Hệ thống ngân hàng Việt Nam - Kinh tế vĩ mô | Đại học Tôn Đức Thắng

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

Môn:
Trường:

Đại học Tôn Đức Thắng 3.5 K tài liệu

Thông tin:
26 trang 4 tháng trước

Bình luận

Vui lòng đăng nhập hoặc đăng ký để gửi bình luận.

Hệ thống ngân hàng Việt Nam - Kinh tế vĩ mô | Đại học Tôn Đức Thắng

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tài liệu giúp bạn tham khảo, ôn tập và đạt kết quả cao. Mời bạn đọc đón xem!

99 50 lượt tải Tải xuống
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành
tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
I. Hoạt động tài chính, tiền tệ thời kỳ 1945 - 1954
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay từ những ngày đầu, chính quyền non trẻ của giai cấp công
nông đã phải ứng phó với những thách thức lớn: vừa giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống
nhân dân, củng cố và tăng cường thực lực của chính quyền, vừa phải chống lại hành động chống phá của
thực dân Pháp và các thế lực phản động.
Tháng 12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến trường k
chống thực dân Pháp.
Trong khói lửa chiến tranh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhanh chóng thiết lập được một
nền tiền tệ độc lập, tự chủ, tạo thế đứng vững chắc trên mặt trận tài chính - tiền tệ, sử dụng tiền tệ làm
công cụ phục vụ đắc lực công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đặc biệt, sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia
Việt Nam ngày 6/5/1951 là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển hệ thống tiền tệ - ngân hàng
Việt Nam.
Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này đã góp phần rất quan trọng củng cố hệ thống tiền
tệ độc lập, tự chủ của đất nước, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế
quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.
1. Giai đoạn 1945 - 1951
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tình hình tài chính - tiền tệ của chính quyền cách mạng gặp vô vàn khó
khăn: Kho bạc chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó một nửa là tiền rách; Ngân hàng Đông
Dương vẫn nằm trong tay tư bản thực dân và luôn tìm cách phá hoại ta về tài chính, tiền tệ; các nguồn
thu ngân sách quá ít ỏi so với nhu cầu chi tiêu của chính quyền… Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu
gọi nhân dân quyên góp tài chính dưới các hình thức như “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, đồng thời gấp
rút chuẩn bị phát hành tiền.
Để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế kháng chiến, Chính phủ cho thành lập 3 khu vực tiền tệ và cho
phép phát hành các đồng tiền khu vực. Nhiều biện pháp đã được áp dụng để tạo nguồn thu cho ngân
sách, như: phát hành Công phiếu kháng chiến, Công trái quốc gia…
Ngày 3/2/1947, Nha tín dụng sản xuất, tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta được thành lập với nhiệm vụ
giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, làm hậu thuẫn cho
chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể.
2. Thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951) đề ra chủ trương, chính sách mới về
kinh tế - tài chính, trong đó chỉ rõ: Chính sách tài chính phải kết hợp chặt chẽ với chính
sách kinh tế; thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng bạc mới để ổn định tiền
tệ, cải tiến chế độ tín dụng.
Thực hiện chủ trương đó, ngày 6/5/1951, tại hang Bòng thuộcTân Trào, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã Sắc lệnh số 15-SL thành lập
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, với những nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành
giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho
vay phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa; quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp
hành chính; quản lý ngoại hối và đấu tranh tiền tệ với địch.
Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gồm Ngân hàng Trung ương,
Ngân hàng liên khu và ngân hàng tỉnh, thành phố. Trụ sở đầu tiên của Ngân hàng Quốc
gia đặt tại xã Đầm Hồng, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
II. Hoạt động ngân hàng thời kỳ 1954 - 1975
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954), 2 miền Nam - Bắc tạm thời bị chia cắt. Đảng ta
xác định đường lối chung của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này tiến hành
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam từng bước
được hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.
Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này tập trung o việc tăng cường
quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý kinh tế, tài chính XHCN;
xây dựng hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng
tiền mặt, thiết lập vai trò ngân hàng trung tâm thanh toán của nền kinh tế; mở rộng
quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế; thực hiện chế độ Nhà nước độc quyền quản lý
ngoại hối…
Cũng trong thời kỳ này, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ngân hàng Nhà nước đã
thành lập các đơn vị đặc biệt mang số B29 N2683 với nhiệm vụ nhận vận
chuyển các khoản viện trợ của bè bạn trên thế giới từ miền Bắc vào chiến trường miền
Nam, phục vụ cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
1. Giai đoạn 1954 - 1964
Hòa bình lập lại, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tiến hành thu hồi tiền địch vùng mới
giải phóng, thiết lập thị trường tiền tệ thống nhất trên Miền Bắc. Mạng lưới ngân hàng
được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã; đội ngũ cán bộ được tăng cường, nâng cao
trình độ. Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
Hoạt động tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, phục vụ yêu
cầu hợp tác hóa đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh tế quốc
doanh. Ngân hàng Nhà nước đã nhiều cải tiến trong công tác thanh toán không
dùng tiền mặt, mở rộng quan hệ thanh toán đến hầu hết các xí nghiệp, tổ chức kinh tế,
cơ quan của nhà nước; tập trung quảnvà đẩy mạnh các nguồn thu ngoại hối để đáp
ứng nhu cầu kiến thiết nước nhà.
Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động.
Đến cuối năm 1964, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quan hệ hợp tác với 265
ngân hàng tại 41 nước trên thế giới.
2. Giai đoạn 1965 – 1975
Đây thời kỳ Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, chiến sự diễn ra rất ác liệt, mọi
hoạt động của Ngân hàng Nhà nước phải chuyển hướng để phù hợp với hoàn cảnh
thời chiến.
Ngân hàng Nhà nước đã cải tiến và mở rộng các quan hệ tín dụng, thanh toán, quản lý
tiền mặt, quản lý quỹ ngân sách nhà nước, giúp các nghiệp tán phân tán sản
xuất, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; tiếp tục đẩy mạnh tín dụng ngân hàng phục vụ
phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể; tích cực khai thác các nguồn ngoại tệ cho
Nhà nước, bảo đảm thanh toán quốc tế thông suốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất, chiến
đấu và đời sống.
Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ này đạt bình quân 85,5% tổng mức
chu chuyển tiền tệ qua quỹ ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước đã cử hàng trăm cán bộ vào giúp Chính phủ cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam xây dựng nền tài chính - tiền tệ, đấu tranh với địch trên
mặt trận kinh tế, tài chính; triển khai phong trào tiết kiệm, góp sức người, sức của xây
dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến.
2.1. Hệ thống Kinh Tài của Trung ương Cục Miền Nam
Trong thời kỳ 1965 - 1975, công tác kinh tế - tài chính ở vùng miền Nam giải phóng do
hệ thống các quan Đảng đảm nhiệm (gọiBan Kinh - Tài). Hoạt động của bộ máy
Kinh - Tài miền Nam đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, trực tiếp Bộ
Chính trị.
Nhiệm vụ của bộ máy này tổ chức các đoàn thể giải phóng đi vận động quần chúng
giúp đỡ lương thực, tiền bạc cho cách mạng, tiếp nhận nguồn viện trợ của miền Bắc,
kiều bào nước ngoài của bạn bè quốc tế; tổ chức đời sống cho cán bộdân
ở vùng giải phóng.
2.2. Quỹ Đặc biệt (B29) Ban Tài chính đặc biệt (N2683) đơn vị Anh hùng lực
lượng trang nhân dân
Để tiếp nhận chuyển các khoản ngoại tệ do bạn quốc tế chi viện cho chiến
trường Miền Nam, năm 1965, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập một tổ chức chuyên
trách nghiệp vụ thanh toán đặc biệt tại Cục Ngoại hối - Ngân hàng Ngoại thương, với
danh nghĩa là phòng B29 hay “Quỹ đặc biệt”.
miền Nam, Ban Tài chính đặc biệt trực thuộc Trung ương Cục miền Nam với các
số D270, N2683 cũng được thành lập với nhiệm vụ tiếp nhận chi viện của Trung ương;
tổ chức cất giữ, bảo quản tiền để phục vụ lâu dài cho cuộc kháng chiến.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, tháng 6/2009, N2683 B29 đã vinh dự được
Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
III. Hoạt động ngân hàng thời kỳ 1975 - 1985
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta bước sang một thời kỳ mới: thời kỳ hoà
bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa hội. Đảng Nhà nước đã
đề ra nhiều chủ trương, chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến
tranh.
Ngành Ngân hàng đã khẩn trương tiếp quản và cải tạo hệ thống ngân hàng của chế độ
miền Nam, xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng, thực
hiện thống nhất tiền tệ trong cả nước; ban hành và thực hiện nhiều biện pháp về tiền tệ,
tín dụng, quản ngoại hối, thanh toán để góp phần ổn định tình hình kinh tế lưu
thông tiền tệ, đáp ứng nhu cầu vốn tiền mặt cho sản xuất, quốc phòng, an ninh
đời sống kinh tế - hội; mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn
quốc tế cho công cuộc tái thiết đất nước.
Tuy đạt được một số kết quả tích cực trong khôi phục phát triển kinh tế - hội,
song do hậu quả của chiến tranh kéo dài, cộng với việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch
hóa tập trung đã khiến kinh tế nước ta rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, bội chi ngân
sách ở mức cao trong nhiều năm, lạm phát có lúc ở mức 3 con số, hoạt động sản xuất,
lưu thông phân phối và đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.
1. Thống nhất hệ thống tiền tệ, ngân hàng cả nước
Để loại bỏ đồng tiền của chính quyền Sài Gòn ra khỏi đời sống kinh tế hội thống
nhất tiền tệ trong cả nước, Bộ Chính trị quyết định phát hành đồng tiền ngân hàng Việt
Nam miền Nam, thu đổi đồng tiền của chế độ Sài Gòn. Đợt thu đổi diễn ra từ ngày
22/9/1975 đến ngày 30/9/1975 với tỷ lệ 1 đồng tiền ngân hàng Việt Nam mới bằng 500
đồng tiền của chính quyền Sài gòn cũ.
Sau khi đổi tiền, Việt Nam hình thành hai khu vực lưu hành tiền tệ: tiền miền Bắc do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, tiền miền Nam do Ngân hàng Quốc gia
Việt Nam của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phát
hành. Hai đồng tiền đều giấy bạc của Ngân hàng Nhà nước phục vụ xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên cả nước.
2. Giai đoạn 1976 - 1980
Thực hiện chủ trương cải tiến mở rộng tín dụng ngân hàng theo Quyết định 32/CP
ngày 11/2/1977 của Hội đồng Chính phủ, Tổng giám đốc NHNN đã ban hành Thể lệ
cho vay vốn lưu động quy định về cho vay đầu xây dựng bản đối với các
nghiệp quốc doanh.
Hoạt động tín dụng bước vào thời kỳ cải tiến mạnh mẽ mở rộng các loại cho vay,
trước hết đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Hệ thống thanh toán thống nhất trong
cả nước được thiết lập; tình trạng công nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp, tổ chức,
đơn vị được giải quyết đáng kể. Quan hệ tín dụng thanh toán quốc tế với các nước
XHCN được tăng cường.
Tháng 5/1977, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tham gia Ngân hàng Đầu quốc tế
(MIB), Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES).
Để thống nhất tiền tệ trên cả nước, ngày 1/4/1978, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
08/NQ-TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới, thu hồi tiền cả hai miền. Ngày
2/5/1978, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu phát hành tiền mới, thu hồi tiền trên cả
nước.
3. Giai đoạn 1980 - 1985
Trong thời kỳ này, hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu thông phân phối gặp rất nhiều
khó khăn. Thực hiện Nghị quyết 26/NQTW ngày 23/6/1980 của Bộ Chính trị các
quyết định của Hội đồng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp quy, chế độ nghiệp vụ về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, cấp phát đầu xây dựng
cơ bản, ngoại hối; thực hiện “chính sách tín dụng tích cực, coi tín dụng là mặt trận phía
trước”, mở ra nhiều hình thức cho vay mới nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt, góp
phần thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, hỗ trợ ngành thương nghiệp quốc doanh
thu mua nắm nguồn hàng phục vụ đời sống nhân dân và ổn định giá.
Cuộc thu đổi tiền tháng 9/1985 chính sách kinh tế lớn của Đảng Nhà nước trong
lĩnh vực phân phối lưu thông, một bộ phận trong kế hoạch tổng điều chỉnh giá - lương -
tiền nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, phục vụ công cuộcy dựng cải tạo
hội chủ nghĩa.
IV. Hoạt động ngân hàng thời kỳ từ 1986 đến nay
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc triệt để theo Nghị quyết Đại hội
Đảng VI các Nghị quyết Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất nước được
triển khai mạnh mẽ, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang
chế thị trường định hướng XHCN sự quản của Nhà nướctừng bước hội nhập
kinh tế quốc tế.
Hệ thống Ngân hàng cũng từng bước đổi mới phát triển, hoàn thiện về hình tổ
chức, thể chế pháp lý, công nghệ dịch vụ ngân hàng. hình ngân hàng một cấp
chuyển thànhhình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng quản lý nhà nước
của Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng của các TCTD.
Ngân hàng Nhà nước, với vai trò là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, Ngân hàng trung
ương của nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, đã điều hành chính sách tiền tệ
linh hoạt, phù hợp với diễn biến tình hình, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế
mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tích cực đổi mới, hoàn thiện chế điều hành
chính sách tiền tệ, phát triển nghiệp vụ NHTW; đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra,
giám sát; tăng cường hiện đại hóa công nghệ, phát triển dịch vụ ngân hàng; đẩy mạnh
hợp tác quốc tế.
Hệ thống các TCTDbước phát triển mạnh cả về quy mạng lưới, loại hình sở
hữu, công nghệ, dịch vụ, ngày càng đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế
xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1. Giai đoạn 1986 - 1989
Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh doanh
XHCN, ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT với định
hướng bản “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh”. Tổ
chức, bộ máy của Ngân hàng Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức
năng quản nhà nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của
các ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng
và dịch vụ ngân hàng.
Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ
Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển
nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tưXây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam.
2. Giai đoạn 1990 - 1996
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ thống ngân
hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản toàn diện phù hợp với chủ
trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách lãi suất dương, kết hợp sử dụng các
công cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ;
hình thành các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệtăng cường đào
tạo nguồn nhân lực cho việc vận hành hệ thống ngân hàng mới. Vốn tín dụng được mở
rộng cho mọi thành phần kinh tế đạt mức tăng trưởng bình quân 36%/năm, góp
phần chuyển dịch cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá thúc
đẩy nền kinh tế tăng trưởng trong nhiều năm.
