủ quan (săn, bắn, hái, lượm...), luôn gắn chặt với lao động sản xuất để tồn tại.
- TDTT như là một bộ phận nền văn hóa chung của loài người. Thời kỳ đầu
sử dụng các công cụ thô sơ. Qua thời gian, họ biết phối hợp các hành vi
vận động của từng cá nhân làm tăng vị thế và uy lực, GDTC được phát
triển thông qua các bài tập sức mạnh, nhanh, bền, mềm dẻo, khéo. Sự
kiên trì và nỗ lực ý chí đã khắc phục môi trường xung quanh, nâng cao ý
thức tập thể, tính phối hợp đồng đội dẫn đến hình thành tổ nhóm. Công
tác GDTC ở thời kỳ này chủ yếu là các hoạt động phát triển cơ bắp về sức
nhanh, sức mạnh, sức bền. Mục đích con người tham gia tập luyện các bài
tập TDTT đơn thuần nhằm để phô trương quyền lực và sức mạnh của các
bộ tộc, mở mang bờ cõi, việc nâng cao tố chất thể lực chỉ chú trọng vào
giáo dục lòng dũng cảm và các phẩm chất ý chí. Các môn thể thao phát
triển: chạy, nhảy, ném, vật, mang vác vật nặng và các trò chơi. Điều này
đã phản ánh khách quan tính tích cực của con người dưới chế độ thị tộc
chưa có giai cấp, nhưng đã chứng minh tiềm lực của con người là vô tận:
duy trì phát triển văn hóa, cải tạo thiên nhiên môi trường.
Câu 3: Anh (Chị) hãy trình bày hệ thống giáo dục thể chất trong trường đại học? -
Giáo dục thể chất trong trường đại học:
Là quá trình giáo dục, rèn luyện của nhà trường đối với tất cả các sinh
viên nhằm phát triển thể chất, nhân cách; bồi dưỡng và nâng cao tri
thức chuyên môn về lý luận và phương pháp GDTC, củng cố và phát
triển năng khiếu để sinh viên học tập và rèn luyện đạt kết quả cao trong quá trình học tập.
Hệ thống GDTC cho sinh viên trong trường đại học là những quan
điểm, mục tiêu hệ thống tri thức GDTC; cấu trúc, nội dung và hình thức
GDTC; phương pháp GDTC; tổ chức quản lý GDTC.
- Chủ thể và đối tượng GDTC trong trường đại học:
Chủ thể GDTC trong trường đại học: (3 chủ thể)
+) Nhà trường đề ra phương hướng công tác GDTC để thực hiện
chương trình giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
+) Khoa hoặc bộ môn GDTC chịu trách nhiệm giảng dạy, kiểm tra,
giám sát và đánh giá kết quả.
+) Phòng đào tạo, phòng Y tế cùng phối hợp với bộ môn GDTC tham
gia vào quản lý, kiểm tra sức khỏe và thể lực định kỳ đối với sinh viên.
Đối tượng GDTC trong trường đại học: (2 đối tượng)
+) Sinh viên các lớp bằng 1 chính quy tập trung bắt buộc phải tham
gia các chương trình chính khóa và ngoại khóa.
+) Sinh viên hệ không tập trung có thể tham gia hoạt động phong trào TD, TT của nhà trường.
- Trách nhiệm của sinh viên: (5 ý)
+ Tham gia giờ học theo quy định
+ Kiểm tra sức khỏe và thể lực định kỳ
+ Tích cực tìm hiểu các tài liệu về TD, TT
+ Có chế độ sinh hoạt nghỉ ngơi hợp lý
+ Tích cực tham gia các hoạt động TD, TT 1.3.2
- Mục đích và nhiệm vụ của GDTC trong trường đại học:
Mục đích của GDTC trong trường đại học: Thực hiện mục tiêu đào tạo
cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế, văn hóa xã hội,… phát triển
cơ thể hài hòa, có thể chất cường tráng nhằm đáp ứng được yêu cầu
chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn lao
động, sản xuất… trong thời kỳ mới.