Thời kỳ này, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
(IMF, WB, ADB) được tái lập và khơi thông.
3. Giai đoạn 1997 - 2007
Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Luật Các tổ
chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống Ngân hàng
tiếp tục đổi mới hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, góp phần giảm thiểu tác
động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997; tiếp tục hoàn thiện cơ
chế điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là cơ chế điều hành lãi suất.
Hệ thống các tổ chức tín dụng được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng
và nâng cao năng lực tài chính. Công nghệ ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ; Hệ
thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được đưa vào vận hành chính thức từ tháng
5/2002, các dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện (E-Banking, Internet banking,...).
Ngân hàng Nhà nước tham gia đàm phán gia nhập WTO và tích cực triển khai các cam
kết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
4. Giai đoạn 2008 - 2012
Cuộc khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 tác động rất tiêu
cực đến kinh tế nước ta. Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội Chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động linh hoạt, từ ưu tiên kiềm
chế lạm phát cao năm 2008 sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, khôi
phục đà tăng trưởng năm 2010 và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế năm 2011, 2012.
Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp phù hợp hơn để tiếp tục đổi mới hoạt
động ngân hàng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Sự kiện Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được bầu giữ chức Chủ tịch Hội
đồng Thống đốc IMF/WB nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị
thường niên lần thứ 44 Ngân hàng phát triển châu Á, Hội nghị Thống đốc NHTW
ASEAN,... khẳng định vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong cộng đồng tài chính
quốc tế.
Những thành tựu nổi bật
Trải qua hơn 60 năm xây dựng phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt
được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng
bảo vệ Tổ quốc:
1. Ngân hàng Nhà nước đã bám sát chủ trương, chính sách của Đảng, chỉ đạo, điều
hành của Chính phủ, chủ động, linh hoạt trong điều hành các giải pháp tiền tệ, ngân
hàng phù hợp với điều kiện từng thời kỳ, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
2. Khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng không ngừng được hoàn thiện,
ngày càng phù hợp với điều kiện Việt Nam tiến gần đến thông lệ, chuẩn mực quốc
tế. Chức năng, nhiệm vụ, cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước từng bước được
bổ sung, hoàn thiện; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng ngày càng được
nâng cao.
3. Hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển cả về số lượng, loại hình hoạt động, quy mô
mạng lưới, phương thức quản trị điều hành; huy động vốn cho vay tăng nhanh, sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng từng bước được đa dạng hoá, góp phần tích cực thúc đẩy
chuyển dịch cấu kinh tế, phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
4.sở hạ tầng công nghệ ngân hàng được chú trọng đầu hiện đại hoá, tạo
thay đổi căn bản trong phương thức giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng và trong
quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển
mạnh, đặc biệt là thẻ ngân hàng.
5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp
phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy quá trình tiếp cận với công nghệ, dịch vụ
ngân hàng hiện đại và các chuẩn mực quốc tế về ngân hàng.
ải qua 70 năm xây dựng, củng cố và phát triển (1951 - 2021), hệ thống ngân hàng Việt Nam đã không
ngừng lớn mạnh và đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi giai đoạn, sự đổi mới, phát triển của hoạt động ngân hàng đều gắn
liền với vận mệnh của dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy truyền thống phát triển của Ngành. Đáng
chú ý là, bước tiến quan trọng được ghi nhận từ năm 1986, khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách
mở cửa nền kinh tế trước những khó khăn chồng chất của đất nước và diễn biến ngày càng phức tạp
trên chính trường quốc tế.
Giai đoạn 1986 - 1989
Đây là thời kỳ Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới thực sự, trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với
hàng loạt khó khăn thách thức, sản xuất đình trệ, đời sống Nhân dân cực kỳ khó khăn, lạm phát tăng phi
mã (năm 1986 lên đến 774,7%), ngân sách thâm hụt trầm trọng,… Nguyên nhân chủ yếu của những khó
khăn và yếu kém trên đây là do cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trong nền kinh tế đã triệt tiêu các
động lực phát triển; cấm đoán tự do sản xuất và lưu thông hàng hóa; giá cả không phản ánh cung cầu; in
tiền bù đắp bội chi ngân sách và làm vốn tín dụng; đầu tư thiên về công nghiệp nặng và doanh nghiệp
nhà nước hoạt động kém hiệu quả; các hiện tượng như lãi suất không theo quy luật và thấp xa tỉ lệ lạm
phát, tiền thành “hòn than nóng”, cơ chế tỉ giá cố định cứng nhắc, vàng và ngoại tệ lên ngôi.
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để theo Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng
năm 1986 và các Nghị quyết Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất nước được triển khai mạnh mẽ,
nền kinh tế được chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Hệ thống ngân hàng cũng từng bước đổi mới và phát triển, hoàn thiện về mô hình tổ
chức, thể chế pháp lý, công nghệ và dịch vụ ngân hàng. Đáng chú ý là, ngày 26/3/1988, Hội đồng Bộ
trưởng ban hành Nghị định số 53/HĐBT về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mô hình
ngân hàng một cấp được chuyển thành mô hình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng quản lý
nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) với chức năng kinh doanh của các tổ chức tín dụng
(TCTD). Tổ chức, bộ máy của NHNN được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của các ngân hàng; các ngân hàng chuyên
doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Trong thời kỳ này, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ NHNN,
bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng
Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.
Nhờ đường lối đổi mới cơ chế, chính sách theo hướng xóa bỏ bao cấp, giải phóng sức sản xuất, tự do
hóa sản xuất lưu thông hàng hóa, từng bước tự do hóa giá cả, những khó khăn kinh tế đã được khắc
phục đáng kể. Về điều hành chính sách tiền tệ, NHNN chuyển sang cơ chế lãi suất thực dương1 đã thu
hút tiền gửi vào hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định tiền tệ và thị trường, thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh. Đây là giải pháp có tính đột phá và quyết định sự thành công trong giai đoạn này. Nhờ đó, lạm
phát phi mã được đẩy lùi và đến năm 1989 chỉ tăng 35%...
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, chính sách tiền tệ chưa được định hình rõ ràng, NHNN vẫn thực hiện
cung ứng tiền theo chỉ đạo của Chính phủ. Nhìn tổng quát trong những năm đầu đổi mới vẫn là chế độ
quản lý tiền mặt theo ý chí, mệnh lệnh, chứ chưa theo các quy luật kinh tế hàng hóa và lưu thông tiền
tệ.
Giai đoạn 1990 - 1996
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã đẩy kinh tế Việt Nam lâm vào tình
cảnh khó khăn gay gắt hơn, lạm phát trong thời kỳ này tuy đã được kiềm chế nhưng vẫn trên dưới
10%/năm. Đảng và Chính phủ quyết tâm từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhưng chưa thể vận hành hoàn toàn và đầy đủ theo cơ chế thị
trường.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua hai Pháp lệnh về Ngân hàng. Nhờ đó, hệ thống ngân hàng
bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà
nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Số lượng ngân hàng tăng nhanh nhưng quy
mô nhỏ, trình độ quản trị còn yếu kém nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. Đến cuối năm
1996, toàn hệ thống có 52 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), trong đó 32 NHTMCP đô thị, 20
NHTMCP nông thôn.
Về điều hành chính sách tiền tệ, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách lãi suất thực dương, kết hợp sử
dụng các công cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ; hình thành
các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệ và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho việc
vận hành hệ thống ngân hàng mới. Vốn tín dụng được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế và hàng năm
đạt mức tăng trưởng bình quân 36%/năm, góp phần chuyển dịch cơ cấu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
trong nhiều năm sau. Tuy nhiên, những dấu hiệu phát triển nóng cũng bộc lộ, nhất là thị trường bất
động sản. Hoạt động cho vay bất cẩn ngày càng tăng; nhiều chủ ngân hàng lợi dụng vốn ngân hàng để
đầu tư cho công ty “sân sau”, lừa đảo tín dụng gia tăng… dẫn tới đổ vỡ hợp tác xã tín dụng và sự suy yếu
của nhiều NHTM.
Về quan hệ đối ngoại, từ tháng 10/1993, Việt Nam đã chính thức nối lại quan hệ tín dụng với ba tổ chức
tài chính tiền tệ quốc tế là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển
châu Á (ADB).
Giai đoạn 1997 - 2005
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 - 1998 tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong
nước, tăng trưởng kinh tế chững lại, hoạt động xuất nhập khẩu giảm thấp, đầu tư nước ngoài ngưng trệ,
hệ thống ngân hàng đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức. Các yếu kém vốn có của hệ thống ngân hàng
trở nên trầm trọng hơn do tác động của cuộc khủng hoảng nêu trên.
Sức ép phá giá VND lên cao và liên tục; bất động sản sụt giảm và đóng băng. Hàng loạt NHTMCP rơi vào
tình trạng kiểm soát đặc biệt, phải sáp nhập vào NHTM Nhà nước (17/53 NHTMCP bị xóa tên trong giai
đoạn này).
Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật NHNN và Luật Các TCTD, tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho hệ thống
ngân hàng tiếp tục đổi mới hoạt động, phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Về các biện pháp ứng phó với khủng hoảng tài chính - tiền tệ, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ linh
hoạt và thận trọng, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm
1997; tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là cơ chế điều hành lãi suất; ban
hành các quy định và thiết chế an toàn để tăng cường khả năng ngăn ngừa biến động xấu của TCTD; áp
dụng trích lập dự phòng rủi ro theo hướng tăng dần; thành lập Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, tách tín
dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại và thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nhờ những giải pháp nêu trên, VND chỉ giảm giá tổng cộng xấp xỉ 12% trong vòng 8 năm; lãi suất được
thả nổi hoàn toàn từ năm 2002 - 2008; lạm phát được giữ ở mức một con số từ năm 1996 (4,5%) đến
năm 2006 (6,6%); cao nhất là 9,5% vào năm 2004, thấp nhất (0,1 - 3%) vào năm 2000 - 2003; tăng
trưởng GDP bình quân 7% (1996 - 2000), 6,9% (2000 - 2005).
Hệ thống các TCTD được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng và nâng cao năng lực tài
chính. Công nghệ ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
được đưa vào vận hành chính thức từ tháng 5/2002. Các mô hình dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện
như E-Banking, Internet Banking. NHNN cũng tích cực tham gia đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO), đồng thời chủ động triển khai các cam kết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
Tuy nhiên, giai đoạn này cũng tồn đọng và ẩn chứa nhiều hệ lụy khi gặp cú sốc từ bên ngoài. Mô hình
tăng trưởng dựa vào tăng đầu tư; tín dụng ngân hàng tăng bình quân hàng năm 25 - 30%/năm, kỷ luật
ngân sách lỏng lẻo đã xói mòn tính bền vững của nền tảng vĩ mô, dẫn đến lạm phát cao trở lại (từ 2007 -
2011) và tỉ giá biến động mạnh.
Giai đoạn 2006 - 2010
Trong giai đoạn này, tình hình chính trị và kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2008 - 2009 và suy thoái kinh tế sau đó đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam,
trong bối cảnh Việt Nam vừa mới gia nhập WTO (ngày 11/01/2007) và đã hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới, đặt hệ thống tài chính - tiền tệ Việt Nam trước nhiều khó khăn và thách thức. Trong khi đó, số
lượng các ngân hàng tăng nhanh (các NHTMCP nông thôn được nâng cấp lên thành NHTMCP đô thị,
thành lập mới 3 NHTMCP, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài). Mức vốn điều lệ tăng cao trong một thời
gian ngắn, dẫn đến tình trạng các ngân hàng hút vốn bằng nhiều cách, tình trạng sở hữu chéo tăng
nhanh.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế trong nước và thế giới, chính sách tiền tệ giai
đoạn này được điều hành linh hoạt theo từng thời kỳ: (i) Từ năm 2006 đến tháng 10/2008: Tập trung
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế tăng trưởng nóng; (ii) Từ tháng 11/2008 đến cuối năm
2010: Nới lỏng để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế.
NHNN yêu cầu các TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật; xử lý kịp
thời các vướng mắc về nợ vay và tiếp cận tín dụng của khách hàng; tập trung triển khai có hiệu quả việc
thực hiện các cơ chế cho vay hỗ trợ lãi suất; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, đi đôi với mở rộng
tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các nhu cầu vay vốn để sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ
và vừa, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và các dự án lớn, trọng điểm của Nhà nước; kiểm soát chặt chẽ
cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán và cho vay tiêu dùng.
Điều hành chính sách của NHNN trong giai đoạn này đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát,
thúc đẩy tăng trưởng, ngăn chặn suy giảm kinh tế trước những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Hệ thống ngân hàng đã tích cực hiện đại hóa, đổi mới công nghệ,
dịch vụ, hoàn thiện thể chế, chính sách, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Những biện pháp của Chính phủ về đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
được NHNN thực hiện trong giai đoạn 2006 - 2010 đã góp phần kiềm chế lạm phát năm 2007 ở mức
12,63%; năm 2008 là 19,9% và năm 2010 là 11,75%, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và ngăn chặn đà suy
giảm tăng trưởng kinh tế. Kinh tế của Việt Nam trong các năm 2008 - 2010 vẫn tăng trưởng dương (riêng
năm 2010 tăng trưởng đạt 6,78%, vượt mục tiêu 6,5% đề ra). Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tài
khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác đã
đẩy giá cả tăng khá cao2, ảnh hưởng không thuận lợi đối với việc kiểm soát lạm phát các năm tiếp theo;
tỉ giá diễn biến phức tạp; dự trữ ngoại tệ sụt giảm; thị trường tiền tệ có nhiều dấu hiệu bất ổn do cạnh
tranh thiếu lành mạnh; hoạt động của các TCTD tiềm ẩn nhiều rủi ro, chất lượng tín dụng giảm, nợ xấu
tăng, thanh khoản gặp khó khăn.
Khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện: Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII đã
thông qua Luật NHNN và Luật Các TCTD ngày 16/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Hai
Luật này đã tạo nền tảng pháp lý mới, góp phần nâng cao vị thế, trách nhiệm, quyền hạn của NHNN
trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và
hệ thống các TCTD; đồng thời, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và
thông lệ, chuẩn mực quốc tế về ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hội
nhập quốc tế.