Nhiệm vụ của GDTC trong trường đại học: Giáo dục đạo đức XHCN cho
sinh viên , rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng
cho họ niềm tin lối sống tích cực lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể.
- Hình thức và phương tiện GDTC trong trường đại học:
Hình thức GDTC: Giảng dạy phần lý thuyết trên lớp; tập luyện thực
hành kỹ thuật ngoài sân vận động được lồng ghép với lý thuyết chuyên
môn; tổ chức các hoạt động ngoại khóa để đẩy mạnh phong trào TD, TT của sinh viên. Phương tiện GDTC:s
+sPhần lý thuyết chung: Phương tiện dạy học được trang bị trong học đường.s
+ Phần thực hành kỹ thuật: Sân bãi, nhà tập, phương tiện, dụng cụ…
phục vụ cho tập luyện và thi đấu.
Câu 4: Anh (Chị) hãy trình bày chức năng giáo dục và chức năng kinh tế của thể thao? Chức năng giáo dục:
- Tuy chế độ xã hội, quan niệm chính trị, các hình thức tôn giáo, tín
ngưỡng và nhận thức của các quốc gia thế giới không giống nhau nhưng
đều rất coi trọng tác dụng của TDTT trong giáo dục. Chức năng của TDTT
chủ yếu được biểu hiện trên hai phương diện:
+ Tác dụng của TDTT trong xã hội: Do thể dục thể thao có tính hoạt
động, tính cạnh tranh, tính nghệ thuật, tính lễ nghĩa và tính quốc tế nên
có thể khêu gợi và kích thích được lòng yêu tổ quốc, tinh thần tự hào,
đoàn kết dân tộc. Đây chính là ý nghĩa của TDTT trong xã hội.s
s+ Tác dụng giáo dục của thể thao trong trường học: Để thực hiện mục
tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước ta là tạo nên những con
người mới phát triển toàn diện về đức, trí, thể ,mỹ và lao động thì thể dục
thể thao là một bộ phận không thể thiếu. Thể dục thể thao giúp cho việc
nâng cao thể chất, giáo dục tinh thần đoàn kết, các phẩm chất đạo đức và tâm lý cho học sinh. Chức năng kinh tế:M
- Thể dục thể thao và kinh tế có mối quan hệ tương hỗ, đã có nhiều nhà
kinh tế cho rằng sức lao động và sản xuất được nâng cao là tiêu chí quan
trọng của sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt khi tiến hành đánh giá giá
trị sản xuất thì tố chất của con người lại là tiêu chuẩn vì chủ yếu nhất.
Trong các loại tố chất của con người thì tố chất thể lực đóng một vai trò hết sức quan trọng.s
- Chính vì vậy các nước trên thế giới đã rất chú trọng đến tác dụng của
thể dục thể thao đối với việc phát triển thể lực cho người lao động, lấy
việc làm giảm thiểu tỷ lệ mắc bệnh làm thành mục tiêu thúc đẩy sức lao
động sản xuất của xã hội. Điều này thể hiện chức năng kinh tế ban đầu của thể dục thể thao.s
- Thể dục thể thao thành tích cao và các ngành kinh tế thương mại, du
lịch... có mối quan hệ hết sức mật thiết. Một cuộc thi đấu thể thao được tổ
chức ở một địa điểm nào đó sẽ kéo theo hàng loạt dịch vụ, ngành nghề
kinh tế như: du lịch, thương mại, thông tin, dịch vụ và phát triển,....
Câu 5: Anh (Chị) hãy trình bày nguyên nhân và cách phòng chống
chấn thương trong thể dục thể thao?
-Nguyên nhân của chấn thương: Nguyên nhân gây ra chấn thương TT
có rất nhiều. Dựa vào các tư liệu nghiên cứu, tổng hợp các nguyên nhân
chấn thương TT ở trong nước và ngoài nước hiện nay, có thể phân thành
hai mặt: Nguyên nhân cơ bản và nguyên nhân tiềm ẩn (nguyên nhân dẫn dắt).s
Nguyên nhân cơ bản (nguyên nhân trực tiếp hoặc nguyên nhân chung): (7 ý)
+ Tư tưởng không coi trọng hoặc thiếu tri thức đề phòngs
+ Thiếu sót trong khởi động.s
+ Trình độ huấn luyện kém.s
+ Trạng thái cơ thể không tốt.s
+ Phương pháp tổ chức không thoả đáng.s + Vi phạm quy tắc TT.s
+ Sân bãi dụng cụ, trang phục không phù hợp yêu cầu vệ sinh an toàn,
khí hậu, thời tiết xấu.s
Nguyên nhân tiềm ẩn của chấn thương (Nguyên nhân dẫn dắt):
+ Nguyên nhân dẫn dắt của chấn thương là do hai nhân tố tiềm ẩn về
sinh lý, giải phẫu của các bộ phận cơ thể nào đó và đặc điểm kỹ thuật của
bản thân môn TT quyết định. Chỉ khi có sự tác động của nguyên nhân trực
tiếp thì những yếu tố tiềm ẩn này mới trở thành nguyên nhân dẫn tới
chấn thương. Có rất nhiều nhân tố nội tạng khác nhau và quy luật phát
sinh chấn thương của mỗi nhân tố này cũng rất khác nhau.s
+ Đặc điểm giải phẫu sinh lý.s
+ Đặc điểm về lứa tuổi.s
+ Đặc điểm của kỹ thuật bản thân môn TT.s
-Nguyên tắc đề phòng chấn thương (5 ý chính):
Tăng cường giáo dục về mục đích của TD, TT:M
+ Hiểu những kiến thức có liên quan về vấn đề chấn thương.s
+ Tăng cường giáo dục tính tổ chức kỷ luật.s
Sắp xếp hợp lý quá trình tập luyện và thi đấu:s
+ Tìm hiểu kỹ trọng tâm và những nội dung khó của buổi tập. Đối với
những nội dung khó nắm vững, những khâu mà người tập dễ mắc sai lầm
hoặc những động tác có nhiều nguy cơ xảy ra chấn thương thì phải có sự
chuẩn bị, dự phòng tốt để đảm bảo an toàn cho tập luyện.s Phải khởi động tốt:M
+ Mục đích của khởi động là nâng cao tính hưng phấn của hệ thống các
trung khu thần kinh, tăng cường chức năng của các hệ thống cơ quan,
khắc phục tính ý sinh lý của các chức năng, chuẩn bị tốt khả năng cơ thể
cho phần tập luyện chính.s
Tăng cường bảo hiểm và tự bảo hiểm:M
+ Bảo hiểm là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa chấn thương.s
+ Người tham gia tập luyện TD, TT cần phải học được phương pháp tự bảo hiểm.s
sTăng cường công tác kiểm tra y học và chú ý vệ sinh sân bãi dụng cụ:M
+ Cần phải định kỳ tiến hành kiểm tra thể lực, sức khoẻ...s
+ Cần phải tăng cường quan sát, kiểm tra y học và kiểm tra sức khỏe định kỳ.s
Câu 6: Anh (Chị) hãy phân tích khái niệm thể thao và giáo dục thể chất?
-Thể thao được coi là một bộ phận chủ yếu, lớn, nổi bật trong TDTT.s
-Người ta phân biệt thể thao theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng:
+ Khái niệm thể thao theo nghĩa hẹp: TT là một hoạt động mang tính trò
chơi, một hình thức thi đấu đặc biệt chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận
động thể lực, nhằm phát huy những năng lực chuyên biệt, đạt thành tích
cao, cao nhất được so sánh trực tiếp và công bằng trong những điều kiện chuyên môn như nhau.
+ Khái niệm TT theo nghĩa rộng: trước nhất là bao gồm hoạt động thi đấu,
là sự chuẩn bị tập luyện đặc biệt cho thi đấu. TT là mối quan hệ đặc biệt
giữa người với người trong thi đấu cùng với ý nghĩa xã hội, với thành tích thi đấu gộp chung lại.
-Thông thường, người ta coi GDTC là một bộ phận của TDTT. Nhưng chính
xác hơn, đó còn là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định
hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền thụ
và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục - giáo dưỡng
chung (chủ yếu trong các nhà trường).
GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận
động (dạy học động tác) và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người.
-Khái niệm GDTC nằm trong khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng là quá
trình phát triển toàn diện và hình thành nhân cách, được tổ chức một
cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các mối quan
hệ giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm
lĩnh các kinh nghiệm của xã hội loài người. -Điều đó có nghĩa là GDTC là
một hiện tượng sư phạm với đầy đủ ý nghĩa của nó (vai trò chủ đạo của
nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của thầy giáo và học sinh phù hợp với
các nguyên tắc sư phạm..).s
Câu 7: Anh (Chị) hãy phân tích cấu trúc một buổi tập thể dục, thể
thao. Theo Anh (chị) để một buổi tập có hiệu quả cần lưu ý đến yếu tố nào?Tại sao?
Cấu trúc một buổi thể dục thể thao: Một buổi tập được chia làm 3
phần, yêu cầu người tập phải tuân theo để bảo đảm luyện tập có khoa
học, có hệ thống và để thể lực cùng thành tích thể thao được nâng cao
dần, đồng thời giảm tối đa các phản ứng xấu, chấn thương có thể xảy ra cho người tập.
+) Phần thứ nhất: Phần chuẩn bị( gồm chung và chuyên môn)
- Khởi động chung: Nhằm đưa cơ thể từ trạng thái bình thường sang trạng
thái vận động và vận động cường độ cao. Gồm các bài tập thể dục tay
không chạy, nhảy, các khớp...
- Khởi động chuyên môn: Gồm những bài tập chuẩn bị cho phần chính(Cơ
bản), những bài tập này gần giống hoặc là phân đoạn của nội dung
chính,có khi là những kỹ năng vận động.
Mục đích: Bổ trợ cho nội dung chính trong phần cơ bản và ôn tập những nội dung hoàn thiện.
+) Phần thứ 2: Phần cơ bản- phần chínhM
Phần cơ bản là phần chính của buổi tập, gồm những bài tập mới (động tác
mới) nên tập đầu tiên sau đó là những bài tập đang hoàn thiện để trở
thành KNKX vận động. Cuối cùng giành 10-15 phút tập thể lực. Các bài
tập nâng cao sức bền sắp xếp vào cuối buổi tập, không tập tăng tốc độ và
các bài tập khéo léo khi cơ thể mệt mỏi.
Trong phần cơ bản, LVĐ(lượng vận động) là vấn đề người tập phải lưu ý.
Hai yếu tố cường độ vận động và khối lượng vận động liên quan với nhau
quyết định LVĐ lớn hay nhỏ. LVĐ phải phù hợp với sức khỏe từng người.
Nếu LVĐ nhỏ thì buổi tập ít tác dụng. LVĐ hợp lý, vừa với sức chịu đựng,
người tập không phải gắng sức tối đa, tác dụng buổi tập có kết quả tốt.
LVĐ quá cao gây mệt mỏi quá sức chịu đựng, nếu kéo dài nhiều buổi tập
có thể gây ra chấn thương, mệt mỏi quá độ, sức khỏe giảm sút dẫn tới
không tập luyện tiếp tục được, có khi phải nghỉ dài, điều trị an dưỡng.
+) Phần thứ 3 (cuối cùng):
Sử dụng các bài tập thả lỏng cơ bắp, hồi tĩnh, tập thở, trò chơi làm giảm
căng thẳng, xoa bóp, tắm nước nóng, tắm hơi...
Mục đích: Đưa cơ thể dần chuyển về trạng thái bình thường để hồi phục
thể lực chuẩn bị cho ngày học tập và làm việc tiếp theo.
Để một buổi tập thể dục thể thao có hiệu quả thì cần lưu ý đến yếu tố
cường độ vận động .Bởi vì cường độ vận động là sức mạnh tác động thể
lực ở mỗi điểm nhất định, độ căng thẳng và mức độ tập trung của sức
mạnh đó theo thời gian.Cường độ vận động là một khái niệm phản ánh
mặt chất lượng vận động.Vì thế nên yếu tố cường độ vận động là quan
trọng và cần được lưu ý.