Giai đoạn 2011 - 2016
Do chịu tác động bất lợi của tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu sau cuộc khủng hoảng tài chính năm
2008 - 2009 và những bất cập nội tại của nền kinh tế, trong những năm 2011 - 2016, kinh tế Việt Nam
đứng trước nhiều thách thức lớn đan xen, lạm phát tăng cao (từ 11,8% năm 2010 tăng vọt lên 18,13%
năm 2011); thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng có nhiều biến động với mặt bằng lãi suất cho
vay ở mức cao, lên đến 20 - 25%/năm, thanh khoản của hệ thống TCTD căng thẳng, VND chịu sức ép phá
giá, dự trữ ngoại hối nhà nước sụt giảm mạnh, kỷ luật thị trường chưa được các TCTD tuân thủ nghiêm
chỉnh, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống TCTD.
Với mục tiêu xuyên suốt là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó
khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn
hệ thống các TCTD, ngành Ngân hàng đã bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và diễn biến
kinh tế vĩ mô, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, phát huy tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm trong
toàn Ngành, tăng cường sự gắn kết với các bộ, ngành và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp
thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.
Trong giai đoạn này, do công tác dự báo, thống kê về hoạt động tiền tệ - ngân hàng hiệu quả hơn so với
giai đoạn trước, nên cơ chế điều hành chính sách tiền tệ đã có sự đổi mới mạnh mẽ theo hướng chủ
động, dẫn dắt thị trường. NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đặc
biệt là đối với các lĩnh vực ưu tiên, triển khai hàng loạt chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi. Về điều
hành thị trường tiền tệ, các nhóm giải pháp tín dụng được tập trung thực hiện theo hướng mở rộng tín
dụng đi đôi với an toàn hoạt động của các TCTD. Nhờ tăng cường giám sát và kiên quyết xử lý những
trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động, đồng thời với các biện pháp hỗ trợ thanh khoản cho những
ngân hàng yếu kém, tình trạng một số TCTD phải vay mượn lẫn nhau với lãi suất cao trên thị trường liên
ngân hàng đã được khắc phục đáng kể.
Kết quả nổi bật của hệ thống ngân hàng giai đoạn này là lạm phát được kiểm soát và giảm dần, kinh tế vĩ
mô dần ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Tốc đ tăng giá tiêu dùng giảm
mạnh từ mức 18,13% năm 2011 xuống còn 0,63% năm 2015, mức thấp nhất trong 15 năm qua; m t
bằng lãi suất giảm từ mức 20 - 25%/năm chỉ còn 6 - 9%/năm; thanh khoản hệ thống ngân hàng từ chỗ
thiếu hụt, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống đã cải thiện rõ nét và ổn định bền vững; tín dụng tăng trưởng
ở mức hợp lý, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh; tỉ giá và thị trường ngoại hối đã cơ bản ổn định, niềm tin vào đồng Vi t Nam tăng
lên, tình trạng đô la hóa giảm đáng kể, NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ để tăng mạnh dự trữ ngoại
hối nhà nước.
Cơ chế quản lý thị trường vàng theo Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ quy
định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã khắc phục khá triệt để những bất cập của thị trường vàng
giai đoạn trước và về cơ bản đã đạt được các mục tiêu đề ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Thị trường
vàng được chấn chỉnh một bước căn bản và đi vào ổn định, dù giá vàng thế giới giai đoạn này có nhiều
biến động mạnh, nhưng giá vàng trong nước không có nhiều xáo trộn.
Đáng chú ý, các giải pháp cơ cấu lại và xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ, quyết liệt, công khai, minh
bạch theo đúng mục tiêu, định hướng đề ra và theo quy định của pháp luật, các TCTD yếu kém đã được
kiểm soát và từng bước được xử lý hiệu quả. Từ năm 2011 - 2015 đã giảm được 19 TCTD yếu kém thông
qua hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể và thu hồi giấy phép. Đến cuối tháng 11/2015, tỉ lệ nợ xấu giảm
còn 2,72% trên tổng dư nợ.
Sự ổn định, an toàn hoạt đ ng và khả năng chi trả của hệ thống các TCTD được giữ vững và cải thiện,
không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài tầm kiểm soát. Hoạt động thanh tra, giám sát được tăng cường;
kỷ cương, kỷ lu t trên thị trường tiền t và trong lĩnh vực ngân hàng được duy trì. Hiệu lực quản lý, điều
hành của NHNN trên các lĩnh vực đều được nâng lên rõ rệt, thị trường và xã hội ngày càng tin tưởng vào
việc điều hành chính sách của Chính phủ và NHNN.
Giai đoạn 2016 - 2021
Trong giai đoạn này, kinh tế Việt Nam liên tục chịu tác động tiêu cực cả về cung và cầu do kinh tế thế giới
diễn biến bất thường, năng suất lao động giảm dần, thiên tai và dịch bệnh ngày càng trầm trọng, căng
thẳng thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc và nhiều nền kinh tế chủ chốt khác gia tăng, trào lưu chủ
nghĩa dân túy cùng với những thay đổi về chính sách thương mại và hàng loạt vấn đề khác. Đầu năm
2020, đại dịch Covid-19 bùng phát và tàn phá hầu hết các nước trên thế giới, nhưng Việt Nam là một
trong số ít quốc gia đã thành công trong việc đối phó với đại dịch, không để Covid-19 lây lan phức tạp
trong cộng đồng và duy trì được tốc độ tăng trưởng dương với GDP năm 2020 tăng 2,91%, các hoạt
động kinh tế nhìn chung ổn định.
Trong lĩnh vực tài chính, thị trường thế giới diễn biến bất thường và đảo chiều nhanh chóng, chính sách
tiền tệ nới lỏng tiếp tục chi phối các ngân hàng trung ương, buộc NHNN phải chủ động có giải pháp phù
hợp để thích ứng với những thay đổi này. Cụ thể là, NHNN đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ
chính sách tiền tệ, đảm bảo thanh khoản thông suốt, ổn định thị trường, góp phần quan trọng thực hiện
thành công mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp để duy trì ổn định và giảm
dần mặt bằng lãi suất. Từ năm 2016 đến nay, NHNN đã điều chỉnh giảm 2 - 2,5%/năm các mức lãi suất
điều hành, giảm 0,8 - 1,5%/năm trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 2%/năm trần lãi suất
cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các TCTD,
duy trì lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức hợp lý để tạo điều kiện cho các TCTD tiếp cận được
nguồn vốn với chi phí hợp lý; chỉ đạo các TCTD cân đối khả năng tài chính để áp dụng mức lãi suất cho
vay hợp lý nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng vay vốn.
Năm 2020, trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, NHNN đã 03 lần điều chỉnh giảm
đồng bộ các mức lãi suất với quy mô cắt giảm khá lớn so với nhiều năm qua3, với tổng mức giảm từ 1,5 -
2%/năm. Việc quyết định giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN đã phát tín hiệu mạnh mẽ và nhất
quán về chủ trương tiếp tục giảm lãi suất, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD. Cùng với các giải
pháp chính sách tiền tệ đồng bộ và linh hoạt, các quyết định giảm các mức lãi suất điều hành đã góp
phần tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm, lãi suất cho vay đối với các
lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 5%/năm, giảm khoảng 2% so với năm 2016.
Về tỉ giá và thị trường ngoại hối, NHNN đã điều hành tỉ giá chủ động, linh hoạt, phù hợp với các cân đối
vĩ mô, diễn biến thực tế trên thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn cụ thể. Theo
đó, NHNN đã thực hiện công bố tỉ giá trung tâm hàng ngày trên cơ sở tham chiếu diễn biến thị trường
trong và ngoài nước, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ, góp phần ổn định tỉ
giá và thị trường ngoại tệ trong nước. Từ đầu năm 2020, trong bối cảnh kinh tế - tài chính thế giới biến
động mạnh và phức tạp do tác động của đại dịch Covid-19, NHNN đã điều hành tỉ giá linh hoạt, chủ
động, kết hợp với các giải pháp điều tiết thanh khoản hợp lý, chủ động truyền thông, điều chỉnh giảm tỉ
giá bán can thiệp và sẵn sàng bán ngoại tệ để bình ổn thị trường và tình hình kinh tế vĩ mô. Nhờ đó, về
cơ bản, tỉ giá và thị trường ngoại hối ổn định, cân đối cung cầu tiếp tục thuận lợi, thanh khoản thông
suốt, VND ổn định hơn nhiều so với đồng tiền của nhiều đối tác thương mại.
NHNN đã xây dựng chỉ tiêu định hướng tín dụng và điều hành tín dụng tăng trưởng phù hợp với các cân
đối vĩ mô, đáp ứng nhu cầu về vốn trong nền kinh tế gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào
khu vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực rủi ro.
Các giải pháp cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu4, thanh tra, giám sát ngân hàng, bảo
đảm an toàn hệ thống, an ninh tiền tệ, tín dụng được đẩy mạnh và đạt được kết quả đáng khích lệ5; các
TCTD nghiêm túc thực hiện các quy định Basel II và nâng cấp chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế.
Cho đến nay, hầu như toàn bộ hệ thống các TCTD đã được chấn chỉnh, củng cố. Các TCTD phi ngân hàng,
quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô cũng đã cơ cấu lại, hoạt động lành mạnh, đã hạn chế
được tín dụng đen. Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng6; năng lực tài chính của các TCTD được
củng cố, vốn điều lệ tăng dần qua các năm7; chất lượng quản trị ngân hàng được cải thiện, các NHTM
đang thiết lập bộ máy quản trị doanh nghiệp theo phương thức hiện đại. Vai trò và mối quan hệ của ban
điều hành, hội đồng quản trị, cổ đông được quy định theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty.
Giai đoạn 2016 - 2020 cũng tiếp tục đánh dấu bước tiến vượt bậc trong sự phát triển của hoạt động
thanh toán với nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, tiện ích và hiện đại dựa trên ứng dụng công
nghệ thông tin. Các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng ấn tượng; vấn đề đảm bảo an
ninh, an toàn hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt được coi trọng và tăng cường; rủi ro và nguy cơ
mất an toàn về cơ bản được phát hiện, kiểm soát và xử lý kịp thời; hạ tầng kỹ thuật và công nghệ phục
vụ thanh toán không dùng tiền mặt được đầu tư, nâng cấp, nhất là thanh toán điện tử; xu hướng chuyển
dịch rõ nét sang các sản phẩm, dịch vụ có ứng dụng công nghệ mới, hiện đại, tiện ích và thân thiện với
người sử dụng; tiếp tục mở rộng thanh toán điện tử trong khu vực dịch vụ công.
Hiện nay, nhiều ngân hàng trong nước đã ứng dụng công nghệ tiên tiến, giải pháp mới vào hoạt động
thanh toán nhằm nâng cao tốc độ thanh toán, tăng cường an toàn, bảo mật dịch vụ cung cấp và thông
tin khách hàng.
Mặc dù kinh tế thế giới được dự báo là sẽ phục hồi mạnh mẽ từ năm 2021, sau khi hàng loạt công ty
dược phẩm quốc tế bắt đầu sản xuất đại trà các loại vaccine phòng, chống Covid-19 và lập kế hoạch
phân phát trên phạm vi toàn cầu, song, diễn biến dịch bệnh trong những tháng đầu năm 2021 vẫn phức
tạp với số ca nhiễm và tử vong tiếp tục tăng cao trước sự tấn công của những biến thể virus mới với khả
năng kháng thuốc và tốc độ lây nhiễm rất cao. Trong khi đó, thế giới còn chậm trễ trong việc sản xuất và
phân phối vaccine. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải theo dõi sát sao diễn biến đại dịch Covid-19 trên thế
giới và nguy cơ lan truyền vào đất nước, qua đó có thể đưa ra chính sách và giải pháp phù hợp cho quá
trình phục hồi kinh tế quốc gia hậu Covid-19.
Trước tình hình như vậy, NHNN cần tiếp tục thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:
Một là, theo dõi sát sao các diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ trong nước và thế giới, làm cơ sở
để kịp thời đề xuất các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa
và những chính sách vĩ mô khác để ổn định giá trị đồng tiền, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát
lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu đề ra.
Hai là, hoàn thiện thể chế pháp luật ngân hàng, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, đảm bảo an toàn hệ thống
ngân hàng, tăng cường thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Chủ động rà soát, sửa đổi,
bổ sung cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp,
cá nhân và nền kinh tế khôi phục sau đại dịch.
Ba là, kiên trì thực hiện các giải pháp chống đô la hóa và quản lý thị trường vàng theo Nghị định số
24/2012/NĐ-CP, đảm bảo và duy trì ổn định bền vững trên thị trường vàng, hạn chế tác động của giá
vàng đến sự ổn định của tỉ giá, thị trường ngoại hối và tình hình kinh tế vĩ mô.
Bốn là, thực hiện các giải pháp về cho vay nhằm kiểm soát quy mô tín dụng ở mức hợp lý, đồng thời
nâng cao chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, góp phần
thúc đẩy sản xuất kinh doanh và quá trình phục hồi kinh tế. Thực hiện các giải pháp hỗ trợ TCTD mở
rộng cho vay có hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho khách hàng
bị ảnh hưởng của đại dịch.
Năm là, tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD, nhất là đối với những lĩnh vực tiềm ẩn
rủi ro; giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các TCTD triển khai quyết liệt, có hiệu quả Đề án tái cơ cấu gắn với
phương án xử lý nợ xấu đã được phê duyệt, tích cực triển khai các giải pháp kiểm soát và hạn chế nợ xấu
phát sinh. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc
áp dụng các giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý
nợ xấu của các TCTD.
Sáu là, triển khai Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021 - 2025, thúc đẩy thanh
toán điện tử trong khu vực Chính phủ và dịch vụ công. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi
trường cạnh tranh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ các
kế hoạch của NHNN về cải cách hành chính, tiếp tục hoàn thiện kiến trúc Chính phủ điện tử của NHNN
theo phiên bản Chính phủ điện tử 2.0.
Tóm lại, trong 35 năm đổi mới và hội nhập, mặc dù vẫn còn một số khó khăn và hạn chế, song ngành
Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đã có những đóng góp rất lớn cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Cơ chế điều hành chính sách tiền tệ đã có sự đổi mới mạnh mẽ theo hướng chủ động, dẫn dắt thị
trường, từng bước chuyển từ cơ chế điều tiết theo khối lượng sang điều hành theo lãi suất. NHNN đã
thực hiện công bố định hướng điều hành lãi suất và triển khai đồng bộ các biện pháp để đạt mục tiêu là
giảm dần mặt bằng lãi suất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hộ dân; tiến hành điều chỉnh linh
hoạt các mức lãi suất điều hành, kết hợp với áp dụng biện pháp hành chính phù hợp theo diễn biến thị
trường.