Câu 8: Anh (Chị) hãy phân tích kỹ năng vận động, các quá trình
hình thành kỹ năng vận động?
-Là tất cả các hoạt động của con người, bao gồm cả hoạt động vận động đều gọi là phản xạ.s
-Các phản xạ được di truyền, có sẵn trong cơ thể con người từ khi mới ra
đời được gọi là phản xạ không điều kiện. Chúng có tính bẩm sinh và là cơ
sở của các hành vi bản năng.s
-Trong quá trình sống và rèn luyện trên cơ sở những phản xạ không điều
kiện, có thể hình thành những phản xạ mới để thích nghi với điều kiện
sống, những phản xạ này được gọi là phản xạ có điều kiện.s
Ví dụ: Trước khi đưa thức ăn vào miệng con chó, kết hợp với chuông reo
và lặp đi lặp lại nhiều lần, thì về sau chỉ cần nghe tiếng chuông reo con
chó đã có phản ứng tiết nước bọt với tiếng chuông.ss
=> Như vậy phản xạ có điều kiện được hình thành trong tập luyện ->s xây dựng phản xạ.ss
-Hoạt động của con người liên quan chặt chẽ với việc hình thành các phản
xạ có điều kiện. Ở con người có thể hình thành những phản xạ có điều
kiện rất phức tạp: phản xạ này dựa trên phản xạ kia. Đặc biệt có thể xây
dựng các phản xạ có điều kiện ở con người dựa trên các tín hiệu đặc biệt
như: Lời nói và chữ viết. Các cử động, động tác, hoạt động vận động cũng
là các phản xạ. Khi con người sinh ra với một số phản xạ vận động bẩm
sinh rất hạn chế. Phần lớn các động tác vận động là phản xạ có điều kiện.
Tức là được hình thành trong quá trình sống, hoặc do tập luyện.ss
-Do yêu cầu của mục đích vận động và để thích nghi với điều kiện sốngs
các phản xạ vận động được phối hợp lại với nhau thành một tổ hợp các
độngs tác có ý nghĩa và trở thành kỹ năng vận động.sss
-Kỹ năng vận động là một hình thức hành động, được hình thành theo cơs
chế phản xạ có điều kiện, nhờ quá trình tập luyện thường xuyên.sNói một
cách đơn giản, kỹ năng vận động là các động tác được thực hiệns một
cách tự động do đã trở thành thói quen. Đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy,... làs
các kỹ năng vận động cơ bản. Tất cả các kỹ thuật thể thao cũng đều là
các kỹ năng vận động.sss
-Kỹ năng vận động được hình thành dần dần, theo 3 giai đoạn: Lan tỏa,
tập trung và tự động hóa.ss
sssssss+ Trong giai đoạn lan tỏa, hưng phấn lan rộng trên vỏ đại não vì chưa
hình thành được tổ hợp vận động tối ưu. Nhiều nhóm cơ vận động cần
thiết cũng tham gia vào vận động. Động tác vì vậy không chính xác,
nhiều cử động thừa, không tinh tế.ss
sssssss+Sau một thời gian lặp lại, giai đoạn lan tỏa chuyển sang giai đoạn
tập trung. Trong giai đoạn này hưng phấn tập trung ở những vùng nhất
định trên vỏ não, cần thiết cho vận động.sCác động tác thừa mất đi, cơ
căng và co bóp ở mức độ hợp lý, động tác trở nên nhịp nhàng, chính xác
và thoải mái hơn. Kỹ năng vận động đã được hình thành tương đối ổn định.ss
sssssss+ Trong giai đoạn tự động hóa (Kỹ xảo vận động), kỹ năng vận động
được củng cố đến mức được thực hiện hầu như tự động, không cần sự chú
ý của ý thức. Kỹ năng vận động cho phép thực hiện nhiều động tác khác nhau cùng một lúc.
Câu 9: Anh (Chị) hãy phân tích sự ảnh hưởng của tập luyện thể
dục, thể thao đối với chức năng tuần hoàn và hô hấp của con người?
-Ảnh hưởng của thể dục thể thao đến hệ tuần hoàn :
sssss + Khi con người tập luyện TDTT thì hoạt động của các cơ tăng lên, cơ
thể yêu cầu phải cung cấp thêm chất dinh dưỡng và oxy nhiều hơn lúc
bình thường để duy trì hoạt động, vì vậy bộ máy tuần hoàn tăng cường
hoạt động để đáp ưng nhu cầu của cơ thể.
sssss + Người thường xuyên tập luyện thì cơ tim dày và chắc hơn, sức co
bóp của tim mạnh hơn và nhịp đập của tim trong mỗi phút ít hơn. Ngược
lại, người ít tập luyện khi lao động tim sẽ đập nhanh, người mau mệt, dễ xỉu…
ssss + Tập luyện TDTT làm tăng tính đàn hồi của máu, toàn bộ mạch máu
đều co giãn tốt. Cho nên người tập TDTT thường xuyên khi về già ít bị
chứng căng mạch máu, là nguyên nhân sinh ra bệnh cao huyết áp.
ssss + Tập luyện TDTT thì hồng cầu tăng lên từ 4 triệu lên 4 triệu rưỡi - 5
triệu, bạch cầu tăngs từ 6000 lên 10.000. Hồng cầu làm nhiệm vụ vận
chuyển oxy và CO2, bạch cầu làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể.
sssss + Da thịt VĐV luôn thắm đỏ hơn người bình thường
-Ảnh hưởng của thể dục thể thao đến hệ hô hấp :
sssss + Khi tập luyện, cơ thể sản sinh ra nhiều axit lactic làm ảnh hưởng
đến hoạt động của cơ nên cần có khối lượng oxy lớn để oxy hóa nó. Khi
tập luyện càng nặng thì cơ thể yêu cầu oxy càng nhiều. Song lượng oxy
hít vào chưa đáp ứng đủ yêu cầu cơ thể nên axit lactic chưa được oxy hóa
hết gây nên hiện tượng mỏi cơ và thở gấp.
ssss + Các em thanh thiếu niên tập luyện thường xuyên thì lồng ngực sẽ
nở, dung tích sống được tăng lên, số lần hô hấp sẽ giảm đi, hiện tượng nợ
dưỡng khí sẽ giảm đi, do đó cơ thể hồi phục nhanh chóng trở về trạng thái
bình thường, phổi sẽ làm việc thong thả hơn.
sssssssssss+ Người không tập luyện thì khi hoạt động sẽ thở gấp, nông, cảm thấy mau mệt mỏi…
Câu 10: Anh (Chị) hãy phân tích cơ sở sinh lý để phát triển các tố chất vận động?
-Các kỹ năng vận động do yêu cầu của mục đích vận động và để thích
nghi với điều kiện sống, các phản xạ vận động được phối hợp lại với nhau
thành tổ hợp các động tác có ý nghĩa để trở thành kỹ năng vận động. Có
3 giai đoạn: lan tỏa, tập chung, tự động hóa.
-Các tố chất vận động: Các mặt khác nhau của khả năng vận động, gồm
có 4 tố chất cơ bản:s sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo.
+ Sức mạnh là khả năng khắc phục lực cản bên ngoài của cơ phụ
thuộc vào đặc tính của quá trình thần kinh điều khiển sự co cơ, phụ thuộc
vào số lượng đơn vị có chứa trong cơ. Cơ sở sinh lý để phát triển sức
mạnh cần phải có 1 số lượng lớn cơ căng ra co cùng một lúc. Tăng tính
đồng bộ trong sự hoạt động của các nhóm cơ và tăng độ dày tiết diện
ngang, luyện tập đặc biệt có thể tăng sức mạnh lên 3 đến 4 lần so với lúc ban đầu.
sssss+ Sức nhanh là kỹ năng thực hiện động tác trong thời gian ngắn nhất,
được thể hiện dưới hai hình thức: sức nhanh đơn giản và sức nhanh phức
tạp. Sức nhanh đơn giản bao gồm các động tác phản ứng đơn lẻ. Sức
nhanh phức tạp tổng hợp các động tác hoạt động vận động. Cơ sở sinh lý
đối với sức nhanh đòi hỏi phải tăng cường độ linh hoạt và tốc độ lan tỏa
hưng phấn ở trung ương thần kinh. Để tạo ra sức nhanh đòi hỏi cần có thời gian.