Chính sách tỉ giá8 được điều hành khá linh hoạt theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên cơ sở rổ tiền tệ, tỉ
giá vì thế đã phản ánh tương đối chính xác sức mua của VND và tương quan giữa VND với các loại ngoại
tệ của các nước có quan hệ thương mại, đầu tư và tín dụng với Việt Nam. Việc điều chỉnh tỉ giá linh hoạt
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM và NHNN tăng mua ngoại tệ từ thị trường, đáp ứng phần lớn
các nhu cầu ngoại tệ của khách hàng và đảm bảo mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, giúp bảo
đảm an ninh tài chính tiền tệ quốc gia và củng cố mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam.
Với những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam liên tục
phát triển và ngày càng vững mạnh; phương thức quản lý, điều hành và khung khổ pháp lý về hoạt động
ngân hàng hoàn thiện dần theo hướng thông thoáng, minh bạch hơn, là nền tảng quan trọng cho sự
phát triển lành mạnh, hiệu quả và bền vững hơn của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.
(NIF) - Ổn định để phát triển bền vững là mục tiêu hệ thống ngân hàng Việt Nam đang
hướng tới. Một hệ thống ngân hàng được xem phát triển không chỉ thể hiện quy mô, doanh
số huy độngcho vay tăng lên, thị phần mở rộng; còn phải thể hiện năng lực quản trị rủi
ro, quản trị doanh nghiệp tính chịu trách nhiệm cao của Ban lãnh đạo ngân hàng. Việc đẩy
mạnh các biện pháp xử lý hậu tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi
ro, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được vốn các dịch vụ ngân hàng với giá/phí
hợp lý… là những vấn đề trọng yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
1. Kết quả bước đầu trong quá trình tái cấu trúc
1.1. Số lượng các ngân hàng giảm đi, quy vốn của một số ngân hàng tăng lên, thanh
khoản đảm bảo, uy tín được cải thiện
Sau quá trình phát triển nóng về số lượng ngân hàng các loại hình dịch vụ, năm 2012 Chính
phủ đã phê duyệt đề án số 254 về tái cấu trúc các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng) trọng tâm
các ngân hàng thương mại (NHTM). Sau gần 3 năm thực hiện, một số các NHTM yếu kém đã được sáp
nhập với nhau, hoặc sáp nhập vào các NHTM lớn; một số NHTM hoạt động yếu kém, nợ khách hàng lớn
hơn nhiều lần vốn chủ sở hữu, NHNN đã mua với giá 0 VND nhận nợ thay, chuyển sang hình
Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên, sau đó giao cho Vietcombank Vietinbank quản lý,
điều hành . Đối với một số chi nhánh NHTM nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoạt động yếu kém,
1
NHNN đã yêu cầu ngân hàng mẹ phải xử lý hoặc cho phép ngân hàng nước ngoài mua lại. Đơn cử như,
ngân hàng liên doanh Việt Thái, hoạt động kém hiệu quả, không đảm bảo giá trị thực của vốn điều lệ theo
quy định, NHNN đã cho phép Ngân hàng Siam Thái tiếp nhận, sau đó chuyển thành chi nhánh ngân hàng
nước ngoài. Đến nay, tại thị trường Việt Nam đã 06 NHTM 100% vốn nước ngoài hoạt động gồm:
ANZVL, Hong Leong, HSBC, Shinhan Vietnam, Standard Chartered, Public Bank Berhad. Riêng Citibank
đã nhận được thư chấp thuận về nguyên tắc của NHNN vào ngày 09/7/2015 và sẽ thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài. Đồng thời với quá trình tự sáp nhập của các ngân hàng, NHNN tiếp tục hoàn
thiện một số văn bản pháp lý để xử lý vấn đề sở hữu chéo, rà soát mạng lưới hoạt động của ngân hàng,
2
mở rộng mạng lưới gắn với việc tăng vốn điều lệ thực chất hiệu quả kinh doanh của các chi
nhánh/phòng giao dịch hiện có của từng ngân hàng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, nhóm ngân hàng yếu
kém đã được xử lý nhưng không xảy ra hiện tượng rút tiền gửi đột biến, quyền lợi của khách hàng vay và
gửi tiền tại các ngân hàng bị sáp nhập, hoặc mua lại được đảm bảo, uy tín một số ngân hàng sau tái cấu
trúc được cải thiện, không có xáo trộn trên thị trường tài chính.
Bảng 1. Các loại hình và số lượng
Loại hình ngân hàng 2010 2011 2012 2013
2014 30/6/2015
NHTM nhà nước và ngân hàng cổ phần
nhà nước có cổ phần chi phối 05 05 05 05
05 04
NHTM cổ phần 37 37 34 34
30 25
Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn 1 thành
viên - - - -
01 03
NHTM liên doanh 5 04 04 04
04 02
Chi nhánh NHTM nước ngoài 50 50 50 48
46 47
NHTM 100% vốn nước ngoài 05 05 05 05
05 06
Nguồn:BáocáothườngniêncủaNHNN,www.sbv.gov.vnvàtổnghợpcủatácgiả
Với quy định về mức vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo lộ trình, một số ngân hàng đã có sự
bứt phá thông qua huy động vốn của các cổ đông, trong đó các cổ đông chiến lược trong ngoài
nước. Một số ngân hàng đã có tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư chiến lược lên đến 30% . Đến nay, vốn điều
3
lệ của một số ngân hàng đã tăng khá, phản ánh thực lực của mỗi ngân hàng căn cứ để mở rộng
hoạt động huy động vốn, cho vay cũng như phát triển các dịch vụ ngân hàng đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của khách hàng.
Hình 1. Vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại sau sáp nhập
Đơnvị:Tỷđồng
Nguồn:Báodiễnđànđầutưngày03/7/2015
Khi vốn điều lệ tăng, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của từng ngân hàng cũng như cả hệ thống được cải
thiện. Năm 2010, hệ số an toàn vốn bình quân của các NHTM Việt Nam là 10,98%, năm 2012 là 13,75%,
sau đó giảm tương ứng xuống 13,25% năm 2013 12,75% năm 2014, nguyên nhân bản do vốn
điều lệ không tăng, trong khi tổng tài sản tăng rất nhanh, một số khoản cho vay, đầutrước đây không
tính vào tổng dư nợ, thì nay NHNN yêu cầu bắt buộc các ngân hàng phải tính cả các khoản tín dụng dưới
dạng ủy thác đầu tư, bảo lãnh, trái phiếu doanh nghiệp…
Hình 2. Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng thương mại
Đơnvị:%
Nguồn:NHNN,UBGSTC,websitecafef
Tuy nhiên, nếu tính đúng, tính đủ các loại rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường… và xác định chính
xác vốn tự thực (loại bỏ vốn ảo do sở hữu chéo) của một số NHTM theo yêu cầu của Basel II, thì hệ
số CAR của các NHTM thấp hơn so với số liệu công bố trên. Điều này cho thấy sự phát triển chưa bền
vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Có ba loại tài sản chính chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các NHTM, đó là: (i) Cho vay và ứng trước
cho khách hàng; (ii) Tiền gửi, cho vay các tổ chức tín dụng khác; (iii) Chứng khoán đầu tư, sự tăng
trưởng số dư tiền gửi của khách hàng càng cao (thị trường 1), thì sự phụ thuộc vào thị trường liên ngân
hàng (thị trường 2) trong các hoạt động cho vay sẽ thấp ngược lại. Việt Nam, khoản mục cho vay
có tỷ trọng lớn nhất, rủi ro nảy sinh ở khoản mục này cũng là nhiều nhất. Giai đoạn 2007 - 2010, tốc độ
tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 35%/năm, nhưng giai đoạn 2012 - 2014 chỉ khoảng
10 11%/năm. Xét quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng tăng trưởng kinh tế cho thấy giai đoạn-
2007 2010, tăng trưởng tín dụng thường gấp 5 6 lần tốc độ tăng GDP, đó điều không hợp lý, thể- -
hiện hiệu quả đồng vốn thấp, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng vốn. Từ năm 2012 đến nay, tăng
trưởng tín dụng thường cao hơn 2 lần tốc độ tăng GDP.
Hình 3. Tăng trưởng tín dụng và tăng GDP
Đơnvị:%
Nguồn:BáocáoNHNNvàtổnghợpcủatácgiả
Việc sử dụng nhiều biện pháp xửnợ xấu, hạn chế nợ xấu mới phát sinh việc làm cấp thiết cho sự
phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, NHNN,
sự nỗ lực xử nợ xấu của từng NHTM, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17% năm 2012 xuống 3,8% vào ngày
*4
31/12/2014. Một số NHTM luôn tỷ lệ nợ xấu mức thấp dưới 2%/năm như BIDV, Vietcombank,
Vietinbank... Hai trong số ba ngân hàng này được đánh giá tuân thủ tương đối chặt chẽ các quy định
về phân loại tài sản hiện hành hướng đến chuẩn mực quốc tế. Từ năm 2014 đến nay, với môi
trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn, thanh khoản được đảm bảo, tiền gửi của dân cư… vẫn tăng mặc dù lãi
suất huy động đã giảm mạnh. Chất lượng nợ của hệ thống ngân hàng bước đầu được cải thiện, áp lực
về suy giảm năng lực tài chính cũng giảm, tín dụng cho nền kinh tế có xu hướng tăng. 6 tháng đầu năm
2015, tín dụng tăng trưởng 7,83% so với cuối năm 2014, tăng 18,98% so với cùng kỳ. Vừa qua, Thống
đốc NHNN đã chấp thuận cho 18 NHTM điều chỉnh tăng trưởng tín dụng, một số NHTM nhỏ được điều
chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng 35%/năm.
1.2. Quản trị ngân hàng thương mại
Các NHTM Việt Nam đã tuân thủ cơ cấu tổ chức, bộ máy điều hành theo quy định của Luật Các
tổ chức tín dụng nhằm nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp trong ngân hàng, thực hiện quản trị rủi ro
trong toàn hệ thống cũng như trong các nghiệp vụ ngân hàng. Năm 2014, NHNN đã chọn 10 NHTM đầu
tiên triển khai thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel 2, giai đoạn từ 2015 đến
2018. Đến 2018, cả 10 ngân hàng sẽ hoàn thành sau đó sẽ mở rộng áp dụng Basel 2 đối với các
5
NHTM khác. Đối với nhóm các NHTM phải sáp nhập đang từng bước sắp xếp lại bộ máy tổ chức, quản
trị, điều hành, Ban kiểm soát… nhanh chóng đi vào hoạt động song hành với giải quyết những yếu kém
nội tại. Các ngân hàng chuyển sang dạng trách nhiệm hữu hạn một thành viên, dưới sự trợ giúp của một
NHTM có yếu tố Nhà nước, đã cử cán bộ sang nắm giữ một số vị trí trung cao cấp, xây dựng lại đề án cơ
cấu ngân hàng, rà soát kỹ tổng tài sản, các khoản nợ xấu, các khoản nợ đến hạn phải trả khách hàng…
Trên sở nguồn vốn hỗ trợ từ NHNN để chi trả kịp thời cho khách hàng, nên không tình trạng mất
thanh khoản cục bộ xảy ra. Hầu hết các NHTM đã thành lập một số Ủy ban theo thông lệ như: Ủy ban
chính sách, Ủy ban quản lý rủi ro, Ủy ban nhân sự, lương thưởng, Ủy ban quản trị tài sản nợ có (ALCO)
… để tham mưu, tư vấn cho hội đồng quản trị.
1.3. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Mặc dù, lợi nhuận sau thuế của ngành Ngân hàng từ năm 2012 đến nay đã giảm, một phần do
nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp vay vốn cũng đối mặt với nhiều thách thức, nhiều
doanh nghiệp không trả được nợ vay đến hạn, dẫn đến danh mục khoản vay bị suy giảm, nợ xấu gia
tăng, các ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro nhiều hơn, trong khi chi phí hoạt động và chi phí quản lý
tăng, dẫn đến thu nhập ròng từ lãi giảm. Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế, của
hệ thống ngân hàng. Các chỉ số hiệu quả kinh doanh ROE, ROA từ năm 2012 đến 2014 đều thấp hơn giai
đoạn 2008 - 2012. Đặc biệt khối NHTMCP, tại thời điểm 31/12/2012 ROA, ROE lần lượt chỉ đạt 0,22%
1,36%, Năm 2014, khối này có cải thiện chút ít, chỉ số ROA, ROE lần lượt là 0,43% và 4,01%. Nhưng đi sâu
phân tích chỉ tiêuy một số ngân hàng giá trị vốn hóa lớn thì tỷ lệ này vẫn mức cao trong giai
đoạn 2012 - 2014, đặc biệt 3 NHTM cổ phần yếu tố Nhà nước chi phối. Đơn cử như, Vietinbank, tại
thời điểm 2012, chỉ số ROA, ROE 1,7% 19,9%; năm 2013 1,4% 13,7%; năm 2014 1,2%
10,4%. Chỉ số ROA, ROE của NHTM cổ phần Quân Đội là 1,97% và 27,5% năm 2012; 1,28% và 16,3% năm
2013; 1,3 và 14,7% năm 2014... Như vậy, nếu xem xét chỉ số hiệu quả kinh doanh của một số NHTM Việt
Nam còn cao n ccác ngân hàng liên doanh chi nhánh NHTM nước ngoài. Qua đó, thể thấy,
năng lực cạnh tranh khả năng chiếm giữ thị phần của một số NHTM Việt Nam không thua kém các
ngân hàng liên doanh và NHTM 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
Hình 4. ROA của hệ thống NHTM ở Việt Nam
Đơnvị:
%
Hình 5. ROE của hệ thống NHTM ở Việt Nam
Đơnvị:
%
| 1/26

Preview text:

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành
tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
I. Hoạt động tài chính, tiền tệ thời kỳ 1945 - 1954
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai
sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngay từ những ngày đầu, chính quyền non trẻ của giai cấp công
nông đã phải ứng phó với những thách thức lớn: vừa giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống
nhân dân, củng cố và tăng cường thực lực của chính quyền, vừa phải chống lại hành động chống phá của
thực dân Pháp và các thế lực phản động.
Tháng 12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.
Trong khói lửa chiến tranh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhanh chóng thiết lập được một
nền tiền tệ độc lập, tự chủ, tạo thế đứng vững chắc trên mặt trận tài chính - tiền tệ, sử dụng tiền tệ làm
công cụ phục vụ đắc lực công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đặc biệt, sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia
Việt Nam ngày 6/5/1951 là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển hệ thống tiền tệ - ngân hàng Việt Nam.
Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này đã góp phần rất quan trọng củng cố hệ thống tiền
tệ độc lập, tự chủ của đất nước, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế
quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. 1. Giai đoạn 1945 - 1951
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tình hình tài chính - tiền tệ của chính quyền cách mạng gặp vô vàn khó
khăn: Kho bạc chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó một nửa là tiền rách; Ngân hàng Đông
Dương vẫn nằm trong tay tư bản thực dân và luôn tìm cách phá hoại ta về tài chính, tiền tệ; các nguồn
thu ngân sách quá ít ỏi so với nhu cầu chi tiêu của chính quyền… Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu
gọi nhân dân quyên góp tài chính dưới các hình thức như “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, đồng thời gấp
rút chuẩn bị phát hành tiền.
Để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế kháng chiến, Chính phủ cho thành lập 3 khu vực tiền tệ và cho
phép phát hành các đồng tiền khu vực. Nhiều biện pháp đã được áp dụng để tạo nguồn thu cho ngân
sách, như: phát hành Công phiếu kháng chiến, Công trái quốc gia…
Ngày 3/2/1947, Nha tín dụng sản xuất, tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta được thành lập với nhiệm vụ
giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, làm hậu thuẫn cho
chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể.
2. Thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951) đề ra chủ trương, chính sách mới về
kinh tế - tài chính, trong đó chỉ rõ: Chính sách tài chính phải kết hợp chặt chẽ với chính
sách kinh tế; thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng bạc mới để ổn định tiền
tệ, cải tiến chế độ tín dụng.
Thực hiện chủ trương đó, ngày 6/5/1951, tại hang Bòng thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn
Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, với những nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành
giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho
vay phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa; quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp
hành chính; quản lý ngoại hối và đấu tranh tiền tệ với địch.
Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gồm Ngân hàng Trung ương,
Ngân hàng liên khu và ngân hàng tỉnh, thành phố. Trụ sở đầu tiên của Ngân hàng Quốc
gia đặt tại xã Đầm Hồng, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.
II. Hoạt động ngân hàng thời kỳ 1954 - 1975
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954), 2 miền Nam - Bắc tạm thời bị chia cắt. Đảng ta
xác định đường lối chung của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là tiến hành
đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam từng bước
được hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.
Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này tập trung vào việc tăng cường
quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý kinh tế, tài chính XHCN;
xây dựng và hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế quốc
doanh và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng
tiền mặt, thiết lập vai trò ngân hàng là trung tâm thanh toán của nền kinh tế; mở rộng
quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế; thực hiện chế độ Nhà nước độc quyền quản lý ngoại hối…
Cũng trong thời kỳ này, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ngân hàng Nhà nước đã
thành lập các đơn vị đặc biệt mang bí số B29 và N2683 với nhiệm vụ nhận và vận
chuyển các khoản viện trợ của bè bạn trên thế giới từ miền Bắc vào chiến trường miền
Nam, phục vụ cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. 1. Giai đoạn 1954 - 1964
Hòa bình lập lại, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tiến hành thu hồi tiền địch ở vùng mới
giải phóng, thiết lập thị trường tiền tệ thống nhất trên Miền Bắc. Mạng lưới ngân hàng
được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã; đội ngũ cán bộ được tăng cường, nâng cao
trình độ. Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Hoạt động tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, phục vụ yêu
cầu hợp tác hóa và đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh tế quốc
doanh. Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều cải tiến trong công tác thanh toán không
dùng tiền mặt, mở rộng quan hệ thanh toán đến hầu hết các xí nghiệp, tổ chức kinh tế,
cơ quan của nhà nước; tập trung quản lý và đẩy mạnh các nguồn thu ngoại hối để đáp
ứng nhu cầu kiến thiết nước nhà.
Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động.
Đến cuối năm 1964, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với 265
ngân hàng tại 41 nước trên thế giới.
2. Giai đoạn 1965 – 1975
Đây là thời kỳ Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, chiến sự diễn ra rất ác liệt, mọi
hoạt động của Ngân hàng Nhà nước phải chuyển hướng để phù hợp với hoàn cảnh thời chiến.
Ngân hàng Nhà nước đã cải tiến và mở rộng các quan hệ tín dụng, thanh toán, quản lý
tiền mặt, quản lý quỹ ngân sách nhà nước, giúp các xí nghiệp sơ tán và phân tán sản
xuất, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; tiếp tục đẩy mạnh tín dụng ngân hàng phục vụ
phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể; tích cực khai thác các nguồn ngoại tệ cho
Nhà nước, bảo đảm thanh toán quốc tế thông suốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất, chiến đấu và đời sống.
Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ này đạt bình quân 85,5% tổng mức
chu chuyển tiền tệ qua quỹ ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước đã cử hàng trăm cán bộ vào giúp Chính phủ cách mạng lâm thời
Cộng hòa miền Nam Việt Nam xây dựng nền tài chính - tiền tệ, đấu tranh với địch trên
mặt trận kinh tế, tài chính; triển khai phong trào tiết kiệm, góp sức người, sức của xây
dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến.
2.1. Hệ thống Kinh Tài của Trung ương Cục Miền Nam
Trong thời kỳ 1965 - 1975, công tác kinh tế - tài chính ở vùng miền Nam giải phóng do
hệ thống các cơ quan Đảng đảm nhiệm (gọi là Ban Kinh - Tài). Hoạt động của bộ máy
Kinh - Tài miền Nam đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị.
Nhiệm vụ của bộ máy này là tổ chức các đoàn thể giải phóng đi vận động quần chúng
giúp đỡ lương thực, tiền bạc cho cách mạng, tiếp nhận nguồn viện trợ của miền Bắc,
kiều bào ở nước ngoài và của bạn bè quốc tế; tổ chức đời sống cho cán bộ và dân cư ở vùng giải phóng.
2.2. Quỹ Đặc biệt (B29) và Ban Tài chính đặc biệt (N2683) – đơn vị Anh hùng lực lượng trang nhân dân
Để tiếp nhận và chuyển các khoản ngoại tệ do bạn bè quốc tế chi viện cho chiến
trường Miền Nam, năm 1965, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập một tổ chức chuyên
trách nghiệp vụ thanh toán đặc biệt tại Cục Ngoại hối - Ngân hàng Ngoại thương, với
danh nghĩa là phòng B29 hay “Quỹ đặc biệt”.
Ở miền Nam, Ban Tài chính đặc biệt trực thuộc Trung ương Cục miền Nam với các bí
số D270, N2683 cũng được thành lập với nhiệm vụ tiếp nhận chi viện của Trung ương;
tổ chức cất giữ, bảo quản tiền để phục vụ lâu dài cho cuộc kháng chiến.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, tháng 6/2009, N2683 và B29 đã vinh dự được
Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
III. Hoạt động ngân hàng thời kỳ 1975 - 1985
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, nước ta bước sang một thời kỳ mới: thời kỳ hoà
bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đảng và Nhà nước đã
đề ra nhiều chủ trương, chính sách để khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh.
Ngành Ngân hàng đã khẩn trương tiếp quản và cải tạo hệ thống ngân hàng của chế độ
cũ ở miền Nam, xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng, thực
hiện thống nhất tiền tệ trong cả nước; ban hành và thực hiện nhiều biện pháp về tiền tệ,
tín dụng, quản lý ngoại hối, thanh toán để góp phần ổn định tình hình kinh tế và lưu
thông tiền tệ, đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt cho sản xuất, quốc phòng, an ninh và
đời sống kinh tế - xã hội; mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè
quốc tế cho công cuộc tái thiết đất nước.
Tuy đạt được một số kết quả tích cực trong khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội,
song do hậu quả của chiến tranh kéo dài, cộng với việc duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch
hóa tập trung đã khiến kinh tế nước ta rơi vào tình trạng suy thoái nặng nề, bội chi ngân
sách ở mức cao trong nhiều năm, lạm phát có lúc ở mức 3 con số, hoạt động sản xuất,
lưu thông phân phối và đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn.
1. Thống nhất hệ thống tiền tệ, ngân hàng cả nước
Để loại bỏ đồng tiền của chính quyền Sài Gòn ra khỏi đời sống kinh tế xã hội thống
nhất tiền tệ trong cả nước, Bộ Chính trị quyết định phát hành đồng tiền ngân hàng Việt
Nam ở miền Nam, thu đổi đồng tiền của chế độ Sài Gòn. Đợt thu đổi diễn ra từ ngày
22/9/1975 đến ngày 30/9/1975 với tỷ lệ 1 đồng tiền ngân hàng Việt Nam mới bằng 500
đồng tiền của chính quyền Sài gòn cũ.
Sau khi đổi tiền, Việt Nam hình thành hai khu vực lưu hành tiền tệ: tiền ở miền Bắc do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành, tiền ở miền Nam do Ngân hàng Quốc gia
Việt Nam của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phát
hành. Hai đồng tiền đều là giấy bạc của Ngân hàng Nhà nước phục vụ xây dựng chủ
nghĩa xã hội trên cả nước. 2. Giai đoạn 1976 - 1980
Thực hiện chủ trương cải tiến và mở rộng tín dụng ngân hàng theo Quyết định 32/CP
ngày 11/2/1977 của Hội đồng Chính phủ, Tổng giám đốc NHNN đã ban hành Thể lệ
cho vay vốn lưu động và quy định về cho vay đầu tư xây dựng cơ bản đối với các xí nghiệp quốc doanh.
Hoạt động tín dụng bước vào thời kỳ cải tiến mạnh mẽ và mở rộng các loại cho vay,
trước hết là đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Hệ thống thanh toán thống nhất trong
cả nước được thiết lập; tình trạng công nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp, tổ chức,
đơn vị được giải quyết đáng kể. Quan hệ tín dụng và thanh toán quốc tế với các nước XHCN được tăng cường.
Tháng 5/1977, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tham gia Ngân hàng Đầu tư quốc tế
(MIB), Ngân hàng hợp tác kinh tế quốc tế (MBES).
Để thống nhất tiền tệ trên cả nước, ngày 1/4/1978, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số
08/NQ-TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới, thu hồi tiền cũ ở cả hai miền. Ngày
2/5/1978, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu phát hành tiền mới, thu hồi tiền cũ trên cả nước.
3. Giai đoạn 1980 - 1985
Trong thời kỳ này, hoạt động sản xuất kinh doanh, lưu thông phân phối gặp rất nhiều
khó khăn. Thực hiện Nghị quyết 26/NQTW ngày 23/6/1980 của Bộ Chính trị và các
quyết định của Hội đồng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản
pháp quy, chế độ nghiệp vụ về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, cấp phát đầu tư xây dựng
cơ bản, ngoại hối; thực hiện “chính sách tín dụng tích cực, coi tín dụng là mặt trận phía
trước”, mở ra nhiều hình thức cho vay mới nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt, góp
phần thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, hỗ trợ ngành thương nghiệp quốc doanh
thu mua nắm nguồn hàng phục vụ đời sống nhân dân và ổn định giá.
Cuộc thu đổi tiền tháng 9/1985 là chính sách kinh tế lớn của Đảng và Nhà nước trong
lĩnh vực phân phối lưu thông, một bộ phận trong kế hoạch tổng điều chỉnh giá - lương -
tiền nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, phục vụ công cuộc xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa.
IV. Hoạt động ngân hàng thời kỳ từ 1986 đến nay
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để theo Nghị quyết Đại hội
Đảng VI và các Nghị quyết Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất nước được
triển khai mạnh mẽ, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ
chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.
Hệ thống Ngân hàng cũng từng bước đổi mới và phát triển, hoàn thiện về mô hình tổ
chức, thể chế pháp lý, công nghệ và dịch vụ ngân hàng. Mô hình ngân hàng một cấp
chuyển thành mô hình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng quản lý nhà nước
của Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tiền tệ tín dụng của các TCTD.
Ngân hàng Nhà nước, với vai trò là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, Ngân hàng trung
ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã điều hành chính sách tiền tệ
linh hoạt, phù hợp với diễn biến tình hình, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; tích cực đổi mới, hoàn thiện cơ chế điều hành
chính sách tiền tệ, phát triển nghiệp vụ NHTW; đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra,
giám sát; tăng cường hiện đại hóa công nghệ, phát triển dịch vụ ngân hàng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế.
Hệ thống các TCTD có bước phát triển mạnh cả về quy mô và mạng lưới, loại hình sở
hữu, công nghệ, dịch vụ, ngày càng đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế
xã hội, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 1. Giai đoạn 1986 - 1989
Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh doanh
XHCN, ngày 26/3/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 53/HĐBT với định
hướng cơ bản là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh”. Tổ
chức, bộ máy của Ngân hàng Nhà nước được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của
các ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Theo đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ
Ngân hàng Nhà nước, gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển
nông nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. 2. Giai đoạn 1990 - 1996
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ thống ngân
hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù hợp với chủ
trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách lãi suất dương, kết hợp sử dụng các
công cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ;
hình thành các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệ và tăng cường đào
tạo nguồn nhân lực cho việc vận hành hệ thống ngân hàng mới. Vốn tín dụng được mở
rộng cho mọi thành phần kinh tế và đạt mức tăng trưởng bình quân 36%/năm, góp
phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và thúc
đẩy nền kinh tế tăng trưởng trong nhiều năm.
Thời kỳ này, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
(IMF, WB, ADB) được tái lập và khơi thông. 3. Giai đoạn 1997 - 2007
Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật Các tổ
chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản và mạnh mẽ hơn cho hệ thống Ngân hàng
tiếp tục đổi mới hoạt động phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, góp phần giảm thiểu tác
động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997; tiếp tục hoàn thiện cơ
chế điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là cơ chế điều hành lãi suất.
Hệ thống các tổ chức tín dụng được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng
và nâng cao năng lực tài chính. Công nghệ ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ; Hệ
thống thanh toán điện tử liên ngân hàng được đưa vào vận hành chính thức từ tháng
5/2002, các dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện (E-Banking, Internet banking,...).
Ngân hàng Nhà nước tham gia đàm phán gia nhập WTO và tích cực triển khai các cam
kết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
4. Giai đoạn 2008 - 2012
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008 tác động rất tiêu
cực đến kinh tế nước ta. Thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, Ngân
hàng Nhà nước đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt, từ ưu tiên kiềm
chế lạm phát cao năm 2008 sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, khôi
phục đà tăng trưởng năm 2010 và kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng
trưởng kinh tế năm 2011, 2012.
Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và
Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý phù hợp hơn để tiếp tục đổi mới hoạt
động ngân hàng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Sự kiện Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được bầu giữ chức Chủ tịch Hội
đồng Thống đốc IMF/WB nhiệm kỳ 2008-2009, Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị
thường niên lần thứ 44 Ngân hàng phát triển châu Á, Hội nghị Thống đốc NHTW
ASEAN,... khẳng định vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong cộng đồng tài chính quốc tế.
Những thành tựu nổi bật
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt
được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:
1. Ngân hàng Nhà nước đã bám sát chủ trương, chính sách của Đảng, chỉ đạo, điều
hành của Chính phủ, chủ động, linh hoạt trong điều hành các giải pháp tiền tệ, ngân
hàng phù hợp với điều kiện từng thời kỳ, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
2. Khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng không ngừng được hoàn thiện,
ngày càng phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiến gần đến thông lệ, chuẩn mực quốc
tế. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước từng bước được
bổ sung, hoàn thiện; năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ ngân hàng ngày càng được nâng cao.
3. Hệ thống các tổ chức tín dụng phát triển cả về số lượng, loại hình hoạt động, quy mô
mạng lưới, phương thức quản trị điều hành; huy động vốn và cho vay tăng nhanh, sản
phẩm, dịch vụ ngân hàng từng bước được đa dạng hoá, góp phần tích cực thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
4. Cơ sở hạ tầng và công nghệ ngân hàng được chú trọng đầu tư và hiện đại hoá, tạo
thay đổi căn bản trong phương thức giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng và trong
quản lý, điều hành hoạt động ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt phát triển
mạnh, đặc biệt là thẻ ngân hàng.
5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp
phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy quá trình tiếp cận với công nghệ, dịch vụ
ngân hàng hiện đại và các chuẩn mực quốc tế về ngân hàng.
ải qua 70 năm xây dựng, củng cố và phát triển (1951 - 2021), hệ thống ngân hàng Việt Nam đã không
ngừng lớn mạnh và đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi giai đoạn, sự đổi mới, phát triển của hoạt động ngân hàng đều gắn
liền với vận mệnh của dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy truyền thống phát triển của Ngành. Đáng
chú ý là, bước tiến quan trọng được ghi nhận từ năm 1986, khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách
mở cửa nền kinh tế trước những khó khăn chồng chất của đất nước và diễn biến ngày càng phức tạp
trên chính trường quốc tế. Giai đoạn 1986 - 1989
Đây là thời kỳ Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới thực sự, trong bối cảnh nền kinh tế phải đối mặt với
hàng loạt khó khăn thách thức, sản xuất đình trệ, đời sống Nhân dân cực kỳ khó khăn, lạm phát tăng phi
mã (năm 1986 lên đến 774,7%), ngân sách thâm hụt trầm trọng,… Nguyên nhân chủ yếu của những khó
khăn và yếu kém trên đây là do cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trong nền kinh tế đã triệt tiêu các
động lực phát triển; cấm đoán tự do sản xuất và lưu thông hàng hóa; giá cả không phản ánh cung cầu; in
tiền bù đắp bội chi ngân sách và làm vốn tín dụng; đầu tư thiên về công nghiệp nặng và doanh nghiệp
nhà nước hoạt động kém hiệu quả; các hiện tượng như lãi suất không theo quy luật và thấp xa tỉ lệ lạm
phát, tiền thành “hòn than nóng”, cơ chế tỉ giá cố định cứng nhắc, vàng và ngoại tệ lên ngôi.
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để theo Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng
năm 1986 và các Nghị quyết Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất nước được triển khai mạnh mẽ,
nền kinh tế được chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Hệ thống ngân hàng cũng từng bước đổi mới và phát triển, hoàn thiện về mô hình tổ
chức, thể chế pháp lý, công nghệ và dịch vụ ngân hàng. Đáng chú ý là, ngày 26/3/1988, Hội đồng Bộ
trưởng ban hành Nghị định số 53/HĐBT về tổ chức bộ máy Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, mô hình
ngân hàng một cấp được chuyển thành mô hình ngân hàng hai cấp, tách bạch dần chức năng quản lý
nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) với chức năng kinh doanh của các tổ chức tín dụng
(TCTD). Tổ chức, bộ máy của NHNN được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của các ngân hàng; các ngân hàng chuyên
doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng.
Trong thời kỳ này, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ NHNN,
bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng
Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam.
Nhờ đường lối đổi mới cơ chế, chính sách theo hướng xóa bỏ bao cấp, giải phóng sức sản xuất, tự do
hóa sản xuất lưu thông hàng hóa, từng bước tự do hóa giá cả, những khó khăn kinh tế đã được khắc
phục đáng kể. Về điều hành chính sách tiền tệ, NHNN chuyển sang cơ chế lãi suất thực dương1 đã thu
hút tiền gửi vào hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định tiền tệ và thị trường, thúc đẩy sản xuất, kinh
doanh. Đây là giải pháp có tính đột phá và quyết định sự thành công trong giai đoạn này. Nhờ đó, lạm
phát phi mã được đẩy lùi và đến năm 1989 chỉ tăng 35%...
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, chính sách tiền tệ chưa được định hình rõ ràng, NHNN vẫn thực hiện
cung ứng tiền theo chỉ đạo của Chính phủ. Nhìn tổng quát trong những năm đầu đổi mới vẫn là chế độ
quản lý tiền mặt theo ý chí, mệnh lệnh, chứ chưa theo các quy luật kinh tế hàng hóa và lưu thông tiền tệ. Giai đoạn 1990 - 1996
Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã đẩy kinh tế Việt Nam lâm vào tình
cảnh khó khăn gay gắt hơn, lạm phát trong thời kỳ này tuy đã được kiềm chế nhưng vẫn trên dưới
10%/năm. Đảng và Chính phủ quyết tâm từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang nền kinh tế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhưng chưa thể vận hành hoàn toàn và đầy đủ theo cơ chế thị trường.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua hai Pháp lệnh về Ngân hàng. Nhờ đó, hệ thống ngân hàng
bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà
nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Số lượng ngân hàng tăng nhanh nhưng quy
mô nhỏ, trình độ quản trị còn yếu kém nên tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là rủi ro tín dụng. Đến cuối năm
1996, toàn hệ thống có 52 ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), trong đó 32 NHTMCP đô thị, 20 NHTMCP nông thôn.
Về điều hành chính sách tiền tệ, NHNN tiếp tục thực hiện chính sách lãi suất thực dương, kết hợp sử
dụng các công cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ; hình thành
các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệ và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho việc
vận hành hệ thống ngân hàng mới. Vốn tín dụng được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế và hàng năm
đạt mức tăng trưởng bình quân 36%/năm, góp phần chuyển dịch cơ cấu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
trong nhiều năm sau. Tuy nhiên, những dấu hiệu phát triển nóng cũng bộc lộ, nhất là thị trường bất
động sản. Hoạt động cho vay bất cẩn ngày càng tăng; nhiều chủ ngân hàng lợi dụng vốn ngân hàng để
đầu tư cho công ty “sân sau”, lừa đảo tín dụng gia tăng… dẫn tới đổ vỡ hợp tác xã tín dụng và sự suy yếu của nhiều NHTM.
Về quan hệ đối ngoại, từ tháng 10/1993, Việt Nam đã chính thức nối lại quan hệ tín dụng với ba tổ chức
tài chính tiền tệ quốc tế là Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Giai đoạn 1997 - 2005
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 - 1998 tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế trong
nước, tăng trưởng kinh tế chững lại, hoạt động xuất nhập khẩu giảm thấp, đầu tư nước ngoài ngưng trệ,
hệ thống ngân hàng đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức. Các yếu kém vốn có của hệ thống ngân hàng
trở nên trầm trọng hơn do tác động của cuộc khủng hoảng nêu trên.
Sức ép phá giá VND lên cao và liên tục; bất động sản sụt giảm và đóng băng. Hàng loạt NHTMCP rơi vào
tình trạng kiểm soát đặc biệt, phải sáp nhập vào NHTM Nhà nước (17/53 NHTMCP bị xóa tên trong giai đoạn này).
Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật NHNN và Luật Các TCTD, tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho hệ thống
ngân hàng tiếp tục đổi mới hoạt động, phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
Về các biện pháp ứng phó với khủng hoảng tài chính - tiền tệ, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ linh
hoạt và thận trọng, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm
1997; tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là cơ chế điều hành lãi suất; ban
hành các quy định và thiết chế an toàn để tăng cường khả năng ngăn ngừa biến động xấu của TCTD; áp
dụng trích lập dự phòng rủi ro theo hướng tăng dần; thành lập Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam, tách tín
dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại và thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội.
Nhờ những giải pháp nêu trên, VND chỉ giảm giá tổng cộng xấp xỉ 12% trong vòng 8 năm; lãi suất được
thả nổi hoàn toàn từ năm 2002 - 2008; lạm phát được giữ ở mức một con số từ năm 1996 (4,5%) đến
năm 2006 (6,6%); cao nhất là 9,5% vào năm 2004, thấp nhất (0,1 - 3%) vào năm 2000 - 2003; tăng
trưởng GDP bình quân 7% (1996 - 2000), 6,9% (2000 - 2005).
Hệ thống các TCTD được chấn chỉnh, củng cố, từng bước xử lý nợ tồn đọng và nâng cao năng lực tài
chính. Công nghệ ngân hàng có bước phát triển mạnh mẽ, hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
được đưa vào vận hành chính thức từ tháng 5/2002. Các mô hình dịch vụ ngân hàng điện tử xuất hiện
như E-Banking, Internet Banking. NHNN cũng tích cực tham gia đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO), đồng thời chủ động triển khai các cam kết về hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng.
Tuy nhiên, giai đoạn này cũng tồn đọng và ẩn chứa nhiều hệ lụy khi gặp cú sốc từ bên ngoài. Mô hình
tăng trưởng dựa vào tăng đầu tư; tín dụng ngân hàng tăng bình quân hàng năm 25 - 30%/năm, kỷ luật
ngân sách lỏng lẻo đã xói mòn tính bền vững của nền tảng vĩ mô, dẫn đến lạm phát cao trở lại (từ 2007 -
2011) và tỉ giá biến động mạnh. Giai đoạn 2006 - 2010
Trong giai đoạn này, tình hình chính trị và kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu 2008 - 2009 và suy thoái kinh tế sau đó đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam,
trong bối cảnh Việt Nam vừa mới gia nhập WTO (ngày 11/01/2007) và đã hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới, đặt hệ thống tài chính - tiền tệ Việt Nam trước nhiều khó khăn và thách thức. Trong khi đó, số
lượng các ngân hàng tăng nhanh (các NHTMCP nông thôn được nâng cấp lên thành NHTMCP đô thị,
thành lập mới 3 NHTMCP, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài). Mức vốn điều lệ tăng cao trong một thời
gian ngắn, dẫn đến tình trạng các ngân hàng hút vốn bằng nhiều cách, tình trạng sở hữu chéo tăng nhanh.
Trước những diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế trong nước và thế giới, chính sách tiền tệ giai
đoạn này được điều hành linh hoạt theo từng thời kỳ: (i) Từ năm 2006 đến tháng 10/2008: Tập trung
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hạn chế tăng trưởng nóng; (ii) Từ tháng 11/2008 đến cuối năm
2010: Nới lỏng để ngăn chặn đà suy giảm kinh tế.
NHNN yêu cầu các TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật; xử lý kịp
thời các vướng mắc về nợ vay và tiếp cận tín dụng của khách hàng; tập trung triển khai có hiệu quả việc
thực hiện các cơ chế cho vay hỗ trợ lãi suất; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, đi đôi với mở rộng
tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các nhu cầu vay vốn để sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ
và vừa, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và các dự án lớn, trọng điểm của Nhà nước; kiểm soát chặt chẽ
cho vay kinh doanh bất động sản, cho vay kinh doanh chứng khoán và cho vay tiêu dùng.
Điều hành chính sách của NHNN trong giai đoạn này đã góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát,
thúc đẩy tăng trưởng, ngăn chặn suy giảm kinh tế trước những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Hệ thống ngân hàng đã tích cực hiện đại hóa, đổi mới công nghệ,
dịch vụ, hoàn thiện thể chế, chính sách, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.
Những biện pháp của Chính phủ về đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
được NHNN thực hiện trong giai đoạn 2006 - 2010 đã góp phần kiềm chế lạm phát năm 2007 ở mức
12,63%; năm 2008 là 19,9% và năm 2010 là 11,75%, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và ngăn chặn đà suy
giảm tăng trưởng kinh tế. Kinh tế của Việt Nam trong các năm 2008 - 2010 vẫn tăng trưởng dương (riêng
năm 2010 tăng trưởng đạt 6,78%, vượt mục tiêu 6,5% đề ra). Tuy nhiên, việc điều hành chính sách tài
khóa mở rộng và chính sách tiền tệ nới lỏng cùng với các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác đã
đẩy giá cả tăng khá cao2, ảnh hưởng không thuận lợi đối với việc kiểm soát lạm phát các năm tiếp theo;
tỉ giá diễn biến phức tạp; dự trữ ngoại tệ sụt giảm; thị trường tiền tệ có nhiều dấu hiệu bất ổn do cạnh
tranh thiếu lành mạnh; hoạt động của các TCTD tiềm ẩn nhiều rủi ro, chất lượng tín dụng giảm, nợ xấu
tăng, thanh khoản gặp khó khăn.
Khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng tiếp tục được hoàn thiện: Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII đã
thông qua Luật NHNN và Luật Các TCTD ngày 16/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Hai
Luật này đã tạo nền tảng pháp lý mới, góp phần nâng cao vị thế, trách nhiệm, quyền hạn của NHNN
trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và
hệ thống các TCTD; đồng thời, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết và
thông lệ, chuẩn mực quốc tế về ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống ngân hàng Việt Nam hội nhập quốc tế. Giai đoạn 2011 - 2016
Do chịu tác động bất lợi của tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu sau cuộc khủng hoảng tài chính năm
2008 - 2009 và những bất cập nội tại của nền kinh tế, trong những năm 2011 - 2016, kinh tế Việt Nam
đứng trước nhiều thách thức lớn đan xen, lạm phát tăng cao (từ 11,8% năm 2010 tăng vọt lên 18,13%
năm 2011); thị trường tiền tệ, ngoại hối và thị trường vàng có nhiều biến động với mặt bằng lãi suất cho
vay ở mức cao, lên đến 20 - 25%/năm, thanh khoản của hệ thống TCTD căng thẳng, VND chịu sức ép phá
giá, dự trữ ngoại hối nhà nước sụt giảm mạnh, kỷ luật thị trường chưa được các TCTD tuân thủ nghiêm
chỉnh, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống TCTD.