+ Sức bền khả năng thực hiện động tác trong thời gian dài, kỹ năng
chống đỡ của cơ thể trong thời gian dài. Cơ sở sinh lý: tốc độ phát triển
của chức năng tim mạch, hô hấp, trạng thái của máu và dự trữ các chất
dinh dưỡng trong cơ thể, tuyến nội tiết, quá trình điều nhiệt. Sức bền được
thể hiện ở 4 dạng: sức bền chung, sức bền chuyên môn, sức bền mạnh, sức bền tốc độ.
+ Khéo léo là khả năng thực hiện động tác phức tạp trong điều kiện môi
trường thay đổi. Cơ sở sinh lý: các phản xạ môi trường phức tạp phụ thuộc
vào trạng thái của hệ thần kinh trung ương, tốc độ xử lý trung ương.
Câu 11: Anh (chị) hãy đưa ra một lượng vận động bên ngoài. Đánh
giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng lượng vận động đó?
-Lượng vận động bên ngoài: khi chạy ngắn ta có thể quan sát bằng cảm
giác chủ quan, vẻ bên ngoài: mệt mỏi, thở gấp, đổ mồ hôi, màu da nhợt nhạt.
Ví dụ: Trong một buổi tập, yêu cầu chạy 400m với tốc độ nhanh nhất
(cường độ cao) thì chỉ thực hiện được 1 lần (khối lượng thấp). Nếu tiếp tục
yêu cầu chạy thêm 1 lần nữa (khối lượng tăng lên) thì tốc độ (cường độ)
chắc chắn sẽ bị giảm sút. Phân tích: - Độ dài: 400m
- Tốc độ: nhanh nhất của cơ thểs
- Thời gian ước tính: 2-3 phút - Cường độ: cao - số lần chạy: 1 lầns - khối lượng: thấp
-> số lần lặp lại 1 lần thì khối lượng tăng, tốc độ (cường độ) giảm sút dẫn
đến các dấu hiệu trên khi dừng lại.
Câu 12: Anh (Chị) hãy áp dụng phương pháp tập luyện vòng tròn
nhằm giáo dục tố chất sức bền trong tập luyện thể dục, thể thao? Cho ví dụ?
- PP tập luyện vòng tròn:
+Quá trình thực hiện các bài tập theo thứ tự từng nhóm với những bài tập
đã được lựa chọn và hợp nhất lại thành bài tập liên hợp. Các bài tập được
thực hiện theo từng trạm kế tiếp nhau, các trạm được bố trí theo dạng
vòng tròn. Tại mỗi trạm người tập thực hiện một loạt các động tác hoặc
những hành động nhất định. Số lần lặp lại ở mỗi trạm được xác định theo
đặc điểm của người tập, thông thường số lần lặp lại được thực hiện 1/3
đến 2/3 số lần lặp lại tối đa.
+Hình thức tập luyện vòng tròn nhằm giáo dục các tố chất thể lực, khi
thực hiện tập luyện theo PP vòng tròn thường sử dụng những bài tập có kĩ
thuật đơn giản và người tập đã nắm vững các kĩ thuật động tác trước đó.
+Ưu điểm của PP vòng tròn là những ưu điểm của tác động chọn lọc được
kết hợp với tác động chung, tác động ổn định được kết hợp với tác động
biến đổi. Đặc biệt là hiệu quả của sự chuyển (thay đổi hoạt động) quãng
được sử dụng rộng rãi. Nhờ vậy phát huy được khả năng vận động thể lực và cảm xúc tích cực.
Câu 13: Anh (Chị) hãy vận dụng nguyên tắc tăng tiến vào thực
tiễn tập luyện thể dục, thể thao? Cho ví dụ?
Vận dụng nguyên tắc tăng tiến vào thực tiễn tập luyện thể dục, thể thao:
bắt đầu với những động tác đơn giản, cường độ thấp, sau khi đã quen thì
bắt đầu tăng dần về cường độ và thời gian, chuyển sang các bài tập phức
tạp hơn, không nóng vội, ngẫu hứng, tùy tiện.
Ví dụ: Tránh tập đi tập lại 1 bài tập tạ mỗi ngày mà đổi sang bài mới,
giảm số hiệp, tăng số lần hoặc gia tăng mức tạ. Khi đã chạy bộ được
trung bình 6.5km thì đi lên từng bước nhỏ, tăng thêm 1.6km mỗi tuần.
Câu 14: Anh (Chị) hãy áp dụng các biện pháp khắc phục hiện
tượng chuột rút và say nắng trong tập luyện thể dục, thể thao?
Các biện pháp khắc phục chuột rút:
-Bị chuột rút khi đang luyện tập thể dục thể thảo cần dừng vận động
ngay, nếu thời tiết nóng thì cần vào nghỉ ở khu vực thoáng mát, nhẹ
nhàng xoa bóp vùng cơ bị đau. Thực hiện động tác kéo giãn cơ bị rút và
giữ ở tư thế đến khi hết bị co rút. Tránh những động tác gây đau và co rút
cơ. Có thể chườm nóng vùng cơ đang bị co rút trước, sau đó chườm lạnh
vùng cơ đâu, uống bù nước và điện giải cho cơ thể. Nếu bị chuột rút khi
luyện tập nhiều lần hoặc bị chuột rút kéo dài ko cải thiện khi đã xử lí bằng
phương pháp trên nên gọi cấp cứu hoặc đưa đến khám bác sĩ chuyên khoa y học thể thao.
Các biện pháp khắc phục say nắng:
Khi nhận thấy 1 người có dấu hiệu say nắng bạn cần:
+ nhanh chóng gọi cấp cứu hoặc ý tế địa phương
+ di chuyển người bị say nắng đến nơi râm máts
+ cởi bớt quần áo ko cần thiếts
+ thường xuyên ktra nhiệt độ cơ thểs
+ làm mát cơ thể bằng cách: xịt mát cơ thể bằng nước,đặt túi nước đá
hay khăn mát lên vùng cổ.., cho người say nắng uống nước mát để bù nước.
+ đánh giá mức độ tỉnh táo của người say( lấy gọi, tiếp xúc…), nếu còn
tỉnh táo thì cho uống nước, chất điện giải; nếu chưa tỉnh táo tiếp tục làm
mát cơ thể trong khi chờ xe cấp cứu; nếu bất tỉnh ko có dấu hiệu tuần
hoàn thì thực hiện hô hấp nhân tạo.
Câu 15:M:Anh (Chị) hãy dựa vào nguyên tắc vệ sinh cá nhân để xây
dựng một thời gian biểu phù hợp cho bản thân?
- 7 nguyên tắc vệ sinh cá nhân: +1 Rửa tay thường xuyêns
+2 Tắm rửa hàng ngày.Tắm rửa sạch sẽ ít nhất một lần mỗi ngày cũng
cực kỳ quan trọng để bảo vệ sức khỏe bạn. ...
+3 Đánh răng hai lần một ngày. ...
+4 Chia sẻ không phải là yêu thương. ...Không được chia sẻ đồ dùng cá
nhân với người khác ví dụ như là các vật dụng trang điểm, bấm móng tay,
tai nghe và lược. Đây đều là những “ổ” vi trùng cá nhân. Chia sẻ đồ dùng
cá nhân sẽ tăng khả năng lây nhiễm các loại bệnh. Để có thể bảo vệ bản
thân bạn, tốt nhất không nên chia sẻ đồ dùng cá nhân với bất kì ai.
+5 Thay vớ thường xuyên. ...
+6 Cắt móng tay móng chân. ...
+7 Che miệng khi ho và hắt xì
- Ngoài thời gian làm việc ra thì mỗi người cần có một thời gian
biểu cho bản thân. Là một sinh viên của Học viện cần sắp xếp thời
gian biểu hợp lí trong một ngày :
Thời gian biểu ( Cái này mng tự lập theo thói quen sinh hoạt hằng ngày của mình nha)