Với mục tiêu xuyên suốt là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó
khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn
hệ thống các TCTD, ngành Ngân hàng đã bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và diễn biến
kinh tế vĩ mô, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, phát huy tính sáng tạo và tinh thần trách nhiệm trong
toàn Ngành, tăng cường sự gắn kết với các bộ, ngành và địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp
thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao.
Trong giai đoạn này, do công tác dự báo, thống kê về hoạt động tiền tệ - ngân hàng hiệu quả hơn so với
giai đoạn trước, nên cơ chế điều hành chính sách tiền tệ đã có sự đổi mới mạnh mẽ theo hướng chủ
động, dẫn dắt thị trường. NHNN đã triển khai nhiều biện pháp để giảm mặt bằng lãi suất cho vay, đặc
biệt là đối với các lĩnh vực ưu tiên, triển khai hàng loạt chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi. Về điều
hành thị trường tiền tệ, các nhóm giải pháp tín dụng được tập trung thực hiện theo hướng mở rộng tín
dụng đi đôi với an toàn hoạt động của các TCTD. Nhờ tăng cường giám sát và kiên quyết xử lý những
trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động, đồng thời với các biện pháp hỗ trợ thanh khoản cho những
ngân hàng yếu kém, tình trạng một số TCTD phải vay mượn lẫn nhau với lãi suất cao trên thị trường liên
ngân hàng đã được khắc phục đáng kể.
Kết quả nổi bật của hệ thống ngân hàng giai đoạn này là lạm phát được kiểm soát và giảm dần, kinh tế vĩ
mô dần ổn định, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm. Tốc đ tăng giá tiêu dùng giảm
mạnh từ mức 18,13% năm 2011 xuống còn 0,63% năm 2015, mức thấp nhất trong 15 năm qua; m t
bằng lãi suất giảm từ mức 20 - 25%/năm chỉ còn 6 - 9%/năm; thanh khoản hệ thống ngân hàng từ chỗ
thiếu hụt, tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ hệ thống đã cải thiện rõ nét và ổn định bền vững; tín dụng tăng trưởng
ở mức hợp lý, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu
quả, sức cạnh tranh; tỉ giá và thị trường ngoại hối đã cơ bản ổn định, niềm tin vào đồng Vi t Nam tăng
lên, tình trạng đô la hóa giảm đáng kể, NHNN mua được lượng lớn ngoại tệ để tăng mạnh dự trữ ngoại hối nhà nước.
Cơ chế quản lý thị trường vàng theo Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ quy
định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã khắc phục khá triệt để những bất cập của thị trường vàng
giai đoạn trước và về cơ bản đã đạt được các mục tiêu đề ra, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Thị trường
vàng được chấn chỉnh một bước căn bản và đi vào ổn định, dù giá vàng thế giới giai đoạn này có nhiều
biến động mạnh, nhưng giá vàng trong nước không có nhiều xáo trộn.
Đáng chú ý, các giải pháp cơ cấu lại và xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ, quyết liệt, công khai, minh
bạch theo đúng mục tiêu, định hướng đề ra và theo quy định của pháp luật, các TCTD yếu kém đã được
kiểm soát và từng bước được xử lý hiệu quả. Từ năm 2011 - 2015 đã giảm được 19 TCTD yếu kém thông
qua hợp nhất, sáp nhập, mua lại, giải thể và thu hồi giấy phép. Đến cuối tháng 11/2015, tỉ lệ nợ xấu giảm
còn 2,72% trên tổng dư nợ.
Sự ổn định, an toàn hoạt đ ng và khả năng chi trả của hệ thống các TCTD được giữ vững và cải thiện,
không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng ngoài tầm kiểm soát. Hoạt động thanh tra, giám sát được tăng cường;
kỷ cương, kỷ lu t trên thị trường tiền t và trong lĩnh vực ngân hàng được duy trì. Hiệu lực quản lý, điều
hành của NHNN trên các lĩnh vực đều được nâng lên rõ rệt, thị trường và xã hội ngày càng tin tưởng vào
việc điều hành chính sách của Chính phủ và NHNN. Giai đoạn 2016 - 2021
Trong giai đoạn này, kinh tế Việt Nam liên tục chịu tác động tiêu cực cả về cung và cầu do kinh tế thế giới
diễn biến bất thường, năng suất lao động giảm dần, thiên tai và dịch bệnh ngày càng trầm trọng, căng
thẳng thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc và nhiều nền kinh tế chủ chốt khác gia tăng, trào lưu chủ
nghĩa dân túy cùng với những thay đổi về chính sách thương mại và hàng loạt vấn đề khác. Đầu năm
2020, đại dịch Covid-19 bùng phát và tàn phá hầu hết các nước trên thế giới, nhưng Việt Nam là một
trong số ít quốc gia đã thành công trong việc đối phó với đại dịch, không để Covid-19 lây lan phức tạp
trong cộng đồng và duy trì được tốc độ tăng trưởng dương với GDP năm 2020 tăng 2,91%, các hoạt
động kinh tế nhìn chung ổn định.
Trong lĩnh vực tài chính, thị trường thế giới diễn biến bất thường và đảo chiều nhanh chóng, chính sách
tiền tệ nới lỏng tiếp tục chi phối các ngân hàng trung ương, buộc NHNN phải chủ động có giải pháp phù
hợp để thích ứng với những thay đổi này. Cụ thể là, NHNN đã điều hành linh hoạt, đồng bộ các công cụ
chính sách tiền tệ, đảm bảo thanh khoản thông suốt, ổn định thị trường, góp phần quan trọng thực hiện
thành công mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế.
Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, NHNN đã điều hành đồng bộ các giải pháp để duy trì ổn định và giảm
dần mặt bằng lãi suất. Từ năm 2016 đến nay, NHNN đã điều chỉnh giảm 2 - 2,5%/năm các mức lãi suất
điều hành, giảm 0,8 - 1,5%/năm trần lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 2%/năm trần lãi suất
cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; điều tiết và đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh khoản của các TCTD,
duy trì lãi suất thị trường liên ngân hàng ở mức hợp lý để tạo điều kiện cho các TCTD tiếp cận được
nguồn vốn với chi phí hợp lý; chỉ đạo các TCTD cân đối khả năng tài chính để áp dụng mức lãi suất cho
vay hợp lý nhằm chia sẻ khó khăn với khách hàng vay vốn.
Năm 2020, trước những diễn biến phức tạp của đại dịch Covid-19, NHNN đã 03 lần điều chỉnh giảm
đồng bộ các mức lãi suất với quy mô cắt giảm khá lớn so với nhiều năm qua3, với tổng mức giảm từ 1,5 -
2%/năm. Việc quyết định giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN đã phát tín hiệu mạnh mẽ và nhất
quán về chủ trương tiếp tục giảm lãi suất, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD. Cùng với các giải
pháp chính sách tiền tệ đồng bộ và linh hoạt, các quyết định giảm các mức lãi suất điều hành đã góp
phần tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất có xu hướng giảm, lãi suất cho vay đối với các
lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 5%/năm, giảm khoảng 2% so với năm 2016.
Về tỉ giá và thị trường ngoại hối, NHNN đã điều hành tỉ giá chủ động, linh hoạt, phù hợp với các cân đối
vĩ mô, diễn biến thực tế trên thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng giai đoạn cụ thể. Theo
đó, NHNN đã thực hiện công bố tỉ giá trung tâm hàng ngày trên cơ sở tham chiếu diễn biến thị trường
trong và ngoài nước, các cân đối kinh tế vĩ mô, tiền tệ và mục tiêu chính sách tiền tệ, góp phần ổn định tỉ
giá và thị trường ngoại tệ trong nước. Từ đầu năm 2020, trong bối cảnh kinh tế - tài chính thế giới biến
động mạnh và phức tạp do tác động của đại dịch Covid-19, NHNN đã điều hành tỉ giá linh hoạt, chủ
động, kết hợp với các giải pháp điều tiết thanh khoản hợp lý, chủ động truyền thông, điều chỉnh giảm tỉ
giá bán can thiệp và sẵn sàng bán ngoại tệ để bình ổn thị trường và tình hình kinh tế vĩ mô. Nhờ đó, về
cơ bản, tỉ giá và thị trường ngoại hối ổn định, cân đối cung cầu tiếp tục thuận lợi, thanh khoản thông
suốt, VND ổn định hơn nhiều so với đồng tiền của nhiều đối tác thương mại.
NHNN đã xây dựng chỉ tiêu định hướng tín dụng và điều hành tín dụng tăng trưởng phù hợp với các cân
đối vĩ mô, đáp ứng nhu cầu về vốn trong nền kinh tế gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung vào
khu vực sản xuất kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ những lĩnh vực rủi ro.
Các giải pháp cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu4, thanh tra, giám sát ngân hàng, bảo
đảm an toàn hệ thống, an ninh tiền tệ, tín dụng được đẩy mạnh và đạt được kết quả đáng khích lệ5; các
TCTD nghiêm túc thực hiện các quy định Basel II và nâng cấp chuẩn mực quản trị theo thông lệ quốc tế.
Cho đến nay, hầu như toàn bộ hệ thống các TCTD đã được chấn chỉnh, củng cố. Các TCTD phi ngân hàng,
quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô cũng đã cơ cấu lại, hoạt động lành mạnh, đã hạn chế
được tín dụng đen. Quy mô hệ thống các TCTD tiếp tục tăng6; năng lực tài chính của các TCTD được
củng cố, vốn điều lệ tăng dần qua các năm7; chất lượng quản trị ngân hàng được cải thiện, các NHTM
đang thiết lập bộ máy quản trị doanh nghiệp theo phương thức hiện đại. Vai trò và mối quan hệ của ban
điều hành, hội đồng quản trị, cổ đông được quy định theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty.
Giai đoạn 2016 - 2020 cũng tiếp tục đánh dấu bước tiến vượt bậc trong sự phát triển của hoạt động
thanh toán với nhiều sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, tiện ích và hiện đại dựa trên ứng dụng công
nghệ thông tin. Các chỉ số thanh toán không dùng tiền mặt tăng trưởng ấn tượng; vấn đề đảm bảo an
ninh, an toàn hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt được coi trọng và tăng cường; rủi ro và nguy cơ
mất an toàn về cơ bản được phát hiện, kiểm soát và xử lý kịp thời; hạ tầng kỹ thuật và công nghệ phục
vụ thanh toán không dùng tiền mặt được đầu tư, nâng cấp, nhất là thanh toán điện tử; xu hướng chuyển
dịch rõ nét sang các sản phẩm, dịch vụ có ứng dụng công nghệ mới, hiện đại, tiện ích và thân thiện với
người sử dụng; tiếp tục mở rộng thanh toán điện tử trong khu vực dịch vụ công.
Hiện nay, nhiều ngân hàng trong nước đã ứng dụng công nghệ tiên tiến, giải pháp mới vào hoạt động
thanh toán nhằm nâng cao tốc độ thanh toán, tăng cường an toàn, bảo mật dịch vụ cung cấp và thông tin khách hàng.
Mặc dù kinh tế thế giới được dự báo là sẽ phục hồi mạnh mẽ từ năm 2021, sau khi hàng loạt công ty
dược phẩm quốc tế bắt đầu sản xuất đại trà các loại vaccine phòng, chống Covid-19 và lập kế hoạch
phân phát trên phạm vi toàn cầu, song, diễn biến dịch bệnh trong những tháng đầu năm 2021 vẫn phức
tạp với số ca nhiễm và tử vong tiếp tục tăng cao trước sự tấn công của những biến thể virus mới với khả
năng kháng thuốc và tốc độ lây nhiễm rất cao. Trong khi đó, thế giới còn chậm trễ trong việc sản xuất và
phân phối vaccine. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải theo dõi sát sao diễn biến đại dịch Covid-19 trên thế
giới và nguy cơ lan truyền vào đất nước, qua đó có thể đưa ra chính sách và giải pháp phù hợp cho quá
trình phục hồi kinh tế quốc gia hậu Covid-19.
Trước tình hình như vậy, NHNN cần tiếp tục thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:
Một là, theo dõi sát sao các diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ trong nước và thế giới, làm cơ sở
để kịp thời đề xuất các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa
và những chính sách vĩ mô khác để ổn định giá trị đồng tiền, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát
lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo mục tiêu đề ra.
Hai là, hoàn thiện thể chế pháp luật ngân hàng, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, đảm bảo an toàn hệ thống
ngân hàng, tăng cường thực thi các cam kết quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. Chủ động rà soát, sửa đổi,
bổ sung cơ chế, chính sách, quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp,
cá nhân và nền kinh tế khôi phục sau đại dịch.
Ba là, kiên trì thực hiện các giải pháp chống đô la hóa và quản lý thị trường vàng theo Nghị định số
24/2012/NĐ-CP, đảm bảo và duy trì ổn định bền vững trên thị trường vàng, hạn chế tác động của giá
vàng đến sự ổn định của tỉ giá, thị trường ngoại hối và tình hình kinh tế vĩ mô.
Bốn là, thực hiện các giải pháp về cho vay nhằm kiểm soát quy mô tín dụng ở mức hợp lý, đồng thời
nâng cao chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, góp phần
thúc đẩy sản xuất kinh doanh và quá trình phục hồi kinh tế. Thực hiện các giải pháp hỗ trợ TCTD mở
rộng cho vay có hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho khách hàng
bị ảnh hưởng của đại dịch.
Năm là, tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động của các TCTD, nhất là đối với những lĩnh vực tiềm ẩn
rủi ro; giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các TCTD triển khai quyết liệt, có hiệu quả Đề án tái cơ cấu gắn với
phương án xử lý nợ xấu đã được phê duyệt, tích cực triển khai các giải pháp kiểm soát và hạn chế nợ xấu
phát sinh. Phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong việc
áp dụng các giải pháp xử lý nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD.
Sáu là, triển khai Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021 - 2025, thúc đẩy thanh
toán điện tử trong khu vực Chính phủ và dịch vụ công. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi
trường cạnh tranh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ các
kế hoạch của NHNN về cải cách hành chính, tiếp tục hoàn thiện kiến trúc Chính phủ điện tử của NHNN
theo phiên bản Chính phủ điện tử 2.0.
Tóm lại, trong 35 năm đổi mới và hội nhập, mặc dù vẫn còn một số khó khăn và hạn chế, song ngành
Ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, đã có những đóng góp rất lớn cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Cơ chế điều hành chính sách tiền tệ đã có sự đổi mới mạnh mẽ theo hướng chủ động, dẫn dắt thị
trường, từng bước chuyển từ cơ chế điều tiết theo khối lượng sang điều hành theo lãi suất. NHNN đã
thực hiện công bố định hướng điều hành lãi suất và triển khai đồng bộ các biện pháp để đạt mục tiêu là
giảm dần mặt bằng lãi suất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và hộ dân; tiến hành điều chỉnh linh
hoạt các mức lãi suất điều hành, kết hợp với áp dụng biện pháp hành chính phù hợp theo diễn biến thị trường.
Chính sách tỉ giá8 được điều hành khá linh hoạt theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên cơ sở rổ tiền tệ, tỉ
giá vì thế đã phản ánh tương đối chính xác sức mua của VND và tương quan giữa VND với các loại ngoại
tệ của các nước có quan hệ thương mại, đầu tư và tín dụng với Việt Nam. Việc điều chỉnh tỉ giá linh hoạt
đã tạo điều kiện thuận lợi cho các NHTM và NHNN tăng mua ngoại tệ từ thị trường, đáp ứng phần lớn
các nhu cầu ngoại tệ của khách hàng và đảm bảo mục tiêu tăng dự trữ ngoại hối nhà nước, giúp bảo
đảm an ninh tài chính tiền tệ quốc gia và củng cố mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam.
Với những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng Việt Nam liên tục
phát triển và ngày càng vững mạnh; phương thức quản lý, điều hành và khung khổ pháp lý về hoạt động
ngân hàng hoàn thiện dần theo hướng thông thoáng, minh bạch hơn, là nền tảng quan trọng cho sự
phát triển lành mạnh, hiệu quả và bền vững hơn của hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.
(NIF) - Ổn định để phát triển bền vững là mục tiêu mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang
hướng tới. Một hệ thống ngân hàng được xem là phát triển không chỉ thể hiện ở quy mô, doanh
số huy động và cho vay tăng lên, thị phần mở rộng; mà còn phải thể hiện ở năng lực quản trị rủi
ro, quản trị doanh nghiệp và tính chịu trách nhiệm cao của Ban lãnh đạo ngân hàng. Việc đẩy
mạnh các biện pháp xử lý hậu tái cấu trúc nhằm nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị rủi
ro, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận được vốn và các dịch vụ ngân hàng với giá/phí
hợp lý… là những vấn đề trọng yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
1. Kết quả bước đầu trong quá trình tái cấu trúc
1.1. Số lượng các ngân hàng giảm đi, quy mô vốn của một số ngân hàng tăng lên, thanh
khoản đảm bảo, uy tín được cải thiện
Sau quá trình phát triển nóng về số lượng ngân hàng và các loại hình dịch vụ, năm 2012 Chính
phủ đã phê duyệt đề án số 254 về tái cấu trúc các tổ chức tín dụng (tổ chức tín dụng) mà trọng tâm là
các ngân hàng thương mại (NHTM). Sau gần 3 năm thực hiện, một số các NHTM yếu kém đã được sáp
nhập với nhau, hoặc sáp nhập vào các NHTM lớn; một số NHTM hoạt động yếu kém, nợ khách hàng lớn
hơn nhiều lần vốn chủ sở hữu, NHNN đã mua với giá 0 VND và nhận nợ thay, chuyển sang mô hình
Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên, sau đó giao cho Vietcombank và Vietinbank quản lý,
điều hành1. Đối với một số chi nhánh NHTM nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoạt động yếu kém,
NHNN đã yêu cầu ngân hàng mẹ phải xử lý hoặc cho phép ngân hàng nước ngoài mua lại. Đơn cử như,
ngân hàng liên doanh Việt Thái, hoạt động kém hiệu quả, không đảm bảo giá trị thực của vốn điều lệ theo
quy định, NHNN đã cho phép Ngân hàng Siam Thái tiếp nhận, sau đó chuyển thành chi nhánh ngân hàng
nước ngoài. Đến nay, tại thị trường Việt Nam đã có 06 NHTM 100% vốn nước ngoài hoạt động gồm:
ANZVL, Hong Leong, HSBC, Shinhan Vietnam, Standard Chartered, Public Bank Berhad. Riêng Citibank
đã nhận được thư chấp thuận về nguyên tắc của NHNN vào ngày 09/7/2015 và sẽ thành lập ngân hàng
100% vốn nước ngoài. Đồng thời với quá trình tự sáp nhập của các ngân hàng, NHNN tiếp tục hoàn
thiện một số văn bản pháp lý2 để xử lý vấn đề sở hữu chéo, rà soát mạng lưới hoạt động của ngân hàng,
mở rộng mạng lưới gắn với việc tăng vốn điều lệ thực chất và hiệu quả kinh doanh của các chi
nhánh/phòng giao dịch hiện có của từng ngân hàng. Trong 6 tháng đầu năm 2015, nhóm ngân hàng yếu
kém đã được xử lý nhưng không xảy ra hiện tượng rút tiền gửi đột biến, quyền lợi của khách hàng vay và
gửi tiền tại các ngân hàng bị sáp nhập, hoặc mua lại được đảm bảo, uy tín một số ngân hàng sau tái cấu
trúc được cải thiện, không có xáo trộn trên thị trường tài chính.
Bảng 1. Các loại hình và số lượng 2014 30/6/2015
Loại hình ngân hàng 2010 2011 2012 2013
NHTM nhà nước và ngân hàng cổ phần 05 04
nhà nước có cổ phần chi phối 05 05 05 05 NHTM cổ phần 37 37 34 34 30 25
Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn 1 thành 01 03 viên - - - - NHTM liên doanh 5 04 04 04 04 02 Chi nhánh NHTM nước ngoài 50 50 50 48 46 47 NHTM 100% vốn nước ngoài 05 05 05 05 05 06
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN, www.sbv.gov.vn và tổng hợp của tác giả
Với quy định về mức vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo lộ trình, một số ngân hàng đã có sự
bứt phá thông qua huy động vốn của các cổ đông, trong đó có các cổ đông chiến lược trong và ngoài
nước. Một số ngân hàng đã có tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư chiến lược lên đến 30%3. Đến nay, vốn điều
lệ của một số ngân hàng đã tăng khá, phản ánh thực lực của mỗi ngân hàng và là căn cứ để mở rộng
hoạt động huy động vốn, cho vay cũng như phát triển các dịch vụ ngân hàng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Hình 1. Vốn điều lệ của một số ngân hàng thương mại sau sáp nhập Đơn vị: Tỷ đồng
Nguồn: Báo diễn đàn đầu tư ngày 03/7/2015
Khi vốn điều lệ tăng, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của từng ngân hàng cũng như cả hệ thống được cải
thiện. Năm 2010, hệ số an toàn vốn bình quân của các NHTM Việt Nam là 10,98%, năm 2012 là 13,75%,
sau đó giảm tương ứng xuống 13,25% năm 2013 và 12,75% năm 2014, nguyên nhân cơ bản là do vốn
điều lệ không tăng, trong khi tổng tài sản tăng rất nhanh, một số khoản cho vay, đầu tư trước đây không
tính vào tổng dư nợ, thì nay NHNN yêu cầu bắt buộc các ngân hàng phải tính cả các khoản tín dụng dưới
dạng ủy thác đầu tư, bảo lãnh, trái phiếu doanh nghiệp…
Hình 2. Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Đơn vị: %
Nguồn: NHNN, UBGSTC, website cafef
Tuy nhiên, nếu tính đúng, tính đủ các loại rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường… và xác định chính
xác vốn tự có thực (loại bỏ vốn ảo do sở hữu chéo) của một số NHTM theo yêu cầu của Basel II, thì hệ
số CAR của các NHTM thấp hơn so với số liệu công bố trên. Điều này cho thấy sự phát triển chưa bền
vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.
Có ba loại tài sản chính chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các NHTM, đó là: (i) Cho vay và ứng trước
cho khách hàng; (ii) Tiền gửi, cho vay các tổ chức tín dụng khác; (iii) Chứng khoán đầu tư, sự tăng
trưởng số dư tiền gửi của khách hàng càng cao (thị trường 1), thì sự phụ thuộc vào thị trường liên ngân
hàng (thị trường 2) trong các hoạt động cho vay sẽ thấp và ngược lại. Ở Việt Nam, khoản mục cho vay
có tỷ trọng lớn nhất, rủi ro nảy sinh ở khoản mục này cũng là nhiều nhất. Giai đoạn 2007 - 2010, tốc độ
tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 35%/năm, nhưng giai đoạn 2012 - 2014 chỉ khoảng
10 - 11%/năm. Xét quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế cho thấy giai đoạn
2007 - 2010, tăng trưởng tín dụng thường gấp 5 - 6 lần tốc độ tăng GDP, đó là điều không hợp lý, thể
hiện hiệu quả đồng vốn thấp, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào tăng vốn. Từ năm 2012 đến nay, tăng
trưởng tín dụng thường cao hơn 2 lần tốc độ tăng GDP.
Hình 3. Tăng trưởng tín dụng và tăng GDP Đơn vị: %
Nguồn: Báo cáo NHNN và tổng hợp của tác giả
Việc sử dụng nhiều biện pháp xử lý nợ xấu, hạn chế nợ xấu mới phát sinh là việc làm cấp thiết cho sự
phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, NHNN,
sự nỗ lực xử lý nợ xấu của từng NHTM, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17% năm 2012*4 xuống 3,8% vào ngày
31/12/2014. Một số NHTM luôn có tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp dưới 2%/năm như BIDV, Vietcombank,
Vietinbank... Hai trong số ba ngân hàng này được đánh giá là tuân thủ tương đối chặt chẽ các quy định
về phân loại tài sản có hiện hành và hướng đến chuẩn mực quốc tế. Từ năm 2014 đến nay, với môi
trường kinh tế vĩ mô ổn định hơn, thanh khoản được đảm bảo, tiền gửi của dân cư… vẫn tăng mặc dù lãi
suất huy động đã giảm mạnh. Chất lượng nợ của hệ thống ngân hàng bước đầu được cải thiện, áp lực
về suy giảm năng lực tài chính cũng giảm, tín dụng cho nền kinh tế có xu hướng tăng. 6 tháng đầu năm
2015, tín dụng tăng trưởng 7,83% so với cuối năm 2014, tăng 18,98% so với cùng kỳ. Vừa qua, Thống
đốc NHNN đã chấp thuận cho 18 NHTM điều chỉnh tăng trưởng tín dụng, một số NHTM nhỏ được điều
chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng 35%/năm.
1.2. Quản trị ngân hàng thương mại
Các NHTM Việt Nam đã tuân thủ cơ cấu tổ chức, bộ máy điều hành theo quy định của Luật Các
tổ chức tín dụng nhằm nâng cao trình độ quản trị doanh nghiệp trong ngân hàng, thực hiện quản trị rủi ro
trong toàn hệ thống cũng như trong các nghiệp vụ ngân hàng. Năm 2014, NHNN đã chọn 10 NHTM đầu
tiên triển khai thí điểm phương pháp quản trị vốn và rủi ro theo tiêu chuẩn Basel 2, giai đoạn từ 2015 đến
2018. Đến 2018, cả 10 ngân hàng5 sẽ hoàn thành và sau đó sẽ mở rộng áp dụng Basel 2 đối với các
NHTM khác. Đối với nhóm các NHTM phải sáp nhập đang từng bước sắp xếp lại bộ máy tổ chức, quản
trị, điều hành, Ban kiểm soát… nhanh chóng đi vào hoạt động song hành với giải quyết những yếu kém
nội tại. Các ngân hàng chuyển sang dạng trách nhiệm hữu hạn một thành viên, dưới sự trợ giúp của một
NHTM có yếu tố Nhà nước, đã cử cán bộ sang nắm giữ một số vị trí trung cao cấp, xây dựng lại đề án cơ
cấu ngân hàng, rà soát kỹ tổng tài sản, các khoản nợ xấu, các khoản nợ đến hạn phải trả khách hàng…
Trên cơ sở nguồn vốn hỗ trợ từ NHNN để chi trả kịp thời cho khách hàng, nên không có tình trạng mất
thanh khoản cục bộ xảy ra. Hầu hết các NHTM đã thành lập một số Ủy ban theo thông lệ như: Ủy ban
chính sách, Ủy ban quản lý rủi ro, Ủy ban nhân sự, lương thưởng, Ủy ban quản trị tài sản nợ có (ALCO)
… để tham mưu, tư vấn cho hội đồng quản trị.
1.3. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
Mặc dù, lợi nhuận sau thuế của ngành Ngân hàng từ năm 2012 đến nay đã giảm, một phần do
nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp vay vốn cũng đối mặt với nhiều thách thức, nhiều
doanh nghiệp không trả được nợ vay đến hạn, dẫn đến danh mục khoản vay bị suy giảm, nợ xấu gia
tăng, các ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro nhiều hơn, trong khi chi phí hoạt động và chi phí quản lý
tăng, dẫn đến thu nhập ròng từ lãi giảm. Điều này cũng phản ánh đúng thực trạng của nền kinh tế, của
hệ thống ngân hàng. Các chỉ số hiệu quả kinh doanh ROE, ROA từ năm 2012 đến 2014 đều thấp hơn giai
đoạn 2008 - 2012. Đặc biệt khối NHTMCP, tại thời điểm 31/12/2012 ROA, ROE lần lượt chỉ đạt 0,22% và
1,36%, Năm 2014, khối này có cải thiện chút ít, chỉ số ROA, ROE lần lượt là 0,43% và 4,01%. Nhưng đi sâu
phân tích chỉ tiêu này ở một số ngân hàng có giá trị vốn hóa lớn thì tỷ lệ này vẫn ở mức cao trong giai
đoạn 2012 - 2014, đặc biệt 3 NHTM cổ phần có yếu tố Nhà nước chi phối. Đơn cử như, Vietinbank, tại
thời điểm 2012, chỉ số ROA, ROE là 1,7% và 19,9%; năm 2013 là 1,4% và 13,7%; năm 2014 là 1,2% và
10,4%. Chỉ số ROA, ROE của NHTM cổ phần Quân Đội là 1,97% và 27,5% năm 2012; 1,28% và 16,3% năm
2013; 1,3 và 14,7% năm 2014... Như vậy, nếu xem xét chỉ số hiệu quả kinh doanh của một số NHTM Việt
Nam còn cao hơn cả các ngân hàng liên doanh và chi nhánh NHTM nước ngoài. Qua đó, có thể thấy,
năng lực cạnh tranh và khả năng chiếm giữ thị phần của một số NHTM Việt Nam không thua kém các
ngân hàng liên doanh và NHTM 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
Hình 4. ROA của hệ thống NHTM ở Việt Nam
Hình 5. ROE của hệ thống NHTM ở Việt Nam Đơn vị: Đơn vị: % %